Nói tới văn hóa trong sự phát triển nội tại của nó cũng như vai trò và sự hiện diện của văn hóa trong phát triển xã hội, là nói tới một phức hợp chỉnh thê của thống nhất trong đa dạng, c
Trang 1PHẦN TH Ứ HAI
VÃN HOÁ VỚI PHÁT TRIỂN
VÃN HÓA CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG TRONG HAI THẬP NIÊN ĐẨU THẾ KỶ XXI
QUA THỰC TIỄN ĐÔNG Á
241
Trang 3C h ư ơ n g V
CỤC D IỆN VĂN HOÁ TRONG PHÁT T R IÊN
1 V ăn h o á tro n g bối cả n h to àn cầu h o á kinh tê Toàn cầu hoá đang ngày càng trở th àn h xu hướng phô biến, tác động tới các quôc gia - dân tộc, các khu vực trên th ế giới Xu hướng toàn cầu hoá nôi bật trưốc
hết ở toàn cầu hoá kinh tê với sự phát triển của lực
lượng sản x u ấ t ngày càng rộng lớn, vượt ra khỏi phạm
vi quốc gia, th ậm chí vượt ra khỏi phạm vi khu vực để trở th àn h lực lượng sản x u ấ t thê giới Đà tiến như vũ bão của cách m ạng khoa học - công nghệ từ những thập kỷ cuối thê kỷ X X , sự bùng nổ thông tin, tiến bộ công nghệ và x u ấ t hiện ngày càng nhiều công nghệ
ch ất lượng cao đã tác động và chi phối trực tiếp tới nền kinh tê thê giới m à ưu thê thuộc về nền kinh tê của các nước tư bản chủ nghĩa có trìn h độ phát triển cao Quốc tê hoá sản x u ấ t và sự liên kết thị trường toàn cầu đã hôi th ú c quá trìn h phân công lao động quôc tế, sự th am gia vào quá trìn h hội nhập kinh tê
243
Trang 4quốc tế đối với các nhà nước, các chính phủ như một đòi hỏi tấ t yếu của phát triển
Toàn cầu hoá đặt các nước, các khu vực trên toàn
cầu vào sự p h ụ thuộc và tuỳ thuộc lẫn nhau, không
một thực thể nào có thể tồn tại độc lập, biệt lập, càng không thể phát triển trong tính đơn tuyến, trong trạng thái Ốc đảo, khép kín Mở cửa và hội nhập do đó cũng trở thành một sự lựa chọn giải pháp tấ t yếu, phổ biến đối với tấ t cả các nước khi tiến hành cải cách, đổi mới Toàn cầu hoá kinh tê là một hiện thực, một thực tê đang diễn ra và sự nhận thức về tính tấ t yếu của nó đã trở nên hiển nhiên, rõ ràng, dù trong chính sách và ứng
xử vẫn có những khác biệt, hoặc tán thành hoặc phản đối ở nơi này, nơi khác.
Trong những khía cạnh, phương diện khác nhau của sự nhìn nhận và đánh giá toàn cầu hoá, vấn đê phức tạp và rắc rối hơn cả, m à có lẽ đây là vấn đề phức
tạp và rắc rối nhất, chính là văn hóa và cục diện văn hóa trong bôi cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
Peter Geschiere và Birgit M eyer nhận xét rằng, khái niệm toàn cầu hoá càng trở nên thông dụng thì nó càng có vẻ gặp phải sự mơ hồ và không nhất quán Một trong những điêu mơ hồ đó là các xu hướng đồng nhất văn hoá vôn có của quá trình toàn cầu hoá theo đúng nghĩa của nó có vẻ như kéo theo một sự pha tạp diễn ra liên tục hoặc thậm chí còn được tăng cưòng vê m ặt văn
24 4
Trang 5hóa Theo các học giả nói trên thì các chuyên gia kinh
tế, các nhà khoa học chính trị và các chuyên gia thông tin đại chúng là những người đầu tiên công khai đê cập
tới toàn cầu hoá và cố gắng thảo ra một lý thuyết về tính toàn cầu Họ nh ấn m ạnh đến n h ữ n g tác độ ng đồng nhất hoá: Thông qua sự tác động của các công nghệ giao
thông vận tải mới và thông qua việc tăng cưòng lưu thông hàng hoá và lưu thông con người trên cấp độ toàn cầu thì sự khác biệt về văn hoá được coi rìhư không còn nữa Sự đồng nh ất hoá văn hoá này, dù nhìn nhận một cách tích cực theo quan điểm không tưởng của Mc Luhan về "ngôi làng toàn cầu", hay tiêu cực theo quan điểm của chủ nghĩa đê quốc phương Tây, thì cả hai đều
cùng dựa vào một giả thuyết cho rằng thê giới đ a n g
nh a n h chóng đi tới chỗ đồng nhất Quá trình đồng nhất
văn hóa đó được nói đến với việc toàn cầu hoá một sô phong cách tiêu thụ đã gây ấn tượng nhàm chán, đơn điệu như của Mc Donals và Coca - Cola.
Lại có một khuynh hưống khác, thiên về nhấn
m ạnh những sự khác biệt văn hóa Theo đó, bản thân
quá trình toàn cầu hoá tỏ ra là đi đến chỗ làm tăng cường những sự tương phản về m ặt văn hóa hoặc thậm chí đẻ ra những tình trạn g đôi lập mới Như một nghịch
lý, các xu hưống đồng nh ất hoá về văn hóa của công cuộc toàn cầu hoá lại kéo theo tính pha tạp liên tục hoặc thậm chí được tăn g cường thêm về m ặt văn hóa.
2 4 5
Trang 6Liên quan chặt chẽ đến cái nghịch lý nói trên là sự cân bằng bấp bênh giữa "lưu thông toàn cầu" với "khép kín về văn hóa" Với toàn cầu hoá không chỉ là sự gia tăng nhanh về tính cơ động của con người, của hàng hoá và của hình ảnh mà còn phải tính đến một điều là,
ỏ nhiều nơi, sự lưu thông đi kèm với một hiện tượng khép kín các bản sắc Tình trạn g căng thẳng giữa toàn cầu hoá và bản sắc, giữa "lưu thông" và "khép kín" đã dẫn tới những hậu quả quyết liệt ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay1, cần phải được nghiên cứu Vậy là, trưốc diễn tiến của toàn cầu hoá kinh tế, văn hóa sẽ biến đôi như thê nào và theo chiều hưóng nào? Liệu có thật hay không hiện tượng đồng nhất văn hóa? Nếu điều đó xảy
ra thì sô phận của văn hóa, của các nền văn hóa thuộc
về các dân tộc và các quôc gia - dân tộc sẽ ra sao? Đó là
sự phát triển mới của văn hóa hay sẽ là cái chết của văn hóa, đặc biệt là văn hoá tinh thần vốn g ắ n bó máu thịt với đời sông tinh thần của con người, của từng dân tộc?
Nói cách khác, sự phát triển trong thê giới đương đại ngày nay đi qua dòng th ác của toàn cầu hoá kinh
tê liệu có phải thường xuyên đối m ặt với nguy cơ phản phát triển một khi tự đánh m ất khỏi mình một bản
1 Xem: Peter Geschiere, Birgit Meyer: Toàn cầu hoá và bản săc: Biện chứng giữa lưu thông và khép kín trong Toàn cầu hoá với văn hoá, Viện Thông tin Khoa học, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tháng 7-2000
24 6
Trang 7ch ất văn hoá đích thực, mà sự đồng nhất văn hóa chính là sự đánh m ất ấy?
P h ải chăng, tính khép kín văn hóa như là một
th ái độ phản ứng, dù là thụ động và không có triển vọng, nhằm chông lại những m ặt trá i của toàn cầu hoá, của khuynh hướng sôvanh muốn áp đặt văn hóa của một dân tộc này đối với một dân tộc khác, hoặc của th ái độ thực dân và những hành động xâm lăng văn hóa của chủ nghĩa đê quốc?
Nói tới văn hóa trong sự phát triển nội tại của nó cũng như vai trò và sự hiện diện của văn hóa trong phát triển xã hội, là nói tới một phức hợp chỉnh thê của thống nhất trong đa dạng, của tính phong phú, muôn vẻ những sự khác biệt, đa dạng hướng tối thống
n h ất chỉnh thể, biểu hiện ra bởi nền văn hóa của từng dân tộc.
Không có những sự khác biệt và đa dạng trong chỉnh thể sẽ không thê hình dung được sự sông động của các bản thể văn hóa sẽ ra sao Sự sống động ấy kết tinh ở bản sắc, phát lộ ra từ bản sắc của mỗi nên văn hóa dân tộc trong lòng mỗi quốíc gia - dân tộc, dù đó là
một quôc gia - dân tộc thuần nhất hay là một quôc gia - dân tộc đa tộc người Không thể phủ nhận bản sắc cũng như không thể phủ nhận văn hoá Trong tính động của
văn hóa, bản sắc ôn định và có sức bền vững mãnh liệt, song bản sắc cũng biến đổi chứ không tĩnh tại, xơ cứng, không bất biến một cách siêu hình và giáo điều Rõ
24 7
Trang 8ràng không có bản sắc thì không thành văn hóa và do
đó nếu không tham dự vào lối sống văn hóa muôn hình muôn vẻ của dân tộc, khu vực, th ế giới thì bản sắc vốn
là những gì ưu tú, đặc sắc, độc đáo của tinh thần và
tâm hồn dân tộc chẳng những sẽ không thể hiện ra được mà còn có nguy cơ bị tàn lụi, m ất giá trị, trở nên
xa lạ với đời sông văn hóa th ế giới và nhân loại Tính khép kín văn hóa, bất luận ở hoàn cảnh và thòi đại nào, nhất là trong xu th ế toàn cầu hoá hiện nay đểu đẩy nhanh văn hóa dân tộc vào ngõ cụt, m ất sức sông Khép kín văn hóa đồng nghĩa với sự khước từ, quay mặt lại với giao lưu, đối thoại giữa các nền văn hóa Nó cũng đồng nghĩa vói sự kìm hãm bản sắc, làm nghèo nàn và
m ất sinh khí của bản sắc Sự việc này kết cục cũng dẫn tới cùng một hậu quả như sự đồng nhất văn hóa, nó trái
tự nhiên, xa lạ với bản chất văn hóa và rốt cuộc phải hứng chịu phản phát triển Một sự phát triển lành mạnh của văn hóa và của cộng đồng xã hội phải là sự
phát triển đồng thuận và đ ồ n g h à n h với văn hóa nhân
loại, vối đòi sông thê giới nhân loại Tính cởi mở, sự chủ động hoà nhập vào quá trình tiếp xúc, giao lưu, đối thoại văn hóa theo tinh th ần khoan dung văn hóa nằm trong bản chất đích thực của mỗi nền văn hóa dân tộc Mỗi dân tộc trong tư cách chủ thể sáng tạo văn hóa thường đem những bản sắc văn hoá của mình góp vào kho tàng chung của văn hóa nhân loại, giống như mang tấm căn cưốc, diện mạo tâm hồn, nhân cách của mình
248
Trang 9đi vào đời sống văn hóa th ế giới, hiện diện cùng với các cộng đồng dân tộc khác Văn hoá, trong hình thức sản phẩm của nó, hoặc vật thể hoặc phi vật thể đều do
những chủ thể xác định nào đó sáng tạo ra trong hoạt
được tạo ra, không sông đời sông vị kỷ, hẹp hòi và cô độc
mà gia nhập vào đời sông vị tha, hoà hợp và khoan dung của văn hóa nhân loại Do đó, như một tính quy
luật của tồn tại và phát triển văn hóa, văn hóa tự biểu hiện, tự kh ẳ n g đ ịn h mình bằng tính rộng m ờ chứ không phải tính khép kín.
Hội nhập kinh tế để phát triển đồng thòi là hợp tác, giao lưu, đổi thoại văn hóa, nó thúc đẩy phát triển và hướng tới phát triển bền vững, lôgíc lịch sử tự nhiên là như vậy trong nhận thức và ứng xử văn hóa.
Vấn đề là ở chỗ, làm th ế nào và bằng cách nào để
ph át triển văn hóa dâ n tộc trên con đường hội nhập,
trong sự đối m ặt với toàn cầu hoá chứ không phải làm suy yếu và tự đánh m ất văn hoá, bản sắc văn hóa dân tộc mình bằng thái độ chôi từ và hành vi khép kín, đóng cửa Chính là trong khung cảnh toàn cầu hoá ngày nay, văn hóa và bản sắc văn hóa phát triển và phát huy được vai trò, tác dụng đến đâu, điều đó tuỳ thuộc vào nhãn quan văn hóa, bản lĩnh văn hóa của chủ thể khi lựa chọn và cân nhắc để đưa ra quyết sách, giải pháp và thê ứng xử phù hợp.
249
Trang 10Phát triển luôn luôn là một quá trình phức tạp, bao hàm trong nó không chỉ tính thông nhất, sự đồng thuận
mà còn cả những mâu thuẫn và xung đột, những hướng
đi lên, đồng thời không loại trừ cả những thụt lùi tạm thời, "những sự đứt đoạn trong liên tục" như Lênin đã từng hình dung Ph át triển có trong từng lĩnh vực mà cũng có thê nhận biết từ tổng thể các lĩnh vực hợp thành đòi sống xã hội Rõ ràng là, tăng trưởng kinh tê
là tiên đê và điều kiện không thể thiếu để thực hiện phát triển nhưng tăng trưởng thuần tuý kinh tế, tự nó không thê dẫn tối phát triển, không tự đồng nhất VÓI phát triển, nếu quá trình này thiếu vắng hoặc khiếm khuyết việc thực hiện công bằng xã hội v ả lại, trong
phát triển theo hướng hiện đại hoá ngày nay, ngày càng nôi lên vai trò của văn hóa với tư cách là chỉ sô tống
hợp, là thước đo xã hội của phát triển, theo nghĩa rộng nhất của khái niệm này Văn hoá - đó không chỉ là nhân tô" tham dự vào các quá trình phát triển mà còn là kêt quả, là mục tiêu và động lực của chính quá trình phát triển Văn hoá trong sự hài hoà giữa môi trường tự nhiên với cuộc sống con người và hoạt động sáng tạo
lịch sử do con người tạo ra trở thành nội dung, tính chát
và mục đích của phát triển bền vững Chung đúc lại văn hóa đảm bảo cho p h á t triển trở thành phát triển bền vữ n g, làm cho hiện đại hoá xã hội thực sự thấm
nhuần các giá trị và ch ất lượng nhân văn của nó Đủ hiêu vì sao ngày càng có sự quan tâm nhiêu hơn tới
25 0
Trang 11chiểu cạnh văn hóa trong những tiếp cận và nghiên cứu các vấn đê đặt ra của nhân loại, của sự phát triển dân tộc và các cộng đồng xã hội trong bôi cảnh toàn cầu hoá Toàn cầu hoá kinh tê tác động và ảnh hưởng tới đời sống các quốc gia - dân tộc, khu vực và thê giới không chỉ trên bình diện kinh tế, thương mại, kỹ th u ật và công nghệ mà còn tới các vấn đề khác nhau của chính trị - xã hội, từ thể chê nhà nước, chủ quyền và an ninh quôc gia, vai trò của nhà nước, dân tộc đến các quan hệ quốc tế và khu vực Sự gia tăng các mâu th uẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, sự bùng phát những m ất ổn định và căng th ẳng xã hội do chủ nghĩa phân lập và chủ nghĩa khủng bô" quôc tế gây ra những xung đột kéo dài và các cuộc chiến tran h cục bộ từ cuôi thê kỷ X X cho tới nay đã thường xuyên làm nôi bật tính thời sự bức xúc của vấn đề hoà bình - ôn định và phát triển Trung Quổc coi đây là những chủ đê lớn, bao trùm của thời đại Thực tê ấy cho thấy, đấu tran h cho một toàn cầu hoá lành m ạnh, trên quy mô thê giới
và ở tầm phô quát của nó chính là cuộc đ â u tranh giữ a
p h á t triển và p h ả n p h á t triển, g iữ a văn hóa và p h ả n văn hóa Tiếp xúc, giao lưu và đối thoại văn hóa, do đó
còn đồng thời là đôi thoại giữa các nền văn minh trên thê giới hiện nav Đây là một quá trìn h thường xuyên
và lâu dài diễn ra sự đôi tác và hiểu biết lẫn nhau giữa
các quôc gia trong thê giới hiện nay, là phương tiện chủ yếu đê ngăn chặn xung đột giữa các quốc gia đê
251
Trang 12giải quyết có kết quả những vấn đề toàn cầu đặt ra cho loài người ở thê kỷ XXI.
Nếu con người với tính cách là "thước đo của mọi vật" là mục đích tự thân của phát triển lịch sử thì nền văn minh th ật sự của loài người không chỉ là nấc thang phát triển của văn hóa, mà còn là một hệ thống các quan hệ xã hội, có đặc thù hình thái và đồng thời liên tục tích tụ các giá trị chung của loài ngưòi và thể hiện
sự vận động của các xã hội hiện đại theo hướng hình thành chê độ thực sự nhân đạo1 Nhiều học giả nưốc ngoài nhấn mạnh rằng, sự tác động lẫn nhau (và cả các mâu thuẫn) giữa các nên văn hóa và giữa các tôn giáo của một loạt các nền văn minh lón trong tương lai sẽ quyết định đáng kể sự phát triển theo các đường song song của toàn bộ th ế giới Do đó, không có cơ sở để cho rằng, nền văn minh phương Tây, nền văn minh Trung Hoa, nền văn minh Ấn Độ, nền văn minh Hồi giáo và các nền văn minh khác sẽ đi đến sự thông nhất, sự hội nhập nào đó Các truyền thông, lối sống, nhận thức
hiện thực của chúng khác nhau đến mức trong tương lai gần không thể nói bất cứ điều gì về sự hoà nhập các dân
tộc thành một nền văn minh.
1 Xem: GS, TS T riế t học G Sum batian: N hững vấn để của nền văn m inh hiện đ ạ i, Tạp chí Tri thức xã hội và nhàn văn, (tiếng Nga), số 4-2003.
252
Trang 13Q uan niệm về lịch sử như là một quá trình nhiêu phương án có ý nghĩa lớn để hình thành th ế giói quan lịch sử1.
Hội nhập toàn cầu, do đó là con đường duy nh ất có thể đê loài ngưòi tiếp tục phát triển, để có tồn tại trong hoà bình và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
Cuộc hội nhập này, rõ ràn g không chỉ là hội nhập kinh t ế quốc t ế mà còn là đôi thoại và hợp tác giữ a các nền văn hóa, giữ a các nền văn m inh.
Từ cảm quan văn hóa có thể nhận biết rằng, văn hóa hoà bình, văn hóa khoan d u n g với tinh thần và thái
độ khoan d u n g văn hóa sẽ đóng vai trò tích cực và cần
thiết như thê nào để hoà bình và phát triển từ khả năng trở thành hiện thực, đem lại những sự thụ hưởng lợi ích hợp lý và công bằng cho các dân tộc trên trái đất Đồng quy vào mục đích đó, các cuộc đôi thoại giữa các nền văn hoá mới tìm th ấy tính triển vọng của mình, nhò đó có thể trán h được hoặc ít ra cũng làm giảm thiểu những mâu thuẫn dân tộc, những xung đột sắc tộc và tôn giáo, không coi sự đa dạng là mối đe doạ mà thấy ở
đó (sự đa dạng) triển vọng ph á t triển của t h ế giới.
Đối thoại văn hóa để tăng cường sự liên kết lẫn nhau, từ đó tìm kiếm những khả năng và xây dựng những cơ chế cho những chương trình, kế hoạch, dự án
1 Xem: GS, TS Triết học G.Sumbatian: Những vấn đ ề của nền văn m inh hiện đại, Tỉđd.
253
Trang 14hợp tác văn hóa giữa các dân tộc thông qua các nhà nước các chính phủ của mình Văn hoá và đối thoại văn hóa có thể tạo ra những xung lực mới cho phát triển kinh tế, cho sự giảm thiểu những căng thẳng xã hội, để phòng tránh hoặc thoát ra khỏi những xung đột chính trị, những khủng hoảng, sự rối loạn và tình trạng bất
ôn định chính trị.
Các nhà phân tích N hật Bản thường xếp văn hóa sau kinh tế và chỉ sau đó mới là chính tr ị1 chính là xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa trên của văn hóa đôi với phát triển trong thê giới toàn cầu hoá hiện nay Các dân tộc tham gia vào đối thoại văn hóa có cùng mục tiêu phát triển, đồng thời cùng nhau nỗ lực và hợp tác đê tăng cường tính đa dạng văn hóa của mình, của các
đôi tác cũng như của thê giói Đó là hoạt động đem đến đồng thời là sự tiếp nhận, sự lĩnh hội Đó là sự đóng góp sáng tạo mà cũng là sự chọn lọc và lựa chọn rất nhiêu lĩnh vực, quan hệ và chiều cạnh, làm giàu có vốn xã hội
của mình và làm phong phú cho văn hóa dân tộc củng như văn hóa thê giới.
Đại thi hào Ân Độ R.Tago - người được giải thưỏng Nobel năm 1916 và đã từng đến thăm N hật Bản có nói:
"Mỗi dân tộc đều có trách nhiệm tự thể hiện mình trước thê giới Nêu dân tộc đó không có gì để trao cho thê giới
1 Xem: O.Gieledơnhắc: Văn hoá N hật trong điều kiện toàn cầu hoá, Tạp chí Những ván đ ề Viễn Đông (tiếng Nga), số 3-2003.
254
Trang 15thì cần xem đó như là một tội ác dân tộc, điều đó còn tồi
tệ hơn cả cái chết và lịch sử loài người không thể th a thứ cho nó " Do vậy, văn hóa dân tộc, ý thức và lòng
tự trọng dân tộc đòi hỏi một nghĩa vụ đạo đức và văn hóa đạo đức rằng, dân tộc phải hiện diện xứng đáng trong đời sông nhân loại, đem những gì ưu tú nhất của dân tộc mình vào sự nuôi dưỡng "cái thiên nhiên thứ hai" như là "tác phẩm nghệ thuật" của mình và của toàn nhân loại tạo ra theo "quy luật của cái đẹp" như Mác nói.
N êru - nhà lãnh đạo nôi tiếng của Ân Độ cũng đã đem vào kho tàng to lốn, kỳ vĩ những định nghĩa vê văn hoá của thê giới bằng một luận điểm nôi tiếng: Văn hóa, đó là khả năng hiểu biết người khác và làm cho người khác hiểu mình 0 luận điểm nàv, cái cốt yếu, căn bản và tinh tê n h ất của đối thoại văn hóa đã được làm sáng tỏ.
Nhà giáo dục và nhà văn hóa lỗi lạc Xôviết Xukhômlinxki
lại nói: Văn hoá là khả năng nhìn thấy người bên cạnh
Đó là chiều sâu nhân bản, nhân đạo và nhân văn trong cách nhìn văn hoá và tiếp xúc, đổi thoại văn hoá Viện sĩ Hàn lâm khoa học Nga D.Likhachốp còn làm sáng tỏ thêm tinh thần dân chủ và bình đẳng trong đổi thoại văn
hóa khi ông nhấn mạnh rằng, văn hóa là biết lắng nghe\
Đó là nguvên tắc và chuẩn mực để đối thoại văn hóa trở thành văn hóa đổi thoại, văn hóa tranh luận, cùng nhau tìm tòi chân lý, cùng nhau tham gia giải quyết những vấn
2 5d
Trang 16đề chung mang tính toàn cầu đặt ra trong đòi sống cộng đồng nhân loại.
Từ những điều trên có thể thấy, nghiên cứu những biến đổi và xu hướng phát triển của văn hóa trong bối cảnh và điều kiện toàn cầu hoá kinh tế tư bản chủ nghĩa là cần thiết không những đối vối nhận thức khoa học mà còn đối với thực tiễn đổi mới để phát triển trong việc lựa chọn giải pháp và chính sách theo tinh thần chủ động hội nhập quốíc tế, mở rộng hợp tác song phương và đa phương.
Dĩ nhiên, như đã nói, đây là vấn đề phức tạp và rộng lớn, bao quát không chỉ các khía cạnh hệ tư tưởng, thê giới quan chinh trị mà còn là các thành tô quan trọng khác của văn hóa biểu hiện trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, đạo đức, lối sống, đòi sổng tinh thần, các quan hệ xã hội và quản lý Trong phạm vi văn hóa dân tộc cũng như trong sự tương tác văn hoá giữa các dân tộc trong khu vực, sự nhận biêt cục diện văn hóa, ví như cục diện vàn hóa châu Á - Thái Bình Dương trong hai thập niên đầu thê kỷ XXI đòi hỏi sự kêt hợp giữa nghiên cứu phân tích so sánh và dự báo
nhằm tìm thấy một đôi điều g ì đó về hiện trạng, đặc điểm
và xu hướng của văn hóa dân tộc và văn hóa khu vực Thê giới toàn cầu hoá chi phối quá trình hội nhập khu vực, đồng thời hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu lại tác động tôi từng quần thể, đặt ra những vain đề vừa tương đông, vừa khác biệt trong phát triển của những quần thể
đó, ở đây là dân tộc, quốc gia - dân tộc, khu vực và thê giới.
256
Trang 17c ầ n có sự khu biệt, giới hạn một quan niệm về văn hóa, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, để không sa vào sự dàn trải
trên tất cả các Hnh vực, các lớp nghĩa cũng như các hình
thức biểu hiện vô sô nhiều của các quan niệm khác nhau vê văn hóa Đòi hỏi đó thống nhất lý thuyết với phương pháp
trong tiếp cận, nghiên cứu văn hóa - cái đối tượng phức tạp
và rắc rôl nhất trong các đốỉ tượng nghiên cứu khoa học
Do đó, xem xét văn hoá - đối thoại ván hoá và cục diện văn hoá xuất phát từ quan niệm và hướng tiếp cận sau đây:
- Văn hoá là hoạt động sáng tạo của chủ thể người
trong môi trường hiện thực của sự tồn tại và phát triển, thông nhất hữu cơ giữa tự nhiên và xã hội.
- V ăn hoá là g iá trị và hệ g iá trị m à g iá trị cao
n h ấ t tro n g b ả n g g iá trị văn hóa là con người.
- Văn hoá là một cấu trúc hệ thống - chỉn h th ể các
lĩnh vực hợp thành đòi sông xã hội, các lớp quan hệ xã hội của phát triển cá nhân và cộng đồng, trong thời gian
và không gian, trong sự tiếp biến giữa truyền thông và hiện đại.
2 Q uan niệm về c ụ c diện v ăn h o á ch â u Á - T h ái
B ình Dương (q u a th ự c tiể n Đ ông Á) tro n g bối cả n h
và điểu k iện to à n c ầ u h o á h iện n ay
Châu Á - Thái Bình Dương với vị trí, vai trò và tiêm năng to lớn của nó, đặc biệt là Đông Á (bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á) đang thu hút sự chú ý của thê giới như một vùng của tăng trưởng kinh tế, của sức hấp
25 7
Trang 18dẫn các giá trị châu Á, của một khu vực ổn định, phát triển theo định hướng hoà bình và hợp tác.
Song ở đây, trong tính phong phú, đa dạng của văn hóa, sự thể hiện sinh động kết hợp tính phổ biến với tính đặc thù của phát triển, nhất là trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển sang kinh tế thị trường, hội nhập quóc tế và khu vực cũng đang xu ất hiện những vấn đề của nó, cả thời cơ lẫn thách thức.
Thành tựu phát triển kinh tê của các nước trong khu vực, nhất là N hật Bản, Trung Quốc và "bốn con hổ": Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Xingapo đã từng gây ấn tượng sâu sắc trong nhận xét và đánh giá của nhiều người, cả phương Đông lẫn phương Tây về
"một phép lạ kinh tê châu Á", về "sự thần kỳ" của hiện tượng Nhật Bản Sau những bưốc tiến lón vối những thành tựu có thể gọi là ngoạn mục của Đông Á trong nhiều thập kỷ thì cuối th ế kỷ X X vừa qua, nền kinh tê Nhật Bản đã xu ất hiện những dấu hiệu suy thoái và khủng hoảng nghiêm trọng Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ vào năm 1997 ở khu vực Đông Á cũng như cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính bắt đầu từ nước Mỹ và lan toả khắp các nước từ năm 2008 đến nay
đã gây những ảnh hưởng tiêu cực lớn tói các nước vê tăng trưởng kinh tê và các vấn đề xã hội Những cơn bão tài chính đó làm bộc lộ nhiều vấn đề trong cơ chê và chính sách quản lý của các nước trong khu vực và trên thê giới nói chung, đòi hỏi phải xem xét lại các lý thuyết
2 5 8
Trang 19và mô hình thực tế trong phát triển, nhất là vai trò của Nhà nưóc đối vói việc giải quyết các vấn đề kinh tê - xã hội trong phát triển Tình huống có vấn đề đó trong
kinh t ế đã tác động tói chính trị, tạo nên tính bức xúc
của những cải cách thể chế, đồng thời xu ất hiện nhu
cầu nhận thức, đánh giá lại về các giá trị Đ ông A, vê vai trò nhân tô" văn hóa trong phát triển.
Văn hóa châu Á, đặc biệt là các giá trị truyền thông của Đông Á đã tham dự như thê nào, có tính "lưỡng diện" - tích cực và tiêu cực ra sao - đối với việc tạo ra phép lạ kinh tê cũng như sự kiện khủng hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua ở các nước và vùng lãnh thô quan trọng này?
T rung Quốc và Việt Nam - những nước theo thể chê xã hội chủ nghĩa, đang cải cách và đổi mới lại là
những quốc gia đ iển h ìn h m ang giá trị Đông Á, chịu
tác động trự c tiếp từ những th àn h tựu và phát triển đột biến cũng như từ khủng hoảng và suy thoái của khu vực, lẽ đương nhiên cũng r ấ t chú trọn g tói những nhận thức và tự nhận thức vấn đê nêu trên.
Có không ít vấn đề được đ ặt ra một cách nghiêm
tú c, duy lý và thực tiễn m à nổi bật là những câu hỏi
sau đây:
- Phải chăng chính giá trị Đông Á là nguyên nhân chủ yếu gây nên sự phát triển kỳ diệu của một vài quốc gia Đông Á?
- Trong tương quan vói văn hóa phương Tây, các
25 9
Trang 20giá trị Đông Á có những thê' m ạ n h và những hạ n c h ế
gì? X ét trên phương diện giá trị học, những giá trị Đông Á nào là tích cực? Ngay tron g những giá trị gọi
là tích cực đó, liệu có những khía cạnh tiêu cực hay không khi nó cọ sát với thực tiễn theo những yêu cầu mới của phát triển theo hưóng hiện đại hoá?
- Thế kỷ XXI liệu có phải là thê kỷ của các giá trị Đông Á hay không? Có hay không sự sụp đổ của các giá trị Đông Á sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997? Giá trị Đông Á có ảnh hưởng tiêu cực gì đối với sự phát triển xã hội hiện đại?
Tính thời sự của vấn đê nêu trên đã thu hút các học giả vào cuộc đại thảo luận vê Đông và Tây đang diễn ra trên phạm vi quốc tê xoay quanh chủ đê văn hóa và phát triển mà trực tiếp là các giá trị Đông Á trong đối thoại văn hóa và hội nhập quốc tê hiện nay.
Thực tê đó gợi mỏ nhiều điều bô ích cho việc nghiên cứu, tìm hiểu cục diện văn hóa khu vực châu
A - Thái Bình Dương tron g hai th ập niên đầu th ế kỷ
26 0
Trang 21huống, làm bộc lộ những mâu thuẫn, làm xu ất hiện những vấn đề trong cục diện phát triển Hơn nữa, cục diện biến đổi văn hoá không tách rời và biệt lập khỏi cục diện kinh tế, chính trị và xã hội của khu vực cũng như của th ế giới nói chung.
Nó như một phân hệ của cả hệ thông chỉnh thể, vừa
p h ả n ánh vừa thăm nhập vào chỉnh thể cũng như vào
từng thực thể của chính cái chỉnh thê ấy.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có hai luận điểm quan trọng sau đây có thể gợi ý cho chúng ta về cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Ngươi nhấn mạnh:
T h ứ nhất, đòi sống có bôn lĩnh vực quan trọng
ngang nhau: kinh tê - chính trị - văn hóa - xã hội, không được xem nhẹ một lĩnh vực nào.
ở luận điểm này, ta rú t ra một nhận xét: Nghiên cứu văn hóa và cục diện văn hóa như một nghiên cứu
loại biệt trong hệ thông xã hội, trong tính hiện thực của đời sống xã hội.
T h ứ hai, văn hóa không ở bên ngoài mà ở trong
kinh tê và chính trị.
ở luận điểm này, cần lưu ý tới một nhận xét khác
Nghiên cứu văn hóa và cục diện văn hóa có t h ể và cần
p h ả i nghiên cứu như một tổng hợp, một p h ứ c hợp đê xem xét những tá c động tạo thàn h văn hóa và cục diện văn hóa, đồng thời nhận biết sự vận đ ộ n g của văn hóa lẫn sự biến đôi của cục diện văn hóa ở trong bản thăn nó cũng như trong n h ữ n g thực t h ể khác,
261
Trang 22ngoài nó Đây là sự thâm nhập và tá c động lẫn nhau
một cách biện chứng và phức tạp , động chứ không tĩnh, ràn g buộc và ch ế ước lẫn nhau chứ không tách biệt, độc lập.
Có những cặp quan hệ tác động lẫn nhau dẫn tối sự
chuyển hoá và sinh thành cần được nhận rõ Đó là:
Văn hoá và kinh tê dẫn tối văn hóa kinh tế.
Văn hoá và chính trị dẫn tới văn hóa chính trị.
Văn hoá và xã hội dẫn tối văn hóa xã hội (với nghĩa vừa là văn hóa quản lý vừa là một năng lực xã hội, một
vốn xã hội).
Theo đó, cục diện văn hoá cần phải được mô tả để
nhận biết nó không chỉ từ n h ữ n g biến đổi trực tiếp của các sự kiện, hiện tượng văn hoá (ví dụ: lý luận, hệ tư
tưởng, đạo đức, lối sống, đời sông tinh th ần, các quan
hệ con người - cá nhân và cộng đồng, các liên hệ thiết chê và mô hình gia đình - nhà trường và xã hội, các
hoạt động giáo dục, khoa học ) m à còn từ n h ữ n g cơ
sở, n h ữ n g n h â n tô hiện thực có nội d u n g kinh tế - chính trị - xã hội gây tác đ ộ n g và ả n h hư ởng tới sự hình thành n h ữ n g biến đôi của bản thăn cục diện đó
(ví dụ: kinh tê thị trường và kinh tế tri thức trong toàn cầu hoá kinh tế, cải cách th ể chê chính trị, dân chủ hoá chính trị và nhà nước pháp quyền dân chủ, xã hội công dân và đời sông xã hội dân sự, môi trường tự nhiên - sinh th ái và môi trường xã hội - nhân văn trong xã hội hậu công nghiệp, xã hội thông tin, xã hội
262
Trang 23học tập và xã hội tri thức với việc mở rộng không ngừng các quyền của con người ).
Sau hết, cục diện văn hóa đã tác động trở lại tới những biến đổi, đ ặt ra những vấn đê đôi với bản th ân
nó, như một loại biệt, một phân thể và đối với bản
th ân xã hội, như một chỉnh thể, một cái toàn thể, tổng th ể toàn vẹn.
Từ cơ sở phương pháp luận đó, chúng ta xem xét và đánh giá những thực tiễn lịch sử của cục diện văn hoá châu Á - Thái Bình Dương, lấy Đông Á làm trọng tâm
Trong cuốn sách N h ữ n g xu hư ớng vĩ mô năm 2000,
từ năm 1982, các tác giả Johnaisbitt và Patricia Abrđene đã phân tích thực trạng, dự báo xu hướng và đưa ra 10 xu hướng lớn, quan trọng nhất, được gọi là tạo khung, có ảnh hưởng tới đời sống của chúng ta khi bước vào thập kỷ mối (tức là thập kỷ cuối của thê kỷ XX) Những dự báo xu hướng đó, trên cái nền chung, tổng quát của toàn cầu hoá không chỉ giúp cho nhận thức thê giới ở những thời điểm kết thúc thê kỷ X X mà còn tiếp tục gợi mở sự suy nghĩ của chúng ta về thê giới trong những thập niên đầu thê kỷ XXI Nhiều điểm trong những nội dung dự báo đó đã thành hiện thực, đồng thời có những vấn đề mà các tác giả đó đưa ra vẫn tiếp tục m ang ý nghĩa dự báo nhìn từ góc độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng như văn hóa ở quy mô toàn cầu lẫn quy
mô khu vực.
263
Trang 24Trong 10 dự báo đó, chúng ta đặc biệt chú ý tới dự báo
thứ sáu, nói về sự ra đời của ưòng cung Thái Bình Dương.
Theo các tác giả, vòng cung Thái Bình Dương có vị trí địa lý chiến lược và xét trên bất kỳ m ặt nào, địa lý - dân số hay kinh tế, châu Á - Thái Bình Dương cũng đang là "một tồn tại toàn cầu hùng hậu" Sự phát triển hay suy thoái của vùng này có ảnh hưởng tới sự biến đổi, phát triển chung của thê giới toàn cầu.
Nếu như hơn 500 năm trở về trước, trun g tâm buôn bán th ế giói bắt đầu chuyển từ Địa Trung Hải sang Đại Tây Dương thì ngày nay nó đang chuyển từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương Những thành phố ở vòng cung Thái Bình Dương - Lốt Angiơlét, Xítny và Tôkyô đang vượt lên các thành phô" cũ được xây dựng quanh Đại Tây Dương: Niu Oóc, Pari, Luân Đôn.
Diện tích vòng cung Thái Bình Dương rộng gấp hai lần châu Âu và nước Mỹ Trong khi châu Âu chỉ chiếm 6% dân sô trên trái đất thì châu Á đang chiếm 2/3 dân
sô thê giới Đây còn là một thị trường 3 000 tỷ đôla với nhịp độ tăng hằng tuần 3 tỷ đôla Nhịp độ này ngày nay đang tăng lên hơn th ế nhiều.
Vòng cung Thái Bình Dương giống như một châu Mỹ trẻ trung, năng động nhưng với quy mô lớn hơn nhiều Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Joh n M Hay đã từng
nhận xét: Địa Trung Hải là đại dương của quá k h ứ , Đại Tây Dương là đại dương của hiện tại, còn Thái Bình Dương mới thực sự là đại dương của tương lai.
264
Trang 25Vậy những nhân tô nào tạo nên sức trỗi dậy của vùng địa kinh tế, địa chính trị và địa văn hoá chiên lược này? Cần phải kể tới 5 điểm quan trọng sau đây:
1 Việc chuyển sang vòng cung này là do những
nguyên nhân kinh tê' (đó là chiến lược cải cách kinh tê với cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cơ chê quản lý và
chính sách thúc đẩy tăng trưởng).
2 Văn hoá tạo ra nội lực và nguồn lực mạnh cho
phát triển và quản lý các quá trình phát triển.
3 Tuy N h ật B ản hiện đang là nước d ẫ n đ ầ u kinh
tế tron g vùng, nhưng Đ ôn g Á (Trung Quốc và "bôn
con hổ": Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan, Xingapo)
chắc chắn sẽ giữ vai trò chi phôi.
4 Giáo dục được coi là lĩnh vực đột p h á đê tạo ra
tiềm lực cho phát triển Từ hai thập kỷ trưóc đây (từ năm 1985), Hàn Quổc đã đạt tỷ lệ thanh niên học đại học cao hơn thanh niên nưốc Anh
5 Trong nền kinh tê toàn cầu, sự trỗi dậy của vòng cung Thái Bình Dương không có nghĩa là sự suy thoái của phương Tây, với điều kiện phương Tây không được nhắm m ắt trước xu hướng này.
Chuyên biến kinh tê vùng Thái Bình Dương có thể làm thay đôi hoàn toàn bộ m ặt thê giới Vòng cung Thái Bình Dương hiện đang trải qua một thòi kỳ cách mạng công nghiệp để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá Vào cuôi những năm 80 thê kỷ XX, không có một ngân hàng nào của Mỹ nằm trong số 36 ngân hàng lớn
2 6 5
Trang 26nhất th ế giới nhưng trong đó có tới 12 ngân hàng lớn nhất là của N hật Bản Những năm 60 th ế kỷ XX, tổng sản phẩm quốc dân của vòng cung Thái Bình Dương mới chỉ bằng 1/2 của Mỹ, 1/3 của châu Âu, vậy mà vào năm 2000 đã bằng cả Bắc Mỹ và Tây Âu.
Vào thiên niên kỷ mới, tổng sản phẩm quốc dân của
th ế giới sẽ chia làm bốn vòng cung Thái Bình Dương, châu Âu, nưốc Mỹ và phần còn lại của th ế giới.
Các nền kinh tê hướng về xu ất khẩu của vòng cung Thái Bình Dương tăng nhanh gấp ba lần so với phần còn lại của thê giới Mỹ bán cho Hàn Quốc nhiều hơn cho nưóc Pháp, Đài Loan, Thuỵ Sĩ, Italia và Thuỵ Điển cộng lại Trong thập kỷ cuối thê kỷ X X vừa qua, buôn bán của Mỹ với châu Á gấp đôi khôi lượng buôn bán với châu Au.
Bước vào thê kỷ XXI, trong vòng cung Thái Bình Dương sẽ còn thấy rõ ảnh hưởng của nhiêu nưốc khác trong vùng như Nga (trước đây là Liên Xô) - một cánh to lớn của vòng cung, như Ôxtrâylia - một bộ phận then chốt của kinh tê Thái Bình Dương và của các nước khác như: Mêhicô, Êcuađo, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Việt Nam
Tiêu điểm phát triển của vòng cung Thái Bình
Dương vân là châu A vối mũi nhọn tran h đua giữa các nước trong vùng là giáo dụ c Như vậy, í/lê và lực phát
triển của châu Á - Thái Bình Dương là rấ t to lốn, trong
đó nôi bật là Đông Á (cả Đông B ắc Á và Đông Nam Á).
266
Trang 27Đó là xét về phương diện kinh tế v ề phương diện an ninh quốc phòng, đây còn là vùng đang diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa hai trung tâm lớn của chủ nghĩa đê quổíc là Mỹ, N hật Bản và một sô" nưốc lớn vói những mưu toan ráo riết mở rộng ảnh hưởng về kinh tế, -chính trị, quân sự Châu Á - Thái Bình Dương ngày càng trở thành lò lửa gây căng thẳng quổíc tế Lực lượng hải quân của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương được tran g bị bằng những vũ khí mới Đây lại là lãnh thổ có vũ khí hạt nhân Các tran h chấp xung đột về lãnh thổ, biên giới, hải đảo gắn với nguồn tài nguyên trên biển, ở thềm lục địa giữa hai bên và nhiều bên từ lâu vẫn chưa được giải quyết và luôn tiềm tàng những cuộc khủng hoảng trong quan hệ giữa các quổic gia và khu vực Biến khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Bắc Á
và Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, ôn định,
an ninh và hợp tác để phát triển đang là mối quan tâm không chỉ của các nước trong khu vực này mà còn của cộng đồng quốc tế.
Nên tản g văn hóa của các nước Đông Á có những
giá trị chung, có nhiêu nét tương đồng và mỗi nước lại
có truyền thống, bản sắc riêng của mình có thế cùng tham gia vào việc thúc đẩy quá trình giao lưu, tiếp xúc văn hóa, tăn g cường đối thoại và hợp tác giữa các nền văn hóa nhằm xây dựng khu vực này th ành một khu vực ôn định, an ninh và hợp tác, bảo vệ hoà bình và thúc đẩy phát triển.
267
Trang 28Cục diện văn hóa châu Á - Thái Bình Dương qua thực tiễn Đông Á được xem xét trong một khung cảnh chung vói cả một hệ nhân tố tác động như vậy.
Cùng với những tác động và ảnh hưởng của các nhân tô' đã nêu như: kmh tế - xã hội - chính trị - an
ninh quốc phòng, còn phải nhấn m ạnh tối n h ữ n g tiếp biến văn hóa giữa các nền văn hóa trong khu vực với
nhau và với thê giới Đây là hiện tượng có tính quy luật của sự biến đổi và phát triển văn hóa, tạo nên diện mạo văn hóa của từng nước, từng quôc gia - dân tộc cũng như của vùng, của khu vực trong xu hưống biến đối và phát triển chung của th ế giới toàn cầu Cục diện văn hóa, do đó cần phải được xem xét từ
hiện trạng và đặc điểm , tính chất và xu hướng biến đổi
về văn hóa, từ đó lý giải những ảnh hưởng thực tê của văn hóa tới những biến đôi về xã hội nói chung.
Một nghiên cứu gần đây của Trung Quôc đã đưa ra những nhận định có tính dự báo rằng, trước thế kỷ
XV III là văn minh phương Tây học tập văn minh phương Đông, sau thê kỷ X IX là văn minh phương
Đông học tập văn minh phương Tây, thì ở toàn cầu hoá hiện nay, lịch s ử đã bước vào gia i đoạn mới: văn minh
p h ư ơ n g Đ ông và p h ư ơ n g Tây đôi thoại bình đẳng, học tập lẫn n h a u c ù n g p h á t triển Thê kỷ XXI, không phải
là thê kỷ của vùng quanh Thái Bình Dương, cũng không phải là thê kỷ của vùng quanh Đại Tây Dương,
mà là thê kỷ mới của nền vần m inh hiện đại của loài
268
Trang 29người thích ứng với thòi đại tri thức, vượt qua nên văn
minh phương Đông và nến văn minh phương Tây, các loại văn m inh b ổ s u n g cho nh au và cù n g ch u n g số n g \
Có thể xem cách đặt vấn đề nêu trên là một gợi ý có cơ
sở để nghiên cứu phân tích và dự báo vê cục diện văn hoá châu Á - Thái Bình Dương trong hai thập niên đầu
th ế kỷ XXI.
khu vực ch â u Á - T h ái B ìn h Dương qua th ự c tiển Đông A
Sự biến đổi của cục diện văn hoá khu vực châu Á - Thái Bình Dương m à Đông Á là đại diện tiêu biểu có những đặc điểm xác định Để nhận ra những đặc điểm
ấy thông qua những thực trạn g văn hoá cần phải nhấn
mạnh lại và hệ thông hoá một lần nữa n h ữ n g n h ă n tô tác độ ng tới sự biến đổi văn hóa ở khu vực này Trên
một ý nghĩa, mức độ nào đó, đây cũng là những nhân tcí tác động tới sự biến đôi văn hóa và cục diện văn hóa trên thê giới nói chung Những tác động chung, phô biến này gây ảnh hưởng đến đâu đôi vối đòi sông văn hóa của từng nước và từng khu vực lại tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện lịch sử đặc thù kèm theo những sắc thái chủ quan, riêng biệt ở từng chủ thê quản lý
1 Xem: Điền Phong: Toàn cầu hoá với việc chỉnh hợp văn minh, Tân Hoa văn trích, sô 2-1999.
2 6 9
Trang 30văn hóa (nhà nước, chính phủ) và trìn h độ phát triển của từng cộng đồng dân cư - xã hội, cộng đồng văn hóa
ở đó Có thể nói vắn tắ t về hệ nhân tô" tá c động tói văn hóa trong điều kiện toàn cầu hoá như sau:
T h ứ nhất là, cuộc cách m ạ n g khoa học - công nghệ, cách m ạ ng thông tin và s ự xuất hiện xã hội thông tin
Nền văn minh tin học ở thời đại hậu công nghiệp và sự hình thành xã hội thông tin là cơ sở cho sự chín muồi
kinh t ế tri thức, xã hội học tập và xã hội lao động Bước
tiến kỳ diệu này của loài ngưòi ỏ cuối th ế kỷ XX, đầu thê kỷ XXI có thể đem lại những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, hơn thê nữa còn là biến đổi của tổ chức đời sông và quản lý xã hội, văn hoá - từ văn hoá, văn minh dân tộc đến văn hóa, văn minh khu vực và
th ế giới.
Thứ hai là, toàn cầu hoá kinh t ế và hội nhập kinh
t ế quốc tế Do ưu thê phát triển , n h ất là vê kinh tế,
khoa học - kỹ th u ật và công nghệ thuộc về các nước tư bản chủ nghĩa có trìn h độ phát triển cao nên toàn cầu hoá m ang đặc trưng toàn cầu hoá kinh tế tư bản chủ nghĩa Nó không chia đều lợi ích cho tấ t cả các quốc gia, các khu vực và vùng lãnh thổ Toàn cầu hoá đòi hỏi tấ t yếu phải hội nhập kinh tê quốíc tế Nó kéo theo quá trìn h giao lưu, tiếp xúc, đối thoại văn hóa vừa song phương vừa đa phương Những quá trình này tất nhiên sẽ không diễn ra đồng đều ỏ mọi nơi với các chủ thể khác nhau về trìn h độ, sự thích ứng, về những
27 0
Trang 31hiệu ứng tích cực - những lợi ích thu được cũng như những hậu quả tiêu cực - những vấn đề phát sinh phải gánh chịu và xử lý.
Thòi cơ và thách thức, mâu thuẫn và xung đột trong tương quan phát triển giữa các nước, các khu vực sẽ biểu hiện ra hết sức đa dạng từ kinh tế tới văn hóa Nó như một sự phản ánh thực tế về sự va chạm, đụng độ giữa các nền văn minh, giữa các giá trị.
Thứ ba là, nền kinh t ế chuyển đổi trong một xã hội quá độ Một sô" nưốc châu Á đã chuyển sang nền kinh tê
thị trường, thay đổi mô hình phát triển và cơ chê quản
lý kinh tê trong cải cách và đổi mới, trong đó có Việt Nam Có những nhóm nước đã thành công trong bưốc chuyển đổi đó Có những nưốc đã đạt được thành tựu tăng trưởng cao, liên tục và gây được ấn tượng với th ế giới mà điển hình là Trung Quôc Lại cũng có những nước đang ở thời kỳ thể nghiệm kinh tê thị trường, còn
ở trạn g thái kinh tê thị trường sơ khai như Việt Nam và Lào thuộc Đông Nam Á Một sô nưốc đang quá độ từ xã hội truyền thông sang xã hội hiện đại, từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp bằng chiến lược công nghiệp hoá Đó cũng còn là bước chuyển tiếp quá độ sang thể chê pháp quyền - dân chủ.
Thứ tư là, biến đổi của môi trường tự nhiên sinh thái và môi trường xã hội nh ân văn trong điều kiện kinh t ế thị trường và công nghiệp hoá.
N hân tô' này tác động tới văn hóa cũng rấ t đậm nét
271
Trang 32với những biểu hiện môi trường tự nhiên bị ô nhiễm,
m ất cân bằng sinh thái M ặt trá i của cơ chế thị trường
và kinh tế thị trường tác động tới môi trường xã hội gây
ra những tệ nạn và tiêu cực xã hội, những suy thoái đạo đức, những biến đổi trong gia đình, lối sống.
Thứ năm là, n h ữ n g m âu thuẫn, x u n g đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chủ nghĩa k h ủ n g bố, bạo lực tác động tới s ự an toàn và an ninh của xã hội Đó là nguy cơ
gây m ất ổn định, dẫn tới khủng hoảng, trong đó có khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, đe dọa hoà bình trong khu vực và trên thê giới.
Thứ sáu là, giao lưu, hợp tác và đôi thoại văn hoá.
Cùng với các nhân tô nêu trên, đây là nhân tô tác động nội tại của văn hoá, ảnh hưởng giữa các nền văn hoá vốn đa dạng trong khu vực, giữa văn hóa trong khu vực với văn hoá thê giới Tác động này đi liền vói các quá trình cải cách, đổi mới, mỏ cửa và hội nhập giữa các nước trong và ngoài khu vực, ảnh hưởng trực tiếp tới đạo đức, lối sông, đời sông văn hóa tinh thần, tói quan
hệ giữa các thê hệ, tới những biến đổi của truyền thống
đi liền với hiện đại hoá truyền thông, sự biến đổi trong đánh giá, lựa chọn các giá trị.
Các nhân tố nói trên, tác động và ảnh hưởng tới biên đổi văn hoá và cục diện văn hóa theo cả hai hướng
trực tiếp v ằ g iá n tiếp, tích cực và tiêu cực.
Dưói đây, chúng ta xem xét những đặc điểm biên đôi của cục diện văn hoá dựa trên những giới hạn vẽ
272
Trang 33quan niệm văn hóa và cục diện văn hóa, xu ất phát từ thực tiễn tác động, ảnh hưởng của những nhân tô nói trên tới văn hoá khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trước hết và chủ yếu tói Đông Á.
273
Trang 34Chương VI
Sự KHÁC BIỆT GIỮA CÁC DÒNG Ý THỨC HỆ
VÀ Sự CHI PHỐI CỦA NÓ TỚI CÁC
CHÊ ĐỘ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1 Hệ tư tưởng là nội dung cốt lõi, chủ đạo của văn hoá
Những biến đổi văn hóa và cục diện văn hóa thể hiện trước hết ở những biến đổi hệ tư tưởng và thường
do hệ tư tưởng chi phối M ặt khác, nguyên nhân sâu xa dẫn tới những biến đôi hệ tư tưởng lại do kinh tế, những điều kiện kinh tê - xã hội quy định.
Từ giữa th ập kỷ 80 của th ê kỷ X X , hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đều tiến hàn h cải tổ, cải cách
và đổi mới Sự kiện này cần được c ắ t nghĩa như thê nào? Trước hết, đó là cuộc khủng hoảng trầ m trọng
vê kinh tê - xã hội đã diễn ra ở các nưốc theo chê độ
xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô và Đông Âu đến ch âu Á
Đó là k h ủ n g h o ả n g về mô h ìn h p h á t triển của chủ
n g h ĩa xã hội h iện thực Trong một thời kỳ dài, trước
274
Trang 35khi cải tổ, cải cách và đổi mới, các nưốc xã hội chủ nghĩa chịu ảnh hưởng phổ biến và đậm n ét bởi mô hình X ôviết vối nền kinh tê kê hoạch hoá tập tru n g, phương thức quản lý hành chính - mệnh lệnh và bao cấp cùng với phương thức phân phôi bình quân Hệ
tư tưởng là chủ nghĩa M ác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, nhưng việc xây dựng nền tản g tư tưởng và đời sông tinh th ần tron g xã hội, thông qua h oạt động
lý luận và giáo dục tu yên tru y ền đại chúng để làm cho hệ tư tưởng đó trở th àn h chủ đạo lại rơi vào tình trạ n g giản lược hoá, giáo điều hoá, chủ quan duy ý chí r ấ t nặng nề H ậu quả là, lý luận tách rời thực tiễn, trở nên lạc hậu , xơ cứng so với những biến đổi
r ấ t n h anh chóng củ a thực tiễn tron g nước và trên thê giới Thể chê chính tr ị của chủ nghĩa xã hội lại mắc phải khuyết tậ t tập tru n g quan liêu, cồng kềnh, tần g nấc nặn g nề, không tách bạch được chức năn g lãnh đạo của đảng cầm quyền với chức năng quản lý, điều hành của n h à nước và chức năn g giám sát, kiểm soát thực thi quyền lực củ a các tổ chức xã hội N hà nước can thiệp quá sâu vào các h oạt động sản x u ấ t - kinh doanh tron g khi những nguyên tắ c, ch u ẩn mực dân chủ, pháp quyên lại không định hình, chậm p h át triển , th ậm chí bị hình thức hoá và không có hiệu lực thực tế P h á t triể n lại m ang tính đơn trị, đơn tu yến (chỉ tron g phạm vi hệ thống xã hội chủ nghĩa) dường như khép kín, không có sự giao lưu, hợp tác vối thê
2 7 5
Trang 36giới bên ngoài, tức là với phần còn lại củ a th ê giới vốn rộng lớn, năng động và có trìn h độ p h át triển cao, đặc biệt là với phương Tây tư bản chủ nghĩa Trong khi đó, từ nửa sau th ế kỷ X X, cách mạng khoa học - công nghệ đã diễn ra với đà tiến như vũ bão Nhiều thành tựu khoa học mối, nhiều thành quả kỹ thuật - công nghệ mối được chủ nghĩa tư bản nhanh chóng thâu tóm, sử dụng, tận dụng tạo nên tiềm lực mạnh mẽ, chuyển chủ nghĩa tư bản từ trình độ cổ điển sang trình độ hiện đại thì phần lớn những thành tựu,
thành quả đó vẫn ở bên ngoài thê giới xã hội chủ nghĩa.
Kết cục khó tránh khỏi là, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào sự trì trệ kéo dài, suy thoái và khủng hoảng
Về thực chất, đây là cuộc k h ủ n g hoảng kém phát triển,
do mô hình phát triển thiếu độ ng lực thúc đẩy từ bên trong, nội tại của nó gây nên, do quá trình phát triển
lịch sử - tự nhiên vấp phải những lực cản kìm hãm từ thể chê, cơ chê, chính sách chứ không phải khủng hoảng của phát triển, trưởng thành.
Sự lạc hậu, sự thua thiệt trong phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa trong một thê giới đã bước vào thời đại hậu công nghiệp, xã hội thông tin và toàn cầu
hoá kinh tê, biểu hiện nổi bật ở sự lạc hậu vê lý luận; sự lạc hậu của lực lượng sản xuất gắn liền vối khoa học -
kỹ th u ật và công nghệ, với ch ất lượng nguồn nhân lực;
sự bất cập của hệ thông th ể chê từ thế chê kinh tê tối
thê chê pháp luật và các thể chê tổ chức - quản lý các
27 6
Trang 37lĩnh vực hoạt động; sự thiếu vắng các cơ chê kích thích phát triển, các cơ chê phát hiện khuyết tậ t đê phản ứng linh hoạt và điều chỉnh kịp thời nhằm tháo gỡ những lực cản kìm hãm, giải phóng các tiềm năng hướng tới mục tiêu phát triển và tiến bộ Trong sự thiếu hụt các
hệ thông cơ chê đó, rõ nhất là cơ c h ế kích thích lợi ích và
x ử lý các quan hệ lợi ích, cơ c h ế dân chủ đê thực hiện
các quyền và lợi ích đồng thòi ràng buộc về nghĩa vụ và
trách nhiệm, cơ c h ế kiêm tra, giám sát và các chê tài đê
phòng chông và ngăn chặn nhừng sự thoái hoá, biến dạng của quvền lực, của thói lộng quyền và lạm quyền, của sự lẩn trôn trách nhiệm và tham nhũng của người cầm quvền bởi sự uỷ quvền của dân chúng và cộng đồng
xã hội Cải tô - cải cách và đổi mới trở thành một giải pháp lựa chọn tấ t vếu, cần thiết và bức xúc đối với các nước xã hội chủ nghĩa Đôi m ặt với trì trệ, suy thoái và khủng hoảng, đây chính là lối thoát không thê khác, là câu trả lời trước tình huông có vấn đê của chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh cuối thê kỷ XX: Tồn tại haỳ không tồn tại? Trong ý nghĩa lành mạnh, tích cực của nó, sự kiện cải tô, cải cách, đối mới chủ nghĩa xã hội mà phần lớn các nước xã hội chủ nghĩa tiên hành ở giữa thập kỷ
80 thê kỷ XX vừa qua là một thời cơ, vận hội lớn của phát triển, đồng thời cùng phải chấp nhận đê nỗ lực vượt qua những thách đô có phần nghiệt ngã trong phát triển khi thê giới đã bước vào toàn cầu hoá Tuy nhiên, việc thực thi chiến lược này sẽ diễn tiến ra sao, thành
27 7
Trang 38hay bại, ổn định hay rối loạn, thoát được khủng hoảng hay lại đẩy khủng hoảng tới mức độ trầm trọng hơn để rồi đứng vững và phát triển hay đổ vỡ và thoái triển -
đó lại là một vấn đê khác tuỳ thuộc vào nỗ lực và bản lĩnh của các chủ thê cầm quyền ở các thực thể khác nhau Đó là chỗ phân biệt giữa cải tổ ở Liên Xô và Đông
Âu trước đây với cải cách của Trung Quốc và đôi mới của Việt Nam hiện nay Một lý do khác cắt nghĩa tính phô biến của sự kiện cải tổ, cải cách và đối mới trong các nưóc xã hội chủ nghĩa cuối thê kỷ XX là ở chỗ, sự phát triển của thê giới là đa dạng, thông nhất trong đa dạng với rấ t nhiều những khác biệt.
Hiện đại hoá xã hội đòi hỏi xã hội phải thường xuyên cách tân, đổi mới, thích ứng vói những cái mới
mà sự phát triển của thực tiễn đặt ra và đáp ứng những nhu cầu mới của đời sông con người - cá nhân
và cộng đồng, giải quyết kịp thời những tình huông và những vấn đê mới luôn phát sinh trong các quan hệ giai cấp và dân tộc, quốc gia - dân tộc và quốc tế, các quan hệ giữa các nhà nước - chính phủ trong khu vực
và trên thê giới, các vấn đề dân tộc và tôn giáo vốn là những vấn đê rấ t nhạy cảm và thường dễ nảy sinh các mâu thuẫn, các xung đột Đó là chưa kể tới những biến đôi vê môi trường tự nhiên sinh th ái trước nguy cơ mất cân bằng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến mức suy kiệt mà không được tái tạo, môi trường sông bị ô nhiêm và nạn bùng nô dân sô chưa được kiểm soát dẫn
27 8
Trang 39tới hiểm hoạ toàn cầu đe doạ sự sông của các dân tộc trên hành tinh Đó còn là những vấn đề xã hội nan giải
có tính toàn cầu trong phát triển kinh tê thị trường, trong xã hội với nền văn minh hậu công nghiệp, với những hậu quả nghiêm trọng do bất bình đẳng và phân cực giàu - nghèo, phát triển - chậm phát triển gây ra Đồng thời, sự lan tràn của bạo lực, của chủ nghĩa khủng bố quốc tế, hiểm hoạ của chiến tran h huỷ diệt vối vũ khí h ạt nhân làm cho thê giới ngày nay, bất luận với chê độ chính trị và hệ tư tưởng nào ở các nưóc, các khn vực khác nhau đều luôn luôn ở trong trạn g thái mâu th uẫn đầy nghịch lý Với tiến bộ khoa học - công nghệ, con ngưòi vừa làm chủ những máy móc,
th iết bị kỹ th u ật tối tân hiện đại nhất nhưng cũng chính con người đang đứng trước nguy cơ nô lệ bởi máy móc kỹ th u ật Chủ nghĩa kỹ trị đang đe doạ sự phát triển nhân tính của con người bởi sự đánh m ất cá tính, năng lực sáng tạo, dẫn tới sự nghèo nàn của tư tưởng,
sự đơn điệu nhàm chán của lối sông, sự khủng hoảng tâm lý và tinh th ần trưốc những thay đôi của định hướng giá trị và lựa chọn các chuẩn mực giá trị sông, trong một xã hội tiêu thụ mà vật ch ất bị tuyệt đối hoá, văn hóa đại chúng thứ cấp được đề cao Thê giới ngày nay đã đạt tới một trình độ cao của nền văn minh, vô cùng giàu có và hiện đại nhưng cũng chính thê giới ấy đang trở nên mỏng m anh, dễ đổ vỡ và tan vỡ, đang tiềm tàn g bao điêu bất ôn, sự an toàn của cuộc sống cá
2 7 9
Trang 40nhân và đồng loại thường xuyên bị đe doạ Quả thật là, trong bôi cảnh toàn cầu hoá, sự tồn tại và ph át triển của các thực thể, từ cá thể người đến cả nhân loại, từ quốc gia - dân tộc đến toàn bộ th ế giới đang trở nên
p h ụ thuộc và tuỳ thuộc lẫn nhau.
Thay đổi cách nghĩ, thay đổi cách làm, th ế ứng xử
và hành xử cho phù hợp, tìm kiếm những phương án tổ chức đời sông xã hội, những mô hình tổ chức và quản lý, xác định những giải pháp cải cách, những sự đôi mới đê đảm bảo phát triển, đó là đòi hỏi đặt ra đối với vận mệnh và triển vọng của chủ nghĩa xã hội ở cuôi thê kỷ
XX Nó phù hợp và thuận chiêu vói xu thê phát triển của thê giới nói chung Hoà bình và phát triển trên cơ
sở đồng thuận, hợp tác đê giải quyết những vấn đê chung toàn cầu - đó là thông điệp chung cho các quốc gia - dân tộc, khu vực và th ế giới Sự khác biệt ý thức hệ không cản trở đường hướng phát triển ấy.
Vậy cải tổ, cải cách và đổi mới diễn ra ở Liên Xô, Đông Âu, ở Trung Quốc và Việt Nam vào những thời điểm cuôi thê kỷ X X vừa qua liên quan gì tỏi hệ tư tưởng và những biến đổi ý thức hệ với tính cách là biến đôi văn hoá và cục diện văn hoá ỏ các khu vực, trong đó
có Đông Á?
Nó liên quan tới trạng thái tư tưởng, niềm tin, ý thức
xã hội trong các nước xã hội chủ nghĩa, đồng thòi cũng có tác động và ảnh hưỏng tương ứng trong đời sống tinh thần của các chê độ xã hội không phải xã hội chủ nghĩa ỏ
28 0