1. Lý do chọn đề tài Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế, báo phát thanh luôn giữ một vị trí quan trọng trong nền báo chí cách mạng Việt Nam, đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của đất nước. Phát thanh ra đời đã làm nên cuộc bùng nổ truyền thông đại chúng lần thứ hai. Thông tin trên phát thanh không bị giới hạn, ngăn cách bởi hàng rào địa lý, dân số, trình độ dân trí . . . mà ngay lập tức tác động đến hàng triệu người trên khắp hành tinh. Trước đây, nhiều nhà khoa học đã nhận định, thế kỷ XXI là thế kỷ của phát thanh. Quả thực, tại Việt Nam, sự phát triển hệ thống phát thanh từ trung ương đến địa phương đã làm cho đời sống báo chí trong nước ngày càng phong phú và sôi động. Công nghệ sản xuất các chương trình phát thanh trực tiếp xuất hiện phổ biến trong cả nước từ những năm 1997 tiếp tục khẳng định phát thanh còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, là phương tiện thông tin giải trí hấp dẫn có khả năng chia nhỏ đối tượng công chúng. Cà Mau là tỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, với 3 mặt giáp biển. Vì vậy, kinh tế chủ lực của Cà Mau là khai thác biển và nuôi trồng thủy sản, tổng sản lượng hàng năm đạt 320.000 tấn, trong đó tôm là 120.000 tấn. Từ năm 2006 đến nay, kinh tế Cà Mau có mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm trên 12%. Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 23 triệu đồngnăm, tăng 3,6 lần so với thời điểm mới tái lập tỉnh vào năm 1997. Những năm gần đây, Cà Mau là tỉnh đứng đầu cả nước về xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tôm sú. Trong năm 2014, Cà Mau đạt kim ngạch xuất khẩu 1,2 tỷ USD.
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
CẦN THƠ - 2015
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC
HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY
Ngành : Phát thanh - Truyền hình
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
CẦN THƠ - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu, các số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Phần tài liệu tham khảo được dẫn nguồn đầy đủ, chính xác Các kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Cần Thơ, ngày 22 tháng 07 năm 2015
Tác giả luận văn
Trang 4Để thực hiện hoàn thành luận văn này, trong quá trình nghiên cứu, tácgiả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cánhân Xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, đầy trách nhiệm của Phó khoa Phát thanh - Truyền hình thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền;
sự tạo điều kiện cung cấp thông tin tư liệu của lãnh đạo Sở Thông tin vàTruyền thông, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Cà Mau; lãnh đạo UBND,Ban Tuyên giáo huyện ủy và lãnh đạo, cán bộ, viên chức của đài truyền thanhcác huyện trong tỉnh Cà Mau; sự đóng góp ý kiến trung thực, khách quan củabạn nghe đài ở 5 huyện trong phạm vi nghiên cứu thực hiện luận văn này
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI
MỚI PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU
1.1 Khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài 111.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đài truyền thanh cấp huyện 171.3 Giới thiệu chung về hệ thống đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh
Chương 2: THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY
30
2.1 Khảo sát phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh
2.2.Sự đóng góp của các đài truyền thanh huyện 552.3 Đề xuất mô hình tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện 66
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN ĐỔI MỚI
PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY
Trang 6UBND : Ủy ban nhân dân
HĐND : Hội đồng nhân dân
Trang 7TrangBảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu biên chế được giao và số người hiện
Bảng 2.2: Tổng hợp số lượng cán bộ, viên chức trong các bộ phận
Bảng 2.3: Tổng hợp số lượng trang thiết bị sản xuất chương trình
Bảng 2.4: Tổng hợp hệ thống truyền thanh không dây các huyện 35Bảng 2.5: Tổng hợp kinh phí được phân bổ năm 2014 của các
Bảng 2.9: Tổng hợp thời lượng chương trình và số tin, bài,
chuyên mục phát sóng của các đài huyện 50Bảng 2.10: Tổng hợp công suất máy phát và diện phủ sóng của đài huyện 54Bảng 2.11: Tổng hợp ý kiến đánh giá của thính giả về chất lượng
nội dung, hình thức chương trình của đài huyện 59Bảng 3.1: Tổng hợp lĩnh vực cần thông tin sâu 89
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nướccũng như trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế, báophát thanh luôn giữ một vị trí quan trọng trong nền báo chí cách mạng ViệtNam, đóng góp một phần không nhỏ vào thành quả chung của đất nước
Phát thanh ra đời đã làm nên cuộc bùng nổ truyền thông đại chúng lầnthứ hai Thông tin trên phát thanh không bị giới hạn, ngăn cách bởi hàng ràođịa lý, dân số, trình độ dân trí mà ngay lập tức tác động đến hàng triệungười trên khắp hành tinh Trước đây, nhiều nhà khoa học đã nhận định, thế
kỷ XXI là thế kỷ của phát thanh Quả thực, tại Việt Nam, sự phát triển hệ thốngphát thanh từ trung ương đến địa phương đã làm cho đời sống báo chí trongnước ngày càng phong phú và sôi động Công nghệ sản xuất các chương trìnhphát thanh trực tiếp xuất hiện phổ biến trong cả nước từ những năm 1997 tiếptục khẳng định phát thanh còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xãhội, là phương tiện thông tin - giải trí hấp dẫn có khả năng chia nhỏ đối tượngcông chúng
Cà Mau là tỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, với 3 mặt giáp biển Vìvậy, kinh tế chủ lực của Cà Mau là khai thác biển và nuôi trồng thủy sản, tổngsản lượng hàng năm đạt 320.000 tấn, trong đó tôm là 120.000 tấn Từ năm
2006 đến nay, kinh tế Cà Mau có mức tăng trưởng khá, bình quân hàng năm trên12% Thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 23 triệu đồng/năm, tăng 3,6 lần sovới thời điểm mới tái lập tỉnh vào năm 1997 Những năm gần đây, Cà Mau làtỉnh đứng đầu cả nước về xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là tôm sú Trong năm
2014, Cà Mau đạt kim ngạch xuất khẩu 1,2 tỷ USD
Trong những thành tựu ấy, hệ thống đài truyền thanh cấp huyện giữ vaitrò quan trọng và tạo được những tác động đáng kể Hoạt động phát thanh -truyền thanh - truyền hình trong tỉnh Cà Mau hiện nay đang trong xu hướng
Trang 9ổn định và ngày càng phát triển Các đài không chỉ tăng cường thời lượngphát sóng, diện phủ sóng, mà còn nỗ lực cải tiến chương trình, mở thêmchuyên mục theo hướng phục vụ ngày càng cao lượng thông tin thời sự vànhu cầu học tập, giải trí của các tầng lớp nhân dân Trong những năm gầnđây, các đài TT huyện tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của cấp trên để đầu tư muasắm trang thiết bị máy móc, mở rộng mạng lưới truyền thanh không dây chocác xã, thị trấn, nhằm kịp thời chuyển tải thông tin đến công chúng, góp phầnđịnh hướng dư luận, nâng cao nhận thức cho người dân và thúc đẩy phát triểnkinh tế- văn hoá xã hội trên địa bàn
Đài TT các huyện, thành phố không chỉ khẳng định được vai trò chủđạo trong công tác tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương
mà còn là cánh tay nối dài của Đài PT-TH tỉnh Cà Mau, là CTV tích cực chocác cơ quan báo in, cổng thông tin điện tử của tỉnh và các huyện, thành phố.Hiện 9 đài TT huyện và thành phố trong tỉnh Cà Mau đều phát thanh trênsóng FM Các đài đã chủ động xây dựng chương trình và duy trì phát sóngđều đặn từ 2 đến 3 buổi/ngày, chuyển tải kịp thời các chủ trương, đường lốicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các sự kiện, hoạt động diễn
ra tại địa phương đến người dân
Đóng vai trò quan trọng như vậy và có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ củamột đơn vị truyền thông độc lập nhưng đến nay đài TT cấp huyện vẫn chưađược công nhận là cơ quan báo chí Chính vì vậy, mà đội ngũ cán bộ, BTV,
PV không được tham gia vào tổ chức Hội Nhà báo và không được công nhận
là nhà báo Riêng các đài TT huyện, thành phố trong tỉnh Cà Mau vẫn chưa có
sự thống nhất từ tổ chức bộ máy; cơ cấu, số lượng nhân sự; định mức phân bổkinh phí cho hoạt động thường xuyên; kinh phí đầu tư trang thiết bị; chế độnhuận bút; phương thức sản xuất chương trình cho đến những vấn đề cụ thểnhư: cấu trúc chương trình, tác phẩm, thể loại
Trang 10Những tồn tại, bất cập nêu trên đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng,hiệu quả hoạt động cũng như tâm huyết của đội ngũ công tác ở các đài TThuyện, thành phố trong tỉnh Cà Mau Do vậy, trong xu thế hội nhập và pháttriển hiện nay của đất nước, cùng với trình độ dân trí ngày càng cao và sựcạnh tranh gay gắt của các loại hình báo chí thì vai trò của báo phát thanh, đặcbiệt là phát thanh địa phương ít nhiều bị lu mờ Vì vậy, làm thế nào để hạnchế những tồn tại, bất cập ấy, tạo cơ chế phù hợp, đồng thời tích cực đổi mới,nâng cao chất lượng hoạt động để đài TT cấp huyện tiếp tục phát triển, đápứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay
Đó là những lý do thôi thúc tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh
Cà Mau hiện nay”, với mong muốn là phản ánh đúng thực trạng và những vấn đề bất cập đã tồn tại suốt thời gian dài để tìm ra các giải pháp tích cực,
hiệu quả nhằm khắc phục những nhược điểm, phát huy hơn nữa những ưu thế
của các đài TT huyện, thành phố trong tỉnh Cà Mau Từ đó, góp phần cùng hệ
thống PT-TH cả nước nói chung và PT-TH ở Cà Mau nói riêng ngày càng
làm tốt hơn nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền trong thời kỳ phát triển và hội
nhập hiện nay của đất nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong bối cảnh bùng nổ của các phương tiện truyền thông đại chúng,báo phát thanh, đặc biệt là hệ thống đài PT-TT cấp huyện cũng liên tục vậnđộng và không ngừng phát triển Là một trong bốn cấp của hệ thống phát thanhquốc gia, đài TT cấp huyện có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển tải cácchủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến vớingười dân, đồng thời còn góp phần đắc lực vào việc thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, quốc phòng của địaphương Chính vì vậy đã có nhiều đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý luận vàthực tiễn hoạt động của báo phát thanh cũng như đài TT cấp huyện
Trang 11Trong quá trình tìm hiểu, khảo sát cho thấy có một số sách, giáo trình
có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tiêu biểu là cuốn Cơ sở lý luận báo chí của PGS.TS Nguyễn Văn Dững (Nxb Lao Động, 2013); cuốn Truyền thông đại
chúng của GS.TS Tạ Ngọc Tấn (Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001);
Cuốn Lý luận báo phát thanh của PGS.TS Đức Dũng (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2003); Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn- tập 6 của Trần Quang, Bùi Việt Hà (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005); Truyền thông Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa do TS Lưu Hồng Minh chủ biên (Nxb Dân Trí,
2009); Phát thanh trực tiếp do GS.TS Vũ Văn Hiền và PGS TS Đức Dũng chủ biên (Nxb Lý luận Chính trị, 2007); Công tác lãnh đạo quản lý báo chí do
TS Nguyễn Thế Kỷ chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, 2012); cuốn Báo phát
thanh, lý thuyết và kĩ năng cơ bản của TS Đinh Thị Thu Hằng,… Trong
những cuốn sách này, các tác giả đã khái quát, làm rõ những vấn đề lý luận vàthực tiễn hoạt động của các loại hình báo chí, trong đó có báo phát thanh Tuykhông có phần nào đi sâu về hoạt động cụ thể của đài truyền thanh cấp huyệnnhưng các tác giả đã cung cấp nhiều kiến thức cơ bản về tổ chức bộ máy, xâydựng chương trình, kỹ năng làm báo phát thanh giúp tôi có cơ sở lý luận đểtriển khai thực hiện đề tài này
Liên quan trực tiếp đến hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện, tácgiả đã tham khảo một số công trình nghiên cứu gần đây như sau:
Năm 2008, có Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thanh Phương về đề tài
“Hệ thống phát thanh, truyền hình các tỉnh miền Đông Nam bộ” Luận văn
tập trung phản ánh về thực trạng phát triển của các đài PT - TH địa phươngtrong khu vực Đông Nam Bộ, nhằm đưa ra cái nhìn khách quan về vai trò, vịthế của loại hình báo chí này thông qua những đóng góp quan trọng, góp phầngiúp địa phương phát huy vai trò lãnh đạo, điều hành, thực hiện có hiệu quảcác mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra
Trang 12Năm 2009, có Luận văn Thạc sĩ của Lâm Thị Thu Hồng, với tiêu đề
“Nâng cao chất lượng hoạt động truyền thanh cấp huyện, thị ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ” Nội dung của luận này đề cập đến thực trạng về tổ chức bộ
máy, chất lượng, nội dung chương trình và những vấn đề đặt ra trong hoạtđộng của đài TT cấp huyện
Năm 2012, Luận văn Thạc sĩ của Đỗ Thị Minh Loan thực hiện đề
tài“Đổi mới phương thức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện trên địa
bàn Hà Nội” Luận này cũng khảo sát, điều tra, đánh giá về hoạt động của đài
TT cấp huyện, trong đó có nêu lên những thách thức từ nhu cầu tiếp nhậnthông tin đa dạng của công chúng Riêng ở chương 2 là phần nói về thựctrạng hoạt động của đài TT cấp huyện trên địa bàn Hà Nội nhưng nguyênchương này tác giả chỉ đề cập đến chất lượng, nội dung, hình thức chươngtrình, việc xây dựng các chương trình phát sóng và những đóng góp tích cực,hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương
Gần đây nhất, năm 2014 thì có Luận văn Thạc sĩ của Huỳnh Thiện Tài,
với tiêu đề “Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre - Thực trạng và
giải pháp phát triển” và Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thanh Lâm có tiêu đề
“Hoàn thiện mô hình tổ chức hoạt động mạng lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre” Hai luận văn này đều thực hiện ở cùng địa bàn
tỉnh Bến Tre Cả hai tác giả đều khảo sát, điều tra và đánh giá toàn diện hoạtđộng cũng như vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và ưu điểm, hạn chế của hệthống đài TT cấp huyện, cấp xã trong tỉnh Bến Tre Trong đó đi sâu về cơ cấu
tổ chức bộ máy - nhân sự, hiện trạng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí hoạtđộng - chế độ nhuận bút và chất lượng nội dung, hình thức chương trình.Riêng luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Lâm có thêm phần những mô hình
tổ chức hoạt động qua các giai đoạn lịch sử, sự tác động của tự nhiên - xã hộiđến hoạt động của mạng lưới TT cơ sở, dự báo về quá trình vận động, pháttriển, phần kiến nghị được được tách khỏi chương 3 và ghép chung với kết
Trang 13luận ở phần cuối Còn luận văn của tác giả Huỳnh Thiện Tài có thêm phầnđặc điểm công chúng phát thanh, tuy nhiên ở chương 1 lại không có phần cơ
sở lý luận nên không nêu được khái niệm và số thuật ngữ liên quan đến đề tài
Tất cả các luận văn kể trên đều đề cập đến thực trạng, hiệu quả hoạtđộng của đài TT cấp huyện Trong đó, chủ yếu là đi sâu vào việc đổi mới,nâng cao chất lượng, nội dung chương trình, cơ cấu tổ chức bộ máy, trangthiết bị kỹ thuật, kinh phí hoạt động Mặc dù các luận văn này đều nghiên cứu
về đài TT cấp huyện nhưng có thể thấy, mô hình hoạt động mỗi nơi mỗi khác,không chỗ nào giống chỗ nào và trên địa bàn tỉnh Cà Mau cũng vậy Từ đó đãlàm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động cũng như việc phát huy vai trò
là cơ quan ngôn luận của địa phương đối với đài TT cấp huyện
Cùng với hệ thống báo phát thanh các tỉnh trong cả nước, đài TT cấphuyện trong tỉnh Cà Mau đã có sự phát triển mạnh và có nhiều đóng góp quantrọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, đếnnay chưa có công trình nào khảo sát, nghiên cứu về thực trạng cũng nhưnhững vấn đề tồn tại, bất cập tạo nên rào cản, làm chậm sự phát triển của các
đài TT huyện trong tỉnh Cà Mau Như vậy, đề tài “Đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau hiện nay”
là một đề tài mới, không có sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu đãcông bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích của đề tài là làm rõ thực trạng
phương thức tổ chức hoạt động của các đài TT huyện ở tỉnh Cà Mau, từ đó đềxuất các kiến nghị, giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện phương thức tổ chứchoạt động của các đài này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nêu trên, tác giả
phải thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 14- Nghiên cứu lý luận báo chí, truyền thông và các văn bản, tài liệu liênquan để xác lập cơ sở lý thuyết và thực tiễn của vấn đề đổi mới phương thức
tổ chức hoạt động của các đài TT huyện ở tỉnh Cà Mau, tạo cơ sở cho côngtác khảo sát, đánh giá thực tiễn
- Khảo sát thực trạng phương thức tổ chức hoạt động của các đài TThuyện ở tỉnh Cà Mau, làm rõ những ưu điểm, thành công và hạn chế, bất cậptrong phương thức tổ chức hoạt động này
- Xác định những vấn đề đang đặt ra đối với các đài TT huyện trongtỉnh Cà Mau để từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phầnnâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu thực trạng và những
vấn đề đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của các đài TT huyện trong
tỉnh Cà Mau, bao gồm các yếu tố: cơ cấu tổ chức, quản lý; cơ sở vật chất kỹ
thuật; kinh phí hoạt động; chế độ chính sách; công tác đào tạo, bồi dưỡng; cấu trúc, quy trình và phương thức sản xuất chương trình; thời lượng phát sóng và diện phủ sóng; nội dung và hình thức chương trình phát sóng
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Chọn 5 huyện để khảo sát ý kiến của thính
giả, gồm: huyện Thới Bình, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi và Năm Căn Đốivới thực trạng hoạt động thì khảo sát tất cả 8 đài TT huyện trong tỉnh Cà Mau
Thời gian khảo sát được giới hạn trong 1 năm, từ tháng 5/2014 đếntháng 4/2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Để hoàn thành những nhiệm vụ và mục đích nghiên
cứu đề ra, đề tài này sẽ dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về báo chí cáchmạng Việt Nam; Nghị quyết TW 5 khóa X của Đảng về Công tác tư tưởng, lý
Trang 15luận và báo chí trước yêu cầu mới; cơ sở lý luận báo chí, truyền thông; lý luận
báo chí phát thanh và lý luận về truyền thanh cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi vận dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được sử dụng cho việc thu thập
thông tin từ những cuốn sách chuyên ngành, văn kiện của Đảng, văn bản chỉđạo, điều hành của các cấp và các chương trình, kế hoạch của địa phương để
hệ thống hóa những vấn đề lý luận và những tư liệu cần thiết có liên quan đến
đề tài.
- Phương pháp quan sát thực tế được sử dụng trong việc tìm hiểu
những số liệu, hiện trạng, quy trình chi tiết, cụ thể để đánh giá đúng thựctrạng cũng như những ưu điểm, hạn chế và những vấn đề đặt ra của các đài
TT huyện trong tỉnh Cà Mau
- Các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra
được những kết luận cần thiết từ hiện trạng, qua đó đề ra những giải phápnhằm phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động và vị thế, vai trò của các đài TT huyện trong tỉnh Cà Mau
- Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với 1 phó giám đốc
sở, 1 phó trưởng phòng Đài PT-TH tỉnh, 2 phó chủ tịch UBND huyện, 1 phóban tuyên giáo huyện và 5 lãnh đạo đài TT huyện để thu thập thêm thông tin
bổ sung cho đề tài
- Phương pháp thăm dò qua bảng hỏi được thực hiện với 200 đối tượng
là công chúng ở 5 huyện trong phạm vi nghiên cứu để thu thập thông tin vềnội dung, hình thức chương trình phát sóng, thời lượng, thời điểm phát sóng Mỗi huyện phát 40 phiếu, chọn 20 nông dân, 10 cán bộ, công chức, viên chức
và 10 học sinh trung học phổ thông
6 Đóng góp mới của luận văn
Trang 16Đây là đề tài đầu tiên khảo sát một cách toàn diện, đầy đủ về thực trạnghoạt động cũng như những vấn đề bất cập về cơ cấu tổ chức, chế độ chínhsách, cơ sở vật chất- kỹ thuật của các đài TT huyện trong tỉnh Cà Mau Trên
cơ sở đó, tổng hợp, đánh giá và tìm ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạnchế, tồn tại, những vấn đề đang đặt ra trong công tác tổ chức bộ máy, kinh phíhoạt động, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật, việc thực hiện các chế độ chính sách,xây dựng nội dung chương trình phát sóng
Những vấn đề được khảo sát cùng với những giải pháp, kiến nghị đượcnêu ra cũng là những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu này, có thể gópphần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cho các đài
TT huyện, thành phố trong tỉnh Cà Mau
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Đây là đề tài lần đầu tiên khảo sát một cách có hệ thống về hoạt độngcủa các đài TT huyện trong tỉnh Cà Mau Đề tài này không chỉ góp phần làm
sáng tỏ thực trạng, những vấn đề bất cập mà còn đánh giá toàn diện về vai trò,
vị trí của các đài TT huyện, thành phố của tỉnh Cà Mau trong việc thực hiện
các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - chính trị - xã hội ở địa phương,
góp phần bổ sung lý luận cho báo phát thanh về hệ thống TT cấp huyện
Đề tài này là một tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy, tậphuấn và bồi dưỡng nghiệp vụ về những vấn đề có liên quan đến hoạt động báophát thanh trên địa bàn tỉnh Cà Mau
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài cung cấp những dữ liệu thực tế xác thực, cụ thể về hoạt động củacác đài TT huyện, thành phố trong tỉnh Cà Mau cho đối tượng là cán bộ lãnhđạo, quản lý báo chí nói chung và ở các địa phương trong khu vực nói riêng
Qua đó, giúp cho những cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí hiểu sâu sắc hơn vai trò, vị trí, thực trạng hoạt động của các đài TT cấp huyện trong việc thực hiện
Trang 17nhiệm vụ chính trị ở địa phương Từ đó có những chủ trương, định hướng, cơ
chế phù hợp nhằm lãnh đạo, quản lý hoạt động này hiệu quả hơn.
Những giải pháp mà đề tài nêu ra có thể là tài liệu tham khảo để các đài
trong khu vực nghiên cứu, áp dụng nhằm cải tiến cách thức tổ chức, hoạt
động, nhằm phát huy hơn nữa thế mạnh của báo phát thanh trong bối cảnh
bùng nổ thông tin hiện nay
Quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này cũng là cơ hội để tác giả bổsung thêm kiến thức, sự hiểu biết về công tác chuyên môn, công tác lãnh đạoquản lý, qua đó góp phần xây dựng đơn vị mình xứng tầm với yêu cầu nhiệm
vụ trong tình hình mới hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU
1.1 Khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài
1.1.1 Đổi mới
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Khắc Trí - Trọng Tấn xuất bản năm
2012 thì “đổi mới” có nghĩa là “thay đổi hoặc làm cho thay đổi tốt hơn, tiến
bộ hơn so với trước, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” [49, tr.195]
Từ khái niệm trên có thể hiểu, đổi mới là thay cách nghĩ, cách làm cũlạc hậu, lỗi thời, không đáp ứng được nhu cầu phát triển bằng cách nghĩ, cáchlàm khác tốt hơn, tiến bộ hơn, hợp với quy luật của sự phát triển Đổi mới còn
là quá trình loại bỏ những gì kìm hãm và cản trở sự phát triển, tổ chức lại bộmáy cho có khoa học, đảm bảo các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra để đưa vào cơ chếvận hành đạt hiệu quả cao nhất Đối với đài TT huyện, việc đổi mới phải đượcthực hiện đồng bộ từ cơ cấu tổ chức, quản lý; cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹthuật; các chế độ, chính sách; nội dung, hình thức thể hiện chương trình;phương thức truyền tải thông tin đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũcán bộ, PV, BTV, PTV, KTV Có như vậy, đài TT các huyện mới nâng caođược hiệu quả hoạt động, đáp ứng tốt yêu cầu công tác tuyên truyền của địaphương và nhu cầu nắm bắt thông tin của người dân
1.1.2 Phương thức tổ chức hoạt động
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của Khang Việt xuất bản năm 2011 thì
“phương thức” có nghĩa là “phương pháp, cách thức" [55, tr.912], còn “tổ chức” là “sắp xếp bố trí lại đội ngũ cán bộ thành các bộ phận để cùng thực
hiện một nhiệm vụ hoặc có cùng một chức năng chung; để làm cho có trật tự, nền nếp” [55, tr.912], và “hoạt động” là “hành động thường xuyên, hành động không ngừng” [55, tr.557].
Trang 19Như vậy, phương thức tổ chức hoạt động của đài TT được hiểu là cáchthức, phương pháp tiến hành các nhiệm vụ của đài Trong đó, có cả công tácsắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ sao cho hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.Tuy nhiên, nhiệm vụ chính của đài TT là công tác thông tin, tuyên truyền, baogồm cả nội dung thông tin, hình thức thể hiện thông tin và phương thứctruyền tải thông tin Vì vậy, cần có sự thực hiện đồng bộ, nhịp nhàng, phù hợpvới yêu cầu nhiệm vụ thực tế để phát huy hiệu quả công việc của từng tập thể,
cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thể hiện cácchương trình của đài huyện
Tên đề tài của luận văn là “Đổi mới phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau hiện nay”, như vậy có thể
hiểu mục đích của luận văn là đề xuất một số thay đổi về cách thức, phươngpháp, tổ chức hoạt động Trong đó, tập trung thay đổi về tổ chức bộ máy, các
cơ chế, chính sách, nội dung thông tin, hình thức thể hiện, phương tiện truyềntải để hệ thống đài TT cấp huyện thực hiện tốt hơn chức năng cung cấp thôngtin, phục vụ các nhiệm vụ chính trị của cấp ủy, chính quyền và đáp ứng nhucầu của công chúng trên địa bàn huyện
1.1.3 Truyền thanh cơ sở
Theo từ điển Tiếng Việt “truyền” là “truyền âm đi xa bằng sóng điện
từ hoặc bằng dây” [53, tr.1734] Cũng từ điển này định nghĩa “truyền” là
“lan rộng ra hoặc làm lan rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi biết” “Truyền
thanh” có nghĩa là “truyền âm thanh đi xa bằng radio (vô tuyến truyền thanh)
hoặc bằng đường dây” [53, tr.1119]
Theo PGS.TS.Nguyễn Văn Dững thì “truyền thanh” là:
kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệthống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thínhgiác người tiếp nhận Thông điệp được mã hóa truyền qua kênhtruyền thanh và người nhận phải có máy thu thanh mới tiếp nhậnđược thông điệp [18, tr.111]
Trang 20Ra-đi-ô được dùng để chỉ máy thu thanh - một thiết bị điện tử dùng đểnhận về các sóng âm đã được biến điệu qua ăng-ten để khếch đại, phục hồi lạidạng âm thanh ban đầu và cho phát ra ở loa
Vậy “truyền thanh” là loại hình báo chí truyền thông điệp đi bằng sóngđiện từ, có sức lan tỏa trên phạm vi rộng Thông qua máy thu thanh, các thiết
bị thu sóng FM hoặc hệ thống loa công cộng giúp cho nhiều người, nhiều nơitiếp nhận được thông tin
Cũng theo từ điển Tiếng Việt, “cơ sở” là “cái làm nền tảng để dựa vào
đó hay từ đó mà phát triển Thực tiễn là cơ sở của nhận thức; đơn vị cấp dưới trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, công việc lắng nghe ý kiến cơ sở” [53, tr.466].
“Truyền thanh cơ sở” là một thuật ngữ đã được sử dụng khá phổ biếntrong lý luận chuyên ngành phát thanh ở nước ta Theo tác giả của các cuốnsách Báo phát thanh, Lý luận báo phát thanh, Phát thanh trực tiếp… thì đây làmột thuật ngữ được sử dụng để chỉ một cấp trong hệ thống TT các cấp gồm:cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, thị,thành phố trực thuộc tỉnh; cấp phường, xã, thị trấn Trong đó, riêng hai cấphuyện, thị, và cấp phường, xã còn được gọi chung bằng một thuật ngữ “truyềnthanh cơ sở”
Ở nước ta “từ 1976, Nhà nước đã quyết định đưa các đài truyền thanh
xã, phường, thị trấn vào bộ máy tổ chức của hệ thống truyền thanh 4 cấp gồm: (Trung ương; Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh; phường, xã, thị trấn)” [10, tr.262] và toàn bộ mạng lưới
đài phát thanh từ Trung ương đến cơ sở đều thuộc sở hữu Nhà nước do ChínhPhủ và UBND các cấp quản lý
Như vậy “Truyền thanh cơ sở” là hệ thống đài TT cấp huyện, thị và cấpphường, xã có cùng chức năng truyền tải lời nói, tiếng động, âm nhạc đến ngườitiếp nhận thông tin bằng sóng điện từ Hệ thống đài TT cơ sở luôn là một bộphận hữu cơ trong hệ thống báo chí của nước ta và đóng vai trò quan trọng trongviệc chuyển tải thông tin đến người dân ở tận các địa bàn xa xôi, hẻo lánh
Trang 211.1.4 Đài truyền thanh cấp huyện
Đài TT cấp huyện, thị là một cấp trong hệ thống PT-TT nên hoạt độngphụ thuộc hoàn toàn vào quy định và những đặc trưng cơ bản của loại hình
“báo nói” Chính vì vậy, báo phát thanh có những thế mạnh mà các phươngtiện truyền thông khác không thể có được Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững,
tác giả của cuốn Cơ sở lý luận báo chí thì những thế mạnh của báo phát thanh
gồm có 8 yếu tố sau:
Thứ nhất là tính toả khắp: Đó là sự quảng bá thông tin nhờ sự phủ sóng
điện từ trên phạm vi rộng lớn với tốc độ của ánh sáng - xấp xỉ 300.000km/giây Nhờ đặc tính này, cùng một lúc, phát thanh tác động đến hàng triệungười, chi phối hàng triệu người và thậm chí lũng đoạn hàng triệu người trênkhắp hành tinh, không phân biệt biên giới quốc gia, lãnh thổ; chỉ có mỗi hàngrào là ngôn ngữ lời nói
Thứ hai là thông tin nhanh, tiếp nhận đồng thời: Báo in chỉ cho phép
tiếp nhận từng người một, đơn lẻ, còn phát thanh thì hàng triệu người có thểcùng nghe, cùng theo dõi, cùng phản ứng Do đó, phát thanh có sức mạnh đặcbiệt trong việc hình thành dư luận xã hội rộng khắp và tức thì Lời kêu gọi,lệnh tổng động viên, thông điệp hàng năm, của những người đúng đầu nhànước đều được truyền qua sóng phát thanh đến mọi miền đất nước và khắpthế giới này
Thứ ba là sống động, riêng tư, thân mật: Thế mạnh của phát thanh là sử
dụng thế giới âm thanh bao gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc trong việc phảnánh hiện thực và tạo dựng nên bức tranh sinh động, thu phục người nghe
Giọng nói có sức truyền cảm mạnh mẽ nhờ chất giọng và kỹ năng nóinhư cao độ, cưòng độ, tiết tấu, ngữ điệu, diễn cảm Chương trình phát thanhhướng tới số đông, nhưng người nghe lại nghe radio với tư cách cá nhân, từngngười một - tính riêng tư, thân mật Điều này đòi hỏi thiết kế thông điệp vàtrình bày như nói với từng người
Trang 22Thứ tư là kênh truyền thông rẻ tiền: Với công nghệ hiện nay, một chiếc
radio chỉ bán với giá vài chục ngàn đồng, hợp với túi tiền đại đa số người dân,lại nghe đủ loại chương tình, từ ca nhạc, âm nhạc, sân khấu, hướng dẫn kỹthuật làm ăn, kỹ năng sống đến tin tức thời sự Do đó, phát thanh thích ứngvới cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân, cư dân sống rải rác, mức sốngthấp như nước ta
Thứ năm là phát thanh có thể nghe kết hợp với làm việc khác, không phải tập trung mọi giác quan vào việc tiếp nhận thông tin Điều này rất có lợi
cho nông dân và chị em phụ nữ, vừa làm việc nhà vừa nghe phát thanh
Thứ sáu là phát thanh đến với mọi đối tượng, không phân biệt trình độ văn hoá cao hay thấp, biết chữ hay không, chỉ cần có khả năng nghe Đồng
thời, phát thanh có khả năng phục vụ giải trí cho công chúng với chất lượngcao qua các chương trình âm nhạc, ca nhạc, văn nghệ, nhất là phát thanh số
Thứ bảy là phát thanh có lợi thế trong việc giữ gìn ngôn ngữ lời nói của các dân tộc Tại Nam Phi, trong lúc phát thanh phát 11 loại ngôn ngữ trên
sóng phát thanh thì truyền hình vất vả lắm mới chuyển được 3 loại ngôn ngữlên sóng Các điệu nhạc, lời ca tiếng hát của các dân tộc, kể cả nhạc dân gian,nhạc pop trên sóng phát thanh đến với nhân dân các vùng xa xôi hẻo lánh dễdàng hơn Ở nước ta, hiện nay có 37 chương trình phát thanh tiếng các dântộc thiểu số, trong đó Đài TNVN đang phát 11 chương trình Đây là một cốgắng lớn mà báo in khó có thể thực hiện Tuy nhiên, so với cộng đồng 54 dântộc anh em, sản phẩm truyền thông này chưa thể đáp ứng nhu cầu công chúngcác dân tộc thiểu số trong quá trình phát triển bền vững
Thứ tám là hệ thống phát thanh, truyền thanh lan toả đến tận phường,
xã, các ấp dân cư và radio theo bà con lên rẫy vào nương là điều truyền hình, báo in, báo mạng điện tử không thể sánh kịp
Như vậy có thể khẳng định, với những thế mạnh và đặc trưng của loạihình báo phát thanh, hệ thống đài TT cấp huyện, thị đang ngày càng phát huy
Trang 23vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nhất là đối với người dân ở vùngnông thôn, miền núi.
1.1.5 Phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện
Từ các khái niệm đã phân tích ở trên, có thể hiểu “phương thức tổ chứchoạt động của đài truyền thanh cấp huyện” chính là xây dựng, đổi mới cáchthức, phương pháp hoạt động cũng như sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ ởtừng bộ phận sao cho phù hợp, đảm bảo số lượng và đúng với chuyên môn, sởtrường của từng người, nhằm giúp cho bộ máy của đài TT cấp huyện, thị vậnhành một cách êm ả, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao Trong đó,nhiệm vụ quan trọng nhất là cung cấp, truyền dẫn thông tin đầy đủ, kịp thờitheo nhu cầu của người tiếp nhận Thông qua ngôn ngữ (lời nói, tiếng động,
âm nhạc) biến giá trị nội dung thông tin trở thành nhận thức, niềm tin củangười tiếp nhận và thôi thúc đối tượng tiếp nhận hành động theo những địnhhướng, mục tiêu do chủ thể cơ quan đài truyền thanh đặt ra, góp phần tácđộng, thúc đẩy xã hội phát triển
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa truyền thông đại chúng và kỷnguyên số hiện nay thì PT-TT cũng phải không ngừng đổi mới để hội nhập và
phát triển Theo PGS TS Nguyễn Văn Dững, tác giả của cuốn Cơ sở lý luận
báo chí thì thuật ngữ TT hiện đại chủ yếu được dùng để chỉ phương thức sản
xuất chương trình với sự hỗ trợ của kỹ thuật và công nghệ số nhằm hướng tớithỏa mãn nhu cầu tiếp nhận thông tin phát thanh của công chúng hiện đại.Theo đó, mô hình tổ chức, phương thức tổ chức hoạt động, sản phẩm truyềnthông của các cơ quan phát thanh, tích hợp đa kỹ năng của người làm phátthanh … cũng đang thay đổi nhanh chóng [18, tr.112] Trong môi trường sốhiện nay, PT-TT hiện đại đã và đang thể hiện năng lực thích nghi, biến đổi vàđang dần dần làm “nhòa” đi những đặc điểm của PT-TT truyền thống
Trang 241.2 Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đài truyền thanh cấp huyện
Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam được kýkết thì hệ thống đài phát thanh-truyền thanh tỉnh, thành phố, đặc khu trựcthuộc trung ương và quận, huyện trực thuộc tỉnh cũng dần dần được thành
lập Theo cuốn Báo Phát thanh thì giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975 có
11 đài phát thanh-truyền thanh được thành lập Đó là Hà Nội, Vĩnh Linh(Quảng Trị), Hải Phòng, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Quảng Ninh, HảiDương, Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa [39, tr.49] Sau ngày miền Namhoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, hệ thống đài phát thanh-truyền thanh 4 cấp trên cả nước dần được hoàn thiện và phát triển nhanhchóng về số lượng, chất lượng ngày càng nâng cao, nhất là đối với hệ thốngđài truyền thanh cấp huyện
Theo cuốn Những vấn đề của báo chí hiện đại thì nhiệm vụ chính của
các đài huyện trong giai đoạn đầu mới thành lập chủ yếu là tiếp sóng đàiTrung ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh
để phản ánh về công việc của hợp tác xã; cổ vũ những phong trào thi đua laođộng và phê phán thói lãng phí, quan liêu trong quản lý tài sản tập thể… Do
số lượng các loại báo, tạp chí của nước ta thời kỳ này ít nên vị trí, vai trò củacác đài huyện rất quan trọng Trên cơ sở sự phát triển của đài huyện nên đếnnhững thập niên cuối của thế kỷ XX, hàng loạt các đài truyền thanh cấp xã đã
ra đời Là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống báo chí của nước ta, hệ thốngđài truyền thanh cấp huyện và cấp xã đã phát huy vai trò không thể thiếutrong việc tuyên truyền các nhiệm vụ của địa phương, đặc biệt là ở những khuvực nông thôn, miền núi, hải đảo, nơi có số lượng thính giả chiếm hơn 80%thính giả cả nước
So với đài Trung ương và đài tỉnh, đài cấp huyện và cấp xã có những
ưu thế nổi bật là thông tin sát thực, trực tiếp, cụ thể đến từng người dân trên
Trang 25địa bàn Trong thực tế, có những loại nội dung mà chỉ có đài truyền thanh cấphuyện và cấp xã mới có thể đề cập đến được Đó là những chuyện gần gũi vớiđời sống thường nhật như chuyện sản xuất vụ mùa, trồng trọt, chăn nuôi,thông tin lịch thời vụ, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa,tình hình an ninh trật tự, rồi các hoạt động như bầu cử, đại hội, tiêm chủng,hội họp, thông báo treo cờ nhân các ngày lễ, tết…[10, tr.265].
Từ đó mà vị trí, vai trò của đài truyền thanh cấp huyện ngày càngđược khẳng định và được đưa vào quy định từ những năm đầu mới thànhlập Năm 1979, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 475/TTgngày 28/9/1978 Quy định về tổ chức ngành phát thanh và truyền thanh ởcấp tỉnh và huyện Thông tư này đã tạo nền tàng cơ bản để một loạt các đàicấp huyện được thành lập và đi vào hoạt động ổn định Trong điều kiện hệthống thông tin đại chúng ngày càng phát triển mạnh mẽ, để làm tốt côngtác quy hoạch, quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống đàitruyền thanh cấp huyện, ngày 27/7/2010, liên Bộ Thông tin và Truyềnthông, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2010/TTLT-BTTTT-BNV Hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Đài Phát thanh và Truyền hình thuộc UBND cấp tỉnh, ĐàiTruyền thanh - Truyền hình thuộc UBND cấp huyện Theo thông tư này thìĐài Truyền thanh cấp huyện có vị trí, chức năng và nhiệm vụ, quyền hạn
cụ thể như sau:
- Về vị trí và chức năng
1 Đài Truyền thanh - Truyền hình hoặc Đài Truyền thanh huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Đài Truyền thanh - Truyềnhình cấp huyện) là đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, thực hiệnchức năng là cơ quan tuyên truyền của Đảng bộ, chính quyền huyện
2 Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện chịu sự quản lý trực tiếpcủa Ủy ban nhân dân cấp huyện, quản lý nhà nước của Sở Thông tin và
Trang 26Truyền thông, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của Đài Phátthanh và Truyền hình cấp tỉnh.
3 Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổchức của Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện theo quy định của pháp luật
- Về nhiệm vụ và quyền hạn
1 Sản xuất và phát sóng các chương trình truyền thanh bằng tiếng Việt
và bằng các tiếng dân tộc trên hệ thống loa truyền thanh, thiết bị phát sóngphát thanh được trang bị nhằm tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước, tập trung vào sự chỉ đạo, điều hành của chính quyềnđịa phương, các hoạt động tại cơ sở, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật,kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác an ninh trật tự, gương người tốt, việc tốt,điển hình tiên tiến tới nhân dân theo quy định của pháp luật
2 Tiếp sóng và phát sóng các chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam,Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Phát thanh và Truyền hình cấp tỉnh phục vụ nhucầu tiếp nhận thông tin của nhân dân theo quy định của pháp luật
3 Trực tiếp quản lý hệ thống kỹ thuật chuyên ngành để thực hiện việctiếp sóng, phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình theo quy địnhcủa pháp luật
4 Phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình cấp tỉnh sản xuất cácchương trình phát thanh, truyền hình phát sóng trên Đài Phát thanh và Truyềnhình cấp tỉnh
5 Quản lý, vận hành các đài phát lại truyền hình, đài phát sóng phátthanh trên địa bàn theo sự phân công Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ kỹthuật đối với Đài Truyền thanh xã, phường, thị trấn trên địa bàn
6 Quản lý, sử dụng lao động, tài sản, ngân sách và nguồn thu từ dịchvụ; thực hiện chính sách đối với viên chức và người lao động thuộc phạm viquản lý theo quy định của pháp luật
7 Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của cơquan quản lý cấp trên Tham gia các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ do cơ
Trang 27quan cấp trên tổ chức Tổ chức hoạt động thi đua khen thưởng theo quy địnhcủa pháp luật
8 Tham gia ý kiến với Ủy ban nhân dân cấp huyện và cơ quan chứcnăng để củng cố, mở rộng sự nghiệp truyền thanh, truyền hình trên địa bàn
9 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giaotheo quy định của pháp luật [2, tr.5]
Có thể nói việc quy định rõ ràng vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống đài truyền thanh cấp huyện xây dựng
mô hình hoạt động Nâng cao trách nhiệm và sự quan tâm lãnh đạo của cấp
ủy, chính quyền địa phương, vai trò quản lý Nhà nước chặt chẽ của Sở Thôngtin và Truyền thông và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật củaĐài PT - TH cấp tỉnh Điều này đã góp phần quan trọng vào việc củng cố tổchức, đổi mới phương thức hoạt động và nâng cao chất lượng công tác tuyêntruyền, phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các địa phương, đáp ứng ngàycàng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ và tìm hiểu thông tin của người dân Các đàitruyền thanh cấp huyện trên cả nước đã hòa mình vào dòng chảy phát triểnchung của toàn bộ hệ thống truyền thông đang phát triển mạnh mẽ và khôngngừng hiện đại hóa của khu vực và thế gới, nhằm chuyển tải kịp thời, chínhxác, sinh động các vấn đề diễn ra trong đời sống xã hội, sự kiện thời sự đếnvới công chúng
1.3 Giới thiệu chung về hệ thống đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau hiện nay
1.3.1 Bức tranh chung của hệ thống truyền thanh huyện
Ở nước ta, toàn bộ hệ thống phát thanh đều thuộc sở hữu của Nhà nước,
do Chính phủ và chính quyền các địa phương quản lý Từ năm 1956, nước ta
đã bắt đầu hình thành một hệ thống phát thanh 4 cấp từ Trung ương là ĐàiTiếng Nói Việt Nam (TNVN) đến các đài phát thanh cấp tỉnh, thành phố trực
Trang 28thuộc trung ương và dưới đó là các đài, trạm TT cấp huyện, cấp xã Sự pháttriển của khoa học công nghệ thông tin trong những năm cuối của thế kỷ XX
đã tạo cho ngành PT-TH những bước đột phá mới Hiện nay 63 tỉnh, thànhphố và hơn 600 quận, huyện, thị xã trong cả nước đều có đài PT-TT cơ sở.Các đài huyện ở nước ta được trang bị những máy phát sóng cực ngắn và sự
ra đời của hàng loạt trạm phát sóng cấp xã đã tạo nên những hiệu quả thiếtthực đối với công tác chỉ đạo tuyên truyền của các huyện, thị qua tính nhanhnhạy, kịp thời cập nhật thông tin địa phương của nó
Những năm qua, đài PT-TH tỉnh và UBND các huyện, thành phố trongtỉnh Cà Mau đã dành sự quan tâm đặc biệt, đầu tư nguồn kinh phí đáng kể,cung cấp nhiều thiết bị phát thanh, truyền thanh cho các huyện, thành phố, xã,thị trấn Nhờ sự đầu tư này, hoạt động PT-TT huyện trong tỉnh luôn duy trì ổnđịnh, nội dung chương trình và chất lượng kỹ thuật sóng phát thanh từng bướcđược cải tiến và nâng cao
Là cấp cơ sở của hệ thống phát thanh 4 cấp, các đài TT huyện, thànhphố trong tỉnh Cà Mau đã góp phần tích cực trong việc đưa chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước; thông tin tình hình, sựkiện của huyện mình đến với người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc Các đài TT huyện đã mang đến cho họ những kiến thức khoa học kỹthuật, giúp họ có thêm những kinh nghiệm làm ăn giỏi và thụ hưởng nhữngchương trình văn nghệ, giải trí đậm đà bản sắc văn hoá địa phương Trongnhững nỗ lực không ngừng ấy, các đài TT huyện đã đảm trách ngày càng tốthơn vai trò, nhiệm vụ của mình khi là “chiếc cầu nối” giữa Đảng - chínhquyền với nhân dân, là diễn đàn để nhân dân chia sẻ, bày tỏ tâm tư, nguyệnvọng, bức xúc của mình
Không chỉ làm nhiệm vụ chuyển tải chương trình thời sự của huyện,cộng tác tin, bài và tiếp âm các chương trình của đài tỉnh và đài trung ương,
Trang 29hơn 30 năm qua các đài huyện, thành phố còn là những cộng tác viên đắc lựctrên lĩnh vực PT-TH của đài PT-TH tỉnh nhà
1.3.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của phát thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Thông tin khi đó đãnhanh chóng triển khai xây dựng các đài TT cấp huyện, xã thuộc các tỉnhĐồng bằng Sông Cửu Long, trong đó có Cà Mau Đầu năm 1977, để đáp ứngnhu cầu nghe đài trong nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam cử cán bộ đến làmviệc với tỉnh Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau) để chuẩn bị thành lập đài PT-THcấp tỉnh Trên cơ sở đó, Đài PT-TH Minh Hải được thành lập theo QuyếtĐịnh số 353/QĐ.UB ngày 4/7/1977 của UBND tỉnh Minh Hải và chính thứcphát đi tiếng nói đầu tiên vào ngày 19/8/1977 Điều đó cũng đồng nghĩa với
sự lần lượt ra đời của đài TT cấp huyện Ra đời trong bối cảnh cơ sở vật chất,trang thiết bị nghèo nàn lạc hậu, đội ngũ thiếu chuyên nghiệp, lực lượngmỏng nhưng các đài TT trong tỉnh đã phục vụ tốt yêu cầu xây dựng và pháttriển của địa phương cũng như đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí của ngườidân
Trong những năm qua, Chính phủ, Đài Tiếng nói Việt Nam, UBNDtỉnh, Đài PT-TH tỉnh và UBND các huyện, thành phố đã dành sự quan tâmđặc biệt, hỗ trợ kịp thời về chuyên môn nghiệp vụ và đầu tư nguồn kinh phíkhá lớn để xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị PT-TH cho các đài TThuyện, thành phố và các xã, phường, thị trấn trong tỉnh Nhờ sự đầu tư này màhoạt động của các đài TT huyện, thành phố trong tỉnh luôn được duy trì ổnđịnh Chất lượng nội dung, hình thức chương trình và kỹ thuật phát sóng ngàycàng được cải tiến, nâng cao
Hiện đài TT 8 huyện và 1 thành phố trong tỉnh Cà Mau đều được đầu
tư máy phát sóng FM từ 300W đến 2KW và 75/101 xã, phường, thị trấn cótrạm TT không dây Việc chuyển dần sang hệ thống TT không dây đã giúp
Trang 30đưa thông tin về tận các khu phố, xóm ấp nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chấtlượng phát sóng, mở rộng địa bàn phủ sóng và giảm thiểu tình trạng lấn chiếmkhông gian, làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị của đường dây hữu tuyến
Hệ thống thiết bị sản xuất chương trình cũng dần được đầu tư đồng bộtheo công nghệ số như: hệ thống thu- phát sóng FM; hệ thống dàn dựng sảnxuất chương trình phát thanh; hệ thống dựng hình phi tuyến tính kết nốitruyền dẫn tin, bài, âm thanh, hình ảnh qua đường truyền Internet FTTH (cápquang); máy ghi âm, ghi hình kỹ thuật số Đây là những nỗ lực đáng ghi nhậncủa các đài truyền thanh huyện nhằm nâng cao chất lượng công tác tuyêntruyền tại địa phương cũng như trên sóng PT-TH của đài tỉnh
Ngoài xây dựng chương trình phát sóng hàng ngày và các chương trìnhPT-TH phát định kỳ trên sóng đài PT-TH của tỉnh, các đài TT huyện còn sảnxuất các băng, đĩa video clip phục vụ cho tuyên truyền thành tựu của các ban,ngành, đoàn thể và TT trực tiếp một số hội nghị, sự kiện quan trọng củahuyện nhà Các đài TT huyện không chỉ sát cánh và là CTV thường xuyêncủa đài PT-TH và các báo của tỉnh mà còn là thành viên trong các ban tổ chứchoạt động, phong trào của địa phương và luôn đóng góp số lượng tin bài chủlực trên các trang thông tin điện tử, tờ tin nội bộ của huyện nhà
Mặc dù có những bước thăng trầm và còn gặp không ít những khó khăntrong quá trình hình thành và phát triển, nhưng nhìn chung, các đài TT huyện,thành phố luôn được Đảng bộ, chính quyền quan tâm lãnh đạo và tăng cườngđầu tư, tạo cơ sở cho hoạt động TT trong tỉnh không ngừng phát triển
1.3.3 Giới thiệu khái quát về đài truyền thanh huyện trong tỉnh Cà Mau
- Đài Truyền thanh huyện Thới Bình
Đài TT huyện Thới Bình được thành lập vào năm 1977 Những nămđầu mới thành lập, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hầu như không có gì,đội ngũ cán bộ chỉ vài ba người lại không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Trang 31nên gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt động, nhất là công tác tuyên truyền.Mặc dù trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng tập thể cán bộ, nhân viêncủa đơn vị luôn quyết tâm, nỗ lực hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao Hiện Đài TT huyện Thới Bình có tổng số 10 cán bộ, viên chức và tất cảđều được vào biên chế Trong đó, 1 người có trình độ trên đại học, 8 người cótrình độ đại học và 1 người trung cấp Trang thiết bị kỹ thuật thường xuyênđược quan tâm đầu tư, nâng cấp như máy vi tính, máy ghi âm, camera, hệthống TT không dây Máy phát sóng FM 300W hiện có của đài phủ sóngđược 70% diện tích trên địa bàn huyện, 12/12 xã, thị trấn đều có trạm TTkhông dây, đáp ứng cơ bản nhu cầu thông tin của người dân
Thới Bình là huyện không rừng, không biển nên thuộc vùng kinh tế nộiđịa của tỉnh Cà Mau Vì vậy, huyện quy hoạch sản xuất chủ yếu theo hệ sinhthái ngọt và lợ, trong đó nuôi tôm sú kết hợp với trồng một vụ lúa đóng vaitrò chủ đạo Do nằm tiếp giáp với rừng U Minh hạ và U Minh thượng nên một
số xã luôn bị ”khát nước” vào mùa nắng, do nước ngọt bị nhiễm phèn, mặn.Đây là vấn đề tồn tại nhiều năm qua chưa được giải quyết, làm cho cuộc sốngcủa người dân gặp nhiều khó khăn
- Đài Truyền thanh huyện Cái Nước
So với các huyện trong tỉnh Cà Mau thì Đài TT huyện Cái Nước đượcthành lập sớm nhất, ra đời vào năm 1975 Trải qua nhiều giai đoạn thăngtrầm, Đài TT Cái Nước không ngừng nỗ lực vượt qua khó khăn để vươn lênngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới Hiện Đài TT Cái Nước có 10 cán bộ,viên chức (6 biên chế và 4 hợp đồng) và tất cả đều có trình độ đại học, trong
đó 1 người có trình độ trên đại học Các trang thiết bị từng bước được hiện đạihóa, phục vụ tốt công tác tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị củađịa phương Hiện đài có máy phát sóng FM 300W, phủ sóng 100% diện tíchtrên địa bàn huyện, 9/11 xã, thị trấn có trạm TT không dây
Trang 32Cái nước cũng là huyện không có rừng, không có biển Từ năm 2000đến nay, huyện đã chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm sú, trong đó nuôitôm công nghiệp có diện tích nhiều thứ 3 trong tỉnh Tuy không có rừng,không có biển nhưng tình trạng xâm mặn và sản xuất gây ô nhiễm môi trườngđang là vấn đề báo động của huyện Năm 2014, dịch bệnh trên tôm diễn raliên tục không những làm cho môi trường bị ô nhiễm, mà còn làm ảnh hưởnglớn đến cuộc sống của người dân
- Đài Truyền thanh huyện Phú Tân
Huyện Phú Tân được tách ra từ huyện Cái Nước vào năm 2003, do đó
mà Đài TT huyện Phú Tân ra đời muộn hơn rất nhiều so với các đài khác Tuyvậy, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, đội ngũ làm công tác chuyên môncủa đài còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Từng cá nhân và tập thể của đàiphải nỗ lực hết sức mình mới hoàn thành nhiệm vụ được giao Hiện Đài TThuyện Phú Tân có 10 cán bộ, viên chức, trong đó có 6 biên chế, 4 hợp đồng
và tất cả đều được đào tạo trình độ đại học Máy phát sóng FM 500W hiện cócủa đài phủ sóng 100% diện tích địa bàn huyện, 7/9 xã, thị trấn được đầu tưtrạm TT không dây Đây là điều kiện thuận lợi để đài đưa thông tin ngày càngsâu rộng đến các tầng lớp nhân dân trong huyện
Phú Tân là huyện ven biển, kinh tế chuyên về nuôi trồng và khai thácthủy sản Cửa biển Cái Đôi Vàm nằm ngay trung tâm huyện Phú Tân cólượng tàu thuyền đánh bắt thủy sản ra vào khá lớn nên hoạt động sản xuất,kinh doanh cũng diễn ra sôi nổi, náo nhiệt và đời sống kinh tế của người dânngày càng khấm khá hơn
- Đài Truyền thanh huyện Đầm Dơi
Cũng như nhiều đài huyện khác, Đài TT huyện Đầm Dơi được thànhlập cùng với sự ra đời của Đài PT-TH tỉnh Cà Mau vào năm 1977 Bằng sựquyết tâm, sự phấn đấu không ngừng nghỉ của các cá nhân, tập thể đài quanhiều giai đoạn, Đài TT huyện Đầm Dơi ngày càng phát triển, phục vụ tốt
Trang 33công tác tuyên truyền của địa phương và nhu cầu tìm hiểu thông tin của ngườidân Đài TT huyện Đầm Dơi hiện có 10 cán bộ, viên chức (8 biến chế, 2 hợpđồng), trong đó, 7 người có trình độ đại học, còn lại là trung cấp Trang thiết
bị kỹ thuật được đầu tư khá đồng bộ, đảm bảo cho yêu cầu công việc của các
bộ phận chuyên môn cũng như hoạt động của đơn vị Do địa bàn rộng nênmáy phát sóng FM 500W hiện có của đài chỉ phủ sóng được 70% diện tíchtrong huyện Đầm Dơi là huyện có số trạm TT không dây thấp nhất tỉnh CàMau, với 5/16 xã, thị trấn được đầu tư trạm TT không dây, số còn lại là TT códây Vì vậy, việc truyền tải thông tin còn nhiều hạn chế, chưa được kịp thời
và đầy đủ tới người dân trong huyện
- Đài Truyền thanh huyện Năm Căn
Trải qua gần 40 năm thành lập, Đài TT huyện Năm Căn đã có bướcphát triển đáng ghi nhận Là huyện có 3 mặt giáp biển, người dân sống chủyếu bằng nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, diện tích ngư trường rộng nênĐài TT huyện Năm Căn rất được sự quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trangthiết bị kỹ thuật để phục vụ nhu cầu thông tin của người dân Trụ sở làm việccủa đài vừa được xây dựng kiên cố, khang trang, máy phát sóng FM nâng cấplên 2KW, tháp anten tự đứng cao 60m, 8/8 xã, thị trấn được đầu tư trạm TTkhông dây Hiện Đài TT huyện Năm Căn có đội ngũ cán bộ, viên chức là 11người (8 biên chế, 3 hợp đồng), trong đó có 10 người đạt trình độ đại học và 1người trên đại học
Năm Căn là huyện có tuyến Quốc lộ 1A đi qua, là điểm cuối cùng củacột móc quốc gia và tuyến đường Hồ Chí Minh kéo dài từ Pác Pó - Cao Bằngđến Mũi Cà Mau Là huyện ven biển nên tiềm năng kinh tế của Năm Căn pháttriển khá mạnh và đang phấn đấu để trở thành thị xã Năm Căn cũng là mộttrong ba mũi kinh tế động lực của tỉnh gồm: thành phố Cà Mau, huyện NămCăn và thị trấn Sông Đốc thuộc huyện Trần Văn Thời Đây là điều kiện thuậnlợi để Đài TT huyện Năm Căn tiếp tục phát triển và thực hiện tốt hơn nữa vai
Trang 34trò là cơ quan ngôn luận của cấp ủy, chính quyền địa phương và là diễn đàncủa các tầng lớp nhân dân trong huyện
1.3.4 Về đối tượng phục vụ
Cà Mau là tỉnh cuối cùng ở cực nam của tổ quốc, địa bàn thuộc vùngsâu, vùng xa, gần 80% dân số tập trung ở vùng nông thôn, chủ yếu sống bằngnghề nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đối tượng phục vụchính của đài TT các huyện là ngư dân và nông dân Xác định được điều đó,đội ngũ làm báo của các đài huyện luôn gần gũi, sâu sát với công chúng, coi
họ là đối tượng phục vụ đặc biệt, đồng thời qua đó để biết nhu cầu thông tin
mà họ cần, nhằm kịp thời đáp ứng mối quan tâm của công chúng
Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, công chúng theo dõi chương trìnhphát thanh của đài huyện trước hết vì họ luôn luôn muốn biết được nhữngthông tin của địa phương mình, những thông tin đã và đang diễn ra xungquanh mình Họ muốn nắm bắt cái mới, nhất là những vấn đề có liên quantrực tiếp tới cuộc sống hàng ngày như: tình hình sản xuất vụ mùa, phòngchống dịch bệnh, giá cả các mặt hàng nông-thủy sản ra sao, tham gia xâydựng nông thôn mới, đóng góp xây dựng cầu lộ như thế nào Đây là nhu cầucao nhất, chính đáng nhất của công chúng và cũng là yếu tố chính để các đài
TT huyện tồn tại, cùng phát triển với các loại hình báo chí khác
Trong công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới báo chí, nhất là trong giaiđoạn phát triển và hội nhập hiện nay, bên cạnh việc xác định vai trò là cơquan tuyên truyền của đảng bộ, chính quyền huyện, các đài TT huyện cònđồng thời phát huy tốt vai trò là diễn đàn của nhân dân thông qua các chươngtrình, chuyên mục, tác phẩm báo chí của mình Ngoài những thông tin trongchương trình thời sự, các đài còn xây dựng nhiều chuyên mục phục vụ đốitượng là người dân như: Đài Phú Tân có chuyên mục “Bạn nhà nông”, cònchuyên mục “Xây dựng nông thôn mới”, “Dân số - sức khỏe”, “Học tập và
Trang 35làm theo Bác”, “Pháp luật và đời sống” thì hầu như đài nào cũng có Bên cạnh
đó, các đài huyện còn xây dựng chương trình riêng phục vụ cho nhiều đốitượng khác nhau, như cán bộ, đảng viên, thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ, côngnhân viên chức lao động
Đài TT huyện là diễn đàn của nhân dân và là cầu nối giữa cấp ủy, chínhquyền với nhân dân nên đối tượng phục vụ của các đài rất rõ ràng, đó là cán
bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, mà đa số là bàcon nông dân Chính vì vậy, khi xây dựng chương trình phát sóng, các đàihuyện luôn có sự tính toán kỹ về nội dung, hình thức và đảm bảo ổn định vềthời lượng, thời điểm phát sóng, nhằm tạo sự sinh động, hấp dẫn cho chươngtrình, đồng thời thu hút được thính giả và đáp ứng tốt nhu cầu của từng đốitượng mà mình phục vụ
Tiểu kết chương 1 Trong chương 1, luận văn đã cơ bản làm rõ khung lý thuyết liên quan
đến đề tài và giới thiệu khái quát về điều kiện kinh tế-xã hội của tỉnh Cà Maucũng như về quá trình hình thành, phát triển và những thuận lợi, khó khăntrong hoạt động của các đài truyền thanh huyện trên địa bàn tỉnh Cà Mau.Qua đó cho thấy, dù các đài TT huyện chưa được công nhận là cơ quan báochí và còn không ít những khó khăn, bất cập nhưng vẫn luôn khẳng định vịtrí, vai trò của mình trong quá trình xây dựng và phát triển của địa phương.Đài TT huyện là cơ quan ngôn luận của đảng bộ, chính quyền và là diễn đàncủa nhân dân Vì vậy, đài huyện luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, địnhhướng công tác tuyên truyền và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc,nhằm giúp cho đài phát huy ưu thế của loại hình báo phát thanh để phục vụ côngchúng ngày được tốt hơn Đồng thời, tạo nền tảng để từng bước tiến lên hiện đạihóa trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới nội dung, hình thức công tác tuyên truyền,đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao và nhu cầu tìm hiểu thông tin của côngchúng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương
Trang 36Để có một cái nhìn toàn diện về thực trạng phương pháp, cách thức tổchức hoạt động của đài TT cấp huyện trên địa bàn tỉnh Cà Mau hiện nay nhưthế nào; cơ cấu tổ chức, chế độ chính sách, kinh phí hoạt động ra sao; nộidung, hình thức, phương thức truyền tải thông tin có gì đổi mới; kết quả đạtđược và những gì còn tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động là những nộidung chính sẽ được đề cập, làm rõ trong chương 2 của bản luận văn
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN Ở TỈNH CÀ MAU
HIỆN NAY
2.1 Khảo sát phương thức tổ chức hoạt động của đài truyền thanh cấp huyện ở tỉnh Cà Mau hiện nay
2.1.1 Về cơ cấu tổ chức, quản lý
Kể từ khi tái lập tỉnh Cà Mau vào ngày 1/1/1997 đến nay, các đài TThuyện trong tỉnh hoạt động theo một mô hình thống nhất và chịu sự quản lýtrực tiếp, toàn diện của UBND huyện cả về tổ chức bộ máy, nhân sự, kinhphí, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật Sau khi Đài PT-TH tỉnh giao đài
TT huyện về cho UBND cùng cấp quản lý, đặc biệt là khi Thông tư liên tịch
số 17/2010/BTTTT-BNV ngày 27/7/2010 của Bộ Thông tin-Truyền thông và
Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổchức của Đài TT thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện ra đời thì vai trò của cấp
ủy, chính quyền đối với đài huyện ngày càng được nâng cao Sự thể hiện rõnét nhất là việc sắp xếp bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vàđầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật.Trong vài năm gần đây, có nhiều đài được đầu tư xây dựng mới trụ sở làmviệc trị giá từ 4 đến 5 tỷ đồng như Đài Truyền thanh huyện U Minh, NămCăn, Ngọc Hiển Ngoài ra, còn được đầu tư trên 10 tỷ đồng để mua sắm trangthiết bị sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình cho đài huyện và xâydựng trạm TT không dây cho các xã, thị trấn
Cùng với đó, cấp ủy, chính quyền các huyện còn được tăng cường công tácđào tạo, bố trí cán bộ làm công tác đài, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý Có nhiều đồng chí được đưa đi học đại học, quản lý nhà nước, hoàn chỉnhtrung cấp và cao cấp chính trị Trong nhiệm kỳ 2010-2015, có 4/8 trưởng đài đượcbầu vào cấp ủy huyện và có 3 đồng chí được đào tạo trình độ thạc sĩ báo chí
Trang 38Thông tư liên tịch số 17 cũng quy định cơ quan quản lý nhà nước củađài TT huyện là Sở Thông tin-Truyền thông, còn Đài PT-TH tỉnh thì hướngdẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật Những năm gần đây, Đài PT-TH tỉnh
hỗ trợ tích cực về chuyên môn, nghiệp vụ giúp cho các đài huyện duy trì đều đặn
chương trình truyền hình “Trang địa phương” có thời lượng 15 phút, phát 3
tuần một kỳ và chương trình thời sự cộng tác phát thanh, cũng có thời lượng 15phút, phát vào thứ 6 hàng tuần trên sóng Đài PT-TH của tỉnh Mỗi năm mộthuyện đóng góp cho đài tỉnh gần 600 đề tài, trong đó có trên 100 phóng sự từ 2chương trình này Đây là điều kiện để các địa phương giới thiệu, quảng bá hìnhảnh, tiềm năng, thế mạnh và phản ánh toàn diện tình hình kinh tế, văn hóa-xãhội, an ninh-quốc phòng lên sóng Đài PT-TH tỉnh Ngoài ra, còn giúp cho độingũ làm báo PT-TH của đài huyện học hỏi, trau dồi kinh nghiệm, góp phần nângcao tay nghề và chất lượng tác phẩm, chất lượng chương trình phát trên sóng đàihuyện cũng như đài tỉnh Việc quy định cụ thể, rõ ràng của Thông tư liên tịch số
17 không chỉ nâng cao được vai trò, trách nhiệm của các ngành chức năng đốivới đài huyện, mà còn tạo điều kiện cho đài huyện hoạt động thuận lợi hơn, giúpcho công tác quản lý không bị chồng chéo như trước đây
Theo đề án vị trí việc làm được Sở Nội vụ tỉnh và UBND huyện phêduyệt vào đầu năm 2014 thì mỗi đài huyện có số lượng biên chế là 12 người.Tính đến thời điểm tháng 6/2015, tổng số nhân sự hiện có của 8 đài TT huyệntrong tỉnh Cà Mau là 84 người (trong đó có 66 biên chế và 18 hợp đồng)
Bảng 2.1: Tổng hợp chỉ tiêu biên chế được giao và số người hiện có
TT Tên đài chế được giao Chỉ tiêu biên Biên chế Tổng số người hiện có Hợp đồng
1 Đài TT Thới Bình 12 người 10 người
2 Đài TT Cái Nước 12 người 6 người 4 người
3 Đài TT Đầm Dơi 12 người 8 người 2 người
4 Đài TT Phú Tân 12 người 6 người 4 người
5 Đài TT Năm Căn 12 người 8 người 3 người
6 Đài TT Trần Văn Thời 12 người 11 người 1 người
7 Đài TT U Minh 12 người 10 người 2 người
Trang 398 Đài TT Ngọc Hiển 12 người 7 người 2 người
Nguồn: Các đài TT huyện cung cấp.
Từ bảng tổng hợp trên cho thấy, số người hiện có của các đài có sựchênh lệch nhau và đa số còn thiếu so với chỉ tiêu biên chế được giao Cụ thểnhư Đài Ngọc Hiển có 9 người; Đài Cái Nước, Thới Bình, Đầm Dơi, Phú Tân
có 10 người; Đài Năm Căn 11 người, chỉ có 2 đài đủ 12 người so với chỉ tiêubiên chế được giao là Đài U Minh và Trần Văn Thời Trong tổng số 84 cán
bộ, viên chức hiện có của các đài thì số cán bộ, viên chức hợp đồng chiếmhơn 21% Nguyên nhân chưa vào biên chế được là do thiếu chuẩn và bằng cấpchuyên môn không phù hợp với vị trí việc làm đã phê duyệt
Hiện có tới 6 đài còn thiếu biên chế nhưng không dám tuyển vì không
có kinh phí để trả lương Vấn đề bất cập là biên chế thì giao như nhau, cònkinh phí lại phân bổ dựa trên dân số của từng huyện, điều này đã gây rất nhiềukhó khăn cho các đài trong việc bố trí, sắp xếp bộ máy hoạt động Tuy sốlượng có khác nhau nhưng cách bố trí bộ máy tổ chức giữa các đài tương đốigiống nhau, gồm các bộ phận chính như:
Tổ Phóng viên-Biên tập
Tổ Kỹ thuật
Tổ Phát thanh viên
Tổ Hành chính-Kế toán
Trang 406 Đài TT Trần Văn Thời 3 4 2 2 1
Nguồn: Các đài TT huyện cung cấp.
Trên tổng thể là vậy, nhưng do đội ngũ cán bộ, viên chức của các đàihuyện còn thiếu so với yêu cầu nhiệm vụ thực tế nên mỗi người phải kiêmnhiệm các phần việc của bộ phận khác Cụ thể như kỹ thuật kiêm phóng viênquay camera, thủ quỹ; phát thanh viên kiêm phóng viên viết tin, bài, ghi âm,biên soạn chương trình giải trí, thủ quỹ; kế toán kiêm văn thư, phát thanhviên; biên tập chương trình cũng đồng thời là phóng viên viết tin, bài, quaycamera Việc kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ làm cho đội ngũ phóng viên, biêntập viên ít có điều kiện để đầu tư các đề tài có chiều sâu, chất lượng, đó làchưa kể đến trình độ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế, thiếu chủ động,thiếu sáng tạo Từ đó, dẫn đến làm việc theo thói quen, khuôn mẫu, gây ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng công tác tuyên truyền của các đài TT huyệntrong tỉnh Cà Mau
Đối với ban lãnh đạo thì đồng chí trưởng đài phụ trách chung, đồngthời chịu trách nhiệm về khâu nội dung, duyệt chương trình, công tác cán bộ
và kinh phí hoạt động của đơn vị; đồng chí phó trưởng đài thì phụ trách kỹthuật và hệ thống truyền thanh cơ sở Nếu đài nào có 2 phó thì phân công 1đồng chí phụ trách nội dung và công tác hành chính tổng hợp Đồng chí phóphụ trách nội dung chủ yếu là lập kế hoạch tham mưu cho trưởng đài và kiểmtra, theo dõi các bộ phận chuyên môn thực hiện công tác tuyên truyền thườngxuyên hàng ngày và các dịp lễ, tết, các sự kiện diễn ra ở địa phương
Do chưa có quy định cụ thể bộ máy tổ chức nên việc phân chia, bố trícác bộ phận chuyên môn giữa các đài không có sự thống nhất, nguồn nhân lựckhông đảm bảo, vì vậy mỗi người phải kiêm nhiều việc mới đáp ứng đượcyêu cầu nhiệm vụ của đơn vị Từ đó, tình trạng chồng chéo trong thực hiện