MỤC LỤCXây dựng kế hoạch đào tạo toàn diện các mặt nghiệp vụ cho cán bộ, đồng thời phải có sự phối hợp với các trung tâm đào tạo của hội sở MBBank để đào tạo thống nhất trong toàn hệ th
Trang 1MỤC LỤC
Xây dựng kế hoạch đào tạo toàn diện các mặt nghiệp vụ cho cán bộ, đồng thời phải có
sự phối hợp với các trung tâm đào tạo của hội sở MBBank để đào tạo thống nhất trong toàn hệ thống ngân hang 86 Với cán bộ quản lý, có các chương trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, cập nhật với các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý điều hành ngân hàng, kiến thức công nghệ thông tin trong lĩnh vực ngân hàng, phân tích, dự báo, quản trị rủi ro với hoạt động của ngân hàng 86 Với cán bộ giao dịch, MBBank có những lớp đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao khả năng giao tiếp với khách hàng, cũng như các kỹ năng Marketing, đàm phán, để có thể gia tăng khách hàng, tạo ra những mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài với khách hàng 86
Có những qui định cụ thể nhằm chuẩn hoá quy trình thủ tục, đảm bảo tính thống nhất quy trình giữa các bộ phận, chi nhánh trực thuộc với cùng loại sản phẩm để tạo điều kiện cho các nhân viên trong việc thực hiện các nghiệp vụ của mình, không bị trùng lặp cũng như tránh việc bỏ sót các công đoạn, hồ sơ thủ tục 86 Học tập kinh nghiệm từ các ngân hàng đã có thành công, đúc rút kinh nghiệm từ đội ngũ nhân viên của họ, phong cách làm việc, các thức xử lý các công việc trong hoạt động của ngân hàng , và điều chỉnh linh hoạt cho phù hợp khi áp dụng vào MBBank đối với mỗi phân đoạn thị trường, mỗi loại khách hàng khác nhau 86 Đặc biệt, với những nguồn nhân lực mới, MBBank có quy trình tuyển dụng bao gồm
cả hệ thống tiêu chuẩn cũng như cách thức thi tuyển để chọn được những người có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng được yêu cầu của công việc nhằm chọn ra những nhân viên tốt nhất 87
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Phân tổ vốn huy động theo đối tượng huy động
Bảng 2.2: Vốn huy động của MB Bank giai đoạn 2003- 2008
Bảng 3.1: Quy mô vốn tự có và hệ số an toàn vốn
Bảng 3.2: Biến động vốn huy động của MB Bank giai đoạn 2003- 2008
Bảng 3.3: Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng huy động của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.4: Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền tệ của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.5: Biến động dư nợ cho vay của MB Bank giai đoạn 2004- 2008
Bảng 3.6: Cơ cấu của dư nợ cho vay theo kỳ hạn cho vay giai đoạn 2003-2008Bảng 3.7: Cơ cấu của dư nợ cho vay theo loại tiền tệ giai đoạn 2003-2008Bảng 3.8: Tỷ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ của MB Bank
Bảng 3.9: Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Bảng 3.10: Các chỉ tiêu ROA, ROE
Bảng 3.11: Biến động lợi nhuận của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.12: Số liệu trong mô hình phân tích sự biến động lợi nhuận của NH năm 2008 so với năm 2007do ảnh hưởng của 2 nhân tố: Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn kinh doanh và tổng vốn kinh doanh
Bảng 3.13: Số liệu phân tích sự biến động lợi nhuận của NH năm 2008 so với năm 2007 do ảnh hưởng của 3 nhân tố: Tỷ suất lợi nhuận tính theo vốn huy động, tỷ trọng vốn huy động trong tổng vốn kinh doanh và tổng vốn kinh doanhBảng 3.14: Biến động tổng thu nhập của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.15: Số liệu trong mô hình phân tích sự biến động tổng thu nhập của
NH năm 2008 so với năm 2007do ảnh hưởng của 2 nhân tố: Hiệu năng sử dụng vốn kinh doanh và tổng vốn kinh doanh
Trang 3Bảng 3.16: Các chỉ tiêu kết quả và chi phí của MB Bank năm 2007, 2008Bảng 3.17: Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh dạng thuận
Bảng 3.18: Số liệu về lợi nhuận của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.19: Bảng tính SSE của 2 phương pháp dự đoán dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân và tốc độ phát triển bình quân
Bảng 3.20: Kết quả dự báo lợi nhuận của MB Bank năm 2009,2010
Bảng 3.21: Số liệu về dư nợ cho vay của MB Bank giai đoạn 2003-2008
Bảng 3.22: Bảng tính SSE của 2 phương pháp dự đoán dựa vào lượng tăng (giảm) tuyệt đối bình quân và tốc độ phát triển bình quân
Bảng 3.23: Kết quả dự báo dư nợ cho vay của MB Bank năm 2009,2010
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế- xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội Thu nhập từ Ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần đối với Nhà nước Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng hóa dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất, thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền
tệ, vì vậy, nó là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế
Phân tích hoạt động kinh doanh là một công tác có tầm quan trọng đặc biệt giúp cho các nhà quản lý đánh giá hoạt động ngân hàng, xây dựng các mục tiêu và tìm biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động Công tác phân tích sẽ làm rõ thực trạng hoạt động ngân hàng, những nhân tố tác động tới thực trạng đó, so sánh với các tổ chức tín dụng khác nhằm thúc đẩy cạnh tranh Ban lãnh đạo ngân hàng phải thường xuyên phân tích hoạt động của ngân hàng để phát hiện kịp thời mặt mạnh, chỗ yếu của đơn vị mình, trên cơ
sở đó có những biện pháp thích hợp trong sử dụng lao động, vốn, góp phần hạn chế rủi ro và nâng cao lợi nhuận cho ngân hàng
Phương pháp thống kê là công cụ rất hữu hiệu để phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng Con số thống kê là cơ sở quan trọng để kiểm định,
Trang 5đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, chiến lược mà ngân hàng đề ra Từ đó, giúp ngân hàng có thể dự báo, hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch phát triển trong ngắn hạn và dài hạn Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Quân đội, em nhận thấy phương pháp thống kê rất quan trọng trong công tác
hoạt động của Ngân hàng Chính vì vậy, em đã chọn đề tài: “ Vận dụng một
số phương pháp thống kê phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân đội giai đoạn 2003-2008 và dự đoán cho các năm tiếp theo” làm chuyên đề thực tập của mình.
Kết cấu chuyên đề của em bao gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản và đặc trưng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Chương II: Một số chỉ tiêu và phương pháp thống kê phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Chương III: Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân đội giai đoạn 2003-2008 và dự đoán cho các năm tiếp theo
Đây là một đề tài nghiên cứu rộng và phức tạp Do trình độ còn hạn chế nên bài chuyên đề của em không tránh khỏi thiếu sót Kính mong thầy giúp
đỡ em để bài chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Ngọc Phác và các anh chị phòng kế toán của Ngân hàng TMCP Quân đội đã giúp đỡ em hoàn thành bài chuyên đề này
Trang 6CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VÀ ĐẶC TRƯNG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng thương mại:
1.Khái niệm và bản chất của Ngân hàng thương mại (NHTM):
1.1 Khái niệm:
Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại Ví dụ: Ở Mỹ: ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và họat động trong ngành dịch vụ tài chính Ở Pháp: ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính…
Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 20 khoản 2 và 7 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH10) được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành thì: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội
1.2 Bản chất:
- NHTM là một tổ chức kinh tế
- NHTM hoạt động mang tính chất kinh doanh
- NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng
Ngân hàng (NH) vừa là người “cung cấp” đồng vốn, đồng thời cũng là người “tiêu thụ” đồng vốn của khách hàng Tất cả những hoạt động “mua, bán” này thường thông qua một số công cụ và nghiệp vụ của ngân hàng Là
Trang 7một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, NHTM luôn tìm cách tối đa hoá lợi nhuận NHTM kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay Để thu hút tiền vào, ngân hàng đưa ra các điều kiện thuận lợi cho người gửi tiền Tiếp đó, ngân hàng phải tìm ra những cách có lợi để đem cho vay những gì đã vay được Với tư cách là trung gian tài chính,ngân hàng hoạt động theo nguyên tắc phát hành các phiếu ghi nợ (sổ tiết kiệm, tín phiếu, mở tài khoản ) để thu hút tiền của công chúng, sau đó sử dụng tiền vay được để mua các chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, vật cầm cố ) và để cho vay Nói theo ngôn ngữ thị trường, ngân hàng thu nhận vốn bằng cách bán (phát hành) các tài sản nợ (nguồn vốn), rồi vốn này có thể dùng để mua những tài sản có (cho vay, đầu
tư vào các giấy tờ có giá ) mang lại thu nhập
Sơ đồ: Hoạt động của Ngân hàng thương mại
2 Đặc điểm của Ngân hàng thương mại:
- NHTM là một doanh nghiệp đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ- tín dụng Các hoạt động của NHTM nhằm thúc đẩy và lưu chuyển các dòng tiền tệ phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán phát sinh hàng ngày trong nền kinh tế, đồng thời thông qua các hoạt động huy động vốn và cho vay các NHTM có khả năng tạo tiền từ các nghiệp vụ kinh doanh của mình thông qua các công cụ lãi suất, tỷ giá
- Sản phẩm, hàng hoá mà NH kinh doanh và làm dịch vụ là hàng hóa tài chính (tài sản tài chính) đó là tiền và các chứng từ có giá như cổ phiếu, thương phiếu, hối phiếu, trái phiếu, tín phiếu đó là sản phẩm cao cấp của nền
Các DN,
cá nhân
Các DN,
cá nhân khác Ngân hàng
thương mại
Trang 8kinh tế thị trường Vì vậy, nó vận động theo một quy trình và phải được điều hành bởi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn nhất định, dựa trên những
cơ sở pháp lý do Luật pháp quy định
- Trong quá trình hoạt động, NHTM không tạo ra sản phẩm dở dang, tồn kho mà tạo ra sản phẩm hàng hoá trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng khi có nhu cầu, bởi lẽ đó hoạt động của NH dựa vào thương hiệu, uy tín tạo
ra đối với khách hàng Vì vậy, các NH phải không ngừng nâng cao chất lượng, dịch vụ cung cấp và không ngừng quảng bá tiếp thị hình ảnh của mình tới khách hàng
- Hoạt động của NH là cầu nối giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, cá nhân có vốn nhàn rỗi và các nhà đầu tư, các doanh nghiệp, các cá nhân có nhu cầu vay vốn Vì vậy, các NH góp phần không nhỏ vào việc giải quyết nạn thất nghiệp, nâng cao thu nhập và mức sống của dân cư, góp phần ổn định trật tự
xã hội cũng như góp phần đảm bảo vốn đối với các ngành kinh tế nhằm phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong một quốc gia
3 Chức năng của Ngân hàng thương mại:
3.1.Chức năng trung gian tín dụng:
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể
có nhu cầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế Hoạt động tín dụng của NHTM đã góp phần khắc phục các hạn chế đó Thực hiện chức năng này, một mặt, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt khác, trên cơ sở vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của các chủ thể kinh tế, góp phần đảm bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng
Trang 9trưởng kinh tế Như vậy, NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, nghiệp vụ tín dụng của NHTM là đi vay để cho vay.
Vốn sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện các hình thái khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kỳ tuần hoàn và luân chuyển vốn, điểm xuất phát và kết thúc của một vòng tuần hoàn này thể hiện dưới dạng tiền tệ Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của các doanh nghiệp phải đồng thời tồn tại ở 3giai đoạn: dự trữ- sản xuất- lưu thông Từ đó xảy ra hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời: tại một thời điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi (thừa vốn) và có những đơn vị khác tạm thời thiếu vốn Hiện tượng này làm nảy sinh yêu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết cho được vấn đề điều hoà vốn NHTM với vai trò là một trung gian tín dụng đứng ra tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, điều hoà cung và cầu vốn trong các doanh nghiệp của nền kinh tế, đã góp phần điều tiết các nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn
Ngày nay, quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn
Sự phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác của chức năng này Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ phiếu ) với những nhà đầu tư: chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu công ty theo cách này, ngân hàng làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường
Do đó, ngân hàng không chỉ làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền mà còn làm trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường Những trung gian tài chính làm việc này để kiếm lời bằng việc đặt
ra một lãi suất cao hơn cho các món vay so với món lãi họ thanh toán cho
Trang 10người cho vay Như vậy,tác dụng của trung gian tài chính là giảm thiểu những chi phí thông tin và chi phí giao dịch trong nền kinh tế.
Thông qua chức tín dụng, NHTM đã góp phần điều hoà vốn trong nền kinh tế, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, là cầu nối giữa tiết kiệm, tích luỹ và đầu tư, động viên vật tư hàng hoá đưa vào sản xuất lưu thông, mở rộng nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất
3.2.Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
Trong NHTM, chức năng trung gian thanh toán gắn bó chặt chẽ và hữu
cơ với chức năng trung gian tín dụng: ngân hàng dùng số tiền gửi của người này để cho người khác vay Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng, tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn NHTM ra đời và phát triển, thì hầu hết các khoản thanh toán chi trả về hàng hoá, dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế đều được chuyển giao cho ngân hàng thực hiện Mọi quan hệ thanh toán được thực hiện bằng cách các chủ thể mở tài khoản tại ngân hàng và yêu cầu ngân hàng thực hiện các khoản chi trả hoặc uỷ nhiệm cho ngân hàng thực hiện việc thu nhận các khoản tiền vào tài khoản của mình
Trong khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông tín dụng và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá Ban đầu ngân hàng đã sử dụng tiền ngân hàng thay cho tiền vàng trong lưu thông tiết kiệm được chi phí đúc tiền, vận chuyển, bảo quản và hao mòn tiền vàng trong lưu thông Kế tiếp, ngân hàng lại sử dụng các công cụ lưu thông
Trang 11tín dụng như séc, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán để thay thế cho tiền mặt,
đã tiết kiệm được nhiều chi phí trong việc in, đếm, vận chuyển tiền Từ các phương tiện thanh toán, khách hàng của ngân hàng không phải chi trả với nhau bằng những bao tiền mặt rất tốn kém, mà chỉ cần ra lệnh NHTM thông qua các phương tiện, ngân hàng sẽ ghi nợ cho tài khoản người này, ghi có cho tài khoản người kia nhanh chóng
Việc làm trung gian thanh toán của ngân hàng ngày nay đã phát triển đến mức đa dạng, không chỉ là trung gian thanh toán truyền thống như trước, mà còn quản lý các phương tiện thanh toán Ở các nước phát triển và các nước đang phát triển, phần lớn công tác thanh toán được thực hiện thông qua séc và phần lớn séc thanh toán ở trong nước được thực hiện bằng thanh toán bù trừ,thông qua hệ thống NHTM Nếu việc phát hành séc để rút tiền từ tài khoản tiền gửi và ký thác trong cùng một ngân hàng chỉ là một động tác làm chuyển dịch vốn từ tài khoản này sang tài khoản khác và nếu chỉ 2ngân hàng trong cùng một địa bàn, sẽ tiến hành việc trao đổi séc trực tiếp, nhưng nếu xảy
ra trong một số ngân hàng trong cùng một địa bàn, buộc phải được tiến hành thông qua thanh toán bù trừ
3.3.Chức năng tạo tiền:
Các ngân hàng có khả năng tạo ra tiền gửi khi họ cho vay hoặc đầu tư, tức là ngân hàng mở rộng cung tiền tệ bằng cho vay và đầu tư Khi một ngân hàng cho một cá nhân hoặc doanh nghiệp vay, nó tạo ra trên sổ sách của nó một khoản tiền gửi dành cho quyền lợi của người đi vay Tương tự như vậy, khi ngân hàng mua trái phiếu kho bạc hoặc các loại chứng khoán khác cho danh mục của mình, thì tiền gửi được tạo ra cho quyền lợi của người bán những chứng khoán này
Ý nghĩa kinh tế của các chức năng tạo tiền của các NHTM phản ánh trước hết từ nhu cầu bên trong của chính hệ thống và từng NHTM riêng lẻ
Trang 12Điều hiển nhiên ai cũng phải thừa nhận là, để có thể hoạt động, và đặc biệt cho sự phát triển của các hoạt động tín dụng và đầu tư của các NHTM, yêu cầu bản thân các NHTM, bằng các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống phải tạo điều kiện cho sự tăng trưởng nguồn vốn, phù hợp với yêu cầu tăng trưởng kinh tế Hơn thế nữa, năng lực của hệ thống NHTM trong việc tạo tiền không chỉ đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của bản thân các NHTM mà còn mang ý nghĩa kinh tế to lớn: với một hệ thống tín dụng năng động có vai trò cực kỳ quan trọng như là người mở đầu, người tham gia và có khi là người nâng đỡ và quyết định đối với mọi quá trình sản xuất Vai trò của các NHTM chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, nhằm sử dụng tốt nhất vốn tạm thời thừa của các doanh nghiệp và các nhân và nói rộng ra là của nền kinh tế, và đồng thời
bổ sung kịp thời nhu cầu vốn khi thiếu
3.4.Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin, quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp Với những điều kiện đó, ngân hàng có thể làm tư vấn về tài chính và đầu tư cho các doanh nghiệp, làm đại lý phát hành cổ phiếu, bảo đảm đạt hiệu quả cao và tiết kiệm chi phí Khi một doanh nghiệp muốn phát hành chứng khoán, họ có thể nhờ ngân hàng cung cấp các dịch vụ như: lựa chọn loại chứng khoán phát hành, tư vấn các vấn đề về lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kỹ thuật khác Ngoài ra, ngân hàng còn cung cấp dịch vụ lưu trữ và quản lý chứng khoán cho khách hàng, làm dịch vụ thu lãi chứng khoán
Ngân hàng còn cung cấp cho các khách hàng các dịch vụ khác như: dịch
vụ bảo quản an toàn vật có giá của khách hàng, dịch vụ cho thuê két ngân buổi tối, dịch vụ tín thác hoặc uỷ thác ngân hàng…
Trang 134 Vai trò của Ngân hàng thương mại:
4.1 Vai trò thực thi chính sách tiền tệ:
Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về Ngân hàng Trung ương; để thực thi chính sách tiền tệ đó phải sử dụng các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tái chiết khấu, thị trường mở, hạn mức tín dụng Chính các NHTM là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nối trong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến khu vực phi ngân hàng và đến nền kinh tế Ngược lại, cũng qua NHTM và các định chế tài chính trung gian khác, tình hình, sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, tổng cung tiền tệ, lãi suất, tỷ giá của nền kinh tế được phản hồi về cho Ngân hàng Trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể
Vai trò điều tiết kinh tế vi mô của Ngân hàng thương mại được thể hiện qua việc tiếp nhận, thu hút khối lượng tiền mặt từ trong nền kinh tế vào NHTM (thu nhận tiền bán hàng do các doanh nghiệp gửi vào tài khoản, thu nhận tiền gửi của công chúng ), đồng thời NHTM cũng cung ứng tiền mặt theo nhu cầu khi các doanh nghiệp rút tiền mặt từ tài khoản của mình để trả lương cho công nhân viên chức, trả tiền mua nguyên vật liệu, thu mua hàng hoá , khi công chúng rút tiền gửi để chi dùng cho những nhu cầu của mình như mua sắm tài sản, trả nợ, Qúa trình thu nhận và cung ứng khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế đã tạo ra mối quan hệ giữa lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ trong từng khu vực Khối lượng tiền mặt trong nền kinh tế đi qua quỹ nghiệp vụ NHTM là những công cụ tác động trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp dân cư Bằng chính sách thu hút và nghệ thuật kinh doanh, ngân hàng sẽ tiếp nhận một khối lượng tiền mặt không nhỏ, rồi từ đó lưu thông về ngân hàng khối lượng tiền mặt này sẽ đáp ứng nhu cầu tiền mặt cho các doanh nghiệp và công chúng, đảm bảo cho nền kinh tế thường xuyên
Trang 14có một khối lượng tiền mặt cần thiết và hợp lý, phục vụ cho hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác trong phạm vi từng doanh nghiệp, từng khu vực, cũng như trong phạm vi toàn nền kinh tế phát triển bình thường.
Như vậy, với vai trò thực thi chính sách tiền tệ, điều tiết kinh tế vi mô, NHTM đã xâm nhập vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân, các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua nghiệp vụ tín dụng, tiền mặt, thanh toán không dùng tiền mặt, các quan hệ về tham gia hùn vốn, tư vấn Thông qua đó, NHTM giúp các hoạt động của các doanh nghiệp được phát triển bình thường và ngày càng phát triển
4.2 Vai trò góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô thông qua chức năng tạo tiền của NHTM:
Trong nền kinh tế thị trường, chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô thuộc về Ngân hàng Trung ương Chức năng này được thể hiện trên hai mặt:
Thứ nhất, tham gia xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội và soạn thảo chính sách tiền tệ Chính sách tiền tệ là loại công cụ của chính sách can thiệp bằng kinh tế, dựa trên bản thân cơ chế thị trường và các quy luật vận động của nó Nhưng NH Trung ương không trực tiếp giao dịch với công chúng, do đó phải dựa vào thông tin phản hồi từ các định chế tài chính trung gian để làm căn cứ soạn thảo chính sách tiền tệ Như vây, rõ ràng là nếu không có hệ thống NHTM hoàn chỉnh, không có thông tin phản hồi do hệ thống NHTM cung cấp, thì việc hoạch định chiến lược và soạn thảo chính sách tiền tệ của NH Trung ương sẽ không hoàn hảo
Thứ hai, chính sách tiền tệ, được thiết kế và khởi động từ NH Trung ương, lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ thống NH trung gian và các tổ chức tài chính trong nước
Trong việc điều hành thực thi chính sách tiền tệ, NH trung ương sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội, mà trước hết là trong hệ thống NHTM Các công cụ này là những thao tác hoạt động hàng
Trang 15ngày của Ngân hàng Trung ương Vì thế, có thể nói rằng, mọi hoạt động của Ngân hàng Trung ương đều tác động đến nền kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ của chính sách tiền tệ đã vạch ra.
5 Các dịch vụ của Ngân hàng thương mại:
So với các doanh nghiệp sản xuất, tính đặc thù của doanh nghiệp ngân hàng thể hiện trong đặc điểm riêng biệt của sản phẩm ngân hàng Nếu các doanh nghiệp sản xuất sáng tạo ra hàng hoá hữu hình (như lúa,gạo, vải, giày dép, máy móc ) thì các NHTM sản xuất ra các hàng hoá vô hình, hay đúng hơn là các dịch vụ
5.1.Các dịch vụ truyền thống của ngân hàng:
5.1.1.Thực hiện trao đổi ngoại tệ:
Lịch sử cho thấy rằng một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một lại tiền khác, chẳng hạn Franc hay Pesos và hưởng phí dịch vụ Sự trao đổi đó là rất quan trọng đối với khách du lịch vì họ
sẽ cảm thấy thuận tiện và thoải mái hơn khi có trong tay đồng bản tệ của quốc gia hay thành phố họ đến Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại
tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao
5.1.2.Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại:
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt Đó là bược chuyển tiếp từ chiết thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ hoặc xây dựng văn phòng và thiết bị sản xuất
5.1.3.Nhận tiền gửi:
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
Trang 16kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay Một trong những nguồn vốn quan trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức lãi suất tương đối cao Trong lịch sử
đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạn các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm
5.1.4.Bảo quản vật có giá trị:
Các ngân hàng đã thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản Một điều hấp hẫn là các giấy chứng nhận do ngân hàng ký phát cho khách hàng (ghi nhận về các tài sản đang được lưu giữ) có thể được lưu hành như tiền – đó là hình thức đầu tiên của séc và thẻ tín dụng Ngày nay, nghiệp vụ bảo quản vật có giá trị cho khách hàng thường
do phòng “Bảo quản” của ngân hàng thực hiện
5.1.5.Tài trợ các hoạt động của Chính phủ:
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường
là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được, hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ
5.1.6.Cung cấp các tài khoản giao dịch:
Tài khoản tiền gửi giao dịch là một tài khoản tiền gửi cho phép người
Trang 17gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng bởi vì nó cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và an toàn hơn.
5.2.Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây:
5.2.1.Cho vay tiêu dùng:
Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng nói chung
có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ tương đối cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp Đầu thế kỷ này, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn Và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng Người tiêu dùng là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng
và tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất
5.2.2.Tư vấn tài chính:
Các ngân hàng từ lâu đã được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động
tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, từ chuẩn bị về thuế và kế hoạch tài
Trang 18chính cho các cá nhân đến tư nhân về các cơ hội thị trường trong nước và ngoài nước cho các khách hàng kinh doanh của họ.
5.2.3.Quản lý tiền mặt.
Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà
họ làm cho bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng Một trong những ví dụ nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng
ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán
5.2.4.Dịch vụ thuê mua thiết bị:
Rất nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Ban đầu các qui định yêu cầu khách hàng sử dụng dịch vụ thuê mua thiết bị phải trả tiền thuê (mà cuối cùng
sẽ đủ để trang trải chi phí mua thiết bị) đồng thời phải chịu chi phí sửa chữa
và thuế Năm 1987, quốc hội Mỹ đã bỏ phiếu cho phép ngân hàng quốc gia sở hữu ít nhất một số tài sản cho thuê sau khi hợp đồng thuê mua đã hết hạn Điều đó có lợi cho các ngân hàng cũng như khách hàng bởi vì bới tư cách là một người chủ thực sự của tài sản cho thuê, ngân hàng có thể khấu hao chúng nhằm làm tăng lợi ích về thuế
5.2.5.Cho vay tài trợ dự án:
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Do rủi
ro trong loại hình tín dùng này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua một công ty đầu tư, là thành viên của công sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà thầu, là thành viên của công ty sở hữu ngân hàng, cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro
Trang 195.2.6.Bán các dịch vụ bảo hiểm:
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm tín dụng cho khách hàng, điều đó bảo đảm việc hòan trả trong trường hợp khách hàng vay vốn bị chết hay bị tàn phế Trong khi các quy định ở Mỹ cấm ngân hàng thương mại trực tiếp bán các dịch vụ bảo hiểm, nhiều ngân hàng hi vọng có thể đưa ra các hợp đồng bảo hiểm cá nhân thông thường và hợp đồng bảo hiểm tổn thất tài sản như ôtô hay nhà cửa trong tương lai Hiện nay, ngân hàng thường bảo hiểm cho khách hàng thông qua các liên doanh hoặc các thỏa thuận đại lý kinh doanh độc quyền theo đó một công ty bảo hiểm đồng ý đặt một văn phòng đại lý tại hành lang của ngân hàng và ngân hàng sẽ nhận một phần thu nhập từ các dịch vụ ở đó
5.2.7.Cung cấp các kế hoạch hưu trí:
Phòng ủy thác ngân hàng rất năng động trong việc quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến
5.2.8.Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán:
Trên thị trường tài chính hiện nay, nhiều ngân hàng đang phấn đấu để trở thành một “bách hóa tài chính” thực sự, cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu tại một địa điểm Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán
5.2.9.Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp:
Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng cái gọi là sản phẩm đầu
Trang 20tư đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp, những loại hình cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn ngày nghỉ hưu) Ngược lại, quỹ tương hỗ bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ
5.2.10.Cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán buôn:
Ngân hàng ngày nay đang theo chân các tổ chức tài chính hàng đầu trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng đầu tư và dịch vụ ngân hàng bán buôn cho các tập đoàn lớn Những dịch vụ này bao gồm xác định mục tiêu hợp nhất, tài trợ mua lại Công ty, mua bán chứng khoán cho khách hàng (ví dụ: bảo lãnh phát hành chứng khoán), cung cấp công cụ Marketing chiến lược, các dịch vụ hạn chế rủi ro để bảo vệ khách hàng Các ngân hàng cũng dấn sâu vào thị trường bảo đảm, hỗ trợ các khoản nợ do chính phủ và công ty phát hành để những khách hàng này có thể vay vốn với chi phí thấp nhất từ thị trường tự do hay từ các tổ chức cho vay khác
II Đặc trưng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại:
1 Quan hệ tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở hoàn trả:
NHTM với tư cách là một doanh nghiệp kinh tế tiền tệ hoạt động trên cơ
sở “đi vay” để “cho vay” thông qua nghiệp vụ tín dụng của mình
Trước hết, vốn mà ngân hàng mua quyền sử dụng của những chủ thể có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế phải được trả lại cả vốn và lãi cho chủ sở hữu của nó theo những cam kết đã được giao ước Là người đi vay, NHTM phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn vốn huy động hoặc đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng với một món lợi tức hợp lý kèm theo
Trang 21Là người cho vay, NHTM sử dụng vốn đi thuê để cho thuê lại, tức là tạm thời bán quyền sử dụng vốn cho người khác, NHTM vẫn luôn mong muốn khách hàng của mình sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn và lãi đúng kỳ hạn theo những quy định đã cam kết Như vây, trong mối quan hệ tay ba giữa NHTM, người gửi tiền ký thác và người đi vay đều dựa vào lòng tin của nhau để giải quyết tình trạng thừa hay thiếu vốn của các chủ thể nêu trên.
Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người mua trở thành chủ sở hữu vật mua), quan hệ tín dụng ngân hàng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi quyền sử hữu khoản vay Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng khoản vay trong thời hạn nhất định, sau khi khai thác giá trị sử dụng khoản vay trong thời hạn cam kết, người vay phải hoàn trả toàn
bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức trả cho người cho vay
2 Lãi suất- biểu hiện đặc trưng về hoạt động kinh doanh của một trung gian tài chính:
Lãi suất biểu hiện giá cả khoản tiền mà người cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền của mình cho người khác Người đi vay coi lãi suất như là khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời tiền của người khác Như vậy, lãi suất hàm chứa một mâu thuẫn: người cho vay muốn có lãi suất cao nhất, trong khi người đi vay muốn có lãi suất thấp nhất
Vì vậy, như giá cả của mọi loại hàng hoá khác, lãi suất được xác định bởi cung và cầu Cung vốn có được chủ yếu từ các khoản ký thác của công chúng
và lượng vốn được cung ứng phụ thuộc nhiều vào giá cả (lãi suất) Do đó nếu lãi suất quá thấp, đa số dân chúng sẽ quyết định là không đáng kể cho vay các khoản tiết kiệm của mình, họ sẽ giữ các khoản tiền này dưới dạng khả dụng (tức là dễ chuyển thành tiền mặt hơn) và để chi tiêu khi cần Khi lãi suất tăng
Trang 22cao, lượng tiền tiết kiệm mà dõn chỳng sẵn sàng cho vay tăng lờn, và số lượng vốn cung sẽ trở nờn lớn hơn Những người đi vay vốn coi lói suất là một khoản chi phớ và như vậy, chi phớ càng giảm thỡ cầu càng tăng, khi lói suất tăng thỡ cầu vay vốn giảm xuống.
3 Yếu tố lũng tin trong hoạt động kinh doanh tớn dụng ngõn hàng:
Trong giới tài chớnh, một người được xem là cú uy tớn khi người khỏc tin tưởng và sẵn sàng ký thỏc tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta Tớn dụng là sự cho vay cú hứa hẹn thời gian hoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện mức tớn nhiệm của người cho vay, yếu tố tớn nhiệm là yếu tố bao trựm trong hoạt động tớn dụng,
là điều kiện cần cho quan hệ tớn dụng phỏt sinh
Trong quan hệ tín dụng, sự tín nhiệm là yếu tố tuy vô hình nhng không thể thiếu Một tính đặc thù của hoạt động ngân hàng là tình trạng tài chính của ngân hàng phụ thuộc vào niềm tin của khách hàng gửi tiền vào giá trị tài sản của ngân hàng đó Nếu khách hàng gửi tiền tin rằng nhiều tài sản của ngân hàng đã giảm giá trị thì ai cũng cố rút tiền của mình ra và gửi vào một ngân hàng khác Và nếu không khí hoảng loạn về tài chính phát triển, sự phá sản ngân hàng có thể không chỉ giới hạn trong những ngân hàng quản lý kém tài sản của họ Các vấn đề của một ngân hàng có thể dễ dàng lan sang các ngân hàng khác đang hoạt động tốt nếu ngời ta nghi là các ngân hàng đó đã cho ngân hàng kia vay Sự mất tín nhiệm toàn bộ nh vậy đối với các ngân hàng sẽ
đem lại sự suy giảm nghiêm trọng trong khả năng của hệ thống ngân hàng tài trợ cho đầu t, do đó có thể đẩy nền kinh tế vào suy thoái
4 Tín dụng của ngân hàng tạo tiền ký thác, tạo tài nguyên cho hoạt
động kinh doanh ngân hàng
Chức năng tạo tiền và huỷ tiền là chức năng riêng có của tín dụng ngân hàng Chức năng này đã làm cho hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng khác hẳn với các hoạt động kinh doanh thông thờng khác
Thuở ban đầu, các ngân hàng có thể tạo tiền bằng việc phát hành các
Trang 23ngân phiếu thanh toán thay cho vàng trong lu thông Ngày nay nhìn chung việc tạo tiền của ngân hàng vẫn nh trớc, nhng chức năng phát hành ngân phiếu
đợc giao cho NH Trung ơng, NHTM không còn tạo tiền bằng cách phát hành ngân phiếu, và tạo ra bút tệ (tiền ghi sổ) bằng cách cho khách hàng rút quá số
d tiền gửi tài khoản séc qua hình thức thấu chi, hoặc vay thanh toán, hoặc phát hành séc Tóm lại, ban đầu ngân hàng đã sử dụng giấy bạc ngân hàng thay cho tiền vàng trong lu thông, tiết kiệm đợc chi phí đúc tiền, vận chuyển, bảo quản
và hao mòn tiền bạc trong lu thông Kế tiếp, ngân hàng lại sử dụng các công
cụ lu thông tín dụng, nh séc, giấy chuyển ngân hàng, thẻ thanh toán…để thay thế cho tiền mặt, đẫ tiết kiệm đợc nhiều chi phí trong việc in,đếm, vận chuyển tiền
5 Công nghệ ngõn hàng là cụng nghệ đặc biệt: cụng nghệ biến đổi cơ cấu thời hạn của cỏc đồng tiền
Ngõn hàng họat động như một trung gian tài chớnh: nhận tiền gửi của khỏch hàng và cho vay phần lớn tiền “thu gom” này cho cỏc khỏch hàng khỏc Như vậy, trong bảng tổng kết tài sản ngõn hàng, tài sản nợ lớn nhất là tiền gửi trong cỏc tài khoản của những người gửi tiền vào NH, “ tài sản cú lớn nhất” là
số tiền cho khỏch hàng vay Việc NH duy trỡ một lượng tiền mặt và một số tài sản khả dụng cần thiết dựng để thanh toỏn cho người ký thỏc là cực kỳ quan trọng Tuy nhiờn việc duy trỡ một lượng tài sản dưới dạng tiền mặt và vốn khả dụng đó nẩy sinh một vấn đề: một tài sản cú tớnh khả dụng càng cao thỡ khả năng sinh lời càng thấp Tài sản phải mất nhiều thời gian mới chuyển được thành tiền mặt sẽ thu được lói suất cao và tài sản cú lói suất cao nhất là tài sản kộm lưu hoạt nhất, đú là cỏc khoản cho khỏch hàng vay Do đú, ngõn hàng phải chọn một mức cõn bằng giữa cỏc tài sản cú tớnh khả dụng tốt nhưng khả năng sinh lời kộm và tài sản cú khả năng sinh lời cao nhưng tớnh khả dụng kộm, xem xột vấn đề đối nghịch giữa tớnh khả dụng và khả năng sinh lời trong khả năng chấp nhận được
Trang 24Chìa khoá đạt đến thành công đòi hỏi NH phải có năng lực chuyển từ hoạt động truyền thống về tiếp nhận ký thác, cho vay, chuyển tiền sang những lĩnh vực mới như: mua bán tiền tệ, chứng khoán và sản phẩm dẫn xuất, nhưng phải biết xử lý những rủi ro phức tạp trong các thị trường này.
Thước đo hiệu quả kinh doanh của một NHTM là lợi nhuận Muốn đạt được lợi nhuận cao, thì công nghệ NH phải tinh xảo, phải luôn có những công nghệ để đạt hiệu quả trong kinh doanh tín dụng, nghiệp vụ trung gian và thu hút vốn nhàn rỗi vào NH Một trong những nội dung cơ bản của công nghệ
NH là biết giải quyết hài hoà khả năng sinh lời của tiền vốn và sự an toàn về khả năng thanh toán giữa các nguồn thu và mức doanh lợi NHTM phải luôn luôn tính toán sao cho có một số tồn quỹ VNĐ và ngoại tệ đáp ứng yêu cầu rút tiền của người ký gửi, có một tỷ lệ thích hợp đầu tư vốn vào các loại tài sản có thể chuyển thành tiền mặt khi cần thiết, giúp NH tránh rủi ro, hoạt động bình thường trên số dư tài khoản tiền gửi ở Ngân hàng nhà nước, ở các
NH đại lý cũng như séc và các chứng từ khác trong quá trình thu tiền
6 NHTM là trung tâm biến đổi và tiếp nhận rủi ro trong nền kinh tế
NHTM làm nhiệm vụ trung gian tín dụng Vấn đề cơ bản nảy sinh trong hoạt động tài trợ tín dụng là làm sao nối kết ý nguyện giữa chủ thể thừa tiền muốn cho vay với chủ thể thiếu tiền muốn đi vay Khi làm công việc kết nối
đó, NHTM đã ngầm chứa đựng rủi ro Hơn nữa, khách hàng của NH là các chủ thể chứa đựng rủi ro, họ tìm đến NH là muốn san sẻ rủi ro đó cho NH Khách hàng vay vốn của NH chủ yếu bao gồm hai loại: khách hàng vay sản xuất và khách hàng vay tiêu dùng Người sản xuất là những người hoạt động trong môi trường đầy rủi ro Các yếu tố gây rủi ro cho người sản xuất rất đa dạng và phong phú xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau và khi xảy ra rủi
ro, khách hàng loại này thông qua kênh tín dụng chuyển các rủi ro đến cho
NH Các cá nhân và gia đình sinh hoạt trong môi trường có nhiều rủi ro, các
Trang 25rủi ro mà họ gặp phải gắn với vấn đề thu nhập và công ăn việc làm, sức khỏe, tuổi tác, hoàn cảnh gia đình… đều dẫn đến khả năng không hoàn trả được nợ vay cho NH Và như vậy, qua con đường tín dụng họ có thể chuyển các rủi ro
đó cho NH Ngoài ra, rủi ro tín dụng còn bắt nguồn từ các yếu tố trong môi trường kinh doanh Những biến động về tự nhiên như hỏa hoạn, động đất, những biến động chính trị xã hội, biến động của môi trường vĩ mô…đều ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng
Đến lượt mình, với chức năng trung gian tài chính, ngân hàng trở thành
“một trung gian chuyển rủi ro trong nền kinh tế” Thông qua các kênh ký thác, NHTM nhận các nguồn tài chính từ những người cho vay đầu tiên, còn thông qua các kênh tín dụng, NHTM chuyển các luồng tài chính đến tay người đi vay sau cùng, và cũng bằng hai cách đó, NHTM chuyển đi hoặc nhận về các luồng tài chính từ các định chế tài chính khác Nhưng khi làm như vậy, NHTM cũng đồng thời tạo lập các kênh dẫn rủi ro giữa các chủ thể kinh tế, các định chế tài chính với nhau
Trang 261 Khái niệm về hệ thống chỉ tiêu thống kê:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một tập hợp các chỉ tiêu có thể phản ánh các mặt,các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt và giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan
1.1.Tác dụng :
Việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nhằm xác định nhu cầu thông tin cần thu thập cho quá trình nghiên cứu thống kê Hệ thống chỉ tiêu giúp lượng hóa các mặt, cơ cấu và các mối liên hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu
1.2.Sự hình thành hệ thống chỉ tiêu:
Qua tổng hợp và theo những biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp của hiện tượng Hình thành từ những nhóm chỉ tiêu đã được xây dựng cho những nhu cầu riêng
2 Những nguyên tắc và yêu cầu khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu:
Đảm bảo tính hướng đích:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với mục đích nghiên cứu và đảm bảo đạt được mục đích nghiên cứu một cách hiệu quả nhất Vì mục đích nghiên cứu quyết định nhu cầu thông tin về những mặt nào đó của hiện tượng nghiên cứu, nó giúp ta lựa chọn các chỉ tiêu thống kê để đưa vào hệ thống
Đảm bảo tính hệ thống:
Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, được phân tổ và sắp xếp khoa học Hệ thống chỉ tiêu phải có khái niệm nêu được
Trang 27mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt, giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan có sự gắn bó với nhau Trong hệ thống chỉ tiêu phải
có các chỉ tiêu mang tính chất chung, các chỉ tiêu mang tính chất bộ phận và các chỉ tiêu nhân tố nhằm phản ánh đầy đủ và sâu sắc hiện tượng nghiên cứu
Cả chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chung lẫn chỉ tiêu nhân tố đều phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung và phương pháp tính, phạm vi nghiên cứu
Đảm bảo tính khả thi:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện về nhân tài vật lực của ngân hàng để có thể tiến hành thu thập và tổng hợp chỉ tiêu trong sự tiết kiệm nghiêm ngặt
Đảm bảo tính hiệu quả:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê được xây dựng phải phù hợp với mục đích nghiên cứu Đồng thời thu thập thông tin đầy đủ nhằm phục vụ cho việc áp dụng các phương pháp thống kê để phân tích,dự đoán Phải xem xét đến khả năng tổng hợp các chỉ tiêu đảm bảo chi phí tối đa Phải cân nhắc thật kỹ để xác định những chỉ tiêu cơ bản quan trọng nhất, vừa đủ số chỉ tiêu Không nên đưa vào hệ thống các chỉ tiêu thừa và chưa thật cần thiết cho công tác quản lý
Đảm bảo tính thích nghi:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với không gian cũng như thời gian của vấn đề nghiên cứu, cần loại bỏ những chỉ tiêu không còn phù hợp và thêm vào những chỉ tiêu cần thiết đối với vấn đề cần nghiên cứu
3 Một số chỉ tiêu phân tích hoạt động kinh doanh:
Trang 28kiệm của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác.
- Nguồn đi vay: Vay Ngân hàng nhà nước, vay các tổ chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn
- Nguồn khác: nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán…
Nguồn vốn của NH bao gồm 2 loại chính nếu phân chia theo hình thức sở hữu: nguồn vốn của chủ ngân hàng và các khoản nợ Vốn của chủ NH thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn, các khoản nợ là nguồn chủ yếu của NH
3.2 Vốn tự có:
- Khái niệm: Vốn tự có, còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của
một NHTM, chủ yếu là do các chủ sở hữu đóng góp và một phần được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại Về phương diện quản
lý, vốn tự có là số vốn tối thiểu, bắt buộc một NHTM phải có để được cấp giấy phép kinh doanh, đồng thời là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác
- Vốn tự có gồm 2phần: vốn cơ bản (vốn cấp1) và vốn bổ sung (vốn cấp2)+ Vốn tự có cơ bản bao gồm: vốn cổ phần thường (vốn điều lệ), vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn, các quỹ dự trữ và dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác
+ Vốn tự có bổ sung gồm có: vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu được chuyển đổi
- Hệ số an toàn vốn tự có:
Tổng tài sản có rủi ro quy đổi
Trong đó: Tổng tài sản có rủi ro quy đổi là tổng tài sản có được tính toán quy đổi theo tỷ lệ rủi ro theo quy định của NHTW
Tổng tài sản có rủi ro quy đổi = Gía trị tài sản có × Hệ số rủi ro tương
Trang 29ứng (chi tiết xem phụ lục 1)
- Ý nghĩa:
Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, vốn tự có của một ngân hàng mặc
dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn ngân hàng nhưng nó giữ vị trí rất quan trọng, quyết định quy mô và phạm vi kinh doanh Nó là cơ sở quyết định huy động bao nhiêu vốn trên thị trường và được sử dụng vào mục đích gì Mặt khác, vốn của NH là cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị của tài sản có của
NH (sự sụt giảm giá trị tài sản có là nguyên nhân có thể dẫn đến NH bị phá sản) Đối với kinh doanh tiền tệ, NH có đủ vốn tự có, có vốn tự có lớn và duy trì được vốn tự có là biểu hiện một ngân hàng bền vững
Vốn tự có là căn cứ để xác định khả năng thanh toán cuối cùng (tỷ lệ an toàn vốn) tức là khả năng đáp ứng toàn bộ các cam kết của một NH Và là căn
cứ để xác định giới hạn cho vay đối với một khách hàng
3.3 Vốn huy động:
3.3.1 Quy mô vốn huy động:
Là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ tổ chức kinh tế
và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng , thanh toán các nghiệp vụ kinh doanh và được làm vốn để kinh doanh Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu Ngân hàng chỉ có quyền
sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn Vồn huy động đóng vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM
3.3.2 Cơ cấu vốn huy động:
- Theo đối tượng huy động:
Cơ cấu vốn huy động theo đối tượng huy động phản ánh tỷ trọng vốn huy động của từng đối tượng huy động trong tổng vốn huy động chiếm bao nhiêu lần hay bao nhiêu %
Trang 30V
(lần hoặc %)Trong đó:
V : Vốn huy động từ đối tượng i
Vhddc: Vốn huy động từ dân cư
Vhdk : Vốn huy động khác
Phân tích cơ cấu vốn huy động theo tiêu thức này thể hiện tỷ trọng của vốn huy động theo đối tượng huy động chiếm bao nhiêu trong tổng vốn huy động và từ đó giúp cho Ngân hàng nên huy động theo đối tượng nào là thích hợp
- Theo loại tiền tệ:
+ Vốn huy động bằng nội tệ (VND): là những khoản vốn bằng VND mà ngân hàng thu được thông qua hình thức huy động
+ Vốn huy động bằng ngoại tệ (thường là USD): là giá trị những khoản vốn bằng ngoại tệ mà Ngân hàng thu được nhờ các hình thức huy động
V
V
(lần hoặc %)Trong đó:
Trang 31Vhdngt : Vốn huy động từ ngoại tệ
Phân tích cơ cấu vốn huy động theo tiêu thức này để thấy tỷ trọng của từng loại vốn huy động nội, ngoại tệ trong nguồn vốn và từ đó thấy nên huy động loại vốn nào cho thích hợp
- Theo thời gian huy động:
Bao gồm vốn huy động ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
V
V
(lần hoặc %)Trong đó:
- Theo hình thức huy động:
Bao gồm vốn huy động từ: - Tiền gửi không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
- Tiền gửi phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
- Các khoản tiền gửi khác
Phân tích cơ cấu vốn huy động theo tiêu thức này để thấy tỷ trọng của vốn huy động theo từng hình thức huy động chiếm bao nhiêu trong tổng vốn
Trang 32huy động, để từ đó Ngân hàng nên huy động theo loại vốn nào là thích hợp.
3.4 Dư nợ cho vay:
- Doanh số thu nợ trong kỳ: Tổng các khoản thu nợ phát sinh trong kỳ, tính cho ngày, tháng, quý, năm
Dư nợ cho vay là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh số vốn mà Ngân hàng cho khách hàng vay nhưng chưa hoàn trả
3.4.2 Cơ cấu dư nợ cho vay:
- Theo đối tượng khách hàng:
+ Doanh nghiệp nhà nước
+ Cá nhân, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 33+ Cho vay ngắn hạn
+ Cho vay trung và dài hạn
- Theo loại tiền tệ:
- Nợ có nghi ngờ: loại này có đầy đủ nhược điểm của nợ dưới tiêu chuẩn nhưng lại không đủ tài sản thế chấp, do đó làm cho việc thu hồi nợ trở nên khó thực hiện Thông thường những khoản nợ bị xếp loại này khi nó đã quá hạn trên 180 ngày
- Nợ có khả năng mất vốn: là những khoản nợ được xem như không có khả năng thu hồi Những khoản nợ bị xếp loại này đã quá hạn trên 360 ngày, loại trừ khoản nợ có đủ tài sản thế chấp thì cũng phải xử lý theo pháp luật hoặc cưỡng chế theo các cam kết
Nợ quá hạn là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá hoạt động của một NH, phản ánh chất lượng tài sản Có rất rõ nét Nó có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NH trong hiện tại và tương lai Nếu đặt chỉ tiêu này vào một trật tự thời hạn, thì có thể nhận định được khả năng ổn định kinh doanh và môi trường quản lý của bản thân NH
3.6 Khả năng thanh toán:
Trang 34Khả năng thanh toán bao gồm khoản dự trữ tiền mặt để sẵn sàng đáp ứng cho những nhu cầu rút tiền bất ngờ của nhân dân Để lại những lượng tiền mặt tối thiểu đề phòng cho những biến cố như vậy là điều phải làm tại các NH.
• Tỷ lệ khả năng chi trả=
+ Tài sản Có có thể thanh toán ngay: tiền mặt, tiền gửi NHNN, tiền gửi tại tổ chức tín dụng trong nước, đầu tư vào tín phiếu NHNN, các khoản cho vay tổ chức tín dụng và nền kinh tế
+ Tài sản Nợ phải thanh toán ngay: tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức,
cá nhân; tiền gửi tiết kiệm đến hạn thanh toán; kỳ phiếu ngắn hạn, các khoản vay các tổ chức tín dụng khác đến hạn thanh toán
Tỷ lệ khả năng chi trả cho thấy được Ngân hàng có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn hay không
- Thu từ các hoạt động khác như:
+ Thu lãi góp vốn, mua cổ phần
+ Thu về mua bán chứng khoán
Tài sản Có có thể thanh toán ngayTài sản Nợ phải thanh toán ngay
Trang 35+ Thu về kinh doanh ngoại tệ, vàng, đá quý.
+ Thu dịch vụ tư vấn
+ Thu dịch vụ bảo hiểm
+ Thu dịch vụ ngân hàng khác: bảo quản cho thuê tủ két sắt, cầm đồ
- Các khoản thu bất thường khác
3.8 Lợi nhuận:
Lợi nhuận của NHTM bao gồm 2 chỉ tiêu:
Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập - tổng chi phí
Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - thuế thu nhập
3.9 Hệ số ROA:
Chỉ tiêu so sánh giữa Lợi nhuận (lãi ròng) với Tổng Tài sản có trung bình
Tài sản có bình quân
Trong đó: Tài sản có của NHTM bao gồm tất cả các khoản mục bên phải của bảng cân đối tài sản, đó là: tiền mặt, tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước, các khoản đầu tư, các khoản cho vay, tài sản cố định, tài sản có khác
Ý nghĩa: Một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công tác quản lý tài sản Có, tài sản
Có càng lớn thì hệ số nói trên sẽ càng lớn
Hệ số ROA càng cao chứng tỏ:
+ Kết quả của các hoạt động hữu hiệu
+ Tỷ trọng thấp giữa tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn so với tổng ký thác+ Kết quả của các lợi tức cao kiếm được từ tài sản có
Tuy nhiên, tỷ lệ này càng cao cũng thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tài sản có mặc dù nó nói lên sự quản lý các tài sản có tốt
3.10 Hệ số ROE:
Trang 36Chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận thuần với vốn tự có bình quân của NH
Vốn tự có bình quân
Ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Hệ số ROE đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng
Tỷ suất này sẽ quyết định trị giá chứng khoán sau này Hiện nay, trị số này sẽ cho biết khả năng huy động thêm vốn bằng phát hành cổ phiếu hay trái phiếu của NHTM cổ phần Khi ROE quá cao so với ROA, có nghĩa vốn tự có của
NH nhỏ hơn nhiều so với tổng tài sản có Nói cách khác, vốn tự có của NH nhỏ hơn nhiều so với cam kết bên tiêu sản (vốn gốc) Trong trường hợp đó, vốn huy động là lớn hơn nhiều so với vốn tự có và một sự điều chỉnh lại vốn
tự có theo một tỷ lệ hợp lý với vốn huy động sẽ là cần thiết để đảm bảo tính vận hành nghiêm túc của NH
II Một số phương pháp thống kê phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng:
1.Phương pháp phân tổ:
1.1 Khái niệm và ý nghĩa:
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số tiêu thức nào đó) để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau
Các hiện tượng kinh tế xã hội thường rất phức tạp, vì chúng tồn tại và phát triển dưới nhiều loại hình có quy mô và đặc điểm khác nhau Các hiện tượng nghiên cứu thường bao gồm nhiều tổ, nhiều bộ phận có tính chất khác nhau Muốn phản ánh được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, nếu chỉ dựa vào những con số tổng cộng chung chung thì không thể nêu được vấn đề một cách sâu sắc Phải tìm cách nêu lên được đặc trưng của từng loại
Trang 37hình, của từng bộ phận cấu thành hiện tượng phức tạp, đánh giá tầm quan trọng của mỗi bộ phận, nêu lên mối liên hệ giữa các bộ phận, rồi từ đó nhận thức được các đặc trưng chung của toàn bộ
Phân tổ thống kê giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Phân chia các loại hình kinh tế xã hội của hiện tượng nghiên cứu Hiện tượng kinh tế xã hội mà thống kê học nghiên cứu thường không phải là tổng thể đồng chất mà là tổng thể bao gồm nhiều đơn vị thuộc các loại hình rất khác nhau, phát triển theo những xu hướng không giống nhau
- Biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu Một hiện tượng kinh tế xã hội do nhiều bộ phận, nhiều nhóm đơn vị có tính chất khác nhau hợp thành
- Biểu hiện mối liên hệ giữa các tiêu thức Hiện tượng kinh tế xã hội phát sinh
và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời với các hiện tượng xung quanh, mà chúng có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau theo những quy luật nhất định
1.2 Các loại phân tổ thống kê:
1.2.1 Căn cứ vào nhiệm vụ phân tổ thống kê:
- Phân tổ phân loại: giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt các loại hình kinh tế xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau
- Phân tổ kết cấu: nêu lên bản chất của hiện tượng trong điều kiện nhất định và để nghiên cứu xu hướng phát triển của hiện tượng qua thời gian
- Phân tổ liên hệ: Khi tiến hành phân tổ liên hệ, các tiêu thức có liên hệ với nhau được phân thành 2 loại: tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả Như vậy các đơn vị tổng thể trước hết được phân tổ theo một tiêu thức (thường là tiêu thức nguyên nhân), sau đó trong mỗi tổ tính các trị số bình quân của tiêu thức còn lại (thường là tiêu thức kết quả)
1.2.2 Căn cứ vào số lượng tiêu thức của phân tổ:
- Phân tổ theo một tiêu thức: là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở một tiêu thức
Trang 38thống kê hay còn gọi là phân tổ giản đơn.
- Phân tổ theo nhiều tiêu thức: là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau trên
cơ sở nhiều tiêu thức thống kê (từ 2 tiêu thức trở lên)
Trong nghiên cứu thống kê kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, phương pháp phân tổ được sử dụng chủ yếu là phân tổ theo một tiêu thức Phương pháp này được áp dụng để nghiên cứu vốn huy động, dư nợ cho vay theo đối tượng, theo hình thức, theo thời gian, theo loại tiền tệ
Bảng 2.1: Phân tổ vốn huy động theo đối tượng huy động
2 Phương pháp dãy số thời gian:
Dãy số thời gian là dãy các số liệu thống kê của hiện tượng nghiên cứu được sắp xếp theo thứ tự thời gian Trong phân tích kết quả kinh doanh của Ngân hàng, ta dùng phương pháp dãy số thời gian để phân tích một số chỉ tiêu như: vốn tự có, vốn huy động, dư nợ cho vay, nợ quá hạn, lợi nhuận, thu nhập qua các năm
Áp dụng vào tài liệu vốn huy động của MB Bank
Trang 39Bảng2.2: Vốn huy động của MB Bank giai đoạn 2003- 2008
Vốn huy động
(tỷ đồng)
2.1 Mức độ bình quân qua thời gian:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đại diện cho các mức độ tuyệt đối của dãy
số thời gian
- Đối với dãy số thời kỳ:
n
y n
y y
35000 23.136,4
11.602,4 7.046,6
.
−
+ + + +
+
n
y y y
y y
y
n n
2.2 Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối:
Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối giữa 2 thời gian
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ): phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối giữa 2 thời gian liền nhau và được tính theo công thức sau:
δ = 4.933- 3.485 = 1.448 tỷ đồng
Trang 402 3
δ = 7.046,6- 4.933 = 2.113,6 tỷ đồng
3 4
δ = 11.602,4- 7.046,6= 4.555,8 tỷ đồng
4 5
δ = 23.136,4- 11.602,4=11.534 tỷ đồng
5 6
δ = 35.000- 23.136,4=11.836,6 tỷ đồng
Như vậy, lượng vốn huy động của ngân hàng đều tăng qua các năm
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối định gốc: phản ánh sự biến động về mức độ tuyệt đối trong những khoảng thời giản dài và được tính theo công thức sau:
∆ = 4.933- 3.485 = 1.448 tỷ đồng
2 3
∆ = 7.046,6- 3.485= 3.561,6 tỷ đồng
3 4
∆ = 11.602,4- 3.485 = 8.117,4 tỷ đồng
4 5
∆ = 23.136,4- 3.485 = 19.651,4 tỷ đồng
5 6
∆ = 35.000- 3.485 = 31.515 tỷ đồng
- Lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối bình quân: phản ánh mức độ đại diện của các lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối liên hoàn và được tính theo công thức sau:
1 1
1
3 2
=
n
y y n
n
n n n
δ δ
δ
δ
303 6 1
6
485 3 000