Tháng 2 năm 1959 , Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh được thành lập dựa trên cơ sở công tư hợp doanh giữa Nhà nước với xưởng dệt Cự Doanh ở phố Hàng Quạt – Hà Nội của nhà tư sản Trịnh Văn Căn..
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Giới thiệu về Công ty Dệt kim Thăng Long 2
1 Quá trình hình thnàh và phát triển của Công ty 2
3 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty 7
II Thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty 8
1 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm 8
2 Cơ cấu và đặc điểm của đội ngũ lao động 10
3 Kết quả sản xuất kinh doanhcủa Công ty 12
III Hướng phát triển của Công ty trong thời gian tới 14
Các bảng và sơ đồ sử dụng trong báo cáo
Bảng 1 : Một số máy móc thiết bị chủ yéu của Công ty
Bảng 2 : Trình độ và thâm niên của cán bộ quản lý
Bảng 3 : Số lượng và bậc thợ của công nhân trực tiếp sản xuất
Bảng 4 : Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002
Bảng 5 : Tốc độ phát triển của giá trị SXCN từ năm 1998 – 2002
Bảng 6 : Một số chỉ tiêu mà Công ty phấn đấu thực hiện trong năm 2003
Sơ đồ 1 : Bộ máy quản lý của Công ty
Sơ đồ 2 : Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Đồ thị giá trị kim ngạch xuất khẩu
Trang 2I GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG
1.Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Dệt kim Thăng Long là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội Quá trình hình thành và phát triển của công ty có thể chia ra làm 5 thời kỳ :
Thời kỹ từ năm 1959 đến năm 1975
Tháng 2 năm 1959 , Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh được thành lập dựa trên cơ sở công tư hợp doanh giữa Nhà nước với xưởng dệt Cự Doanh ở phố Hàng Quạt – Hà Nội của nhà tư sản Trịnh Văn Căn
Từ khi thành lập cho đến năm 1975 , sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp là
áo may ô và áo lót nam phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và trang bị cho quân đội với sản lượng từ 1 - 2 triệu chiếc / năm
Thời kỳ từ năm 1976 đến tháng 6 năm 1982
Năm 1976 , xí nghiệp bắt đầu tham gia sản xuất hàng xuất khẩu trong khuôn khổ Nghị định thư với các nước XHCN như Liên Xô Hungary , Tiệp
… Sản lượng hàng năm 3 – 4 triệu chiếc,trong đó 60% là sản phẩm xuất khẩu , còn lại là tiêu dùng nội địa và cung cấp cho quốc phòng
Trang 3
Tuy nhiên thời gian này các doanh nghiệp không được phép xuất nhập khẩu trực tiếp Do đó , toàn bộ việc xuất khẩu của xí nghiệp lúc đó phải uỷ thác qua Tổng công ty Xuất nhập khẩu hàng dệt Việt Nam ( TEXTIMEX )
Thời kỳ từ tháng 7 năm 1982 đến tháng 11 năm 1986
Xí nghiệp ngày càng phát triển sản xuất nhưng lại hạn chế vì mặt bằng sản xuất chật hẹp Đứng trước tình hình đó , tháng 7 năm 1982 , UBND thánh phố Hà Nội đã quyết định sát nhập Xí nghiệp Dệt kim Cự Doanh với Xí nghiệp may mặc Hà Nội và đổi tên thành Công ty Dệt kim Thăng Long như hiện nay
Có thẻ nói đây là thời kỳ hoàng kim của Công ty Dệt kim Thăng Long Sản lượng hàng năm luôn duy trì ở mức 8 – 9 triệu chiếc , trong đó xuất khẩu sang Tiệp 6 triệu Liên Xô 1,5 triệu , còn lại là tiêu dùng nội địa
Thời kỳ từ tháng 12 năm 1986 đến cuối năm 1991
Đây là thời kỳ công ty điều chỉnh hoạt động của mình để thích ứng với
cơ chế mới Khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước công ty đã gặp phải nhiều khó khăn như : nguyên vật liệu khan hiếm phải nhâp ngoại , máy móc thiết bị đã cũ, cơ sở hạ tầng xuống cấp … Mặt khác , giữa năm 1991 , Liên Xô và hệ thống các nước XHCN tan rã , công ty mất đi thị trường truyền thống Do đó , hoạt động của công ty đã có sự thay đổi , công ty phải làm chủ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình , tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Thời kỳ tữ năm 1992 đến nay
Trang 4Công ty đã thích nghi với đòi hỏi mới của thị trường Năm 1992 , công
ty được cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp sản lượng hàng năm trên dưới 2 triệu chiếc Giờ đây , công ty đã mạnh dạn vững bước trên con đường kinh doanh trong nền kinh tế thị trường với những thử thách và thắng lợi mới
2 Bộ máy quản lý của công ty Dệt kim Thăng Long
Sơ đồ 1 : Bộ máy quản lý của công ty
Giám đốc
PGĐ PGĐ
Kỹ thuật Đời sống
Sản xuất Hành chính
Phòng Phòng Phòng Phòng Phòng
Kỹ thuật Kế hoạch Tài chính Tổ chức Bảo vệ KCS Vật tư Kế toán Hành chính Dịch vụ
Phân xưởng Phân xưởng Phân xưởng
Dệt Tẩy , Nhuộm Cắt , May
Trang 5Dựa vào sơ đồ trên ta thấy cơ cấu tổ chức của công ty Dệt kim Thăng Long là cơ cấu trực tuyến – chức năng Theo kiểu này , Giám đốc được sự giúp sức của hai phó Giám đốc và các phòng chức năng Tuy nhiên quyền quyết định thuộc về Giám đốc Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống trực tuyến , nhưng không có quyền ra mệnh lệnh cho các phân xưởng
Ban giám đốc
Ban giám dốc gồm Giám đốc và hai phó giám đốc : PGĐ kỹ thuật sản xuất và PGĐ đời sống hành chính
Giám đốc có nhiệm vụ quản lý toàn diện , chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động sản xuất , kỹ thuật , kinh doanh và đời sống của doanh nghiệp Ngoài ra , Giám đốc trực tiếp chỉ đạo phòng Kế hoạch – Vật tư và phòng Tài chính – Kế toán
Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất chỉ huy sản xuất và kỹ thuật , có trách nhiệm tổ chức và chỉ huy quá trình sản xuất hàng ngày từ khâu chuẩn bị sản xuất đến bố trí , điều khiển lao động … Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất chỉ đạo phòng Kỹ thuật – KCS và trực tiếp chỉ huy các phân xưởng
Phó giám đốc đời sống hành chính có trách nhiệm thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài Công ty , phụ trách các hoạt động hành chính
và phúc lợi của Công ty Phó giám đốc đời sống hành chính chỉ đạo các phòng
Tổ chức – Hành chính và phòng Bảo vệ – Dịch vụ
Các phòng chức năng :
Trang 6Phòng Kỹ thuật – KCS : Phòng có nhiệm vụ quản lý kỹ thuật và chất lượng sản phẩm Ngoài ra , phòng còn quản lý việc sử dụng điện , nước , thiết
bị
Phòng Kế hoạch – Vật tư : Phòng thực hiện công tác kế hoạch , công tac XNK , công tác quản lý và cung ứng vật tư - nguyên phụ liệu , công tác kinh doanh thương mại
Phòng Tài chính – Kế toán : Phòng có nhiệm vụ hạch toán các khoản chi phí nguyên vật liệu , chi phí nhân công , tính giá thành sản phẩm …Theo dõi các khoản thu – chi tài chính , lập báo cáo tài chính gửi Giám đốc , theo dõi quyết toán các hợp đồng kinh tế với khách hàng , thu hồi vốn kịp thời , không
để chiếm dụng vốn ,
Phòng Tổ chức – Hành chính : Phòng có nhiệm vụ tổ chức lao động tiền lương : tuyển chọn lao động , xây dựng quy chế trả lương , thực hiện quan hệ lao động … Ngoài ra , phòng còn thực hiện công tác hành chính quản trị như quản lý văn thư , lưu trữ tài liệu …
Phòng Bảo vệ – Dịch vụ : Phòng có nhiệm vụ bảo vệ tài sản của công ty , bảo đảm an ninh trật tự trong công ty , … , vận chuyển và bốc dỡ , phục vụ kho tàng , chăm sóc y tế …
Các phân xưởng sản xuất:fà các đơn vị sản xuất cơ bản trong công
ty , mỗi phân xưởng lại có nhiệm vụ riêng
+ Phân xưởng dệt tiếp nhận sợi để tiến hành sản xuất từ sợi ra các loại vải mộc rồi giao cho phân xưởng tẩy nhuộm
Trang 7+ Phân xưởng tẩy nhuộm tiến hành nấu , tẩy nhuộm và xử lý định hình vải mộc rồi giao cho phân xưởng cắt , may Từ năm 2000 , phân xưởng tẩy nhuộm không còn hoạt động do gây ô nhiễm môi trường
+ Phân xưởng cắt , may có nhiệm vụ cắt và may vải đã nhuộm thành các sản phẩm , sau đó là và đóng gói theo đúng yêu cầu về chất lượng , kích cỡ , thời gian giao hàng theo hợp đồng
3 Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Công ty Dệt kim Thăng Long có chức năng chính là sản xuất kinh doanh các sản phẩm dệt kim vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước , vừa xuất khẩu ra nước ngoài
Sản phẩm của Công ty sản xuất ra chủ yếu xuất khẩu ra nước ngoài theo những đơn đặt hàng Cũng có khi Công ty nhận may gia công , mẫu mã và nguyên phụ liệu Công ty nhận của khách hàng mang về chỉ việc hoàn thành khâu cuối cùng tạo ra thành phẩm giao lại cho khách hàng Còn hàng nội địa của Công ty cũng có nhiều loại với chất lượng , mẫu mã , màu sắc , kích cỡ như hàng xuất khẩu Tuy nhiên , khối lượng sản phẩm tiêu thụ ở trong nước còn khiêm tốn
Trong những năm gần đây , Công ty đã tiến hành chuyên môn và đa dạng hoá sản phẩm Bên cạnh những sản phẩm truyền thống như áo T – Shirt , Polo – Shirt …Công ty đã dần dần đưa vào sản xuất một số loại quần áo thể thao , áo jacket , các loại hàng dệt kim cao cấp …
Trang 8Các sản phẩm chủ yếu của Công ty :
+ Áo T – Shirt , Polo – Shirt , quần dài , quần áo lót là những mặt hàng xuất khẩu của Công ty
+ Áo jacket không phải là mặt hàng được sản xuất thường xuyên và mặt hàng này chủ yếu là nhận gia công
+ Quần áo thể thao là mặt hàng mới trong Công ty , được sản xuất theo đơn đặt hàng , nó không phải là mặt hàng chủ yếu
+ Ngoài ra , Công ty còn sản xuất theo đơn đặt hàng trong nước , có khi là nhận gia công một số mặt hàng như : quần áo bơi , quần áo mưa , màn các loại
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
CÔNG TY DỆT KIM THĂNG LONG
1 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Trang 9Sơ đồ 2 : Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
của Công ty Dệt kim Thăng Long
Sợi Guồng đảo sợi Dệt vải
Kho vải mộc Mạng sợi Kiểm tra vải dệt
Tẩy bằng hoá chất Giặt sạch Vắt bằng li tâm
Kiểm tra vải Cán nguội Sấy khô
Cán nóng Kho vải trắng Cắt quần áo
Kiểm tra t.phẩm May Kho bán t.phẩm
Là - đóng gói Kho thành phẩm Công ty
Qua sơ đồ trên ta thấy ,việc sản xuất của công ty được tiến hành tại các phân xưởng rất chặt chẽ và liên tục Trước khi được chuyển vào kho thì bán
Trang 10thành phẩm , thành phẩm đều được kiểm tra , giám sát khắt khe nhằm bảo đảm đúng tiêu chuẩn đúng chất lượng , đúng số lượng và thời gian giao cho từng phân xưởng Và trong quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm này không thể không nhắc tới hệ thống máy móc thiết bị của Công ty
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất kịp thời cùng với việc nâng cao năng suất lao động , chất lượng sản phẩm thì máy móc đóng vai trò quan trọng trong dây chuyền sản xuất của Công ty Dệt kim Thăng Long Do đó , công ty đã chú trọng đầu tư máy móc thiết bị , dây chuyền công nghệ hiện đại để phục vụ cho sản xuất Hiện nay trong Công ty số lượng máy móc hiện có đều là những máy nhập
tữ các nước có kỹ thuật tiên tiến
Bảng 1 : Một số máy móc thiết bị chủ yếu của Công ty
STT Tên máy Nước sản xuất Số lượng Năm sử dụng
1 Máy Multipique dệt kép
Trang 112 Cơ cấu và đặc điểm của đội ngũ lao động
Lực lượng lao động được xem xột theo quy mụ và cơ cấu , thụng qua đú chất lượng lao động được phản ỏnh
Theo số liệu năm 2002 thỡ số lượng CBCNV của Cụng ty là 425 người , trong đú cỏn bộ quản lý là 66 người ( 15,5% ) , cũn cụng nhõn trực tiếp sản xuất là 359 người ( 84,5% ) Thực tế cụng nhõn trực tiếp sản xuất là 341 người ( 359 – 18 ) bởi vỡ 18 cụng nhõn tẩy nhuộm tạm thời làm cụng việc khỏc do phõn xưởng Tẩy , nhuộm tạm ngừng hoạt động
Do đặc điểm về sản phẩm của Cụng ty là hàng may mặc , sản phẩm sản xuất nhỡn chung khụng đũi hỏi mức độ nặng nhọc cao mà chủ yếu đũi hỏi tớnh cần cự và khộo lộo Do vậy lao động nữ của cụng ty chiếm tỷ lệ cao Trong
số 425 CBCNV của Cụng ty thỡ số lao động nữ là 343 người ( 81% ) , số lao động nam là 82 người ( 19% ) Số lao động nữ cao nờn hàng năm số ngày nghỉ thai sản , nghỉ con ốm … tương đối nhiều Điều này làm ảnh hưởng khụng tốt tới quỏ trỡnh lao động , gõy khú khăn cho việc bố trớ lao động
Bảng 2 : Trỡnh độ và thõm niờn của cỏn bộ quản lý
Trang 12% 47 27,3 25,7 100
Qua bảng trên ta thấy trong bộ phận cán bộ quản lý của Công ty thì số người có trình độ ĐH – CĐ là 31 người ( 47% ) , 18 người có trình độ trung cấp ( 27,3% ) , còn lại là trình độ sơ cấp chiếm 17 người ( 25,7%) Hơn nữa họ lại là những người có thâm niên công tác lâu năm Vì thế họ có đủ kinh nghiệm và năng lực giúp Công ty đứng vững và không ngừng phát triển
Bảng 3 : Số lượng và bậc thợ của công nhân trực tiếp sản xuất
Cấp bậc công việc BQ : 4
Cấp bậc công nhân BQ = [ ( 148 * 2 ) + ( 17 * 3 ) + ( 26 * 4 ) + ( 50 * 5 ) + ( 100 * 6 ) ] : 341 = 3,815
Cấp bậc công việc BQ cao hơn cấp bậc công nhân BQ 0,185 (4 – 3,815 ) Về mặt lý thuyết thì có sự phù hợp giữa tính chất phức tạp của công việc và trình độ lành nghề cuả công nhân Tức là nếu cấp bậc công việc BQ cao hơn cấp bậc công nhân BQ thì sẽ khuyến khích công nhân nâng cao trình độ lành nghề , tăng năng suất lao động
Tuy vậy , sự phù hợp giữa cấp bậc công việc và cấp bậc công nhân như trên chỉ mang tính chất tương đối Có 148 công nhân cát may bậc 2 nhưng thực tế hoàn thành công việc bậc 4 mà vẫn bảo đảm chất lượng sản phẩm và
Trang 13mọi yêu cầu kỹ thuật Trong khi có 15 công nhân dệt và 150 công nhân cắt may bi lãng phí sức lao động vì công nhân phải làm các công việc đòi hỏi trình
độ lành nghề thấp hơn bản thân trình độ hiện có của họ
3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty
Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002 của Công ty Dệt
km Thăng Long được thể hiện qua bảng sau :
Bảng 4 : Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2002
vị
KH 2002 TH 2002
Với
KH
Với
1 Tổng doanh thu Tr.đ 14.500 16.745 115,5 124,1
2 Giá trị kim ngạch XK USD 1.100.000 1.174.000 106,7 137,1
4 Tổng nộp ngân sách Tr.đ 70,85 50,85 71,8 22,5
5 Thu nhập doanh nghiệp Tr.đ 220 230 104,5 115,6
6 Thu nhập BQLĐ đi
làm
7 Sản phẩm thực hiẹn Chiếc 1.800.000 1.870.112 103,9 108,8
Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2002 nhìn chung khá tốt Các chỉ tiêu ( trừ tổng nộp ngân sách ) đều tăng so với cùng kỳ
+ Doanh thu vượt cao so với dự kiến
+ Trong năm 2002 lần đầu giá trị kim ngạch XK đạt trên 1 triệu USD
Trang 14+ Giá trị sản xuất công nghiệp tuy chưa đạt so với kế hoạch có nguyên nhân từ lực lượng lao động ( chuyển việc và nghỉ nhiều ) nhưng vẫn đạt cao hơn so với cùng kỳ
+ Tổng nộp ngân sách chưa đạt so với kế hoạch và so với cùng kỳ là do số
nợ ngân sách của nhiều năm cộng dồn còn cao …
+ Thu nhập doanh nghiệp vượt kế hoạch và tăng so vơi cùng kỳ
+ Thu nhập của CBCNV tuy chưa cao nhưng khá hơn so với các năm trước tạo động lực mới cho người lao động yên tâm gắn bó hơn với doanh nghiệp
Trong những năm gần đây , Công ty Dệt kim Thăng Long luôn cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình , tăng lợi nhuận , bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động Điều này thể hiện qua tình hình thực hiện giá trị SXCN Của Công ty từ năm 1998 – 2002
Bảng 5 : Tốc dộ phát triển của giá trị SXCN từ 1998 – 2002
1998 1999 2000 2001 2002 Giá trị SXCN ( Tr.đ ) 5.045 7.260 10.194 10.435 11.669 Tốc độ phát triển định gốc ( % ) 100 144 202 207 231 Tốc độ phát triển liên hoàn ( % ) - 144 140 103 112 Tốc độ biến động của giá trị SXCN tăng nhưng xu hướng biến động giảm dần