1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ báo chí học xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử hiện nay

166 852 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 9,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời buổi kinh tế thị trường, xã hội không ngừng phát triển về mọi mặt của đời sống như hiện nay, thì nhu cầu của con người vì thế cũng không ngừng tăng cao. Trong đó đáng kể là nhu cầu về cập nhật thông tin, tin tức là nhu cầu thiết yếu hơn hết. Vì vậy mà thời gian gần đây, các phương tiện truyền thông đại chúng đã không ngừng phát triển, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu thông tin phục vụ con người. Bên cạnh các loại hình báo chí như báo in, phát thanh và truyền hình thì sự bùng nổ của internet đã thúc đẩy nhân loại tiến xa hơn, tiếp cận với một kỷ nguyên mới kỷ nguyên của thông tin với một loại hình báo mới. Đó là báo mạng điện tử. Báo mạng điện tử ra đời và phát triển, giúp đẩy nhanh tốc độ truy tải và cập nhật thông tin một cách liên tục, với mọi hình thức đến với công chúng. Với ưu thế vượt trội là sự tích hợp đa phương tiện, báo mạng điện tử đã đem lại nhiều thông tin hữu ích, thiết thực cho cuộc sống của con người trong thời buổi hội nhập, mở cửa như hiện nay. Tuy nhiên, có một thực tế đáng bàn là nhiều tờ báo mạng điện tử hiện nay đã biến tướng trở thành phương tiện phát tán thông tin đời tư của người khác một cách bất hợp lý để thu hút công chúng. Nhất là đời tư của những người nổi tiếng trong giới nghệ thuật mà chúng ta gọi nôm na gọi là giới showbiz như ca sĩ, người mẫu, diễn viên điện ảnh,... Những thông tin, tư liệu, hình ảnh cá nhân của giới showbiz được thu thập một cách vô tư; được đưa ra bàn luận trên báo mạng điện tử một cách tràn lan, khó kiểm soát. Không ít tờ báo mạng điện tử và nhà báo sa vào khuynh hướng thương mại hóa, chạy theo thị hiếu tò mò của một bộ phận công chúng nên đã thường xuyên moi móc chuyện vụn vặt, soi mói đời tư của giới ca sĩ... làm đề tài phản ánh của mình để thông tin đến công chúng.

Trang 1

HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

XỬ LÝ THÔNG TIN VỀ ĐỜI TƯ CỦA GIỚI CA SĨ

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát Báo điện tử VietNamNet, VnExpress và VTC News)

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

XỬ LÝ THÔNG TIN VỀ ĐỜI TƯ CỦA GIỚI CA SĨ

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát Báo điện tử VietNamNet, VnExpress và VTC News)

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôiCác số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa đượccông bố ở bất kỳ công trình nào khác.

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Học viên

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, các giảng viên củaKhoa Phát thanh và Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên Truyền đã tận tìnhgiảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại Khoa.

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị phóng viên, biên tập viên, Tổngbiên tập ba cơ quan báo mạng điện tử VietNamNet, VnExpress và VTC News

đã hỗ trợ thông tin và chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình tác nghiệp, khai thác,thu thập và xử lý thông tin về đời tư ca sĩ để viết bài đăng tải phục vụ côngchúng, để giúp tôi có được những kết quả khảo sát thực tế trong luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn và biết ơn đến gia đình, các anh chị và bạn bè,đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi suốt quá trình thực hiện luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Trang 5

PR (Public relations) Quan hệ công chúng

Bộ TT & TT Bộ Thông tin và Truyền thông

ĐHKHXH & NV Đại học Khoa học Xã hội & Nhân vănĐHSP TPHCM Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 9

THÔNG TIN VỀ ĐỜI TƯ CỦA GIỚI CA SĨ 9

1.1 Báo mạng điện tử 9

1.2 Thông tin về đời tư của giới ca sĩ 21

1.3 Các yếu tố tác động đến việc báo mạng điện tử khai thác thông tin về đời tư của giới ca sĩ 27

1.4 Một số quy định về “Quyền đối với Bí mật thông tin đời tư” của một số quốc gia trên thế giới 33

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC XỬ LÝ THÔNG TIN VỀ ĐỜI TƯ CỦA GIỚI CA SĨ TRÊN 3 TỜ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VIETNAMNET, VNEXPRESS VÀ VTC NEWS 38

2.1 Vài nét về một số tờ báo mạng điện tử thuộc diện khảo sát 38

2.2 Thực trạng việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên các tờ báo khảo sát 42

2.3 Đánh giá chung 72

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ ĐỜI TƯ CỦA GIỚI CA SĨ TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 80

3.1 Những vấn đề đặt ra khi khai thác đời tư giới ca sĩ trên báo mạng điện tử .80

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin các bài viết về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử ở Việt Nam 82

3.3 Đề xuất - Kiến nghị 94

PHẦN KẾT LUẬN 98

PHỤ LỤC 107

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời buổi kinh tế thị trường, xã hội không ngừng phát triển về mọimặt của đời sống như hiện nay, thì nhu cầu của con người vì thế cũng khôngngừng tăng cao Trong đó đáng kể là nhu cầu về cập nhật thông tin, tin tức lànhu cầu thiết yếu hơn hết Vì vậy mà thời gian gần đây, các phương tiện truyềnthông đại chúng đã không ngừng phát triển, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu thông tinphục vụ con người

Bên cạnh các loại hình báo chí như báo in, phát thanh và truyền hình thì

sự bùng nổ của internet đã thúc đẩy nhân loại tiến xa hơn, tiếp cận với một kỷnguyên mới - kỷ nguyên của thông tin với một loại hình báo mới Đó là báomạng điện tử Báo mạng điện tử ra đời và phát triển, giúp đẩy nhanh tốc độ truytải và cập nhật thông tin một cách liên tục, với mọi hình thức đến với côngchúng Với ưu thế vượt trội là sự tích hợp đa phương tiện, báo mạng điện tử đãđem lại nhiều thông tin hữu ích, thiết thực cho cuộc sống của con người trongthời buổi hội nhập, mở cửa như hiện nay

Tuy nhiên, có một thực tế đáng bàn là nhiều tờ báo mạng điện tử hiệnnay đã biến tướng trở thành phương tiện phát tán thông tin đời tư của ngườikhác một cách bất hợp lý để thu hút công chúng Nhất là đời tư của nhữngngười nổi tiếng trong giới nghệ thuật mà chúng ta gọi nôm na gọi là giớishowbiz như ca sĩ, người mẫu, diễn viên điện ảnh, Những thông tin, tư liệu,hình ảnh cá nhân của giới showbiz được thu thập một cách vô tư; được đưa rabàn luận trên báo mạng điện tử một cách tràn lan, khó kiểm soát Không ít tờbáo mạng điện tử và nhà báo sa vào khuynh hướng thương mại hóa, chạy theothị hiếu tò mò của một bộ phận công chúng nên đã thường xuyên moi mócchuyện vụn vặt, soi mói đời tư của giới ca sĩ làm đề tài phản ánh của mình đểthông tin đến công chúng

Xét một cách công bằng, những thông tin về đời tư, tình cảm của giới ca

sĩ có một vị trí không nhỏ trong đời sống tinh thần của công chúng Hàng ngày,

Trang 8

với bao lo toan trong cuộc sống vật chất, người ta sẽ dễ dàng bị mệt mỏi trước

áp lực “cơm áo gạo tiền”, và mỏi mệt khi liên tiếp phải tiếp nhận hàng loạt

những thông tin về giá cả, lạm phát, chiến tranh, bạo lực Không chỉ khiến chocông chúng thỏa mãn tính hiếu kỳ, tò mò mà những thông tin về đời tư của giới

ca sĩ còn đem đến cho mọi người những khoảng thời gian thư giãn, nghỉ ngơi.Hơn nữa, những thông tin về các vụ scandal của họ phần nào là những bài học

có giá trị

Nhưng rất nhiều thông tin được nhà báo viết ra chỉ để thỏa mãn trí tò mòcủa một bộ phận công chúng mà họ không nghĩ rằng mình đang làm tổn thươngnhững nhân vật ấy Đã có không ít những ngôi sao trong giới ca sĩ bất ngờ tụtdốc hoặc tự tìm đến cái chết do bị tổn thương sâu sắc từ những hình ảnh, nhữngbài viết, những lời bàn tán mang tính bới móc của dư luận xã hội về bản thân họ

và người thân của mình

Thực tế cho thấy, nhiều tờ báo mạng điện tử ngày nay đã khai thác thôngtin về đời tư của giới ca sĩ với tần suất ngày càng nhiều Những thông tin ấyđược khai thác, bình bàn và phản ánh dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau

từ chuyện tình cảm cá nhân cho đến chuyện ăn mặc hở hang, gợi cảm, phátngôn thô tục, giật gân câu khách Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến mụcđích, tôn chỉ của tờ báo mà còn làm cho đạo đức nghề nghiệp của một phận nhàbáo, phóng viên báo mạng điện tử bị giảm sút Đặc biệt làm ảnh hưởng đến sựnghiệp, danh dự, uy tín của giới ca sĩ được báo chí đề cập, phản ánh Thậm chícòn gây ra những hậu quả đáng tiếc khi đời tư bị xâm phạm, chuyện riêng tư bịphơi bày, bị soi mói và bàn luận công khai, gây bức xúc trong dư luận,

Thêm vào đó, hiện nay tình trạng quản lý thông tin trên báo mạng điện tử

và những quy định về quyền xử phạt vi phạm thông tin đời tư của giới ca sĩ trênbáo mạng điện tử chưa thật sự rõ ràng, hình thức xử phạt chưa đủ sức răn đe…Chính điều này đã dẫn đến tình trạng hiện nay thông tin về đời tư của giới ca sĩđược thông tin tràn lan trên báo mạng điện tử Hơn nữa, xu hướng hiện nay đã

có không ít tờ báo mạng điện tử và nhà báo sa vào khuynh hướng thương mại

Trang 9

hóa, chạy theo thị hiếu tò mò của một bộ phận công chúng, thường xuyên moimóc chuyện vụt vặt, soi mói đời tư của các nhân vật nổi tiếng

Xuất phát từ thực tế nêu trên, tác giả quyết định chọn nghiên cứu đề tài:

“Xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử hiện nay” để

làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Kể từ khi báo mạng điện tử ra đời và phát triển hưng thịnh như ngày nay,

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu và các bài báo liên quan đến loại hìnhbáo chí này Cụ thể: Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí của học viên Hà

Thu Phương (2002), Phân viện Báo chí & Tuyên truyền, đề tài: “Đặc điểm công chúng độc giả trên báo Internet Việt Nam”;

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của học viên Phạm Thị

Hồng, (2010), Học viện Báo chí & Tuyên truyền, đề tài: “Cách thức đưa tin đa phương tiện trên báo điện tử ở Việt Nam hiện nay”.

Tác giả Nguyễn Thị Trường Giang có quyển sách với nhan đề: “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản”, NXB Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà

Nội, (2014) Nội dung cuốn sách nêu rõ về quá trình hình thành và phát triểncủa internet; lịch sử ra đời và phát triển của báo mạng điện tử; đặc trưng cơ bảncủa báo mạng điện tử; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin của báomạng điện tử; cách viết và trình bày nội dung báo mạng điện tử; và một số tờbáo mạng điện tử ở Việt Nam Tuy nhiên, sách chưa đề cập đến thông tin đời

tư, xử lý thông tin đời tư trên báo mạng điện tử mà nhất là cách thức xử lýthông tin đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử

Khóa luận tốt nghiệp đại học của học viên Vũ Thị Ngọc Nga, (2015),

Khoa Báo chí và Truyền thông Trường ĐHKHXH & NV Hà Nội, đề tài “Báo mạng điện tử với việc đưa tin về người nổi tiếng nhờ mạng xã hội: Nghiên cứu trường hợp Lệ Rơi (khảo sát báo điện tử Zing.vn, Dân Việt và Tuổi trẻ Online

từ ngày 1/6/2014-31/12/2014)” Khóa luận đã đề cập đến những vấn đề lý

thuyết chung về báo mạng điện tử; về mạng xã hội cũng như cách thức của việc

Trang 10

báo mạng điện tử đăng tải thông tin về đời tư người nổi tiếng nhờ mạng xã hộiđến với công chúng như thế nào; và thông tin ấy nó tác động gì đến côngchúng; giải pháp – kiến nghị nâng cao chất lượng, Tuy nhiên khóa luận chỉdừng lại ở việc phân tích một trường hợp cụ thể của ca sĩ Lệ Rơi – người nôngdân quê mùa, chỉ hát với mục đích giải tỏa những căn thẳng, mệt mỏi sau mộtngày làm việc mệt nhọc Nhưng chính sự thật thà, khác lạ của anh khiến anh bấtngờ trở thành nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa – giải trí và là một trongnhững thông tin quan trọng mà báo mạng điện tử và trang thông tin điện tửthường xuyên đăng tải để thu hút được sự quan tâm của công chúng độc giả.

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của học viên Trần Thị NhưQuỳnh, (2014), Khoa Báo chí và Truyền thông Trường ĐHKHXH & NV Hà

Nội, đề tài: “Nghiên cứu thảm họa báo mạng trong việc thông tin về văn hóa – nghệ thuật (khảo sát báo điện tử VietNamNet, VnExpress và Dân trí năm 2011- 2012)” Tác giả đã đưa ra một cái nhìn thực tế, khách quan và chân thực về tình

trạng bị tha hóa trong cách ứng xử của các nhà báo khi tiếp cận thông tin vănhóa – nghệ thuật dẫn đến những tin bài “thảm họa” xuất hiện tràn lan trên cáctrang báo mạng điện tử Tác giả lý giải được sự xuất hiện của “thảm họa báomạng”, đồng thời đưa ra những đánh giá chung về mặt hình thức và nội dungcủa “thảm họa báo mạng” Luận văn cũng đưa ra những kinh nghiệm trong việcứng xử với “thảm họa báo mạng” cho Ban biên tập, phóng viên đặc thù mảngvăn hóa – nghệ thuật và công chúng truy cập báo mạng điện tử Từ đó đề xuất

mô hình quản lý báo mạng điện tử Việt Nam một cách hợp lý Tuy nhiên đốitượng nghiên cứu của luận văn mà tác giả hướng đến là tất cả người nổi tiếngnhư người mẫu, diễn viên, mà chưa có điều kiện khảo sát sâu, phân tích kỹ vềcác vấn đề về đời tư của ca sĩ

Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học cũng nhưcác công trình khóa luận, luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ báo chí… như Khóa luận

chuyên ngành Báo chí, Ngô Thị Quỳnh Hoa, 2008, đề tài: “Vấn đề thông tin về đời tư nghệ sĩ trên báo mạng hiện nay”; Thông tin văn hóa – giải trí trên báo

Trang 11

trực tuyến VnExpress, VietNamNet, VTC News, Khóa luận chuyên ngành Báo

chí, Nguyễn Thị Hồng, 2008; đã đề cập ít nhiều tới vấn đề này Chẳng hạn bài

nghiên cứu khoa học “Thực trạng hành vi xâm phạm bí mật đời tư người khác của người trưởng thành trẻ tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh” (Tạp chí khoa học

ĐHSP TPHCM số 49/2013) của nhóm Nguyễn Thị Tứ, Đinh Nguyên Ngọc và

Võ Nguyên Anh cũng đã khảo sát thực trạng, nguyên nhân của việc xâm phạmđời tư người khác Bài nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp để giải quyếttình trạng này

Có thể thấy, các nghiên cứu trên đã có những kết quả nhất định, tuynhiên, hầu hết chỉ dừng lại ở việc báo mạng điện tử thông tin về đời tư ngườinổi tiếng, về tất cả các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – giải trí nóichung như người mẫu, hoa hậu, diễn viên điện ảnh, mà chưa nghiên cứu dạngriêng lẻ dành cho đối tượng chuyên biệt là ca sĩ một cách riêng biệt Do đó màcho đến nay chưa có đề tài nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu, phân tích và làm rõthực trạng cũng như nguyên nhân vì sao báo mạng điện tử hiện nay phần lớntập trung khai thác vào thông tin đời tư của giới ca sĩ Những thông tin về đời tưcủa họ như cách ăn mặc, tình cảm yêu thương, gia đình, điều kiện đều lànhững thông tin hấp dẫn được báo chí đăng tải thông tin đến công chúng Phầnlớn các công trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thông tin chứ chưa phân tíchvấn đề trên một cách cặn kẽ… Do đó, với đề tài này tác giả đề cập có thể xem

là một nội dung mới, và trong luận văn Thạc sĩ của mình, tác giả sẽ phân tích vàlàm rõ việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ, xem xét các phóng viên,Biên tập viên, Ban thư ký tòa soạn báo mạng điện tử, họ xử lý những thôngtin về đời tư của ca sĩ như thế nào? Họ khai thác những thông tin đó từ đâu?Nguyên nhân vì sao báo chí lại hay soi mói đời tư của ca sĩ? Trên cơ sở đó,tác giả luận văn sẽ đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượngthông tin về đời tư ca sĩ trên báo mạng điện tử Đây là điều cần thiết giúp nhữngngười làm báo mạng điện tử am hiểu hơn những qui định pháp luật và đạo đứcnghề nghiệp nhà báo Đồng thời đây còn là những điều kiện đủ để giúp họ sáng

Trang 12

tạo ra những tác phẩm báo chí thực sự có giá trị và hữu ích nhằm phục vụ nhucầu thông tin cho công chúng của mình trong tình hình mới như hiện nay.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng và làm rõ nguyênnhân, hạn chế của việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạngđiện tử hiện nay Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằm thay đổi cáchthức xử lý thông tin, khai thác vấn đề và nội dung thông tin về đời tư của giới

ca sĩ trên báo mạng điện tử, góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên báomạng điện tử trong tương lai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:

- Khái quát hệ thống những lý luận chung liên quan đến báo mạng điện

tử, chức năng thông tin trên báo mạng điện tử và cách xử lý thông tin về đời tưcủa giới ca sĩ trên báo mạng điện tử hiện nay;

- Phân tích thực trạng đồng thời chỉ ra nguyên nhân, hạn chế của việc báomạng điện tử thông tin tràn lan khó kiểm soát về thông tin đời tư của giới ca sĩtrên báo mạng điện tử hiện nay qua khảo sát các chuyên mục Văn hóa và Giảitrí của 3 tờ báo VietNamNet, VnExpress và VTC News;

- Đưa ra một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao chất lượng thông tintrên báo mạng điện tử khi đưa tin về đời tư của giới ca sĩ nhằm đáp ứng mộtcách tốt nhất nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng báo mạng điện tửcũng như tâm lý tiếp nhận của họ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Xử lý thông tin về đời tư của giới

ca sĩ trên báo mạng điện tử hiện nay.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn nghiên cứu cách thức xử lý thông tin trên hai chuyên mục

Trang 13

Văn hóa và Giải trí của 3 tờ báo VietNamNet, VnExpress và VTC News

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2014 đến năm 7/2015.

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Khi thực hiện luận văn, tác giả sử dụng lý luận chung mang tính hệ thống

về loại hình báo mạng điện tử; xu hướng phát triển của báo mạng điện tử; nhucầu và tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng báo mạng điện tử… Từ đó,vận dụng vào việc khảo sát, phân tích thực trạng của việc báo mạng điện tửthông tin về đời tư của giới ca sĩ ở trang mục Văn hóa và Giải trí của 3 tờ báomạng: VietNamNet, VnExpress và VTC News

5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng nhữngphương pháp nghiên cứu chính sau đây:

+ Phương pháp khảo sát: Khảo sát tần suất xuất hiện các bài viết có nội

dung thông tin về đời tư của giới ca sĩ ở hai trang mục Văn hóa và Giải trí đượcđăng tải trên 3 tờ báo mạng điện tử: VietNamNet, VnExpress và VTC News để

từ đó rút ra những ưu điểm và mặt tồn tại trong quá trình thông tin về đời tư củagiới ca sĩ;

+ Phương pháp phân tích – tổng hợp văn bản, tài liệu: Đây là phương

pháp được tác giả sử dụng để làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình từ việctổng hợp tài liệu, văn bản và phân tích văn bản để đánh giá thực trạng cũng nhưchỉ ra nguyên nhân vì sao báo mạng điện tử hiện nay khai thác, phản ảnh nhiều

về thông tin đời tư của giới ca sĩ lên mặt báo;

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn từ 5 - 7 người Đối tượng

phỏng vấn là lãnh đạo cơ quan báo chí; phóng viên đang đảm nhận vai trò phụtrách sản xuất tin, bài ở mảng giải trí, văn hóa để qua đó có những ý kiến đánhgiá về việc báo mạng điện tử thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạngđiện tử cả hiện tại và trong thời gian tới

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa thêm lý luận về báo mạng điện tử, cụthể là nội dung thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báo mạng điện tử - mộtthực trạng đáng bàn và là vấn đề nóng trên báo mạng điện tử hiện nay Đồngthời nêu ra những yêu cầu cần thiết đối với người làm báo mạng điện tử để tối

ưu hóa việc cung cấp thông tin có chất lượng cho công chúng báo mạng điện tửtrong thời gian tới

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi những mặt tồn tại, hạn chế cũngnhư tác hại của việc báo mạng điện tử thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên báomạng điện tử hiện nay nhằm nâng cao chất lượng thông tin, đáp ứng nhu cầuvăn hóa - giải trí và thay đổi tâm lý, nhu cầu tiếp nhận thông tin của côngchúng

Kết quả đạt được của luận văn sẽ giúp ích cho việc phát triển nghề củanhững người làm báo mạng điện tử chuyên nghiệp, có đạo đức và là nguồn tàiliệu quan trọng cho các sinh viên chuyên ngành báo mạng điện tử cũng nhưnhững ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội

dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của báo mạng điện tử thông tin về đời tư của

giới ca sĩ

Chương 2: Thực trạng việc xử lý thông tin về đời tư của giới ca sĩ trên 3

tờ báo mạng điện tử VietNamNet, VnExpress và VTC News

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về đời tư của giới ca

sĩ trên báo mạng điện tử ở Việt Nam

Trang 15

Trước đây, khi một sự kiện xảy ra thì phát thanh đưa tin, truyền hìnhminh họa, báo in phân tích và giải thích Nhưng giờ đây báo mạng điện tử cóthể đảm đương nhiệm vụ của cả phát thanh, truyền hình lẫn báo in một cách dễdàng Và mặc dù ra đời sau nhưng báo mạng điện tử đã nhanh chóng phủ sóngtoàn thế giới và ngày càng chứng minh sức lan tỏa của mình nhờ vào những ưuthế của các loại hình báo chí.

Hiện nay, việc sử dụng thuật ngữ định danh loại hình báo chí mà thôngtin được truyền tải và tiếp nhận qua mạng internet vẫn chưa thống nhất và làvấn đề đang được tranh cãi với nhiều tên gọi khác nhau như báo mạng; báointernet; báo mạng điện tử

Theo Luật Báo chí (sửa đổi) đã quy định rõ: “Báo chí nói trong luật này

là báo chí Việt Nam bao gồm: Báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính), bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” [30] Nghị định số 51/2002/NĐ-CP đã nêu rõ: “Báo chí là tên gọi chung đối với các loại hình báo

Trang 16

in, báo nói, báo điện tử” và “báo điện tử là tên gọi của loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính” [31].

Theo tác giả Nguyễn Thị Thoa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền trong

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở trọng điểm về Tổ chức và quản lý báo mạng điện tử ở Việt Nam [46, tr 3-4], cả hai thuật ngữ báo mạng điện tử và báo

trực tuyến đều chưa chuẩn xác Tác giả đã đưa ra những ý kiến phân tích về đặcđiểm của tờ báo mạng điện tử là được xây dựng dưới hình thức một trang web

và phát hành dựa trên nền tảng internet trong khi báo trực tuyến không thể nóihết được các đặc điểm đó Mặt khác, nếu xét về tính Việt hóa thì báo mạng điện

tử thỏa mãn yêu cầu hơn báo trực tuyến

Tác giả Nguyễn Thị Trường Giang, trong cuốn Báo mạng điện tử những vấn đề cơ bản, đã viết “báo mạng là cách gọi tắt của báo internet” [8, tr 26].

Đây là cách gọi không mang tính khoa học vì nó không rõ ràng, không đầy đủ,

dễ làm hiểu sai bản chất của thuật ngữ Bởi internet là mạng của các mạng (Anetwork of networks), dưới nó còn rất nhiều loại mạng như mạng nội bộ củacác tổ chức, các công ty, các chính phủ… Gọi tắt như thế sẽ không xác định rõ

ràng ranh giới khái niệm “mạng” và “mạng internet”.

Trong bài nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ báo mạng điện tử

vì nó thỏa mãn được các yếu tố: Việt hóa, đặc trưng khu biệt của các loại hìnhbáo chí mới, khắc phục được sự thiếu về nghĩa, sự máy móc của từ ngoại lai.Bên cạnh đó đây là sự kết hợp hoàn hảo các tên gọi có nội dung riêng biệt như:báo, mạng và điện tử

Vậy khác với báo giấy, báo mạng điện tử là loại hình báo chí được xâydựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng internet, có

ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phươngtiện và mang tính tương tác cao Báo mạng điện tử được xuất bản bởi tòa soạnđiện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tínhbảng có kết nối internet Báo mạng điện tử cho phép mọi người trên khắp thếgiới tiếp cận tin tức nhanh chóng vì nó không phụ thuộc vào không gian và thời

Trang 17

gian Sự phát triển của báo mạng điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ítnhiều có ảnh hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống.

1.1.2 Đặc trưng cơ bản của báo mạng điện tử

1.1.2.1 Khả năng đa phương tiện

Khả năng đa phương tiện trên báo mạng điện tử là sự kết hợp nhiều loạiphương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi văn tự) để thực hiện và tạo nên một sảnphẩm báo chí Một sản phẩm báo chí được coi là sản phẩm đa phương tiện khi

nó tích hợp nhiều trong số các phương tiện truyền tải thông tin sau: văn bản(text), hình ảnh tĩnh (still image), hình ảnh động (animation), đồ họa (graphic),

âm thanh (audio), video, và các chương trình tương tác (interactive programs)

Trên một sản phẩm báo mạng điện tử, tùy thuộc vào nội dung và yêu cầucủa từng tòa soạn mà việc sử dụng các yếu tố đa phương tiện cũng khác nhau.Trong nhiều trường hợp, một thông tin có thể được truyền tải bằng nhiềuphương tiện để người đọc tiếp cận và lựa chọn, nhưng nhiều trường hợp khácnhà báo sẽ quyết định hình thức truyền tải nào là phù hợp với nội dung thôngđiệp Nhờ vậy, các sản phẩm báo mạng điện tử ngày càng hấp dẫn, thu hútnhiều hơn sự quan tâm của công chúng [8, tr 122-123]

1.1.2.2 Tính tức thời và phi định kỳ

Là loại hình báo chí đại diện cho thời đại của thông tin, báo mạng điện tử

có tính cập nhật cao, có thể nói là cao nhất trong tất cả các loại hình báo chítruyền thống khác Thí dụ như để đọc những thông tin tiếp theo của báo in, bạnđọc phải chờ tới số sau, có thể là ngày hôm sau (nhật báo), cũng có thể là tuầnsau (tuần báo) vì báo in còn phụ thuộc vào tính định kỳ, thời gian in ấn và pháthành Còn để tiếp nhận tin tức trên phát thanh, truyền hình thì khán, thính giảkhông phải chờ lâu như thế nhưng lại phụ thuộc vào khung giờ, thời lượng phátsóng, thời gian tuyến tính và kĩ thuật Trong khi đó, trên báo mạng điện tử, bạnđọc gần như không phải chờ đợi Bất kể thông tin diễn ra ở đâu, thời gian nào,đêm cũng như ngày, chỉ cần một máy tính xách tay hoặc điện thoại di động nốimạng, các phần mềm phụ trợ (như phần mềm tải âm thanh, hình ảnh ) thì sự

Trang 18

kiện xảy ra phóng viên có thể cập nhật tin bài ngay tức khắc Khi vừa đăng bàixong, có thông tin mới lại có thể cập nhật thông tin mà không gặp phải bất kỳkhó khăn gì.

Báo mạng điện tử vượt qua các rào cản mà các loại hình báo chí khác gặpphải, nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thờilượng phát sóng hay thời gian tuyến tính, quy trình sản xuất thông tin lại đơngiản, dễ dàng nên có thể cập nhật, bổ sung bất cứ lúc nào với số lượng là baonhiêu Thông tin trên báo mạng điện tử có thể sống động, nóng hổi đến từnggiờ, từng phút, thậm chí là từng giây [8, tr 145-147]

1.1.2.3 Tính tương tác

Trước khi báo mạng mạng điện tử ra đời, tính tương tác trong hoạt độngbáo chí đơn giản là sự tác động qua lại giữa cơ quan báo chí, nhà báo với ngườitiếp nhận thông tin Nhưng sự xuất hiện của báo mạng điện tử đã làm cho tươngtác trong hoạt động báo chí được mở rộng, có nhiều hình thức hơn và giảm đinhững hạn chế của các hình thức tương tác cũ

Đối với báo mạng điện tử, nhờ sự hỗ trợ của công nghệ cao, bạn đọc cóthể gửi thư điện tử (e-mail) phản hồi ngay tới từng bài báo, từng tác giả và tòasoạn bằng những thao tác hết sức đơn giản, thuận tiện Cũng nhờ vào khả năngtương tác, báo mạng điện tử có thể thiết lập được các diễn đàn hay thực hiệncác cuộc bỏ phiếu (vote) giúp cho công tác điều tra xã hội học trở nên vô cùngđơn giản, thuận tiện và nhanh chóng

Báo mạng điện tử còn cho phép những đoạn video cũng có tính tương táchai chiều, kèm dữ liệu, có thể tra cứu Bên cạnh đó, với mong muốn là chiếccầu nối thân thiện, các tòa soạn báo mạng điện tử còn thiết lập các cuộc giaolưu trực tuyến, bàn tròn trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến tạo cơ hội cho bạnđọc giao lưu, trao đổi về các vấn đề trong cuộc sống với nhiều nhân vật màmình quan tâm, mến mộ, Ngoài ra, các tờ báo mạng điện tử hiện nay còntrang bị những ứng dụng tự động cho mình lên các trang xã hội như Facebook,

Trang 19

Twitter, Zing me, để chủ động quảng bá nội dung, chia sẻ các thông tin của tờbáo mình đăng tải đến cho công chúng [8, tr 152-158]

1.1.2.4 Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin

Báo mạng điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thờilượng chương trình như các loại hình báo chí khác Thông tin lại được lưu trữcao nên bạn luôn có thể xem đi xem lại nhiều lần bài viết hay một hình ảnh nào

đó của một bài báo được đăng tải trên báo mạng từ vài năm trước Chỉ cần sửdụng tìm kiếm thông tin như Google, Yahoo, gõ từ khóa là bạn có thể tìm thấybất cứ thông tin nào mà bạn cần mà không bị hạn chế thời gian

1.1.3 Thông tin trên báo mạng điện tử

Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng, “thông tin” là "điều màngười ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức" Từ điển khác thì đơn giảnđồng nhất thông tin với kiến thức: "Thông tin là điều mà người ta biết" hoặc

"thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người",

… Sở dĩ có sự khác nhau giữa khái niệm này giữa các từ điển là vì thông tin làmột khái niệm trừu tượng, nó không thể sờ, mó để mô tả một cách đơn thuầnđược [2]

Còn theo Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học,

năm 2000 thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho nhau để biết; và

Trang 20

với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (ví dụ bài báo có

lượng thông tin cao) [54]

Theo các tác giả cuốn “Cơ sở lý luận”, do Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, Nhà xuất bản Văn hóa –Thông tin xuất bản năm 1999, từ “Thông tin” được sử dụng với những ý nghĩakhác nhau trong các tình huống cụ thể:

Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thôngbáo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Ngay trong thiênnhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loại độngvật khác nhau; Thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung của thông báonói chung Trong trường hợp này, người ta xem xét chất lượng nội dung thôngbáo bằng “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận [46, tr 23]

Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nộidung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin

Ngoài ra, thông tin dùng ở đây không loại trừ các thông tin được truyềnbằng ngôn ngữ tự nhiên Thông tin cũng có thể được ghi và truyền ngôn ngữ cơthể, các cử chỉ, điệu bộ,… Hơn nữa con người còn được cung cấp thông tindưới dạng mã di truyền Những hiện tượng này của thông tin thấm vào thế giớivật chất và tinh thần của con người, cùng với sự đa dạng phong phú của nó đãkhiến khó có thể đưa ra một định nghĩa thống nhất về thông tin

1.1.3.2 Thông tin báo chí

Thông tin là chức năng khởi nguồn, chức năng cơ bản nhất của báo chí.Báo chí ra đời và phát triển trước hết là nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao

về thông tin của con người và xã hội Thực hiện chức năng thông tin, báo chícung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đápứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội

Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cáchriêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp

xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó

Trang 21

đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi vànăng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được.

Như vậy, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:

Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiệnthực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xãhội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của conngười

Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới côngchúng

Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu để nhà báo thựchiện mục đích của mình Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và côngchúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tinbáo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chữ viết (báo in); thông tin bằngtiếng nói (phát thanh); thông tin bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trênmạng internet (đa phương tiện)

Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau:

có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn; có khi làmột chương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tácphẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếpchữ trên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin

Thuật ngữ “Thông tin” trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộnghơn, chúng còn được hiểu như một danh từ tập hợp Chúng ta có thể gọi toàn bộtác phẩm, hay hệ thống những tin tức… là thông tin

Một thông tin có giá trị phải là thông tin đầy đủ, có hệ thống qua việc lựachọn đúng, có khoa học, có phương pháp nhằm phục vụ mục tiêu nhất định.Tức là giá trị tri thức của thông tin được chọn phản ánh trên báo chí, cácphương tiện thông tin đại chúng phải gắn với giá trị xã hội đương thời Điềunày cho chúng ta thấy, nếu bản chất vai trò của thông tin báo chí biểu hiệnchính ở chức năng điều chỉnh xã hội của nó thì sự phản ánh hiện thực xã hội

Trang 22

của báo chí đều nhằm mục đích nhất định và báo chí phản ánh hiện thực xã hộikhông phải là đưa ra các sự kiện “một cách vô tư” như một thứ hàng hóa màphải là những sự kiện được đánh giá, kết luận, được thừa nhận trên cơ sở hệ tưtưởng xã hội nhất định.

Như vậy, thông tin báo chí là một dạng thông tin xã hội đặc thù, mangtính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội Là sựphản ánh hiện thực, thông tin có nội dung khách quan đồng thời lại mang tínhchủ quan Do vậy, việc sử dụng thông tin vào hoạt động truyền thông đại chúngcũng như việc tiếp nhận thông tin ở mỗi người đều không thể diễn ra một cáchthụ động mà phải có sự kiểm định, xử lý lại thông tin

1.1.3.3 Thông tin trên báo mạng điện tử

Với báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ làcái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, bài phóng sự, bài phỏng vấn… Thuật ngữ

“thông tin” bao gồm toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống những tin tức… là thôngtin

Từ khi ra đời báo mạng điện tử nhanh chóng trở thành phương tiệntruyền thông hiện đại bởi những ưu thế so với báo chí truyền thống Loại hìnhbáo mạng điện tử ngày càng phát triển vượt bậc, có vị thế quan trọng, có ảnhhưởng đến nhiều tầng lớp xã hội

Bởi vì, báo mạng điện tử là loại hình báo chí có khả năng cập nhật liêntục và đòi hỏi lượng thông tin hàng ngày cung cấp tới bạn đọc vô cùng lớn nên

dù có một đội ngũ phóng viên hùng hậu, một tờ báo mạng điện tử cũng khôngthể bao trọn vẹn các vấn đề, sự kiện diễn ra hằng ngày trong đời sống chính trị,kinh tế, xã hội Với bạn bè quốc tế, Việt kiều đang sống ở nước ngoài, báomạng điện tử là một kênh thông tin quan trọng hàng đầu trong việc tuyên truyềnchủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp các đối tượngtrên hiểu rõ về công cuộc đổi mới và tình hình Việt Nam Chính vì vậy, các tờbáo mạng điện tử phải sử dụng, tham khảo thông tin của nhau trên cơ sở tôntrọng và lưu giữ bản quyền, nguồn gốc của thông tin đó

Trang 23

Trung bình mỗi ngày, một tờ báo mạng điện tử xuất bản trên dưới 50 tin,bài về đủ mọi lĩnh vực mà công chúng quan tâm Với một lượng thông tin đồ sộnhư vậy, công tác xử lý thông tin luôn phải tiến hành trôi chảy nhanh, gọn vàhạn chế tối đa các sai sót Vẫn biết, việc sửa chữa các sai sót trên báo mạng điện

tử là dễ thực hiện, nhưng một khi thông tin đó đã được đăng tải lên mạng, dùchỉ là một số lượng rất nhỏ công chúng nhìn thấy sai sót đó cũng là điều khôngnên Có một thực tế là từ trước đến nay chưa thấy một tờ báo mạng điện tử nàođăng tin đính chính, trong khi điều này thường khá gặp ở báo in, truyền hình vàphát thanh

Một vấn đề liên quan trực tiếp đến quá trình quá trình xử lý thông tin củabáo mạng điện tử, đó là: tốc độ thông tin là lợi thế song cũng vô tình trở thànhđiểm yếu của báo mạng điện tử Nhiều bài viết trên báo mạng điện tử bị bạn đọcđặt những câu hỏi lớn về độ tin cậy và chính xác của thông tin Chính vì vậy,những người làm báo mạng điện tử phải đối diện với áp lực của thông tin Dù

cố gắng rất nhiều nhưng không bao giờ những người làm báo mạng điện tửtránh khỏi được sơ suất Họ chỉ có thể hạn chế tối đa sơ suất Tuy nhiên, nếu xétdưới góc độ thông tin, điều này dễ được chấp nhận hơn Việc giải quyết mâuthuẫn giữa tốc độ đưa tin và độ tin cậy, độ chính xác của thông tin, không cócách nào khác là phải qua một thời gian khá lâu dài để cho phóng viên dần dầnlàm quen được với công việc, rèn luyện bản thân cả về chuyên môn nghiệp vụlẫn nhận thức chính trị

1.1.4 Xử lý thông tin trên báo mạng điện tử

Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê [36], “xử lý” là áp dụngnhững thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng “Thông tin” là điều hoặc tinđược truyền đi cho biết; hoặc sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hìnhthức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trongnó

Trang 24

Còn theo khái niệm trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học ấn

hành năm 2000, “Xử lý thông tin” là áp dụng vào thông tin đó là những thao tácnhất định để sử dụng [49, tr 1163]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu “xử lý thông tin” là một quá trình khaithác, phân tích và cải tạo những thông tin thô ban đầu trở thành thông tin mangmột giá trị nào đó

Xử lý thông tin là một hoạt động nghiệp vụ nhằm chỉnh sửa về cả mặt nộidung lẫn hình thức thông tin để đảm bảo độ chính xác và hấp dẫn của thông tin.Trong hoạt động báo chí, nói đến xử lý thông tin là nói đến quá trình mà nhữngngười làm báo bỏ công sức, trí tuệ ra để biến đổi, tinh lọc các thông tin sao chocác thông tin đó trở nên có giá trị, ý nghĩa để đưa đến công chúng tiếp nhận

Còn riêng đối với báo mạng điện tử, việc xử lý thông tin là “chế biến”,cải tạo những thông tin về các sự vật, hiện tượng, con người xảy ra hàng ngày,hàng giờ trong tự nhiên và đời sống xã hội thành những sản phẩm thông tin báochí để cung cấp đến công chúng của báo bằng những phương thức đặc trưngcủa báo mạng điện tử Phương thức đặc trưng này thể hiện rõ sự khác biệt củabáo mạng điện tử với các loại hình báo chí khác

Nói về vấn đề này, theo tác giả Trần Hồng Vân, “một tòa soạn báo mạngđiện tử tiếp nhận hàng trăm thông tin mỗi ngày Lựa chọn và xử lý các thông tin

ấy ra sao đòi hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ và phân công công việc cụ thể, quytrách nhiệm rõ ràng ở từng khâu, từng bộ phận” [50, tr 22]

Do đó, công việc xử lý thông tin trên báo mạng điện tử, mà nhất là xử lýthông tin về đời tư của giới ca sĩ là công việc đòi hỏi nhà báo cần có nhiều kinhnghiệm, sự hiểu biết xã hội cũng như về ngôn ngữ Quy trình xử lý thông tin ởmỗi tòa soạn báo mạng điện tử do phụ thuộc vào tiêu chí, mục đích hoạt độngcủa từng cơ quan báo nên có những điểm khác biệt, mang tính đặc trưng riêng

Dẫu có một số thiếu sót, nhưng chúng ta không thể phủ nhận những đónggóp của báo mạng điện tử trong công tác thông tin, tuyên truyền, cung cấpthông tin văn hóa, giải trí đến độc giả Qua những thông tin cần thiết, có chọn

Trang 25

lọc, với số lượng thỏa đáng và có chất lượng, họ đã góp phần hướng dẫn suynghĩ, khơi chiều dư luận, thúc đẩy hành động của công chúng, góp phần nângcao năng lực hoạt động thực tiễn của đối tượng; giáo dục, hình thành ý thức xãhội phù hợp với đặc điểm của thời đại, xây dựng nền văn hóa mới, làm cho thếgiới hiểu biết và yêu mến đất nước, con người Việt Nam cũng như góp phầnđẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.

1.1.5 Công chúng báo mạng điện tử

1.1.5.1 Khái niệm

Việc nghiên cứu để biết rõ về đối tượng công chúng của báo chí ở ViệtNam đã được nhiều tác giả nghiên cứu trên các phương diện khác nhau Tuynhiên, để có thể đưa ra một khái niệm thống nhất nhằm xác định công chúngcủa báo mạng điện tử đã gặp nhiều khó khăn

Theo Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học – Trung tâm từ điển ngôn ngữ: “Công chúng là đông đảo người đọc, nghe, xem trong quan hệ với tác giả…” [44, tr 114] Trong truyền thông: “Công chúng nói chung có thể được

là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động, hoặc hướng vào để tác động” [44, tr 114] Có nghĩa là công chúng bao gồm nhiều nhóm,

nhiều giới, nhiều tầng lớp và gia cấp xã hội khác nhau

Công chúng báo chí nói chung có thể được hiểu là người tiếp nhận vàđược các sản phẩm báo chí tác động hoặc hướng vào để tác động Khái niệmcông chúng, bạn đọc, bạn nghe đài, bạn xem truyền hình nói chung để chỉ mộtnhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày người ta có thể dùng để chỉ cụ thểmột người hay một nhóm nhỏ nào đó

Và cũng như khái niệm công chúng báo chí, công chúng báo mạng điện

tử cũng là những người tiếp nhận, sử dụng thông tin có tính báo chí được biêntập tại các tòa soạn báo mạng điện tử, phát hành qua phương tiện internet Côngchúng báo mạng điện tử phải có phương tiện máy tính cá nhân kết nối internet

Họ là tất cả những người có đủ trình độ về công nghệ, ngoại ngữ, khả năngnhận biết thông tin, có nhu cầu đọc báo mạng điện tử, đã đọc, đang đọc và sẽ

Trang 26

đọc Nội dung thông tin trên báo có thể tác động trực tiếp vào đối tượng côngchúng này làm thõa mãn thông tin và tăng thêm nhu cầu từ loại hình báo chí thìgọi đó là công chúng báo mạng điện tử Điều đặc biệt, công chúng báo mạngđiện tử là những đối tượng trí thức có trình độ, sự hiểu biết, có điều kiện tiếpnhận và nhu cầu thông tin cao, thường xuyên tiếp cận với khoa học kỹ thuậthiện đại cũng như luôn theo sát dòng thời sự diễn biến hằng ngày… Họ tiếp cậnbáo mạng điện tử với mục đích được thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, được nắm bắt,học hỏi, nghiên cứu những thông tin đa dạng diễn ra hằng ngày trong đời sống

xã hội ở diện rộng Đó là những nhà chính trị, nhà quản lý, những doanh nhân,những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà sư phạm và đặc biệt là lớp trẻ nhưthanh niên, học sinh, sinh viên Mạng internet cho phép họ cùng lúc tiếp xúc vớinhiều nguồn thông tin, được tự do lựa chọn, tìm hiểu, bình luận và đưa ra kếtluận cuối cùng về sự việc Tuy nhiên, công chúng báo mạng điện tử Việt Nam

và công chúng báo mạng điện tử trên thế giới vẫn có sự khác biệt rõ rệt

1.1.5.2 Đặc điểm công chúng báo mạng điện tử

Trong luận văn Thạc sĩ Đặc điểm công chúng báo mạng điện tử, tác giả

Hà Thu Hương đã xác định được 4 nhóm công chúng báo mạng điện tử dựa trêncác đặc điểm của họ, bao gồm: Nhóm công chúng không thường xuyên, nhómcông chúng thường xuyên, nhóm công chúng gắn bó mật thiết và nhóm côngchúng đến với báo mạng điện tử chỉ đơn thuần nhằm mục đích giải trí Sự phânchia ấy dựa vào thời gian và mục đích tiếp cận của công chúng báo mạng điệntử

Có thể rút ra, công chúng báo mạng điện tử có những đặc điểm như sau:

- Công chúng báo mạng điện tử nhạy bén với công nghệ thông tin Họ có

đủ tiền để có thể mua một số thiết bị công nghệ cao như laptop, máy tínhbảng… Họ sẽ chịu một khoảng chi phí kết nối internet để có thể đọc báo, để cóthể tải hình ảnh, phim;

- Công chúng báo mạng điện tử biết tận dụng những khoảng thời gianrảnh rỗi, ở bất kì nơi đâu Họ có thể là công chức muốn tranh thủ giờ giải lao

Trang 27

xem thông tin qua báo mạng điện tử Dù họ ở đâu, họ cũng có thể kết nối thôngtin;

- Công chúng báo mạng điện tử là thành viên của mạng xã hội facebook,zalo,… hay biết đến mạng xã hội như youtube…;

- Công chúng báo mạng điện tử muốn theo dõi vấn đề, sự kiện hay nhânvật nào đó Và trong thời gian ngắn công chúng báo mạng điện tử có thể nắmbắt nhiều thông tin, kịp thời, nóng hổi Đó có thể là thông tin các kì đại hộiĐảng, thông tin về thời sự biển đảo,… Đó có thể là thông tin về đời tư ca sĩ…

Đó có thể là thông tin về giá cả thị trường, thời tiết…

Từ những đặc điểm ấy, tác giả chia công chúng báo mạng điện tử thànhhai loại:

Thứ nhất, công chúng tiếp cận thông tin theo chiều hướng tốt: họ tiếp cậnthông tin để nhận thức đúng đắn, đầy đủ vấn đề; tiếp cận thông tin để hiểu biếtnhững điều mới mẻ, tốt đẹp…

Thứ hai, công chúng tiếp cận thông tin theo chiều hướng xấu: Họ chỉ tìmnhững hình ảnh gợi cảm, lộ hàng của ca sĩ; họ chỉ tìm những tin giật gân; họchia sẻ những thông tin thiếu chính xác…

Khi xác định công chúng báo mạng điện tử như vậy thì tòa soạn báomạng điện tử đưa thông tin để phục vụ loại công chúng nào Và trách nhiệm củabáo mạng điện tử là chiều theo thị hiếu tầm thường của bộ phận công chúng hayhướng công chúng đến những giá trị thẩm mĩ trong cuộc sống

1.2 Thông tin về đời tư của giới ca sĩ

1.2.1 Thông tin về đời tư

Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có một số quyền mà trong đó cácquyền nhân thân là bộ phận quyền ngày càng trở nên quan trọng Đó là cácquyền có liên quan mật thiết đến danh dự, uy tín, nhân phẩm, Pháp luật đangngày càng chú trọng đến việc bảo vệ quyền nhân thân mà đặc biệt là trong lĩnhvực hình ảnh cá nhân, bí mật đời tư cá nhân,

Nói chung quyền nhân thân là thứ quyền để bảo vệ cái “danh” của mỗi

Trang 28

con người, bao gồm nhiều khái niệm danh dự, danh tiếng, danh hiệu, Khi nóiđến quyền nhân thân, người ta thường quan tâm đến những quyền cụ thể nhưquyền đối với họ, tên; quyền đối với hình ảnh của mình; quyền được bảo vệdanh dự, nhân phẩm, uy tín; quyền được bảo vệ bí mật đời tư

Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, quyền tự do dân chủ càng được mởrộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó cácquyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng vớicác biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả Cụ thể như vấn đề tên họ, hìnhảnh, bí mật đời tư, uy tín, danh dự, nhân phẩm của cá nhân đã được pháp luậtquy định ở nhiều văn bản, nhiều ngành luật khác nhau

Nhiều vụ án đã được Tòa án thụ lí xét xử, buộc người vi phạm dù là cánhân hay tổ chức, dù là tư nhân hay Nhà nước đều phải có nghĩa vụ xin lỗi vàbồi thường bằng tiền cho người bị xâm phạm Từ các cơ quan Nhà nước tiếnhành tố tụng gây oan sai, từ báo chí thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống;

từ việc cá nhân, tổ chức đạo văn, đạo nhạc, xâm phạm bản quyền; từ việc tự ý

sử dụng tên họ hay hình ảnh của công dân trên các mẫu quảng cáo, trên nhữngbài báo mà không hỏi ý kiến hoặc không được sự đồng ý của người đó hoặcnhân thân của họ (nếu họ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự)

Hành vi xâm phạm quyền nhân thân của công dân không nhất thiết phảigây ra thiệt hại cho cá nhân đó mà kể cả trường hợp người bị xâm phạm không

bị thiệt hại gì, thậm chí là có lợi cho họ, nhưng về nguyên tắc hễ không có sựđồng ý của người đó thì bị coi là vi phạm

Hiện nay Bộ luật dân sự nước ta đã có những quy định về quyền bảo vệđối với bí mật đời tư Theo đó, việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tưcủa cá nhân phải được người đó đồng ý, trong trường hợp người đó đã chết, mấtnăng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con

đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thuthập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Quy định là vậy nhưng xem ra để xác định thế nào là “đời tư” và “bí mật

Trang 29

đời tư” thì còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ Pháp luật Việt Nam hiện naychưa có quy định rõ ràng về phạm vi khái niệm “Bí mật đời tư”, đồng thời cũngchưa có văn bản pháp luật nào giải thích khái niệm “Bí mật đời tư” rõ ràng.Khái niệm “Bí mật đời tư” là cụm từ Hán – Việt, có nguồn gốc chữ Hán vàđược Việt hóa Do đó, có thể hiểu “bí mật” là những chuyện kín đáo, chuyệnmuốn che giấu, không cho ai biết “Tư” có nghĩa là riêng, việc riêng, của riêng.Như vậy “Bí mật đời tư” là chuyện thầm kín của một cá nhân nào đó.

Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư

có thể hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản Đó có thể

là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, các mốiquan hệ gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho người khácbiết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc những ngườithân thích, những người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công

bố ra ngoài với bất kỳ ai “Bí mật đời tư” có thể được hiểu là “chuyện trongnhà” của cá nhân đó Ví dụ như con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân,tình trạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín,

Chung quy lại, xác định một thông tin, tài liệu thuộc bí mật đời tư: Một

là, thông tin, tài liệu đó thuần túy là cuộc sống riêng tư thầm kín của cá nhân.Hai là, những thông tin, tài liệu này không bắt buộc (không cần thiết) phải côngkhai cho mọi người biết Ba là, việc giấu kín những thông tin, tài liệu này khônglàm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, của xã hội và của cá nhân khác

1.2.2 Giới ca sĩ

Ca sĩ là người thực hiện, biểu diễn các bài hát bằng giọng ca của bản thânmình với nhiều thể loại nhạc: pop, rock, jazz, Hát là một kĩ năng để tạo ra âmnhạc bằng giọng hát của các ca sĩ, và các âm thanh được phát ra lớn hơn so vớinói chuyện bình thường bởi giọng và âm điệu

Ca sĩ có thể biểu diễn những bài hát với các dụng cụ nhạc hoặc không.Hát thường được thực hiện với một nhóm các nhạc sĩ, còn gọi là hợp xướng,khi được tổng hợp nhiều giọng khác nhau, hoặc có thể là một nhóm nhạc sĩ biểu

Trang 30

diễn dùng công cụ nhạc như nhóm nhạc rock hoặc kiểu ban nhạc Baroque

Theo một số định nghĩa, các bài hát đều dựa trên tiếng nói, hầu như tất cảmọi người ai nói được đều hát được Ca sĩ có thể hát theo quy tắc hoặc khônghoặc hát những bài đã sáng tác hoặc tự chế Hát thường được thực hiện với mụcđích cho vui, an ủi, lễ nghi, học thức, hoặc lợi lộc Muốn hát được chuyênnghiệp cần phải có nhiều thời gian luyện tập tận tụy và thường xuyên Tuynhiên cũng có một số trường hợp đặc biệt như ca sĩ Justin Bieber, Lệ Rơi… đãnổi tiếng vì được biết đến qua Youtube Các ca sĩ chuyên nghiệp thường tậptrung vào một lĩnh vực âm nhạc Họ thường phải học qua lớp sư phạm âm nhạcbởi các thầy giáo kinh nghiệm về âm giọng trong sự nghiệp ca hát của họ

Ca sĩ để lại ấn tượng trong lòng người đọc nhờ giọng hát Không chỉ thế,

ca sĩ còn có vẻ ngoài ưa nhìn, có vũ đạo giỏi Trong xu hướng hiện nay, yếu tốsau càng được xem trọng Họ thường xuất hiện dưới ánh đèn sân khấu các showdiễn, các phòng trà hay các áp phích với hình ảnh lộng lẫy

Ca sĩ, nhất là ca sĩ nổi tiếng, luôn có người đưa rước, săn đón Họ có thunhập khá cao Cuộc sống của họ trở thành niềm mơ ước của nhiều người

Giới ca sĩ trở thành người của công chúng Cuộc sống đời thường của họ,những tình cảm của họ, hay bất cứ điều gì liên quan đến họ đều được côngchúng quan tâm và muốn biết

1.2.3 Tiêu chí lựa chọn thông tin về đời tư giới ca sĩ

Điều 34 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 chỉ ghi nhận ngắn gọn: (1).Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo

vệ (2) Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải đượcngười đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý, nếu người đó đã chết,mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệutheo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiệntheo quy định của pháp luật (3) Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêuhuỷ thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngănchặn, cản trở đường liên lạc của người khác Chỉ trong những trường hợp được

Trang 31

pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mớiđược tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân.

Như vậy, theo Điều luật này,“bí mật đời tư” được giới hạn trong phạm vi

“thư tín, điện tín, điện thoại”, “đường liên lạc” Điều 38 BLDS năm 2005 quy định quyền bí mật đời tư trong phạm vi rộng hơn, tức bổ sung thêm “các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân”, còn nội dung khác vẫn giữ nguyên

theo tinh thần BLDS năm 1995

Theo quan điểm của một số người làm công tác pháp luật, bí mật đời tư

có thể được hiểu là những gì gắn với nhân thân con người, là quyền cơ bản Đó

có thể là những thông tin về hình ảnh, cuộc sống gia đình, tên gọi, con cái, cácmối quan hệ gắn liền với một cá nhân mà người này không muốn cho ngườikhác biết Những bí mật đời tư này chỉ có bản thân người đó biết hoặc nhữngngười thân thích, người có mối liên hệ với người đó biết và họ chưa từng công

bố ra ngoài cho bất kỳ ai “Bí mật đời tư” có thể hiểu là “chuyện trong nhà”

của cá nhân nào đó Ví dụ: con ngoài giá thú, di chúc, hình ảnh cá nhân, tìnhtrạng sức khỏe, bệnh tật, các loại thư tín, điện thoại, điện tín…

Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền bí mật đời tư nhưsau: (1) Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo

vệ (2) Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải đượcngười đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân

sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niênhoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bốthông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (3) Thưtín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân đượcbảo đảm an toàn và bí mật

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện

tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định vàphải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Mặc dù Điều 38 BLDS không đưa ra khái niệm bí mật đời tư, nhưng theo

Trang 32

lẽ thông thường có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quanđến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết Báo chí có quyềnđưa tin, nhưng với những thông tin về bí mật đời tư của cá nhân thì việc đưa tinphải được sự đồng ý của cá nhân đó Ở đây cần phân biệt sự công khai thông tintại Toà án giữa một vụ án dân sự, hôn nhân gia đình với một vụ án hình sự.Trong vụ án hình sự, những thông tin đó liên quan đến người phạm tội, họ đãthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và chịu hình phạt do Nhà nước qui địnhnên những thông tin này có thể được công khai để nhằm giáo dục, răn đe vàphòng ngừa chung Đối với những thông tin trong vụ án ly hôn, đó là thông tinliên quan đến bản thân đương sự, không ảnh hưởng gì đến lợi ích của Nhànước, lợi ích công cộng hay lợi ích của người khác nên các đương sự có quyềnkhông công khai những thông tin này Trường hợp này cần phải hiểu là côngkhai thông tin tại Toà án không đồng nghĩa với việc mất tính bảo mật của thôngtin đó.

Về nguyên tắc luật, “Quyền bí mật đời tư” là không đồng nhất với khái niệm “Quyền riêng tư” Quyền riêng tư cũng liên quan đến cá nhân, tuy nhiên

những vấn đề thuộc về riêng tư xét ở khía cạnh nào đó lại không được coi là bímật, mặc dù pháp luật vẫn bảo hộ những quyền này Bất cứ cá nhân nào cũng

có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ Lẽ

dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp, bởikhông ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình Ngược lại,nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khácnhư luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tụctập quán, thói quen…

Chúng ta có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêngluôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyềnlựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền

tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…) Như vậy, để có thể hiểu được “Quyền bí mật đời tư” thì phải xây dựng được khái niệm “bí mật đời tư” Và việc xây

Trang 33

dựng khái niệm “bí mật đời tư” phải xác định được hai khái niệm cũng như sự liên kết của hai khái niệm, đó là khái niệm “bí mật” và khái niệm “đời tư”.

1.3 Các yếu tố tác động đến việc báo mạng điện tử khai thác thông tin về đời tư của giới ca sĩ

1.3.1 Những quy định về luật

Nguyên tắc thứ ba trong “Những nguyên tắc quốc tế về đạo đức nghề báo” (do Câu lạc bộ tư vấn các tổ chức nhà báo quốc tế và khu vực ban hành tại

Paris tháng 11/1983) do TS Nguyễn Thị Trường Giang dịch và giới thiệu, có

quy định: “Thông tin báo chí là một loại hàng hóa mang tính xã hội chứ không phải hàng hóa vật chất, có nghĩa là các nhà báo cùng nhau có trách nhiệm truyền tải thông tin và đó không chỉ là trách nhiệm đối với những người quản lý các phương tiện truyền thông đại chúng mà còn là trách nhiệm với công chúng, với nhiều lợi ích xã hội khác nhau” [10, tr 76] Quy định này đề cao trách

nhiệm của nhà báo về những thông tin được công bố trước công chúng

Trong “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”

(Đại hội lần thứ VIII (2005) Hội Nhà báo Việt Nam đã chỉnh lý và sửa đổi

“Quy ước về đạo đức nghề báo Việt Nam” thành “Quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam”) có quy định: “Nhà báo cần tôn trọng danh dự và cuộc sống riêng tư của tất cả mọi người Không được xâm phạm, điều tra đời tư khi không được chấp nhận, kể cả chụp ảnh tài sản tư và thu thập thông tin bằng các thiết bị nghe lén” Và “khi đưa tin, nhà báo nên tránh ám chỉ một cách định kiến, miệt thị về chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, khuynh hướng tình dục, bệnh tật cũng như sự khiếm khuyết về thể xác và tinh thần của con người”[10, tr 709] Và điều 3: “Nhà báo đưa thông tin phải đảm bảo chính xác, trung thực, khách quan, không đưa những thông tin gây ra hiểu lầm hoặc bị móp méo Không đăng tin đồn khi chưa được kiểm chứng Không được viện cớ vì lợi ích chính đáng của công chúng để đưa tin giật gân, câu khách” [10, tr 709] Những quy định ấy liên quan đến công bố đời tư cá nhân

công dân Ca sĩ cũng là những công dân Khi công bố đời tư của họ, nhà báo

Trang 34

cũng cần căn cứ theo những quy định trên

Ngoài ra Điều 10 Luật báo chí năm 1989 (đã được sửa đổi, bổ sung năm1999), được quy định chi tiết tại Điều 5 (Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26tháng 4 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật báo chí, Luật

sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật báo chí) quy định “những điều không được thông tin trên báo chí” Trong các văn bản này, liên quan đến vấn đề đời

tư của công dân, thì khoản 4, Điều 10 Luật báo chí quy định “không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh

dự, nhân phẩm của công dân” [30].

Văn bản Luật Giao dịch điện tử (khoản 2 Điều 46) quy định quyền bí mật

đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ; việc thu thập, công

bố thông tin, tư liệu về đời tư cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trườnghợp pháp luật có quy định khác; thư từ, điện thoại, điện tín, các hình thức thôngtin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn, bí mật và việc kiểm soát cácloại này được thực hiện khi pháp luật có quy định và phải có quyết định của cơquan nhà nước có thẩm quyền

Quyền được bảo vệ đời tư (right to privacy) trước hết được đề cập trong Điều 12 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR): “không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy” Quyền

bảo vệ đời tư được nhắc đến từ khá lâu Quyền bảo vệ đời tư không đồng nhấtvới Quyền bí mật đời tư

Quyền được bảo vệ đời tư cũng đã được đề cập đến trong rất nhiều trongcác bản quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà báo ở Việt Nam và trên thế giới

Chẳng hạn điều 8 trong bản Phác thảo Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhà báo Việt Nam viết: “Tôn trọng quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm của các cá nhân ngoại trừ điều đó có thể gây hại cho xã hội; cho dù mối quan tâm của công chúng cũng không được sử dụng ngôn ngữ thấp kém hay công kích, tấn

Trang 35

công người khác một cách ác ý” [10, tr 67], mục VII đảm bảo sự riêng tư trong

Quy tắc tác nghiệp của Đài truyền hình Việt Nam (VTV) (ban hành 9/2012):

“Chúng ta tuân thủ nguyên tắc tôn trọng danh dự và cuộc sống riêng tư của tất

cả mọi người Không xâm phạm, điều tra đời tư khi không được cho phép […] Cho dù là ngôi sao trong lĩnh vực giải trí hay là người thường, mỗi người đều

có quyền đòi hỏi bí mật đời tư của họ được tôn trọng” [10, tr 169], mục 3 trong Quy tắc nghề nghiệp của biên tập viên Anh (thông qua 8/2007): “Mọi người đều có quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư, gia đình, sức khỏe và những điều tương tự khác, bao gồm cả các thông tin liên lạc bằng kĩ thuật số Biên tập viên phải giải trình trước pháp luật nếu xâm phạm vào cuộc sống riêng tư của người khác mà không được họ đồng ý Việc chụp ảnh bất kì người nào ở những nơi riêng tư mà không được sự đồng ý của họ là không thể chấp nhận được”

[10, tr 218], mục 5 và 6 trong Quy tắc đạo đức nghề báo của Áo (thông quatháng 1/1983 cũng đã khẳng định bảo vệ quyền cá nhân và sự riêng tư

Nói chung các quy định về xâm phạm bí mật đời tư cá nhân chỉ dừng lại

ở quy định, quy tắc về đạo đức nhà báo Những quy định về chế tài người công

bố thông tin xâm phạm đời tư vẫn chưa được cụ thể hóa, chưa rõ ràng

1.3.2 Nhu cầu tiếp nhận của công chúng

Ca sĩ là người của công chúng Trong suy nghĩ của công chúng, những ca

sĩ là những người có tài năng, có cuộc sống đáng mơ ước, có đời tư hấp dẫn.Công chúng muốn biết thông tin về người mà họ yêu mến, thần tượng

Một số công chúng muốn biết về cuộc sống thường ngày, những mốiquan hệ tình cảm của ca sĩ để ca ngợi hay cảm thông Họ muốn biết về nhữngđời tư có tác động đến sự nghiệp ca hát Họ quan tâm đến đời tư với thái độđúng mực

Còn nhu cầu của lớp công chúng thứ hai, họ mong muốn tìm đọc nhữngthông tin như cách ăn mặc hở hang, lộ hàng của ca sĩ Họ sẽ ca ngợi hoặc bìnhluận bằng những lời khiếm nhã Họ còn muốn biết ca sĩ ấy dùng loại phấn gìhay ngủ lúc mấy giờ Thậm chí họ muốn biết dao cạo râu hiệu gì hay chiếc khăn

Trang 36

mùi soa màu gì Nhiều bạn trẻ rất thích bắt chước kiểu ăn mặc theo các ca sĩmình thần tượng Nên họ cũng quan tâm quần áo, giày dép, nón, túi xách Họmuốn biết giới tính người đó có phải chuẩn men,… Đây là một trong những

thông tin hấp dẫn để bàn tán, buôn dưa lê hay “dìm hàng” ca sĩ “địch thủ” với

ca sĩ hâm mộ của mình Hay, họ từng có quan hệ với ca sĩ nào, ông bầu sô nào.Nhiều người bình luận về những ca sĩ A hay ca sĩ B không có tài nhưng cóngười đỡ đầu nên nổi tiếng Nói chung lớp công chúng này chỉ quan tâm đếnnhững tin giật gân, sốc để làm đề tài bàn tán

1.3.3 Yếu tố lợi nhuận kinh tế và đạo đức nhà báo

Trước hết, nghề báo cũng là một công việc để kiếm sống Công việc củanhà báo là viết bài, đưa thông tin đến độc giả Mỗi bài báo được công bố, đượcđăng tải thì người viết báo sẽ nhận được thù lao nhuận bút Trong thời buổicạnh tranh thông tin, phải nhanh chóng, kịp thời khiến một số nhà báo cho đăngnhững nội dung chưa chính xác, thiếu kiểm chứng, hay những tin bài giật gân

để câu khách

Thứ hai, nghề báo không phải nghề dễ sống Ngòi bút nhà báo có thểvinh danh một cá nhân nhưng cũng có thể giết chết một con người Ngòi bútnhà báo có thể đưa mình lên đỉnh vinh quang, nhưng cũng đưa mình vào vòngnguy hiểm Một số cơ sở đào tạo ca sĩ, vì muốn lăng-xê, đánh bóng tên tuổi ca

sĩ mới, có thể tìm đến nhà báo Cá nhân muốn đánh bóng tên tuổi cũng có thểtìm đến nhà báo Cá nhân muốn bảo vệ danh dự vì đời tư của mình đã rơi vàotay nhà báo, họ có thể thỏa thuận bằng tiền Khi nắm trong tay những thông tin

bí mật, những khả năng đưa thông tin đến công chúng, nhà báo dễ dàng uốncong ngòi bút của mình để trục lợi

Thứ ba, những thông tin về đời tư ca sĩ luôn hấp dẫn độc giả Nhữngthông tin về tình yêu, giới tính, cách ăn mặc, phát ngôn của ca sĩ, nhất là ca sĩtrẻ tuổi, ca sĩ hạng A sẽ luôn được độc giả trẻ quan tâm, bình luận, chia sẻ, bắt

chước Có thể nói những bài báo loại này luôn “ăn nên làm ra” Những tờ báo

lá cải chỉ cần vài tấm hình thiếu vải, vài tin tức giật gân cũng đủ làm sốt cộng

Trang 37

đồng mạng Vì thế một số báo chính thống cũng phải tranh đua đăng nhữngthông tin sốt về đời tư ca sĩ

Trước những lợi nhuận kinh tế trong việc làm báo, điều để giữ cho bàibáo thông tin đời tư ca sĩ đúng đắn, nhân văn hay trở thành những bài viết lá cảichỉ còn nhờ vào đạo đức nhà báo

Trong cuốn “Cơ sở lý luận của báo chí” (tập 2), tác giả E.P.Prôkhôrốp cho rằng: “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo – đó là những quy định đạo đức không được ghi trong các đạo luật, nhưng được chấp nhận trong giới báo chí

và được duy trì bởi sức mạnh của dư luận xã hội, bởi các tổ chức sáng tạo – nghề nghiệp – đó là những nguyên tắc, những quy định và những quy tắc về hành vi đạo đức của nhà báo” [59, tr 94-95].

PGS.TS Nguyễn Văn Dững – Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã

khẳng định: “Đối với hoạt động báo chí, với nhà báo, trách nhiệm xã hội là tiêu chí cơ bản thể hiện tính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề, bao gồm trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lí, trách nhiệm đạo đức…” [5, tr 305]

Đúng vậy, trong xã hội hiện nay, đối với một số nghề, như nghề y, nghềgiáo, và nhất là nghề báo, đạo đức nghề nghiệp đã và đang trở thành vấn đềđược xã hội quan tâm Bởi vì, nghề viết báo không chỉ tác động và liên quanđến cộng đồng, đến đông đảo cư dân, mà còn quan trọng là việc tác động vào hệthống giá trị tinh thần, tư tưởng, những quan niệm giá trị đạo đức và nhânphẩm, giá trị của con người trong xã hội Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, vai tròthông tin của báo chí ngày càng có vị thế quan trọng Vậy đạo đức nghề nghiệpnhà báo, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường, càng phải được đặt ra cấpthiết hơn

TS Nguyễn Thị Trường Giang, trong “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo” đã đưa ra khái niệm: “Đạo đức nghề nghiệp của nhà báo là những quy tắc, chuẩn mực quy định thái độ và hành vi ứng xử của nhà báo trong các mối quan hệ nghề nghiệp Trên thực tế hiện nay, đạo đức nghề nghiệp của nhà báo còn được gọi bằng nhiều tên khác nhau với ý nghĩa đồng nhất Đó là đạo đức

Trang 38

nghề báo, đạo đức báo chí, đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, đạo đức nhà báo” [9, tr 36]

GS.TS Tạ Ngọc Tấn và PGS.TS Đinh Thị Thúy Hằng cho rằng: “Báo chí là những loại hình truyền thông đại chúng quan trọng nhất, có sức mạnh to lớn nhất trong đời sống xã hội hiện đại Hoạt động báo chí bị chi phối bởi luật báo chí và những điều luật khác liên quan đến báo chí Ngoài ra còn có những chuẩn mực khác rất quan trọng, không nằm trong các điều luật, nhưng những người làm báo vẫn cần tuân thủ dưới sự dẫn dắt của lương tâm và trách nhiệm.

Đó chính là đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, hay còn gọi là đạo đức báo chí” [47, tr 8]

Như vậy, đạo đức nghề nghiệp báo chí là hệ thống những quy tắc, chuẩnmực, giá trị đạo đức đặc thù có tính định hướng, điều chỉnh thái độ và hành viứng xử của nhà báo, cũng như các tổ chức, các thiết chế báo chí trong các hoạtđộng, các quan hệ nhằm thực hiện chức năng của báo chí

1.3.4 Môi trường truyền thông

Nhờ mạng internet, báo mạng điện tử có thể truyền thông tin với tốc độnhanh, thông tin luôn được cập nhật Người đọc cũng tiếp nhận thông tin đadạng hơn từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Chính nhờ lợi thế đó mà báo

mạng điện tử từng được xem là “điểm sáng của cuộc cách mạng thông tin”.

Nhờ mạng internet, người đọc không chỉ tiếp nhận mà còn có thể phản hồi, bìnhluận và chia sẻ thông tin

Từ thông tin nhanh và dễ dàng chia sẻ, những thông tin của báo mạngđiện tử có tốc độ lan tỏa mạnh Nghĩa là sự tác động của thông tin đến với mọingười cũng nhanh hơn, nhiều người hơn Báo mạng điện tử sẽ gây hiệu ứng tíchcực nếu tin tức tích cực, ngược lại nó sẽ tạo nên một dư luận xấu ảnh hưởng đếnđời sống cá nhân người được đưa tin, đến đời sống cộng đồng

Với dung lượng đăng tải không giới hạn, hình thức thể hiện đa phươngtiện, mỗi ngày trên các trang báo mạng điện tử có hàng chục, thậm chí hàngtrăm tin, bài, ảnh, video clip được cập nhật liên tục Sự kiện hay thông tin về cá

Trang 39

nhân trong thời gian ngắn đã có thể xuất hiện trên báo mạng điện tử Nếu trangbáo mạng điện tử khác không săn tin kịp thời đồng nghĩa với việc lạc hậu.Chính vì vậy, các trang báo mạng điện tử luôn tìm tòi, khai thác những đề tàimới của cuộc sống, xông xáo và dấn thân vào xã hội để lấy thông tin Qua cạnhtranh ấy, công chúng có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin Nhưng cũng từ đó, một

số trang báo mạng điện tử đã dùng nhiều cách không lành mạnh, thiếu văn hóa

để thu hút công chúng

Chính trong môi trường thông tin mang tính tương tác, nhiều trang báomạng điện tử đã tổ chức các diễn đàn không giới hạn số lượng công chúng thamgia Nhiều trang báo thu hút hàng triệu độc giả tạo thành dư luận xã hội, cácluồng ý kiến đa chiều, trái chiều về nhiều vấn đề xã hội, trong đó có đời tư ca sĩ

Cũng chính trong môi trường truyền thông nhanh nhạy, hiện đại, ngườiphóng viên cũng phải nhanh nhạy và hiện đại

Tuy nhiên, cũng không ít nhà báo phòng lạnh Nghĩa là chỉ ngồi tại vănphòng Họ làm một việc rất nhàn, copy bài của người khác, đăng trên trang báocủa mình Người đọc nhận thấy cùng một thông tin, một tiêu đề nhưng lại xuấthiện trên nhiều trang báo mạng điện tử khác nhau Điều này gây lãng phí thờigian, nhàm chán

Khi tính cạnh tranh cao, nhiều tờ báo mạng điện tử bất chấp quy định,pháp luật của nhà nước cạnh tranh không lành mạnh khi đưa những thông tinkhông chính xác, gây sốc, thiếu tính văn hóa và xây dựng đã gây nên những hậuquả không nhỏ

1.4 Một số quy định về “Quyền đối với Bí mật thông tin đời tư” của một số quốc gia trên thế giới

Quyền được bảo vệ đời tư trước hết được đề cập trong Điều 12 Tuyên

ngôn Quốc tế Nhân quyền (1948): "không ai phải chịu sự can thiệp một cách tuỳ tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy” Quyền bảo vệ đời tư được nhắc

Trang 40

đến từ khá lâu Quyền bảo vệ đời tư không đồng nhất với Quyền bí mật đời tư

Quyền được bảo vệ đời tư được tái khẳng định trong Điều 17 Công ước

Quốc tế về các quyển dân sự và chính trị (1966), trong đó nêu rằng: “Không ai

bị can thiệp một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy” [10, tr 508]

Điều 17 nhằm ngăn chặn những hành vi xâm phạm tùy tiện và bất hợppháp vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, danh dự, uy tín của mọi người mà cóthể do các quan chức nhà nước hay do các thể nhân và pháp nhân khác gây ra.Những can thiệp hợp pháp vào đời tư phải được quy định trong pháp luật, vàphải phù hợp với các quy định khác của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị Nhà nước phải có những biện pháp hiệu quả để bảo đảm rằngnhững thông tin cá nhân đó không rơi vào tay những người không được phápluật cho phép và không bị sử dụng vào các mục đích trái với Công ước Để bảođảm cũng như bảo vệ đời tư một cách hiệu quả, mỗi cá nhân cần có quyền đượcbiết liệu thông tin cá nhân của mình có bị thu thập, lưu giữ bởi chủ thể nàokhông và nếu có, thì ở đâu, nhằm mục đích gì, chủ thể quản lý thông tin cá nhâncủa mình là ai Thêm vào đó, mỗi cá nhân cũng cần có quyền yêu cầu sửa chữahoặc xóa bỏ thông tin cá nhân của mình nếu thông tin đang được lưu trữ khôngchính xác, hoặc bị thu thập hay lưu trữ một cách trái pháp luật

Còn theo Điều 4 của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ “Quyền đối với

bí mật đời tư” được quy định: “Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ”.

Điều 35 của Hiến pháp Nhật Bản thì “Quyền đối với bí mật đời tư” được

quy định: “Nhà ở, thư từ và các đồ vật điều được đảm bảo chống lại sự khám

Ngày đăng: 07/05/2016, 18:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w