1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo

15 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 35,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, với nguyên tắc coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên pháp luật tố tụng hình sự đã dành cho họ nhiều quyền trong suốt các giai đoạn tố tụng. Mục đích của những quy định này không phải thiên về lợi ích của những người bị nghi là có tội hay làm suy yếu đi cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng, mà chính là đòi hỏi các cơ quan đó và những người tiến hành tố tụng trong mọi hoạt động tố tụng phải thận trọng, vô tư và đề cao tinh thần trách nhiệm làm rõ các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, với nguyên tắc coi bị can, bị cáo là những người chưa có tội nên pháp luật tố tụng hình sự đã dành cho họ nhiều quyền trong suốt các giai đoạn tố tụng Mục đích của những quy định này không phải thiên về lợi ích của những người bị nghi là có tội hay làm suy yếu đi cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của các cơ quan chức năng, mà chính là đòi hỏi các cơ quan đó và những người tiến hành tố tụng trong mọi hoạt động tố tụng phải thận trọng, vô tư và đề cao tinh thần trách nhiệm làm rõ các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, tránh làm oan người vô tội và bỏ lọt người phạm tội Để làm

sáng tỏ vấn đề nêu trên, em xin chọn đề “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo.”

B NỘI DUNG

I Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.

1 Khái niệm bị can, bị cáo.

Khoản 1 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “bị can là người đã bị khởi tố về hình sự” Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ sẽ trở thành đối

tượng bị buộc tội trong vụ án, tuy nhiên điều đó không có nghĩa xác định họ là người có tội Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc vì theo Điều 9 BLTTHS 2003: Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa

án đã có hiệu lực pháp luật Theo đó, bị can là người bị khởi tố về hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can Bị can sẽ tham gia vào các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra đình chỉ điều tra, viện kiểm sát đình chỉ vụ

án, Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can hoặc Tòa

án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trang 2

Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003 thì “Bị cáo là người đã bị Tòa

án quyết định đưa ra xét xử” Bị cáo tham gia tố tụng kể từ khi có quyết định đưa

vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật

Và khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm Bị cáo không phải là người có tội Họ chỉ trở thành có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án

ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật

2 Nội dung quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự 2.1 Các quyền và nghĩa vụ chung của bị can, bị cáo.

2.1.1 Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ

Pháp luật đã quy định trách nhiệm của người tiến hành tố tụng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, tạm giữ và tạm giam đều phải giải thích cho đối tượng bị áp dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ Trong các văn bản áp dụng pháp luật tố tụng hình sự (các lệnh bắt, luyết định tạm giữ hay lệnh tạm giam) đều phải đọc, giải thích rõ cho đối tượng; trong quyết định khởi tố bị can phải ghi

rõ tội danh, điều khoản luật được áp dụng đối với bị can; trong phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên tòa Việc đảm bảo quyền này của bị can, bị cáo có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo quyền con người của bị can, bị cáo; giúp họ hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình cũng như cũng như góp phần nhanh chóng kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án

2.1.2 Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Theo quy định tại BLTTHS năm 1988 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra

“chứng cứ và những yêu cầu” còn theo quy định mới của BLTTHS 2003 thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra “ tài liệu, đồ vật, yêu cầu” Như vậy đã có sự thay đổi trong quy định của pháp luật từ việc bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ thì

Trang 3

nay chuyển thành những tài liệu, đồ vật Sự thay đổi này trong quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý, góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật nước ta Bởi

vì khi bị can, bị cáo cung cấp cho Cơ quan điều tra những tài liệu, đồ vật thì không phải mọi tài liệu đồ vật đó đều là chứng cứ trong vụ án Khi Cơ quan điều tra nhận được các tài liệu, đồ vật đó thì họ phải tiến hành kiểm tra, đánh giá khách quan để xác định các tài liệu đồ vật đó có phải là chứng cứ trong vụ án hay không Và chỉ khi các tài liệu đồ vật đó đáp ứng được các yêu cầu theo quy định của pháp luật thì chúng mới trở thành chứng cứ trong vụ án

2.1.3 Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người

phiên dịch theo yêu cầu của Bộ luật này (BLTTHS)

Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ không thể

vô tư trong khi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can, bị cáo Khi các Cơ quan tiến hành tố tụng nhận được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch của bị can thì cần phải xem xét, giải quyết yêu cầu đó nếu thấy yêu cầu là có căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự (quy định cụ thể tại Điều 42 BLTTHS về những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng) Đây là sự thể hiện nguyên tắc cơ bản trong hoạt động TTHS: “bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng” (Điều 14 BLTTHS)

2.1.4 Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

Quyền bào chữa là một tổng thể các quyền và những biện pháp tố tụng cần thiết đảm bảo cho bị can, bị cáo tích cực tham gia TTHS; có khả năng thực tế để bày tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội; lưu ý các cơ quan tiến hành tố tụng

về những tình tiết này hay tình tiết khác của vụ án; khả năng nêu ra những tình tiết

Trang 4

minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can, bị cáo Quyền bào chữa được hiến pháp quy định và là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS Theo quy định của BLTTHS, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa và có thể đang bị giam giữ nên họ không thể thực hiện được việc tự bào chữa có hiệu quả Họ cần có người khác có khả năng để bào chữa, do đó, bên cạnh quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định họ có quyền nhờ luật sư, trợ giúp viên pháp lý, bào chữa viên nhân dân bào chữa cho mình Những người này sẽ tham gia TTHS để nhằm bác bỏ toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho

họ Tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa là quyền của bị can và bị cáo, không phải là nghĩa vụ của họ Do vậy, bên cạnh việc quy định các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn luật sư phân công luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cũng quy định quyền của những người này và người đại diện hợp pháp của họ được yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa (khoản 2 Điều 57 BLTTHS)

2.1.5 Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm

quyền tiến hành tố tụng

Không phải trong mọi trường hợp mọi quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều đúng theo quy định của pháp luật Do vậy, để đảm bảo thực hiện tốt các quy định của pháp luật cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo thì pháp luật đã cho phép bị can, bị cáo có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng lên các chủ thể có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét và giải quyết khiếu nại theo đúng quy định và thời hạn pháp luật quy định Kết quả xem xét, giải quyết khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản cho bị can, bị cáo biết Nghĩa vụ

có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát: đây là nghĩa vụ cơ

Trang 5

bản của bị can, bị cáo Khi có giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát

mà bị can, bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, còn nếu

bỏ trốn thì bị truy nã Đây là một trong các biện pháp ngăn chặn được pháp luật áp dụng nhằm đảm bảo tiến trình tố tụng và ngăn chặn tội phạm

2.2 Các quyền, nghĩa vụ riêng của bị can.

2.2.1 Các quyền của bị can

a Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì

Bị can cần phải biết tội danh họ bị khởi tố để họ có thể tự bào chữa để gỡ tội cho mình Nếu không biết mình bị khởi tố về tội gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình cùng những lời bào chữa, vì mục đích của việc tiến hành các trình tự tố tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì phải chịu hình phạt như thế nào Bị can phải được giao nhận quyết định khởi tố bị can , trong trường hợp có sự thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can cũng phải thông báo cho bị can biết Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng

b Quyền được trình bày lời khai

Là một quy định mới của BLTTHS 2003 về các quyền và nghĩa vụ của bị can trong tố tụng hình sự Theo quy định này thì bị can có quyền trình bày lời khai

về những vấn đề liên quan đến vụ án mà họ bị khởi yoos Đây là quyền chứ khoogn phải nghĩa vụ của bị can Do vậy nhiều khi bị can đã sử dụng quyền này của mình để khai báo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc là phạm tội ở mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết,

lí do để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Cũng có trường hợp bị can từ chối không khai báo về hành vi của mình Tuy nhiên trong trường hợp mà họ từ

Trang 6

chối khai báo hay khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình

sự về hành vi đó Và ngược lại nếu bị can có thái độ khai báo thành khẩn thì đó lại được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

c Quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy

bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật này.

Bị can có quyền được nhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình Quyết định này tạo điều kiện cho bi can có thể thực hiện tốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình

2.2.2 Các nghĩa vụ tố tụng của bị can

Bên cạnh có các quyền tố tụng thì bị can cũng phải thực hiện các nghĩa vụ nhất định Khoản 3 Điều 49 BLTTHS 2003 quy định: “bị can phải có một đơn giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; trong trường hợp vắng mặt không có

lí do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã” Như vậy, trong trường hợp bị can được tại ngoại, khi cần sự có mặt của bị can để tiến hành các hoạt động điều tra hoặc các hoạt động điều tra, các hoạt động tố tụng khác thì các

cơ quan tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Việc triệu tập bị can phải tuân thủ theo đúng quy định tại điều 129 BLTTHS 2003 Giaays triệu tập bị can phải ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can, thời gian, địa điểm bị can phải có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lí do chính đáng Giấy triệu tập bị can này

sẽ được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập phải

Trang 7

có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải kí nhận và ghi rõ ngày giờ được nhận Người chuyển giấy triệu tập cho bị can còn có nghĩa vụ chuyển phần giấy triệu tập đã có kí nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can Nếu trong trường hợp bị can đã nhận được giấy triệu tập nhưng không kí nhận thì người chuyển giấy phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị can Nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đã thành niên trong gia đình để kí xác nhận và chuyển cho bị can Trong trường hợp bị can vắng mặt không có lí do chính đáng thì có thể bị áp giải Việc áp giải bị can cũng phải tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 130 BLTTHS Trong trường hợp bị can bị tạm giam thì việc triệu tập bị can của cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không được thông qua ban giám thị trại tạm giam Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án có thể triệu tập bị can để giải quyết vấn đề dân sự hoặc cam đoan trước khi quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm bị can sẽ có mặt được triệu tập giúp cho quá trình xét xử được thuận lợi Trong trường hợp Tòa án cần triệu tập bị can mà bị can lợi dụng sơ hở pháp luật, không có mặt theo giấy triệu tập sẽ làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án

2.3 Các quyền và nghĩa vụ riêng của bị cáo

2.3.1 Các quyền của bị cáo

a Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Đây là một quyền quan trọng của bị cáo Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo biết được tội danh họ bị đưa ra xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên tòa, tên của người tham gia tiến hành tố tụng, vật chứng cần xem xét tại tòa… Trên cơ sở đó họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Ngoài ra,

bị cáo cũng có quyền nhận các quyết định khác có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình như: Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn;

Trang 8

quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án, các quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật này Các quyết định này là căn cứ pháp lí để bị cáo thực hiện các quyền và nghãi vụ liên quan đến quyết định đó

b Quyền được tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, quyền bình đẳng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng được thể hiện rõ nhất Quyền tham gia phiên tòa của bị cáo

và quyền bình đẳng trước phiên tòa trong việc đưa ra các chứng cứ, yêu cầu tranh luận giữa kiểm sát viên với những người tham gia tố tụng, trong đó có bị cáo là hai mặt của một vấn đề Nếu không thực hiện đúng quy định bình đẳng này thì việc thực hiện quyền tham gia phiên tòa của bị cáo cũng chỉ mang tính hình thức

c Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa.

Đây là quyền mang tính dân chủ, công bằng của pháp luật TTHS.Theo đó bị cáo có quyền thể hiện quan điểm của mình trước phiên tòa, đưa ra các ý kiến, những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác nhằm làm sáng tỏ vấn đề, từ đó việc xét xử trở nên khách quan, thuyết phục và đạt được mục đích xét xử

d Quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án.

Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc tranh hỏi và tranh luận, bị cáo được quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án Pháp luật quy định quyền này là để tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử đưa ra những quyết định đối với vụ án Để đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền này, BLTTHS có quy định tại điều 220, theo đó Hội đồng xét xử (HĐXX) không được đặt câu hỏi với họ, nếu họ trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, HĐXX phải quyết định trở lại phần xét hỏi

Trang 9

e Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án.

Kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của Tòa án, yêu cầu được xét xử lại Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và các quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án chưa có hiều lực pháp luật của Tòa án Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết quyền kháng cáo của bị cáo Nhằm giúp bị cáo yên tâm thực hiện quyền kháng cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì Tòa án phúc thẩm không

có quyền sửa án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo

2.3.2 Nghĩa vụ của bị cáo

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 50 BLTTHS, bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt không có lí do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã

II Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền và

nghĩa vụ của bị can, bị cáo

1 Đánh giá việc thực hiện quy định của Bộ luật TTHS về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo trong TTHS

Đầu tiên là trong việc thực hiện quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu của bị

can, bị cáo Do chưa thấy hết tầm quan trọng của việc bảo đảm thực hiện đúng quyền này dẫn đến việc vi phạm một cách nghiêm trọng một số lỗi như không kiểm tra, xem xét thật khách quan những chứng cứ hay yêu cầu mà bị can, bị cáo đưa ra, vội vàng bác bỏ khi thấy không phù hợp với hướng điều tra của mình Những sai phạm đó có thể thấy ngay trong cách đặt câu hỏi với bị can Những câu hỏi chỉ có dạng trả lời “có” hay “không” đã không gợi mở và tạo cho bị can cơ hội được đưa ra những chứng cứ và yêu cầu của mình Thậm chí, sự không tôn trọng quyền của bị can có thể dẫn đến việc mớm cung, bức cung và dùng nhục hình

Trang 10

Không ít cán bộ điều tra đã muốn rằng những lời khai của bị can phải phù hợp với chứng cứ mà họ thu thập được mà không phải là những lời khai phản ánh đúng sự thật vụ án Nếu chứng cứ mà bị can đưa ra mâu thuẫn với những chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được sẽ khiến cho cơ quan điều tra có thể quy kết bị can quanh co, chối tội gây khó khăn kéo dài vụ án

Thứ hai, về cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bào chữa Mặc dù pháp luật

TTHS đã quy định về quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng thực tiễn áp dụng đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Với phạm vi đối tượng người bào chữa khác nhau như đã đề cập trên, dẫn đến hệ quả là chưa chắc đã đảm bảo chất lượng, tính chuyên nghiệp và khả năng thực tế để họ thực hiện việc bào chữa Xu hướng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ đến với các Văn phòng luật sư ngày một nhiều, nhưng số lượng luật sư của Việt Nam còn hạn chế Cả nước ta hiện nay có hơn 4.000 luật sư nhưng tập trung chủ yếu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với gần 3.000 luật sư Số còn lại ở 62 tỉnh, thành phố chỉ có khoảng hơn 1.000 luật sư

Về người bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: trường hợp bị can, bị cáo bị khởi tố về tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình hoặc họ là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần /thể chất thì ngay cả khi

họ không lựa chọn người bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải cử người bào chữa cho họ Nếu họ từ chối bào chữa thì Hội đồng xét xử có trách nhiệm giải thích cho họ biết người bào chữa sẽ giúp gì cho họ và chi phí cho người bào chữa sẽ do Toà án thanh toán Và nếu họ vẫn kiên quyết từ chối việc bào chữa thì sẽ ghi vào biên bản phiên toà và vụ án vẫn được xét xử theo thủ tục chung mà không cần người tham gia bào chữa (Nghị quyết số 03/2004 ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC) Tuy nhiên, khi thực hiện quy định này đã nảy

Ngày đăng: 07/05/2016, 16:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w