MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiBảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là truyền thống vốn có của dân tộc Việt Nam, là sự nghiệp của cộng đồng và sự chăm lo của toàn xã hội. Những năm qua, cùng với sự phát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, vấn đề trẻ em ngày càng được chú trọng quan tâm; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em đã và đang đi vào cuộc sống; điều này góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của môi trường giáo dục toàn diện, tạo ra sự chuyển biến về nhận thức của xã hội, thúc đẩy việc chăm lo sự nghiệp giáo dục thế hệ tương lai của dân tộc.Ngày nay, hơn bao giờ hết, trẻ em được công nhận là có quyền. Hơn nữa, trẻ em còn tham gia vào việc thực hiện các quyền ấy nữa. Các quyền của trẻ em là những quyền cơ bản, chính đáng, là một phần trong số các nhu cầu, thiết yếu với tất cả mọi người. Mọi trẻ em đều có các quyền như nhau. Đòi hỏi và được công nhận. Qui định nghĩa vụ rõ ràng. Từ khi phê chuẩn Công ước, Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi và ban hành một số luật và chính sách để thực hiện Công ước ở Việt Nam như: Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em; và một số các văn bản dưới luật về bảo vệ trẻ em như: Chỉ thị 1408CTTTg ngày 0192009 của Thủ tướng Chính Phủ về tăng cường công tác Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Quyết định 192004QĐTTg của thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 20042010; Trong đó, ở nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và không chính quy) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI CỦA CÁC ĐÀI MIỀN
TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
(Khảo sát trên đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
từ 3/2014 đến 3/2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
CẦN THƠ - 2015
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI CỦA CÁC ĐÀI MIỀN
TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
(Khảo sát trên đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
từ 3/2014 đến 3/2015)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ THANH TỊNH
CẦN THƠ - 2015LỜI CAM ĐOAN
Trang 3từng công bố trên bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Tịnh đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô ở khoa Phát Thanh - Truyền hình, Học viện Báochí và Tuyên truyền đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá và phương pháp nghiêncứu khoa học bổ ích
Trang 4tôi hoàn thành khó học đúng tiến độ và chất lượng.
Xin cản ơn Ban giám đốc, các anh, chị đồng nghiệp tại Đài -PT - TH Tiền Giang, TràVinh, Đồng Tháp cùng các em học sinh các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nguyên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tiền Giang, tháng 7 năm 2015Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh Xuân
Trang 5Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI TRÊN SÓNGĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH TIỀN GIANG, TRÀ
2.1 Đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi và vai trò của trẻ em trong
chương trình truyền hình thiếu nhi ở đài truyền hình Tây Nam Bộ
2.2 Đôi nét về các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
trên sóng đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
37512.3 Sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi của đài
2.4 Đánh giá về sự tham gia của trẻ em trong chương trình truyền hình thiếu nhi
của các đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp 69Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG TRÌNHTRUYỀN HÌNH THIẾU NHI CỦA ĐÀI TIỀN GIANG, TRÀ
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả trong các chương trình truyền
hình thiếu nhi trên sóng đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh,
Trang 6BBT : Ban biên tập
MC : Người dẫn chương trìnhNSTT : Ngôi sao tuổi thơ
PT - TH : Phát thanh, truyền hình TNB : Tây Nam bộ
Trang 7Bảng 1.1: Bạn thường tiếp nhận thông tin qua phương tiện nào? 31 Bảng 1.2: Bạn xem những nội dung nào trong các chương trình
Bảng 2.1: Theo bạn, hình thức các chương trình truyền hình thiếu
nhi cho trẻ em của các đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp hiện nay như thế nào? 43 Bảng 2.2: Theo bạn, loại thông tin nào sau đây cần được tăng
cường trong các chương trình truyền hình thiếu nhi có
sự tham gia của trẻ em của đài Tiền Giang, Trà Vinh,
Bảng 2.3: Ý kiến của bạn về sự tham gia của trẻ em trên các các
chương trình thiếu nhi phát trên Đài Truyền hình Tiền
Bảng 2.4: Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để xem truyền
Bảng 3.1: Thời gian phát sóng các chương trình truyền hình thiếu
nhi của đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp có trẻ em tham gia như thế nào ? 82 Bảng 3.2: Nội dung các chương trình truyền hình thiếu nhi của đài
truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp có trẻ em
Bảng 3.3: Những thông tin liên quan đến trẻ em được phóng sóng
trong các chương trình truyền hình thiếu nhi có phản
Bảng 3.4: Loại thông tin nào sau đây cần được tăng cường trong
các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em của đài Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp? 89
Bảng 3.5: Hình thức các chương trình truyền hình thiếu nhi cho
trẻ em của các đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh,
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là truyền thống vốn có của dân tộc Việt Nam,
là sự nghiệp của cộng đồng và sự chăm lo của toàn xã hội Những năm qua, cùng với sựphát triển về mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội, vấn đề trẻ em ngàycàng được chú trọng quan tâm; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liênquan đến sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ em đã và đang đi vào cuộc sống; điều này gópphần tạo nên sức mạnh tổng hợp của môi trường giáo dục toàn diện, tạo ra sự chuyển biến
về nhận thức của xã hội, thúc đẩy việc chăm lo sự nghiệp giáo dục thế hệ tương lai của dântộc
Ngày nay, hơn bao giờ hết, trẻ em được công nhận là có quyền Hơn nữa, trẻ emcòn tham gia vào việc thực hiện các quyền ấy nữa Các quyền của trẻ em là những quyền
cơ bản, chính đáng, là một phần trong số các nhu cầu, thiết yếu với tất cả mọi người Mọitrẻ em đều có các quyền như nhau Đòi hỏi và được công nhận Qui định nghĩa vụ rõ ràng
Từ khi phê chuẩn Công ước, Chính phủ Việt Nam đã sửa đổi và ban hành một số luật vàchính sách để thực hiện Công ước ở Việt Nam như: Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dụcTrẻ em; và một số các văn bản dưới luật về bảo vệ trẻ em như: Chỉ thị 1408/CT-TTg ngày01/9/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về tăng cường công tác Bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em; Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chươngtrình ngăn chặn và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục và trẻ
em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010;Trong đó, ở nhóm quyền phát triển: Bao gồm mọi hình thức giáo dục (chính quy và khôngchính quy) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinhthần, đạo đức và xã hội của trẻ
Quyền được chăm sóc sức khoẻ, được học tập và phát triển năng khiếu Quyền vuichơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, du lịch Nhóm quyền thamgia: Bao gồm quyền được bày tỏ ý kiến trong mọi vấn đề có liên quan tới bản thân, quyềnđược lắng nghe và được kết giao hội họp Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến vàtham gia hoạt động xã hội Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những nguy cơ mà các em đễ
bị lạm dụng, và các hình thức nghiêm cấm việc lạm dụng trẻ em để bóc lột và làm cácchuyện phi pháp
Chính phủ vừa ban hành Quyết định 1235/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 3-8-2015 về phê duyệt Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em vào
Trang 9các vấn đề về trẻ em giai đoạn 2016 - 2020 Theo đó, mục tiêu tổng quát của chương trình là tạo môi trường thuận lợi và nâng cao năng lực cho trẻ em trong việc thực hiện quyền tham gia các vấn đề liên quan đến trẻ em theo quy định của pháp luật và Công ước của Liên hợp Quốc Trong đó nhấn mạnh đến 1 trong những mục tiêu là các cơ quan chức năng cần thực hiện các giải phái nhằm nâng cao nhận thức về quyền tham gia của trẻ em, giúp cho trẻ em chủ động, sáng tạo, tự tin trong cuộc sống, trở thành chủ nhân tương lai của đất nước
Hãy dành những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em Trẻ em là lớp thế hệ tiếp nối, kế tục và
là chủ nhân tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc; là nguồn lực cho sự phát triển thịnh vượng
và trường tồn của đất nước và nhân loại Việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ không chỉ làtrách nhiệm của gia đình, nhà trường mà là trách nhiệm của toàn xã hội; trong đó, mỗi môitrường đều có vị trí, vai trò quan trọng và phải được coi trọng như nhau, bổ trợ cho nhau.Trẻ em cần được chăm sóc, giáo dục vừa được được hưởng không gian và thời gian để vuichơi, giải trí, có một tuổi thơ trọn vẹn và ý nghĩa
Hiện nay trên báo chí, dù là loại hình gì, báo in, báo nói, báo hình, báo mạng đều
có những tin, ảnh, bài viết liên quan đến trẻ em, dù trực tiếp hay gián tiếp Vì thế có thểthấy trong xã hội, trong cuộc sống, hình ảnh trẻ em luôn hiện hữu khắp nơi và xã hội tácđộng đến đời sống trẻ em thế nào thì trong báo chí hình ảnh trẻ em cũng tương tự vậy, khi
là chủ thể, khi là khách thể, khi bị động khi chủ động, khi trực tiếp khi gián tiếp
So với hiện nay các chương trình thiếu nhi đã đa dạng và phong phú hơn khá nhiều.Các chương trình của VTV và các đài truyền hình địa phương đang nỗ lực xây dựng nhiềuchương trình thiếu nhi gần gũi với đời sống hơn Những chương trình này không chỉ đơnthuần chỉ để giải trí cho các em nhỏ, mà còn như chiếc cầu nối giữa các bé và cha mẹ.Không những thế, các em còn là người tham gia trực tiếp vào các chương trình này Trẻ emđang có nhiều cơ hội để xuất hiện trên màn ảnh nhỏ thông qua các gameshow, chươngtrình truyền hình thực tế đang đua nhau trên sóng Có thể kể một số chương trìnhgameshow và truyền hình thực tế đáng chú ý như: Con đã lớn khôn, Ô cửa trái tim, Nhanhnào bé yêu, Hành trình xanh, Ước mơ của em (phát sóng trên HTV); Ai thông minh hơnhọc sinh lớp 5, Đồ Rê Mí, Giọng hát Việt nhí, Trẻ em luôn đúng, Chinh phục (phát sóngtrên VTV); Nào mình cùng đi, Thi tài cùng họa sĩ Đốm, Vui học toán, Ống kính Biết Tuốt(phát sóng trên Kids & Family)… Ngoài những chương trình được Việt hóa, mua format
về sản xuất trong nước, còn có những chương trình nguyên gốc từ nước ngoài nhưng được
Trang 10biên tập, lồng tiếng Việt như Bố ơi, mình đi đâu thế? Các chương trình bổ sung về kiếnthức phục vụ học tập có sự tham gia của chính các em giúp các em thể thiện sự khéo léo,rèn luyện sự tự tin và đặc biệt là giáo dục về những kỹ năng sống cần thiết, giúp các em tựlập và vững vàng hơn trong cuộc sống hàng ngày
Trong khi đó, các đài truyền hình Tây Nam Bộ hiện nay cho thấy: tỷ lệ phát sóngtrong tổng thời lượng phát sóng còn ít Rất thiếu chương trình mang tính định hướng, giáodục thẩm mỹ và nhân cách cho trẻ chưa cao, như chương hình thức và nội dung thườngxuyên lập lại Nguyên nhân là các đài truyền hình còn xem nhẹ và chưa quan tâm đầu tưđúng mức trong việc sản xuất các chương trình truyền hình phục vụ đối tượng khán giảquan trọng này Thiếu nhân lực, trang thiết bị, kinh phí dẫn đến chất lượng chương trìnhkém so với các chương trình các đài trong khu vực, đài truyền hình tung ương Lịch phátsóng không phù hợp, nội dung khô cứng, nhàm chán đang tiếp tục là nguyên nhân thu hẹpsân chơi này, không hấp dẫn cũng như hạn chế sự tham gia của các em trong các chươngtrình truyền hình thiếu nhi
Vì thế, với đề tài: Sự tham gia của trẻ em trong chương trình truyền hình thiếu nhicủa các đài Tây Nam Bộ hiện nay vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn sâu sắc,
có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động báo chí, cả trong tác nghiệp, cũng như trong côngtác bồi dưỡng nghiệp vụ Những kết quả nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này sẽ là nhữngkinh nghiệm nghề nghiệp sinh động và thiết thiết thực nhất, cũng như đề xuất gợi ý rất hữuích cho việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia củatrẻ em trên sóng đài truyền hình Tây Nam Bộ thời gian tới Đồng thời, các đài truyền hìnhmiền Tây Nam Bộ sẽ có được chiến lược đầu tư phát triển một cách thích đáng cho cácchương trình dành cho thiếu nhi, từ đó nâng cao chất lượng về nội dung cũng như hìnhthức cho các chương trình dành cho lượng khán giả đặc biệt và đông đảo này
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xung quanh đến vấn đề trẻ em trên chương trình truyền hình thiếu nhi, trong thờigian qua, báo chí của nước ta đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau Liên quan đến đề tài này, chúng tôi chú ý các công trình sau:
- “Nhà báo với trẻ em, kiến thức và kỹ năng” của TS Nguyễn Ngọc
Oanh Do Nhà xuất bản thông tấn phát hành 4/2014 Cuốn sách này là công trình nghiên cứu của tác giả về những thách thức đặt ra đối với người làm báo
về trẻ em Đó chính là những kiến thức và kỹ năng báo chí về trẻ em Khung
lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ em, nhận diện những nhân tố có tính
Trang 11chất điều kiện ảnh hướng đến quá trình hình thành, phát triển các kỹ năng tác nghiệp, khảo sát thực tế kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, tìm ra cơ sở khoa học từ thực tiễn nhằm góp phần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí với trẻ em ở Việt Nam Là tài liệu hướng dẫn kỹ năng tiếp cận và giải quyết đề tài trẻ em dựa trên quyền và bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em; giúp các nhà báo hoàn thiện, nâng cao kỹ năng tác nghiệp báo chí, góp phần tích cực, hiệu quả vào việc nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của báo chí đối với nhóm công chúng trẻ em ở nước ta hiện nay
- “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em” do PGS, TS Nguyễn Văn Dững chủ biên,được xuất bản vào năm 2001 Cuốn sách này nêu rõ những kiến thức chung về trẻ em; vấn
đề BVCS&GDTE; kỹ năng và kinh nghiệm hoạt động báo chí cho trẻ em. “Sổ tay phóng viên: Báo chí với trẻ em” là các trải nghiệm thực tế, nhóm tác giả đã thể hiện
cái nhìn sâu sắc và toàn diện về kiến thức, thông tin nền, đặc biệt là các quyền trẻ em trong Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em; Kĩ năng và kinh nghiệm làm báo với đề tài trẻ em
- Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em của tác giả Helena Thoefinn, doNhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản 2003 Đây là cuốn sách đúc kết những phẩmchất cần thiết của nhà báo viết về trẻ em Tài liệu tham khảo truyền thông và trẻ em, nghiên cứu mối quan hệ giữa trẻ em với truyền thông nhằm mục đích giảm tác hại, tăng lợi ích của các phương tiện truyền thông đối với trẻ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực truyền thông, đồng thời tập trung phân tích ba vấn đề lớn: trẻ em có quyền tiếp nhận, có quyền cùng tham gia, vừa có quyền được bảo vệ trước các phương tiện truyền thông
- Báo chí với trẻ em do PGS, TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, xuất bản năm 2004cũng đã cung cấp cái nhìn tổng quan về trẻ em và kỹ năng nghiệp vụ của nhà báo với trẻ
em Công trình này hướng tới việc xây dựng khung lý thuyết về kỹ năng làm báo cho trẻ
em, nhận diện những nhân tố có tính chất điều kiện ảnh hưởng đến quá trình hình thành,phát triển các kỹ năng tác nghiệp, khảo sát thực tế kỹ năng tác nghiệp của nhà báo, tìm ra
cơ sở khoa học từ thực tiễn nhằm góp phần tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả tác độngcủa báo chí với trẻ em ở Việt Nam
Trang 12- Công chúng báo chí do TS Phạm Thị Thanh Tịnh xuất bản năm 2013 Nhà xuấtbản chính trị - hành chính Cuốn sách cũng đã cung cấp cái nhìn tổng quan về nghiên cứucông chúng.
Ngoài những công trình nghiên cứu được biên soạn thành sách, tác giả còn thamkhảo thêm các luận văn, luận án, khóa luận tốt nghiệp khác như:
- Luận văn: “Báo chí cho trẻ em ở thành phố Hồ Chí Minh”, Huỳnh Thị Kim Thi(2009) Cũng như những trẻ em ở các địa phương khác, trẻ em ở TP HCM đang trong giai đoạn phát triển về thể chất lẫn tinh thần nên rất dễ bị tác động bởi môi trường sống xung quanh Chỉ cần thiếu sự quản lý, kiểm soát, định hướng, giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, những ấn phẩm độc hại sẽ rơi vào tay trẻ em, gây ảnh hưởng xấu cho các em Từ đây càng đòi hỏi, báo chí cho trẻ em ở TP HCM không ngừng nâng cao vị trí, vai trò, trách nhiệm
“vừa là trường học, vừa là nhà hát” và là người bạn thân thiết của trẻ em
- Luận văn: Giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trên báo chí hiện nay, Trần Thị Dung (2007) Bằng cách tiếp cận với lý thuyết và khảo sát
trực tiếp, tác giả làm rõ vai trò của báo chí trong việc giáo dục nhân cách cho trẻ vị thành niên trong giai đoạn hiện nay Thông qua việc nêu lên thực trạng, thành tựu, hạn chế, nguyên nhân thành công và hạn chế cùng việc đưa ra các giải pháp để báo chí phục vụ trẻ em ngày càng càng tốt hơn.
- Luận văn: Góp phần hình thành và giáo dục nhân cách cho tuổi thơ qua chương trình văn nghệ thiếu nhi Đài truyền hình Việt Nam của tác giả
Nguyễn Lan Hương, Học viện ba chí và Tuyên truyền, Hà Nội, năm 1997.
Để làm phong phú nguồn tài liệu, tác giả còn tham khảo 1 số bài báo, bài viết đề cập đến báo chí, truyền hình cho trẻ em được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các tập chí nghiên cứu khoa học, đăng trên các website, báo online:
- Các bài viết của tác giả Huỳnh Thị Kim Thi (2009), “Báo chí dành cho trẻ em: Hãy để trẻ em nói lên tất cả”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, (ngày 28.7) “Báo chí cho trẻ em ở Thành phố Hồ Chí Minh thường
Trang 13xuyên đổi mới nội dung và hình thức”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, (số tháng 9), tr.46-48 Các bài viết của tác giả Huỳnh Thị Kim Thi
cung cấp một cái nhìn khách quan về nội dung và hình thức của 1 số tờ báo, chương trình truyền hình thiếu nhi ở thành phố Hồ Chí Minh Là 1 những căn
cứ khoa học để góp phần giúp báo chí nói chung viết cho thiếu nhi nơi đây nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của trẻ em
- Bài báo Tìm hiểu tâm lý trẻ em - một nhóm công chúng đặc thù của báo chí củatác giả Đỗ Thu Hằng đăng trên website Báo chí với trẻ em, Học viện Báo chí và Tuyêntruyền, Hà Nội vào ngày 11.27.2005 Làm báo cho trẻ em, vì thế khó hơn rất nhiều
so với các nhóm công chúng khác thuộc nhóm người đã trưởng thành Do đó, cần giúp cho các nhà báo viết về trẻ em và cho trẻ em có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với nhóm tri thức này Đồng thời, bằng việc phân tích tâm lý riêng có của trẻ em, cần nâng cao hơn nữa vị thế xã hội của các sản phẩm báo chí - truyền thông , cũng như đội ngũ các nhà báo viết cho trẻ em và về trẻ em ở nước ta hiện nay
- Bài báo “ Nhà báo với trẻ em” của tác giả Thu Thủy Truyền hình K32-A2
đăng trên Sóng trẻ online ngày 18.3.2015 Tác giả cho rằng trẻ em chưa ý thức được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của truyền thông, báo chí đến cuộc sống của chính mình Vì vậy, các nhà báo, bằng kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp phải có trách nhiệm bảo vệ các em trước mọi sự bất lợi mà
do vô tình hay cố ý các nhà báo đã đem đến cho các em
- B i báo “ ài báo “ Cần chú trọng tính tương tác trong sản xuất các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi” Của tác giả Minh Hoàng trên
TREEMVIET.vn (2004) Tác gi cho r ng ả cho rằng ằng , hầu hết các chương trình sản xuất cho thiếu nhi mặc dù cũng có sự kết hợp giữa giải trí và giáo dục nhưng nó thường mang tính giáo dục nhiều hơn, cách chuyển tải cũng giản đơn không thu hút được sự hứng thú của trẻ em do chưa ứng dụng được sự phát triển và
đa dạng của công nghệ trong sản xuất chương trình truyền hình Những người làm truyền hình dành cho trẻ em cần không chỉ có tài mà còn có tâm, có đức,
Trang 14không chỉ hiểu về tâm lý lứa tuổi trẻ em mà còn cần biết về quyền tiếp cận thông tin của trẻ em để quá trình xây dựng các chương trình truyền hình thực
sự gần gũi và thân thiết với trẻ em
Tóm lại, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề báochí và trẻ em trên cả hai phương diện: lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những công trìnhnày mới cho chúng ta cái nhìn tổng quan về báo chí và trẻ em, kỹ năng nghiệp vụ viết báocho trẻ em, chưa đi sâu nghiên cứu báo chí truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
ở một địa phương cụ thể như Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp Trong khi đó, báo chítruyền hình có sự tham gia của trẻ em ở TP HCM và đã và đang phát triển rất mạnh mẽkhông thua kém báo chí cho trẻ em ở trung ương Như vậy, có thể nói, thực hiện đề tài “Sựtham gia của trẻ em trên chương trình truyền hình thiếu nhi của các đài miền Tây Nam Bộ”
là đề tài mang ý nghĩa thực tiễn cho địa phương cụ thể: miền Tây Nam Bộ, chưa có côngtrình nào nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu nội dung và hình thức các chương trình truyền hình thiếu nhicủa các đài miền Tây Nam Bộ, luận văn làm rõ mức độ tham gia cũng như những thànhcông và hạn chế của trẻ em trên các chương trình thiếu nhi Từ đó, đề xuất một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ
em, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công chúng trẻ em
- Vận dụng lý luận báo chí và căn cứ vào tình hình thực tế để đề ra những giải phápnâng cao chất lượng các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em ởTây Nam Bộ nói chung, trong đó có Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 15Với đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu chính là sự tham gia củatrẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi ở Tây Nam Bộ Cụ thể là các chươngtrình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em trên sóng các đài PT - TH TiềnGiang, Trà Vinh, Đồng Tháp Trong đó, tác giả tập trung khảo sát ở 1 số phương diện: mức
độ tham gia, nội dung thông tin có sự tham gia của trẻ em, hình thức tham gia của trẻ em
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn cao học, đề tài này chỉ nghiên cứu các chươngtrình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em phát sóng trên các đài PT - TH TiềnGiang, Trà Vinh, Đồng Tháp Thời gian từ 3/2014 đến 3/ 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng phương pháp luận báo chí, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về báo chí và trẻ em, các tài liệu lý luận về báo chí, truyền thông đã xuất bản
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng, kết hợp các phương pháp nghiên cứusau:
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến báo chí cho trẻ
em, các công trình khoa học liên quan đến báo chí cho trẻ em nhằm tìm hiểu lịch sử nghiêncứu vấn đề, có thêm kiến thức về báo chí cho trẻ em, đề cập cụ thể đến thể loại chươngtrình truyền hình thiếu nhi, tránh trùng lập với các bài viết, các công trình nghiên cứu đã cótrước đây Đồng thời phân tích làm rõ đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi,bước đầu góp phần xây dựng lý luận về chương trình truyền hình thiếu nhi trên sóng truyềnhình
- Phương pháp khảo sát thực tế nhằm nắm bắt được cách tổ chức thực hiện chươngtrình truyền hình thiếu nhi trên sóng đài PT - TH Tiền Giang, trà Vinh, Đồng Tháp Trên
cơ sở đó luận văn sẽ đề cập đến những vấn đề mang tính lý luận nhưng sát với thực tế đểviệc thực hiện đạt hiệu quả hơn
- Phương pháp phỏng vấn sâu tới nhóm quản lý báo chí nhằm lấy ý kiến của nhữngnhà quản lý (2 người) xem họ nhìn nhận như thế nào về chương trình truyền hình thiếu nhi,những khó khăn, thuận lợi cũng như những giải pháp nâng cao chất lượng các chương trìnhnày trong thời gian tới Nhóm biên tập viên (3 người) nhằm khai thác các thông tin củabiên tập viên về việc thực hiện các chương trình truyền hình thiếu nhi, những thuận lợi,
Trang 16khó khăn trong quá trình thực hiện, những yếu tố quan trọng để thực hiện 1 chương trìnhtruyền hình thiếu nhi thu hút trẻ em Qua đó gợi mở các giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng chương trình truyền hình thiếu nhi.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng câu hỏi, phát 300 phiếu câu hỏi và thu được
255 phiếu hợp lệ dành cho học sinh các trường học tên địa bàn 3 tỉnh Tiền Giang, TràVinh, Đồng Tháp Nhằm tìm hiểu xem công chúng trẻ em nhận thấy sự sinh động, hấp dẫnnào trong các chương trình truyền hình thiếu nhi để đáp ứng nhu cầu của trẻ em
- Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp so sánh các số lượng, số liệu cácchương trình truyền hình thiếu nhi mà tác giả tiến hành khảo sát các đài truyền hình TiềnGiang, Trà Vinh, Đồng Tháp Cụ thể là các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự thamgia của trẻ em do các đài tổ chức thực hiện từ 3/2014 đến 3/2015 Trên cơ sở đó khẳngđịnh vai trò và nhiệm vụ của các đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp trong việc
tổ chức thực hiện các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Về mặt lý luận
Đây là đề tài đầu tiên khảo sát các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự thamgia của trẻ em trên sóng 3 đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp Đề tài không chỉlàm sáng rõ diện mạo, nội dung và hình thức về sự tham gia của trẻ em trong các chươngtrình truyền hình thiếu nhi ở Tây Nam Bộ, cụ thể đài là PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh,Đồng Tháp mà còn đánh giá tương đối chính xác, khách quan về vai trò, vị trí của cácchương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em hiện nay Đặc biệt là vấn đềtham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi với 2 mặt tiêu cực và tíchcực đang được dư luận xã hội ngày càng quan tâm từ nhiều khía cạnh khác nhau
Thông qua luận văn này, các đài PT - TH Tây Nam Bộ, cụ thể là các đài PT - THTiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp nhận thấy những mặt được và chưa được trong việc tổchức thực hiện các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em; có thểnghiên cứu, tham khảo, áp dụng những giải pháp luận văn đưa ra để đổi mới, cải tiến nội
Trang 17dung và hình thức chương trình truyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em, đáp ứngnhu cầu ngày càng cao của đông đảo công chúng nhỏ tuổi hiện nay Từ đó đánh giá đúngchất lượng chương trình, tạo mối quan hệ tốt giữa đài truyền hình với trẻ em.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng, giảngviên, học viên ở các trường đào tạo chuyên ngành báo chí, tạo tiền đề cho các công trìnhnghiên cứu tiếp theo Đồng thời, qua tìm hiểu việc tổ chức thực hiện các chương trìnhtruyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em ở các đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh,Đồng Tháp, tác giả cũng nâng cao sự hiểu biết của mình khi thực hiện các chương trìnhtruyền hình thiếu nhi có sự tham gia của trẻ em
7 Kết cấu luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính củaluận văn được trình bày trong 3 chương,
Chương 1: Những vấn đề lý luận về sự tham gia của trẻ em trong chương trìnhtruyền hình thiếu nhi
Chương 2: Thực trạng về sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hìnhthiếu nhi trên sóng đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp
Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của trẻ
em trong chương trình truyền hình thiếu nhi của đài PT - TH Tiền Giang, Trà Vinh, ĐồngTháp
Trang 18Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CHƯƠNG
TRÌNH TRUYỀN HÌNH THIẾU NHI
1.1 Các khái niện, thuật ngữ liên quan đến đề tài
- Khái niệm công chúng được từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, HàNội, năm 1988 giải thích như sau: “Công chúng là đông đảo người đọc, người nghe, chứngkiến việc gì trong mối quan hệ với người diễn thuyết, tác giả, diễn viên ”
- Theo TS Đinh Văn Hường, công chúng báo chí là: “người đọc, người nghe, ngườixem, là lực lượng đông đảo nhất của báo chí Họ vừa là đối tượng phản ánh và phục vụ củabáo chí, vừa là những người tiêu thụ và hưởng thụ báo chí” [18, tr.16]
- Theo TS Phạm Thị Thanh Tịnh trong cuốn sách Công chúng báo chí Nhà xuất bảnChính trị - Hành chính xuất bản 2013 thì:
Công chúng báo chí là những người được các sản phẩm truyền thông tác độnghoặc định hướng vào để tác động Đó là đọc giả của báo in, thính giả của đàiphát thanh, khán giả của đài truyền hình Công chúng đó là một cộng đồngngười với giới hạn bé nhỏ như làng, xã đến những cộng đồng to lớn trên phạm
vi quốc tế Đây là một hay nhiều tầng lớp xã hội, có một trình độ và nhu cầuchung về thông tin dành cho họ [39, tr.21]
Từ các khái niệm trên, công chúng được hiểu là toàn bộ các cá nhân trong một khônggian cộng đồng mà trong đó có thể trực tiếp tiếp cận chung một vấn đề nhất định, ở mộtlĩnh vực nhất định, ví dụ như quan tâm đến tác giả nào đó trong lĩnh vực văn hoá, nghệthuật Vì thế, công chúng bao gồm trong đó nhiều loại công chúng khác nhau, ví dụ nhưcông chúng báo chí, công chúng văn học, công chúng âm nhạc, công chúng sân khấu
Trang 19Hiện nay, Nhà nước mới chỉ công nhận 48 chức danh trong ngành Văn hóa - Thôngtin, trong đó các chức danh như phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, cộng tác viên,thông tin viên… đã được xác định, còn công chúng thì chưa Công chúng chỉ là tên gọithông thường chứ không phải chức danh công chức Nhà nước Tuy chức danh công chúngchưa được xác định nhưng công chúng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động báochí Hiệu quả hoạt động của báo chí phụ thuộc vào khả năng ảnh hưởng của báo chí đối vớicông chúng
Công chúng không chỉ là đối tượng tác động, đối tượng chi phối điều chỉnh màcòn là lực lượng xã hội quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí [5,tr.14]
Công chúng có vai trò quan trọng đối với các kênh thông tin Công chúng làngười nuôi dưỡng chương trình, đánh giá, thẩm định cuối cùng chất lượng củachương trình, bài báo Họ là người thẩm định vai trò, vị thế xã hội của ngườilàm báo, cơ quan báo chí Công chúng là nguồn đề tài vô tận của báo chí [39,tr.21]
Công chúng trẻ em
Trẻ em - đối tượng luôn nhận sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta Trẻ emluôn nhận sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội qua đạo lý dân tộc, đạođức xã hội và trách nhiệm pháp lý Điều này thể hiện rõ tại điều 65, Hiến pháp nướcCHXHCN năm 1992: “Trẻ em được gia đình, Nhà nước, và xã hội bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục”; Điều 5, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổ, bổ sung): “Việc bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội vàcông dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ
em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu”
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tình yêu thương vô bờ cho trẻ em Ngườiviết trong bài Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng: “Thiếuniên, nhi đồng là người chủ tương lai của đất nước… Vì tương lai của con em ta, dân tộc
ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các bé cho tốt”
Thực hiện lời dạy của Người, trong mọi chặng đường phát triển đất nước, Đảng, Nhànước ta luôn xác định:“Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng một lớp người mới khôngnhững phục vụ cho sự nghiệp xã hội chủ nghĩa hiện nay mà còn cho sự nghiệp xây dựngcộng sản chủ nghĩa sau này”
Trang 20Từ khi ký Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng và luật hoá các quyền cơ bản của trẻ emtrên cơ sở phù hợp với hiến pháp và pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật ảo vệ chăm sóc vàgiáo dục trẻ em nhiều lần đã được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với từng giai đoạn pháttriển; hàng loạt các chương trình hành động quốc gia vì trẻ em đã được triển khai
Trẻ em tùy theo môi trường, hoàn cảnh, trình độ văn hoá và nhận thức của mỗingười, mỗi quốc gia được định nghĩa khác nhau Tuy nhiên, để dễ dàng xácđịnh ai là đối tượng trẻ em và để thuận lợi trong công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
em ở mỗi quốc gia, Công ước đã đưa ra một quy định chung mang tính quốc tế
là “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp quốc gia công nhậntuổi thành niên sớm hơn
Theo Pháp luật Việt Nam “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Như vậy, dođiều kiện cụ thể của đất nước, trẻ em Việt Nam được hiểu nhỏ hơn trẻ em quy định trongCông ước Trẻ em phát triển phụ thuộc vào điều kiện sống và chịu sự phi phối của xã hội,nhất là về kinh tế, văn hóa… Dù vậy, về phương diện nào đó, trẻ em vẫn phải trải quanhững giai đoạn phát triển cơ bản phát triển thể chất - sinh lý, phát triển nhận thức và pháttriển nhân cách Đặc biệt, giai đoạn phát triển tâm lý chủ yếu chia theo từng nhóm tuổi cụthể như tuổi trước đi học (từ 0-6 tuổi), tuổi nhi đồng (cấp tiểu học, từ 6-12 tuổi), tuổi thiếuniên (cấp THCS và THPT, từ 12-18 tuổi) Và, theo nhà tâm lý học Eric Ericson, sự pháttriển nhân cách của trẻ em được chia thành 5 giai đoạn: sơ sinh; nhà trẻ; mẫu giáo; đi học;
vị thành niên
- Giai đoạn sơ sinh (từ 0-1,5 tuổi) là giai đoạn trẻ em chủ yếu ăn, ngủ, phối hợp vớicác phản xạ mang tính bột phát Đến khoảng từ 4-12 tháng tuổi, trẻ mới phát triển các độngtác biểu cảm, cộng sinh cảm xúc Các em rất cần sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ
- Giai đoạn nhà trẻ (từ 1,5-3 tuổi) là lúc trẻ mới tập đi, tập định hướng, hình thành sự
tự chủ (cảm giác sự tự kiểm soát và quyết định) Đặc điểm nổi bật của trẻ trong giai đoạnnày là tỏ ra độc lập và không vâng lời
- Giai đoạn mẫu giáo (từ 3-6 tuổi) là giai đoạn trẻ em thể hiện sự hiếu thắng, hiếuđộng, hiếu kỳ, bắt chước và giàu sức tưởng tượng
- Giai đoạn đi học (từ 6-tuổi dậy thì): Từ lớp 1-2, trẻ em chú ý vô thức và tư duy hìnhtượng cụ thể Từ lớp 2-9, các em đã nhận thức được ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hìnhảnh
Trang 21- Giai đoạn vị thành niên (từ tuổi dậy thì-16 tuổi) là giai đoạn trẻ em phát triển nhanh
về thể lực và trí lực Đây là thời kỳ then chốt sự phát triển tâm lý của con người Ngoài ra,
ở lứa tuổi này, các em có sự phát triển mạnh mẽ về tâm lý giới tính
Theo nhà tâm lý học Eric Ericson, sự phát triển nhân cách của trẻ em được chia thành
5 giai đoạn: sơ sinh; nhà trẻ; mẫu giáo; đi học; vị thành niên Và theo từng giai đoạn, nhậnthức của trẻ sẽ phát triển khác nhau về ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hình ảnh, cũng nhưnhu cầu tiếp nhận thông tin
Từ sự phân chia giai đoạn phát triển nhận thức và phát triển nhân cách của trẻ emnhằm khẳng định những đòi hỏi riêng biệt của trẻ em đối với sản phẩm báo chí dành chochính mình Cụ thể, ở hai giai đoạn sơ sinh (từ 0-1,5 tuổi), nhà trẻ (từ 1,5-3 tuổi) trẻ emchưa có khả năng tiếp nhận báo chí Đến giai đoạn mẫu giáo (từ 3-6 tuổi), lứa tuổi này trẻ
em đã tiếp nhận được báo chí, nhất là truyền hình Trẻ thích xem những gì mới, lạ và bắtchước lời nói, hành động của nhân vật Các em chưa phân biệt lợi - hại, tốt - xấu Giai đoạn
đi học (từ 6-tuổi dậy thì) các em đã nhận thức được ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và hìnhảnh đa dạng hơn Vì thế, các em có khả năng tiếp cận và chịu ảnh hưởng từ báo chí, nhất làtruyền hình Hiện nay, trẻ em từ 6 tuổi trở lên đã tiếp cận được với báo chí như đọc báo,nghe phát thanh, xem truyền hình, truy cập internet Ngoài ra, các em có khả năng tham giasản xuất báo chí, ví dụ như tham gia các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi Đặcbiệt, các em đã nhận thức, nhận xét sau khi xem xong bộ phim hoạt hình, các em có thểnhận xét hay hay dở; nhân vật trong bộ phim có hành vi tốt hay xấu
Trong xã hội thông tin, mọi thông tin đến rất nhanh và đi cũng rất nhanh Mối quantâm của các tầng lớp công chúng được trãi rộng trên rất nhiều luồng thông tin khác và trêncác phạm vi rộng, hẹp khác nhau Bên cạnh đó,
“Xã hội Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ, mối quan tâm của công chúngvới những vấn đề khác với trước kia họ thường quan tâm do những định hướng
và các mối quan tâm về lợi ích khác nhau Các nhóm công chúng cũng đượcchia nhỏ và trở nên đa dạng”
Vì vậy, hiện nay, mỗi kênh thông tin đại chúng, cụ thể là báo chí có xu hướng phục vụcho một hoặc một số đối tượng công chúng nhất định Thực tế chứng minh, ngày càng cónhiều sản phẩm báo chí mới ra đời phục vụ cho từng nhóm công chúng được chia nhỏ theogiới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, vùng miền, quốc tịch, dân tộc…
Có thể thấy những nét riêng có của nhóm công chúng trẻ em thông qua những phântích chung nhất về đặc điểm về sự phát triển nhận thức và nhân cách của các em như đã nói
Trang 22trên Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về công chúng báo chí trẻ em là đối tượng mà báo chí hướng vào để tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình Đồng thời, công chúng trẻ em còn tương tác trở lại, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí - truyền thông Sự tiếp cận các đề tài liên quan tới trẻ em như các sự kiện, hiện tượng xung quanh cuộc sống của các em, trong gia đình, ngoài nhà trường và cộng đồng
xã hội đều được báo chí đề cập Những thông tin được cung cấp cho các em không chỉ mang tính giải trí, làm phong phú cho đời sống tinh thần của các
em, đáp ứng được nhu cầu thông tin phù hợp với trẻ em mà còn có tác dụng giáo dục rất tích cực về ứng xử trong cuộc sống, những kỹ năng cần thiết của trẻ thông qua những tác phẩm báo chí Hiện nay, cùng với nhận thức về quyền trẻ em của cộng đồng và chính bản thân trẻ em đang có những bước cải thiện đáng kể thì công chúng trẻ em không chỉ là đối tượng hưởng thụ các sản phẩm báo chí dành cho lứa tuổi mình mà các em còn trực tiếp tham gia sáng
tạo các tác phẩm đó “Điểm tạo ra sự khác biệt giữa trẻ em và người lớn, và các em trở thành nhóm đối tượng đặc thù, rất quan trọng của báo chí là ở chỗ: trẻ em là những con người đang ở giai đoạn phát triển cả về thể lực và tâm sinh lý” [5, tr.217]
Ngoài ra, so với các nhóm công chúng khác thì: “Trẻ em luôn có thế giới riêng củamình, cả về thể chất, tâm - sinh lý, nhận thức, văn hoá cùng với nhu cầu, nguyện vọng vàcách thể hiện chúng” [5, tr.217]
Như vậy, trẻ em còn được xem là nhóm công chúng xã hội đặc thù
1.1.2 Chương trình truyền hình thiếu nhi
Báo chí Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự giámsát và xây dựng của nhân dân Ngay tại điều 1, Luật Báo chí ban hành ngày 2.1.1989 đãkhẳng định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tinđại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức củaĐảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn củanhân dân”
Tại điều 3, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999, quy định:
Trang 23Báo chí gồm báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn); báo nói (chươngtrình phát thanh); báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sựđược thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau); báo điện tử (được thực hiện trênmạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nướcngoài [7, tr.212].
Báo chí vừa là công cụ tích cực, hữu hiệu trong việc truyền bá sản phẩm văn hóa, vừa
là địa chỉ hội tụ và kiểm nghiệm những giá trị văn hóa Sức mạnh và ưu thế của báo chítrong việc truyền bá, phổ biến các sản phẩm văn hóa - giải trí là thông qua hoạt động này
để cùng lúc đạt hai mục đích: giáo dục chính trị - tư tưởng và giáo dục đạo đức, thẩm mỹcho công chúng, hướng công chúng tới chân - thiện - mỹ, làm phong phú và giàu có đờisống tinh thần của họ Vì vậy, có thể nói, báo chí là thước đo tầm cao của văn hóa, là công
cụ để truyền bá, hướng dẫn và lưu giữ các nội dung và giá trị văn hóa và bản thân báo chícũng là văn hóa
Bên cạnh chức năng giáo dục tư tưởng và quản lý, giám sát xã hội, phát triển văn hóa
và giải trí là một trong những chức năng khách quan của báo chí Báo chí là kênh truyền
bá, phổ biến một cách sinh động, hấp dẫn các loại hình và tác phẩm văn hóa - văn nghệ đểnâng cao trình độ hiểu biết và đáp ứng nhu cầu văn hóa - giải trí của nhân dân Thực hiệnchức năng này, báo chí quan tâm hàng đầu đến những giá trị văn hóa - nhân văn Đó là phổbiến tác phẩm văn học, nghệ thuật, âm nhạc, điêu khắc, hội họa, kiến trúc… Đây là điềukiện quan trọng để đại chúng hóa các giá trị văn hóa, tinh thần tốt đẹp của dân tộc và nhânloại, giúp cho mọi thành viên của xã hội không ngừng bổ sung vốn tri thức, làm phong phúthêm đời sống tinh thần của mình
Đáp ứng nhu cầu phong phú và đa dạng của xã hội, làm phong phú thêm nội dungthông tin của báo chí và đáp ứng nhu cầu thiết thực của nhân dân, báo chí còn thực hiệnchức năng quảng cáo, dịch vụ, chỉ dẫn, dự báo thời tiết, giá cả thị trường… Qua nhữnghoạt động này, báo chí có thể giúp công chúng tìm kiếm những hàng hóa và dịch vụ cầnthiết, tiết kiệm thời gian và mang lại không ít lợi ích kinh tế cho người dân Đồng thờitruyền bá phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống của một dân tộc
Với các chức năng trên, báo chí không ngừng tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạođức, nhân cách, lối sống của con người, trong mối quan hệ mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từchính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội trên bình diện cộng đồng cũng như hình thành nhâncách cá nhân, trong đó có trẻ em
Trang 24Theo cách hiểu thông thường từ trước đến nay, chúng ta thường hiểu trẻ em đơn thuần
là đứa trẻ nhỏ Cũng trong độ tuổi trẻ em, ta thường gặp những cách gọi quen thuộc: Thiếuniên, thiếu nhi, nhi đồng… Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh quy định độ tuổi của thiếuniên là từ 9 đến 14 tuổi Theo quy định của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi Theo công ước quốc tế từ mới sinh đến 16 tuổiđược coi là độ tuổi của trẻ em Trong độ tuổi này có một mốc quan trọng: 6 tuổi - tuổi bắtđầu đến trường Vì vậy trước 6 tuổi được coi là trước tuổi học và sau 6 tuổi được coi làtuổi đến trường Tâm lý học cũng coi 6 đến 16 tuổi là tuổi thiếu nhi, bao gồm tuổi nhi đồng(6- 10 tuổi) và thiếu niên (11 đến 16 tuổi)
Thiếu nhi là một giai đoạn phát triển đặc thù trong độ tuổi trẻ em và có ý nghĩa quantrọng trong cuộc đời mỗi người
Chương trình truyền hình thiếu nhi
Báo chí nói chung là những sản phẩm báo chí (báo in, báo hình, báo nói, báo điệntử…) được sản xuất ra để phục vụ nhu cầu người đọc, người nghe, người xem Mỗi loại hình truyền thông đại chúng đều có những đặc thù riêng Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình làm ra một tác phẩm, ở báo in mỗi tác phẩm, mỗi bài báo
có thể là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, mỗi nhà báo Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn công phu hơn nhiều, đó là một đứa con tinh thần của cả một tập thể, đạo diễn, biên kịch và những người làm kỹ thuật, sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống nhất của từng thành viên trong đoàn làm phim, giữa người biên tập và người quay phim Chương trình truyền hình là
sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả
Báo chí cho trẻ em được sản xuất ra để phục vụ nhu cầu đọc, nghe, xem của đối tượngchính là trẻ em với mục đích định hướng, giáo dục thẩm mỹ, hình thành nhân cách cho trẻthông qua việc cung cấp những thông tin bổ ích, hỗ trợ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệmsống, tạo môi trường vừa giải trí vừa học tập cho các em, giúp các em phát triển toàn diện
về thể chất lẫn tinh thần Hay nói cụ thể hơn, báo chí cho trẻ em là những ấn phẩm, cácchương trình truyền hình, chương trình phát thanh dành cho trẻ em
Trang 25Truyền hình cho thiếu nhi gồm các nhóm sản phẩm sau đây:
- Nhóm sản phẩm truyền hình tăng cường giáo dục gia đình: Cụ thể là các chương trìnhtruyền hình cung cấp kiến thức về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa trách nhiệmbảo vệ chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con cái và nghĩa vụ của con cái đối vớicha mẹ
- Nhóm sản phẩm truyền hình tác động vào quá trình học tập và rèn luyện của thiếu nhitrong nhà trường: Đó là các chương trình truyền hình ra đời dựa trên sự phối hợp vớingành giáo dục để tác động theo chiều rộng, chiều sâu quá trình học tập, tiếp thu tri thứccủa thiếu nhi
- Nhóm sản phẩm truyền hình theo sát những mục tiêu cụ thể của chính sách chăm sóc,giáo dục trẻ em trong toàn xã hội:
Truyền hình cho thiếu nhi hiện nay gồm các mảng nội dung chính sau:
- Nội dung mang tính giải trí: trên truyền hình gồm phim (phim hoạt hình và phim thiếunhi), văn nghệ (ca nhạc, kịch, kịch rối, hoạt cảnh thiếu nhi, múa rối), trò chơi truyền hình
- Nội dung cung cấp kiến thức khoa học - đời sống: những kiến thức phổ thông trongnhà trường và xã hội giúp trẻ em mở rộng sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanhnhư: kiến thức về động vật, thực vật; tâm lý trẻ em; cách thức học tập, chăm sóc sức khỏecho trẻ em …
- Nội dung chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm sống: giới thiệu những gương mặt điển hìnhngười tốt - việc tốt; những bài học kinh nghiệm; mô hình hoạt động hiệu quả; tư vấn giảiquyết tình huống trong cuộc sống xung quanh trẻ em (bạn bè, nhà trường, gia đình và xãhội)
Như vậy, chương trình truyền hình thiếu nhi là một tác phẩm báo chí cụ thể, riêng lẻdành cho công chúng thiếu nhi Đó là những chương trình chỉ dành để phản ánh hoặctruyền tải thông điệp hay thông tin nào đó về một vấn đề cụ thể của thiếu nhi liên quan vàtác động vào nhận thức và hành vi của đối tượng này Trong xu hướng hiện nay, với mụcđích đem lại những gì tốt đẹp nhất cho thiếu nhi, truyền hình cho thiếu nhi không chỉ tácđộng đến thiếu nhi mà còn tác động đến người lớn (chủ yếu là các bậc cha mẹ, thầy cô)thông qua việc cung cấp những kiến thức về tâm lý trẻ em, cách chăm sóc, giáo dục cácem… để định hướng, nâng cao nhận thức và hành vi cho cha mẹ, thầy cô trong việc bảo vệchăm sóc và giáo dục các em
Đặc biệt, truyền hình và thiếu nhi có mối quan hệ gắn kết với nhau Thiếu nhi là đốitượng phản ánh của truyền hình Thiếu nhi là công chúng của truyền hình, là đối tượng tiếp
Trang 26nhận, theo dõi, đánh giá các sản phẩm truyền hình Đồng thời, các em còn là người thamgia sáng tạo tác phẩm truyền hình (trực tiếp hoặc gián tiếp) Ngược lại, truyền hình cũng làdiễn đàn để thiếu nhi nói lên tiếng nói, suy nghĩ của mình về cuộc sống xung quanh; làphương tiện truyền tải những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nướcdành cho trẻ em và là công cụ giám sát việc thực hiện, thu nhận ý kiến phản hồi của trẻ em,các bậc cha mẹ để Đảng, Nhà nước kịp thời điều chỉnh, bổ sung chính sách, pháp luật chophù hợp với lợi ích của trẻ em
Truyền hình ngày nay trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống củathiếu nhi Thiếu nhi xem truyền hình là trường học thứ hai để trau dồi kiến thức, mở rộngtầm nhìn
1.1.3 Sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi
Mối quan hệ giữa báo chí và trẻ em được xác định khi Hiến pháp nước CHXHCNViệt Nam ra đời Tại điều 69 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,
có quyền được thông tin” [25, tr.39-40] Như mọi công dân khác, trẻ em “có quyền đượctiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội Cụ thể là có quyền được tiếpcận thông tin phù hợp với sự phát triển của trẻ em, được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng vềnhững vấn đề mình quan tâm Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu
và năng lực của mình Khi Việt Nam ký Công ước, trẻ em càng được hưởng các quyềnchính đáng của mình:
- Quyền được thông tin: Trẻ em có quyền được đọc sách báo, xem các chương trìnhtruyền hình và nghe các chương trình phát thanh phù hợp với lứa tuổi của các em Các bậccha mẹ cần biết con mình đọc gì và xem gì, để hướng dẫn các em tránh đọc, xem nhữngđiều làm cho các em sợ hãi, nhầm lẫn hoặc làm hại đến các em
- Quyền được tự do bày tỏ ý kiến: Trong tất cả mọi quyết định có ảnh hưởng đến trẻ
em được đưa ra trong gia đình, trường học, toà án, bệnh viện hay tại bất kỳ một cơ quannào khác, người lớn cần lắng nghe ý kiến của các em và làm những điều tốt nhất cho cácem
- Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quanđiểm riêng của mình, được quyền tự do bày tỏ những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đềtác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đángphù hợp với độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ Với mục đích đó, trẻ em phải được đặc biệttạo cơ hội nói lên ý kiến của mình
Trang 27Để đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến của trẻ em, “gia đình, Nhànước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện, giúp đỡ trẻ em được tiếp cận thông tin phùhợp, được phát triển tư duy sáng tạo và bày tỏ nguyện vọng; có trách nhiệm lắng nghe vàgiải quyết nguyện vọng chính đáng của trẻ em”.
Báo chí là cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, các tổ chức xã hội, là diễn đàn củanhân dân, vì vậy báo chí có trách nhiệm cung cấp thông tin và sẵn sàng tiếp nhận thông tincủa trẻ em, tạo điều kiện cho trẻ em thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận vàquyền được nhận thông tin phù hợp với lứa tuổi của mình Báo chí phải góp sức đem lại lợiích tốt nhất cho trẻ em như điều 5, Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em đã ghi “Trongmọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi íchcủa trẻ em phải được quan tâm hàng đầu” [26, tr.6]
Như vậy, mối quan hệ giữa báo chí và trẻ em là mối quan hệ khăng khít Việc tiếpnhận thông tin đa dạng là nhu cầu đồng thời là một trong những quyền cơ bản của trẻ em
mà toàn xã hội phải quan tâm PGS, TS Mai Quỳnh Nam nhận định:
Nhà nước Việt Nam thừa nhận chức năng quan trọng của các phương tiệntruyền thông đại chúng và đảm bảo rằng trẻ em được thu nhận thông tin Nhànước cũng khuyến khích các cơ quan thông tin đại chúng phổ biến các thôngtin và tư liệu có lợi về xã hội và văn hóa cho trẻ em [22, tr.97]
Theo Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em có quyền được coi trọng ý kiến (đIều 12),quyền được tự do ngôn luận và được tiếp nhận thông tin phù hợp (đIều 13) Với phươngpháp tiếp cận theo quyền(trẻ em có quyền được tiếp nhận thông tin và được khuyến khíchtừng bước tham gia vào các hoạt động của truyền thông đại chúng), trẻ em có nhiều khảnăng và cơ hội hơn để phát triển cả về thể chất và tâm sinh lý Điều 17 trong Công ước ghirõ:
“Nhà nước phải đảm bảo để trẻ em có thể tiếp cận thông tin và tài liệu từ nhiềunguồn khác nhau, và khuyến khích các phương tiện truyền thông đại chúng phổbiến các thông tin có lợi cho trẻ em về các mặt văn hoá xã hội, đồng thời tiếnhành các bớc để bảo vệ trẻ em khỏi bị tác động của các tài liệu độc hại”
Như vậy, thông tin và được thông tin là quyền của trẻ em Tất cả các điều khoản trongCông ước quốc tế về Quyền trẻ em là: Trong mọi hoạt động liên quan đến trẻ em, nhữnglợi ích tốt nhất của trẻ em sẽ được xem xét trước tiên Các em được khuyến khích tham giatừng bước, trong những thời điểm phù hợp vào các hoạt động của hoạt động truyền thôngđại chúng Cách tiếp cận theo quyền có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với cách tiếp cận theo
Trang 28nhu cầu, nếu xem xét kỹ lưỡng khả năng và cơ hội cho sự phát triển thể chất và tâm sinh lýtrẻ em.
Báo chí nói chung và chương trình truyền hình cho trẻ em có hai loại:
- Truyền hình cho trẻ em do người lớn làm ra phục vụ cho trẻ em Đây là những sảnphẩm truyền hình cho trẻ em mang tính định hướng, giáo dục, giải trí căn cứ trên nhữngmục tiêu người lớn đã hoạch định
- Truyền hình cho trẻ em do người lớn làm ra và có sự tham gia sản xuất của trẻ em.Đây là những sản phẩm báo chí mang tính định hướng, giáo dục, giải trí căn cứ trên nhữngmục tiêu người lớn đã hoạch định, trong đó có sự tham gia sản xuất của trẻ em Sự thamgia này thể hiện ở 3 góc độ:
+ Thứ nhất: trẻ em tham gia (xuất hiện) trong các sản phẩm truyền hình - tác phẩm củangười lớn với tư cách là đối tượng được phản ánh Ở góc độ này, trẻ em bao gồm trẻ sơsinh, nhi đồng, thiếu niên Thông thường, trẻ em được báo chí đề cập đến như là nhân vậttrung tâm với nhiều hình ảnh khác nhau trong các tin tức, phóng sự thời sự, các chươngtrình chuyên đề…
+ Thứ hai: trẻ em là đối tượng hưởng thụ các sản truyền hình chí do người lớn sảnxuất xem hoạt hình, ca nhạc thiếu nhi
+ Thứ ba: trẻ em tham gia sản xuất truyền hình Ví dụ, các em với vai trò là người dẫnchương trình, diễn viên, viết kịch bản, đọc lời bình…
Là một trong bốn nhóm quyền của trẻ em được ghi trong Công ước Quốc
tế của Liên hợp quốc đã được Việt Nam phê chuẩn Các cơ quan chức năng cùng với các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy thực hiện quyền tham gia của trẻ em trên tất cả các lĩnh vực Riêng trong lĩnh vực báo chí nói chung và truyền hình nói riêng thì sự tham gia của các em thể hiện sự tôn trọng trẻ em và tạo cơ hội tốt để trẻ em được nói lên tiếng nói của mình, được lắng nghe và chia sẻ, được tiếp cận thông tin.
Mặt khác, sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình nói riêng được thể hiện dưới 3 góc độ như trên, và có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em
+ Thứ nhất: trẻ em tham gia (xuất hiện) trong các sản phẩm truyền hình - tác phẩm củangười lớn với tư cách là đối tượng được phản ánh Ở góc độ này, trẻ em bao gồm trẻ sơsinh, nhi đồng, thiếu niên Thông thường, trẻ em được báo chí đề cập đến như là nhân vật
Trang 29trung tâm với nhiều hình ảnh khác nhau trong các tin tức, phóng sự thời sự, các chươngtrình chuyên đề…
+ Thứ hai: trẻ em là đối tượng hưởng thụ các sản truyền hình chí do người lớn sản xuấtxem hoạt hình, ca nhạc thiếu nhi
+ Thứ ba: trẻ em tham gia sản xuất truyền hình Ví dụ, các em với vai trò là người dẫnchương trình, diễn viên, viết kịch bản, đọc lời bình…
Dù ở góc độ nào thì sự tham gia của trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi thì các em cũng là những nhân chứng cho những vụ việc, vấn
đề liên quan đến trẻ em nhưng có tác động đến người lớn, đến các tổ chức xã hội, đến các nhà hoạch định chính sách về những vấn đề chính trị xã hội bức xúc đang đặt ra với trẻ em được phản ánh từ khắp nơi, trên tất cả các lĩnh vực, với một chủ đề rộng lớn và bao trùm.
Một khâu trong quá trình sản xuất chương trình truyền hình theo chu trình: công chúng
- truyền hình - công chúng Quá trình sáng tạo tác phẩm truyền hình bắt đầu từ ý tưởng củacác nhà báo truyền hình, được xây dựng theo quy trình sau: Thực tiễn - nhà báo - tác phẩm
- công chúng Truyền hình cho thiếu nhi dựa vào đặc điểm nổi bật này để sáng tạo ranhững tác phẩm đáp ứng nhu cầu của các em Theo đó, công chúng trẻ em tham gia vàoquá trình sáng tạo tác phẩm như là đối tượng phản ánh và đối tượng tác động của truyềnhình Tác phẩm truyền hình hay sẽ tác động tích cực đến nhận thức và hành vi của nhómtuổi này
Như vậy, trẻ em là đối tượng phản ánh của báo chí, là người hưởng thụ, đánh giá sảnphẩm tinh thần dành cho mình, đồng thời là người tham gia vào quy trình sản xuất báo chícho trẻ em Truyền hình có tác động trực tiếp đến việc hình thành định hướng giá trị, thịhiếu thẩm mỹ và nhân cách của thiếu nhi nên cần sử dụng có hiệu quả sự tham gia của trẻ
em trong hoạt động sáng tạo này Để các em phát triển hoàn hảo nhân cách, thẩm mỹ,truyền hình cho thiếu nhi phải mang tính định hướng và giáo dục cao
Mỗi tác phẩm, chương trình truyền hình thiếu nhi hay như một dòng sông dịu ngọt,mát lành tưới tắm tâm hồn trẻ thơ, giúp các em khám phá, cảm nhận cuộc sống Ðó chính
là con đường tích cực giáo dục và hình thành nhân cách ở các em, là mối quan tâm hàngđầu và cũng là trách nhiệm của toàn xã hội
1.2 Trẻ em ở vùng Tây Nam Bộ
1.2.1 Đặc điểm của trẻ em ở Tây Nam Bộ
Trang 30Tây Nam Bộ thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long phía Bắc giáp vùng Đông Nam
Bộ, phía Tây giáp Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Đông giáp Biển Đông,hiện gồm 12 tỉnh thành và 1 thành phố trực thuộc Trung Ương, gồm: Bến Tre, Bạc Liêu,
Cà Mau, Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng,Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long, An Giang Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 40.000kmm2, được hình thành từ những trầm tích phù sa và được bồi dần qua những kỷ nguyênthay đổi mực nước biển, và qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọctheo bờ biển của miền Tây Nam Bộ Hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thànhnên dạng hình đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông và dọc theo một số giồng cát venbiển, có cả đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giácLong Xuyên - Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau
Tây Nam Bộ hiện diện với tư cách là một vùng văn hóa, với những đặc trưng văn hóakhác biệt vô cùng đặc sắc Đặc trưng văn hóa Tây Nam Bộ đó là sự dung hợp văn hóa củanhiều tộc người (Việt- Hoa -Chăm - Khmer…) đang sinh sống và làm việc trên địa bàn, đãchứa đựng trong lòng nhiều giá trị văn hoá nhân văn - văn hoá lịch sử trên nền tảng vănhóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
Với vị thế ba mặt tiếp giáp biển, với tổng chiều dài trên 700 km Tây Nam Bộ có một
ưu điểm mà khó có vùng nào có, đó là môi trường giao lưu rộng mở, rất thuận lợi cho tiếpxúc và giao lưu văn hóa - phát triển kinh tế Tiểu vùng Giồng duyên hải: gồm Sóc Trăng,Trà Vinh và một phần Tiền Giang, một phần Bến Tre và một phần Bạc Liêu
Chính vị trí địa lý đã tạo điều kiện cho kinh tế văn hóa vùng Tây Nam Bộ đạt đượcnhững thành tựu quan trọng trong việc khuyến khích các thành phần kinh tế cùng pháttriển Trong đó, công tác chăm sóc bảo vệ và giáo dục trẻ em được đẩy mạnh về chiều rộng và chiều sâu, người dân nâng cao nhận thức về quyền trẻ me; gia đình, xã hội có thay đổi hành vi theo hướng tích cực.
Là một trong những tỉnh vùng Tây Nam Bộ, “Đồng Tháp có 418.037 em dưới 16 tuổi Trong đó, số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 8.029 em (chiếm 1,92%) so với tổng số trẻ em dưới 16 tuổi, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi 5.915 trẻ (chiếm 73,67%), trẻ em khuyết tật 1.260 trẻ (chiếm 15,69%), trẻ em là nạn nhân chất độc hóa học 18 trẻ (chiếm 0,22%), trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS 65 trẻ (chiếm 0,80%), trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm 156 trẻ (chiếm 19,42%), trẻ em lang thang 30 trẻ
Trang 31(chiếm 0,37%), trẻ em bị xâm hại tình dục 37 trẻ (chiếm 0,46%), người chưa thành niên vi phạm pháp luật 418 người (chiếm 5,20%), trẻ em làm việc xa gia đình là 130 trẻ (chiếm 1,61%) Từ năm 2011, tỉnh triển khai cho các huyện, thị xã, thành phố rà soát và quản lý 8.591 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại cơ sở Đến tháng 3/2015, toàn tỉnh có 7.530 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, (giảm 1.061 trẻ so với đầu kỳ) Đến nay, 85% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhận được sự trợ giúp, chăm sóc để phục hồi, tái hòa nhập và có cơ hội phát triển; 70% trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt được phát hiện can thiệp để giảm thiểu, loại bỏ nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; 95% trẻ em được phát hiện bị xâm hại tình dục, bị bạo lực được can thiệp, trợ giúp; đạt chỉ tiêu giảm tỷ lệ người chưa thành niên vi phạm pháp luật xuống dưới 10/10.000”
Tuy nhiên, Tây Nam Bộ vẫn còn có sự phân hóa giàu nghèo, rõ nhất là sự chênh lệch
về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn làm nảy sinh các vấn đề xã hội, trong
đó có bạo lực và xâm hại trẻ em Theo thống kê của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ
em, Bộ LĐ-TB&XH về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em từ báo cáo của 63 tỉnh, thành phố cho thấy, tình trạng xâm hại tình dục trẻ em tại 13 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long rất cao Tỷ lệ dưới 6 tuổi bị lạm dụng tình dục chiếm 6,5%.
Tỷ lệ từ 6 tuổi đến dưới 14 tuổi chiếm tới 37,2% Đáng lên án, có những trường hợp bị xâm hại tình dục khi nạn nhân chỉ mới 4 tuổi Như vậy, chỉ 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL tỷ lệ trẻ em dưới 14 tuổi bị xâm hại tình dục chiếm gần 50%
so với toàn quốc Qua khảo sát, một số nguyên nhân dẫn đến TE bị xâm hại là:
TE còn nhỏ, nhận thức chưa cao, cha mẹ mãi lo làm ăn nên không có thời gian quan tâm nhiều đến con “Theo số liệu của Trung tâm công tác xã hội bảo vệ trẻ
em tỉnh Đồng Tháp, từ ngày 16/11/2014 đến ngày 15/5/2015, toàn tỉnh có 88 trường hợp trẻ em cần sự trợ giúp, can thiệp, hỗ trợ, trong đó có 19 trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, 3 trẻ em bị bạo lực gia đình, 9 trẻ em vi phạm pháp luật, 3 trẻ em lang thang và các trường hợp khác”
Trang 32Do đặc điểm tự nhiên của vùng sông nước, nhiều kênh, rạch, ao, sông, nên tỷ
lệ trẻ em ở Tây Nam Bộ bị đuối nước hàng năm cao Nguyên nhân trẻ chết do đuối nước là do chưa được trang bị kiến thức an toàn trên mặt nước, cha mẹ chưa thật sự quan tâm đến việc trông coi và cho trẻ học bơi Nhưng nguyên nhân chính trong các vụ trẻ em chết do đuối nước là sự chủ quan, bất cẩn của gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ Nhiều trẻ hiếu động nên thường chơi đùa gần sông, hồ hoặc vùng nước nguy hiểm mà các em không biết Ngoài ra, trong các trường hợp trẻ bị đuối nước, thường rơi vào những gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, phải mưu sinh vất vả nên không đủ điều kiện chăm sóc tốt cho các em cũng như nhận thức, hiểu biết chung về tai nạn đuối nước còn hạn chế Đồng Tháp là một trong 15 tỉnh, thành phố có trẻ em tử vong do đuối nước cao của cả nước Tai nạn đuối nước ở trẻ em trong thời gian qua ở Đồng Tháp không chỉ xảy ra vào mùa lũ, mà ngay cả những tháng mùa khô Theo Sở Lao Động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Tháp, năm 2014 toàn tỉnh có 56 trẻ bị chết do đuối nước, tăng 10 trẻ so với cùng kỳ năm 2013 Từ đầu năm 2015 đến nay, tỉnh này cũng đã có 14 trường hợp trẻ đuối nước
Nhờ triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 và lồng ghép các chương trình, chính sách hiện có trong tỉnh nên đã góp phần cải thiện đáng kể tình hình bảo vệ trẻ em trong thời gian qua, nhất là các trường hợp trẻ em bị xâm hại, ngược đãi đã được các địa phương phát hiện báo cáo và phối hợp can thiệp giúp các em sớm vượt qua khó khăn, được hưởng quyền cơ bản của trẻ em Kinh tế từng bước phát triển, đờisống văn hóa tinh thần - vui chơi giải trí của người dân, trong đó có trẻ em vùng Tây Nam
Bộ có rất nhiều tiến bộ Các em có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt nhờ mạng lưới y tếrộng khắp từ xã, phường, quận, huyện Việc học hành của trẻ em cũng được chăm lo với hệthống trường lớp ngày càng khang trang, sạch đẹp Hàng năm, tỷ lệ huy động trẻ em vàomẫu giáo, trẻ đến trường tiểu học, và trường trung học cơ sở đều trên 90%
Hệ thống nhà văn hóa, nhà thiếu nhi, sân bãi thể dục, thể thao và dịch vụ vui chơi giảitrí của trẻ em đã được hình thành đáp ứng một phần vui chơi của trẻ em Các cơ quan báochí, phát thanh - truyền hình đã có nhiều chương trình, sân chơi khá sinh động cho trẻ em
Trang 33nhiều lứa tuổi Đặc biệt, trẻ em ở miền Tây Nam Bộ có điều kiện tiếp cận, hưởng thụ sảnphẩm văn hóa mạng lưới thông tấn xã, 14 đài phát thanh truyền hình địa phương
So với trẻ em ở các tỉnh, thành khác, trẻ em Tây Nam Bộ thừa hưởng một nền văn hoá
đa dạng, là sự dung hợp văn hóa của nhiều tộc người (Việt- Hoa -Chăm - Khmer…) Song,việc hưởng thụ văn hóa vẫn còn có sự phân hóa cách biệt giữa trẻ em thành thị, nông thôn
và trẻ em dân tộc thuộc vùng đồng bào Khmer Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc Tây Nam Bộ, với diện tích tự nhiên là 2.369km2, dân số hơn 01 triệu người, trong đó dân tộc Khmer chiếm khoảng 30%, là một tỉnh nông nghiệp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Nếu nhìn về nông thôn thì đời sống văn hóatinh thần - vui chơi giải trí của trẻ em, nhất là trẻ em vùng đồng bào Khmer rất nghèo nàn,trẻ em vùng này được hưởng quyền vui chơi, giải trí rất thấp, chỉ có một bộ phận nhỏ ở cậntrung tâm xã, gần chợ có đời sống văn hóa tinh thần - vui chơi giải trí khá hơn
Mặc dù hiện nay các xã đều có nhà văn hóa, nhưng việc đưa sinh hoạt văn hóa vuichơi giải trí cho trẻ em cũng chưa có bao nhiêu, nếu có cũng chưa được định hướng vàquản lý chặt chẽ, nội dung và hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần - vui chơi giải trí củatrẻ em chưa được hướng dẫn đầy đủ, có hệ thống Tính tự phát trong hoạt động văn hóatinh thần - vui chơi giải trí ở đây còn phổ biến
1.2.2 Tâm lý tiếp nhận thông tin của trẻ em Tây Nam Bộ
Vị trí địa lý ảnh hưởng sâu sắc đến phong tục tập quán, tâm lý rồi từ đó mà dẫn đếnnét riêng về văn hóa xã hội của địa phương đó Trẻ em phát triển như thế nào phụ thuộcvào điều kiện sống và chịu sự phi phối của xã hội, nhất là về kinh tế, văn hóa của nơi mìnhsinh ra, gia đình mình sinh sống, nhu cầu vui chơi giải trí cũng vậy
Cụ thể, theo cuộc điều tra do tác giả luận văn thực hiện, với bảng câu hỏi khảo sát phát 300 phiếu cho đối tượng là học sinh 3 tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, thu về 255 phiếu, trong đó câu hỏi “ Bạn thường tiếp nhận thông tin qua phương tiện nào” có kết quả như sau:
Bảng 1.1: Bạn thường tiếp nhận thông tin qua phương tiện nào? Bạn thường tiếp nhận thông tin qua phương
Trang 34Truy cập internet 140 55%
Kết quả khảo sát về công chúng trẻ em ở Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp cho thấy thông tin thuộc về lĩnh vực văn hóa, giải trí trên truyền hình vẫn là thông tin được trẻ em quan tâm nhất, với tỷ lệ trên 55%, kế đó là truy cập internet
Ở Tây Nam Bộ, người dân nơi đây lựa chọn ưu tiên cho nhu cầu giải trí trong gia đình của là truyền hình Mọi nhà đều lựa chọn phương thức “nhìn”
là chủ yếu Khi đọc báo buộc người đọc phải liên tưởng, phải tư duy logic, phải phán đoán Truyền hình với lợi thế từ hình ảnh, mọi thứ đều bày sẵn trên màn hình cùng với cộng hưởng của màu sắc, âm thanh, âm nhạc đã tạo nên sức hấp dẫn đối với người dân, trong đó có trẻ em Mặt khác, các mạng viễn thông có mặt ở hầu hết địa phương trên cả nước thì việc tiếp cận thông tin từ Internet không phải là khó khăn đối với người nơi đây Người dân Tây Nam Bột từ chỗ xa lạ với Internet và báo mạng điện tử thì ngày nay họ cũng dần dần tiếp cận một cách gián tiếp, thông qua tầng lớp thanh niên Tuy nhiên, xem truyền hình là nguồn cung cấp thông tin, giải trí chính của người dân Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay, trong đó có trẻ em
Nhìn chung, các em Tây Nam Bộ tiếp nhận thông tin không vì mục đích nâng cao dân trí, nâng cao kiến thức, cải thiện chất lượng cuộc sống mà hướng tới các nhu cầu giải trí, điều này khác hẳn với trẻ em ở thành thị Mặt khác, thời gian các em tiếp nhận thông tin trên truyền hình không hẳn là khoảng thời gian dành cho cho việc mở mang kiến thức mà thường là những những lúc nghỉ ngơi Sở dĩ như vậy là vì thời gian đi học, phụ giúp công việc gia đình đã chiếm tương đối nhiều trong quỹ thời gian của các em nên các em tìm đến truyền hình chủ yếu là thư giãn
Dù không được sống trong môi trường năng động, hiện đại như những thành phố lớnkhác trong cả nước nhưng nhu cầu vui chơi giải trí, học tập của trẻ em ở Tây Nam Bộ vẫnrất cao Hiện nay, trẻ em ở Tây Nam Bộ từ 6 tuổi trở lên đã tiếp cận được với báo chí nhưđọc báo, nghe chương trình phát thanh, truyền hình và cả truy cập internet Nhưng đó là
Trang 35công chúng trẻ em ở thành phố, các trung tâm đô thị của tỉnh, cụ thể như trẻ
em ở thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang, thành phố Trà Vinh tỉnh Trà Vinh, thành phố Cao Lãnh, Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp có điều kiện tiếp cận các loại hình báo chí, nắm giữ một lượng thông tin khá lớn, đa dạng, trong khi công chúng trẻ em nông thôn nơi đây đang thiếu thông tin rất nhiều, nhất là các em
ở vùng sâu vùng xa, xã nghèo trong tỉnh, trẻ em Khơ Me của tỉnh Trà Vinh Tâm lý tiếp nhận thông tin của trẻ em Tây Nam Bộ cũng phụ thuộc vào hệ thống báo chí, nhất là truyền hình ở Tây Nam Bộ nói chung và truyền hình các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp nói riêng Dù từng bước được phủ sóng trên diện rộng nhưng hiệu quả tiếp nhận của các em từ các chương trình truyền hình vẫn chưa cao.
Cụ thể, theo cuộc điều tra do tác giả luận văn thực hiện, với bảng câu hỏi khảo sát phát 300 phiếu cho đối tượng là học sinh 3 tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, thu về 255 phiếu, với câu hỏi “Bạn xem những nội dung nào trong các chương trình truyền hình cho thiếu nhi” có kết quả như sau:
Bảng 1.2: Bạn xem những nội dung nào trong các chương trình truyền
hình cho thiếu nhi?
Bạn xem những nội dung nào trong các chương
trình truyền hình cho thiếu nhi sau đây? Ý kiến
Với kết quả khảo sát trên 66,7% trẻ em thích phim hoạt hình trong các chương trìnhtruyền hình thiếu nhi do các đài truyền hình Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp không cónhiều chương trình truyền hình dành cho lứa tuổi trẻ em Các đài cũng không tự sản xuấtnhiều các chương trình truyền hình thiếu nhi Vì thế, trẻ em ở đây không xem được nhiềuchương trình truyền hình thiếu nhi cũng như không có điều kiện tham gia vào các chương
Trang 36trình thiếu nhi của đài Hiện nay các đài truyền hình như Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp phát sóng những bộ phim hoạt hình, phim thiếu nhi cũ, ít phim hấp dẫn và thường xuyên lặp đi lặp lại Như mỗi khi đến hè, các đài truyền hình đều phát sóng lại bộ phim truyện Tây Du ký Các chương trình khoa giáo
ít không hấp dẫn về nội dung, hình thức và sự tương tác với trẻ Và phần lớn trẻ
em ở Tây Nam Bộ hiện nay thiên về giải trí là chơi game Mặc khác, trẻ ở các tỉnh này thông thường bị lệ thuộc vào quyết định của cha mẹ trong việc lựa chọn để được xem chương trình nào Như cha mẹ xem thời sự trẻ xem thời sự, xem phim thì trẻ xem phim vì mỗi nhà có 1 ti vi, buổi tối là thời gian cả nhà cùng nhau giải trí
Nhìn chung, tâm lý tiếp cận các thông tin vui chơi giải trí, trong đó có các chươngtrình truyền hình thiếu nhi nói chung và các chương trình truyền hình thiếu nhi có sự thamgia của trẻ em ở Tây Nam Bộ, cụ thể là ở Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp còn hạn chế
và thụ động Cơ chế tác động thông tin giải trí trên truyền hình của trẻ em được hình thành theo nguyên tắc lây lan giữa em này với em kia Như em này thích chương trình hay phim hoạt hình này thì người bạn mình cũng thích như vậy.
Vì thế, các em có ít khả năng tiếp cận và chịu ảnh hưởng từ các loại hình mà mình tiếp cận.Cũng như ít có khả năng tham gia vào các hoạt động giải trí của mình, như tham gia cácchương trình phát thanh, truyền hình dành cho thiếu nhi
Vui chơi, giải trí là một nhu cầu văn hóa không thể thiếu của con người, nhất là trẻ em.Các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh nó sẽ góp phần rèn luyện cho trẻ em nhữngphẩm chất cơ bản về trí tuệ, đạo đức, thể chất, giúp cho trẻ em có óc sáng tạo, rèn luyện đểkhôn lớn, trưởng thành, hình thành được nhân cách theo hướng tích cực Lứa tuổi thiếu nhicác em đã nhận thức được, nhận xét được các loại hình giải trí của mình Chẳng hạn, saukhi xem xong bộ phim thiếu nhi, các em có thể nhận xét hay hay dở; nhân vật trong bộphim có hành vi tốt hay xấu Do vậy, đối với việc tiếp cận các chương trình truyền hìnhdành cho lứa tuổi mình, các em cần những câu chuyện thường nhật dễ hiểu, gần gũi, nhữngvấn đề khoa học - đời sống, thưởng thức… góp phần kích thích sự sáng tạo của trẻ, giúp trẻhiểu và học những điều hay lẽ phải, có cách cư xử và hành vi đúng Các em cần chươngtrình đề cập từng vấn đề cụ thể của lứa tuổi nhằm mở rộng hiểu biết, suy nghĩ, kiểm soát,điều chỉnh hành động của mình
Trang 37Tiểu kết chương 1Trẻ em là người chủ tương lai của đất nước Vì vậy, trẻ em luôn là đối tượng đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt Miền Tây Nam Bộ, trong đó có 3 tỉnh Tiền Giang,Trà Vinh, Đồng Tháp đang trên đường phát triển còn là những tỉnh thành có tỷ lệ trẻ emcao Đây là nguồn nhân lực quan trọng cũng là nỗi lo của các cấp chính quyền trong côngtác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Song, đến nay, các tỉnh Tiền Giang, Trà Vinh,Đồng Tháp đã từng bước thực hiện tốt công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em thông qua nhiềuchế độ chính sách hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em nhằm đảm bảo cho các em được chăm sóc sứckhỏe và giáo dục tốt Hiện nay, các tỉnh này còn một bộ phận trẻ em khó khăn về vật chất,
về mặt tinh thần, mức hưởng thụ đời sống văn hóa của các em ở mức tương đối Nguyênnhân là do báo chí nói chung và lĩnh vực truyền hình thiếu nhi nói riêng chưa phát triểnmạnh mẽ so với ở các tỉnh, thành khác trong khu vực
Trong nội dung chương 1, tác giả đã giới thiệu những nội dung cơ bản về cơ sở lý luận
và thực tiễn của công chúng trẻ em, chương trình truyền hình thiếu nhi là một tác phẩmbáo chí cụ thể, riêng lẻ dành cho công chúng thiếu nhi Đó là những chương trình chỉ dành
để phản ánh hoặc truyền tải thông điệp hay thông tin nào đó về một vấn đề cụ thể của thiếunhi liên quan và tác động vào nhận thức và hành vi của đối tượng này Phân tích để hiểu rõ
sự tham gia của trẻ em trên các chương trình truyền hình thiếu nhi ở các gốc độ truyền hìnhcho trẻ em do người lớn làm ra phục vụ cho trẻ em Truyền hình cho trẻ em do người lớnlàm ra và có sự tham gia sản xuất của trẻ em Điểm đặc biệt trong chương này, đó là những
tư liệu, phân tích đặc điểm của trẻ em ở Tây Nam Bộ cũng như tâm lý tiếp nhận thông tincủa trẻ em Tây Nam Bộ Trong xu hướng hiện nay, với mục đích đem lại những gì tốt đẹpnhất cho thiếu nhi, truyền hình cho thiếu nhi không chỉ tác động đến thiếu nhi mà còn tácđộng đến người lớn (chủ yếu là các bậc cha mẹ, thầy cô) thông qua việc cung cấp nhữngkiến thức về tâm lý trẻ em, cách chăm sóc, giáo dục các em… để định hướng, nâng caonhận thức và hành vi cho cha mẹ, thầy cô trong việc bảo vệ chăm sóc và giáo dục các em Qua phấn tích, tác giả đi đến một nhận định: vai trò của chương trình truyền hình thiếunhi đối với trẻ em Tây Nam Bộ là rất lớn, đời sống văn hóa tinh thần - vui chơi giải trí củatrẻ em nơi đây Các chương trình thiếu nhi ở Tây Nam Bộ cần phải đa dạng và phong phúhơn, các đài truyền hình nỗ lực liên kết và tự sản xuất nhiều chương trình thiếu nhi gần gũivới đời sống hơn Đây là cơ sở khoa học để luận văn đi vào tìm hiểu thực trạng sự tham giacủa trẻ em trong các chương trình truyền hình thiếu nhi của các đài PT - TH Tây Nam Bộ
Trang 38Chương 2THỰC TRẠNG VỀ SỰ THAM GIA CỦA TRẺ EM TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNHTRUYỀN HÌNH THIẾU NHI TRÊN SÓNG ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH
TIỀN GIANG, TRÀ VINH, ĐỒNG THÁP
2.1 Đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi và vai trò của trẻ em trong
chương trình truyền hình thiếu nhi ở đài truyền hình Tây Nam Bộ
2.1.1 Đặc điểm của chương trình truyền hình thiếu nhi trên sóng đài truyền hình Tây
có chiến lược xây dựng các chương trình dành cho đối tượng này góp phần rất lớn cùng xã hội và nhà trường giáo dục, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, lối sống, thẩm
mỹ các em Hướng đến đối tượng là những khán giả nhỏ tuổi, sân chơi giải trí trên truyền hình dành cho thiếu nhi vì thế cũng mang những tính chất nhạy cảm từ nội dung chương trình đến tư duy và sáng tạo tác phẩm:
2.1.1.1 Về nội dung
Chương trình truyền hình thiếu nhi hiện nay gồm các mảng nội dung chính sau:
- Nội dung mang tính giải trí: gồm phim (phim hoạt hình và phim thiếu nhi), văn nghệ (ca nhạc, kịch, kịch rối, hoạt cảnh thiếu nhi, múa rối), trò chơi truyền hình Như chương trình văn nghệ thiếu nhi của Đài PT - TH Đồng
Tháp phát sóng lúc 18 giờ ngày 18.6.2014 với chủ đề “Hè về”, văn nghệ thiếu
nhi của Đài PT - TH Tiền Giang phát sóng lúc 17 giờ ngày 8.6.2014 với chủ
đề “Mùa hạ yêu thương” là các bài hát về tuổi học trò, hát về mùa hè, mái
Trang 39trường, bạn bè, thầy cô Chương trình được phát vào chiều chủ nhật nên sau những giờ học các em có những phút giây giải trí thư thái, đắm chìm trong thế giới âm nhạc vui tươi, rộn ràng.
- Nội dung cung cấp kiến thức khoa học - đời sống: chương trình Vì tuổi thơ của đài PT - TH Tiền Giang phát sóng lúc 17h chiều chủ nhật cách tuần Trong chương trình phát sóng ngày 18.10.2014 với thời lượng 12 phút, đã có
phóng sự với nội dung “Chăm sóc sức khỏe trẻ em mùa tựu trường” Trong nội
dung phóng sự cô giáo Nguyễn Thị Lệ trường mầm non Bông Sen thành phố
Mỹ Tho dạy các bé lớp Hải Âu cách giữ vệ sinh cá nhân Cô giáo nói cho các bé hiểu rửa tay sạch sẽ để không bị bệnh Trong phần phát biểu cô cho biết:
“Rửa tay sau giờ học, giờ chơi, trước giờ ăn, trước và sau khi đi vệ sinh đã trở thành nguyên tắc cần phải nhớ đối với các trẻ trong trường mầm non Đối với các trẻ mới bước vào lớp nhà trẻ thì cùng nhau quan sát các cô hướng dẫn kỹ càng và thực hiện tốt các động tác rữa tay Và hình ảnh tại trường mầm non Bông Sen trẻ em được
cô hướng dẫn rửa tay đúng cách Những động tác xoa cả bàn tay rồi các ngón tay, các kẽ và chà xát phần móng theo các bước rửa tay mà cô giáo đã hướng dẫn được các bé làm một cách thuần thục, thông qua đó, các em xem chương trình cũng có thêm những kiến thức hữu ích để phòng bệnh tay chân miệng ”
Đây là 1 trong những chương trình cung cấp những kiến thức phổ thông trong nhà trường và xã hội giúp trẻ em mở rộng sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh như: kiến thức về động vật, thực vật; tâm lý trẻ em; cách thức học tập, chăm sóc sức khỏe cho trẻ em
- Nội dung chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm sống: chương trình Vì tuổi thơ của đài PT - TH Tiền Giang phát sóng lúc 17h chiều chủ nhật cách tuần Trong chương trình phát sóng ngày 8.3.2014 với thời lượng 12 phút, các nội
dung trong chương trình như phóng sự “Cuộc thi vô địch TOEFT PRIMARY dành cho học sinh tiểu học” rồi đến Tiết mục chia sẻ là “Kinh nghiệm học anh văn của các bạn học sinh tiểu học” xây dựng 1 bàn tròn trao đổi giữa 5
Trang 40em học sinh trường tiểu học Xuân Diệu, tiểu học Thủ khoa Huân thành phố
Mỹ Tho vừa đạt giải cao trong kỳ thi TOEFT PRIMARY năm trước và các
em tham gia kỳ thi năm nay Các em chia sẻ kinh nghiệm học anh văn sao cho giỏi Em Như Khanh cho biết:
“Nghe nhiều, đọc nhiều, nói nhiều Xem phim, nghe đài có Tiếng Anh Việc học một thứ ngoại ngữ§ khác không phải tiếng mẹ
đẻ, bao giờ cũng đem lại cho học sinh nhiều khó khăn, vì thế để học tốttiếng Anh hay bất kì thứ tiếng nào khác đòi hỏi học sinh phải có nhữngđộng lực khá rõ ràng, chăm chỉ, kiên nhẫn ”
Cũng trong chuyên mục này có Tiết mục Sách hay cho em giới thiệu quyển sách “Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử” của Nhà xuất bản phụ nữ Phát biểu
trong tiết mục này 2 em Mai Huy Khang và Nguyễn Phước Hiển học sinh trường THCS Xuân Diệu tp Mỹ Tho cho biết
Đọc qua quyển sách này, chúng em càng trân trọng những những đóng góp của phụ nữ Việt Nam từ thời xưa đến nay Quyển sách sẽ cho chúng em cái nhìn mới mẻ hơn về những đóng góp của người phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay Với hơn 4000 năm lịch sử, dân tộc Việt Nam sinh ra không biết bao nhiêu người con ưu tú của đất nước trong đó phụ nữ chiếm một phần đáng kể Quyển sách đã giới thiệu những gương mặt nữ đã đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc dựng nước, giữ nước cũng như tôn tạo và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay [phụ lục 8].
Với những nội dung trên thì chương trình đã giới thiệu đến các em thiếu nhi xem đài những gương mặt học sinh học giỏi, những kinh nghiệm học tốt
và các em có thêm kiến thức, thông tin lịch sữ qua những quyển sách hay.
Ngoài ra, trong các chuyên mục Vì tuổi thơ khác, cụ thể Tiết mục Chia sẻ phát sóng ngày 5.6.2014 đề cập đến vấn đề “Làm sao để có tình bạn đẹp” các em
nhận được nhiều lời khuyên về mô giải quyết tình huống với bạn bè trong cuộc sống xung quanh (bạn bè, nhà trường, gia đình và xã hội)