1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam

178 473 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (NNL) của một quốc gia, một ngành, một lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng nhƣ trong các tổ chức đang ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, sự thay đổi nhanh chóng về khoa học và công nghệ và những áp lực ngày càng lớn về kinh tế xã hội. Đào tạo NNL đƣợc coi là một trong những yếu tố cơ bản nhằm nâng cao chất lƣợng NNL, để đáp ứng các mục tiêu phát triển của một một quốc gia, một ngành cũng nhƣ của một tổ chức. Thực tế cho thấy, việc đầu tƣ vào đào tạo NNL có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tƣ đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, các tổ chức cũng nhƣ các doanh nghiệp của các quốc gia lớn nhất thế giới nhƣ Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc đều hết sức chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển NNL. Trong lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (PCCC &CNCH), nhằm góp phần đảm bảo cho sự tăng trƣởng ổn định của nền kinh tế trong bối cảnh nguy cơ cháy nổ ngày càng tăng cao, lực lƣợng PCCC &CNCH tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển thƣờng đƣợc đào tạo trong điều kiện thuận lợi, dựa trên các phƣơng pháp tốt nhất và với các thiết bị PCCC hiện đại. Hoa Kỳ là đất nƣớc nổi tiếng hàng đầu thế giới về chất lƣợng giáo dục và đào tạo, và lực lƣợng PCCC&CNCH của quốc gia này cũng đƣợc chú ý đào tạo theo hƣớng chuyên nghiệp và thực tế, và đƣợc trang bịcác phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới. Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế mới nổi , khá gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý, có nhiều điểm tƣơng đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội, vì vậy kinh nghiệm của Trung Quốc, trong đó có kinh nghiệm về đào tạo NNL PCCC, sẽ có nhiều điểm (cả thành công lẫn hạn chế) đáng để tham khảo. Cuối cùng, Liên Bang Nga có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trong lĩnh vực PCCC&CNCH, có lực lƣợng PCCC&CNCH chuyên nghiệp đƣợc đào tạo tại các cơ sở đào tạo lực lƣợng PCCC&CNCH nổi tiếng thế giới, và hệ thống tổ chức và đào tạo NNL PCCC của Việt Nam vốn chịu nhiều ảnh hƣởng từ thời Liên Xô cũ. Trong khi đó, việc đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam hiện đang tồn tại không ít vấn đề ở các phƣơng diện khác nhau, làm ảnh hƣởng tới chất lƣợng NNL PCCC đƣợc đào tạo, và sau đó là đến hiệu quả công tác của lực lƣợng và PCCC Việt Nam. Làm thế nào để có thể nâng cao đƣợc chất lƣợng đào tạo NNL PCCC của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT). Bằng việc nghiên cứu thực tế NNL và đào tạo NNL PCCC tại ba quốc gia Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga, và so sánh với thực tế đào tạo NNL PCCC của Việt Nam, một mặt, Luận án có thể sẽ chỉ ra đƣợc những vấn đề mà Việt Nam đã và đang làm đƣợc, cũng nhƣ những vấn đề còn tồn tại trong việc đào tạo NNL PCCC. Mặt khác, qua đó, Luận án sẽ rút ra đƣợc những bài học kinh nghiệm cụ thể và tìm ra đƣợc những hƣớng đi thích hợp cho việc đổi mới công tác đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thời gian tới. Đồng thời, là một ngƣời làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học về PCCC&CNCH, nghiên cứu sinh cũng muốn đi sâu nghiên cứu thực tế và kinh nghiệm đào tạo NNL PCCC của nƣớc ngoài, trên cơ sở đó rút ra những hƣớng đi nhằm hoàn thiện thêm công việc nghiên cứu và đào tạo NNL PCCC của bản thân, của trƣờng Đại học PCCC – nơi mình công tác nói riêng, cũng nhƣ hoạt động đào tạo NNL PCCC của Việt Nam nói chung trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì những lý do trên, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn chủ đề “Đào tạo NNL PCCC & CNCH: Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam” làm chủ đề nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ kinh tế của mình. Hy vọng luận án sau khi hoàn thành sẽ không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với công tác đào tạo NNL PCCC&CNCH tại Việt Nam cũng nhƣ của trƣờng Đại học PCCC và bản thân.

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CHẤN NAM

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN CỨU HỘ: KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC

VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN CHẤN NAM

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN CỨU HỘ: KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC

VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành : Kinh tế quốc tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận án tiến sĩ “Đào tạo nguồn nhân lực cho công tác Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ: Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam”

được tác giả viết dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Công Tuấn và PGS.TS Đỗ Ngọc Cẩn

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các thông tin, số liệu trong luận án này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án dựa trên quá trình nghiên cứu nghiêm túc, miệt mài của chính tác giả và là kết quả trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác./

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8

1.1 Các nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực 8

1.1.1 Nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về nguồn nhân lực 8

1.1.2 Các nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực 8

1.1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài về đào tạo nguồn nhân lực 10

1.1.4 Các nghiên cứu về giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 13

1.2 Các nghiên cứu về công tác đào tạo nguồn nhân lực cho phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ 13

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về hoạt động phòng cháy chữa cháy và lực lượng phòng cháy chữa cháy 13

1.2.2 Nghiên cứu lý thuyết về đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy 14

1.2.3 Các nghiên cứu về giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam 15

1.3 Các nghiên cứu về kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ ở Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga 16

1.4 Nhận xét về tình hình nghiên cứu 19

Trang 5

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN

NHÂN LỰC CHO CÔNG TÁC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU

NẠN CỨU HỘ 22

2.1 Các khái niệm cơ bản 22

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 22

2.1.2 Nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ 24

2.1.3 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực 28

2.1.4 Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 30

2.1.5 Đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy 31

2.1.6 Mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy 32

2.2 Các mô hình đào tạo nguồn nhân lực 35

2.2.1 Mô hình đào tạo có hệ thống của Michael Amstrong 36

2.2.2 Mô hình chuyển giao đào tạo của Holton – Holton 36

2.2.3 Mô hình lý thuyết hệ thống của Ludwig Vin Bertalantffy 38

2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Việt Nam trong điều kiện hiện nay 40

2.4 Nội dung đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy 43

2.4.1 Các phương pháp đào tạo 43

2.4.2 Quá trình đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ 47

Chương 3: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN CỨU HỘ TẠI HOA KỲ, TRUNG QUỐC VÀ CỘNG HÒA LIÊN BANG NGA 57

3.1 Đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy tại Hoa Kỳ 57

3.1.1 Đặc điểm nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Hoa Kỳ 57

3.1.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Hoa Kỳ 59

Trang 6

(1) Quan điểm và mục tiêu đào tạo NNL PCCC 59 3.2 Đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Trung Quốc 71 3.2.1 Đặc điểm nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Trung Quốc 71 3.2.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Trung

Quốc 74 3.3 Đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Liên bang Nga 83 3.3.1 Đặc điểm nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Liên bang Nga 83 3.3.2 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy Liên

bang Nga 86 3.4 Nhận xét về đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy của một số

nước 94 3.5 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam trong đào tạo nguồn nhân

lực phòng cháy chữa cháy 100 Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN CỨU HỘ TẠI

VIỆT NAM 104 4.1 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam 104 4.1.1 Nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam hiện nay 104 4.1.2 Tình hình đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy 107 4.1.3 Những hạn chế chủ yếu trong công tác đào tạo nguồn nhân lực

phòng cháy chữa cháy tại Việt Nam 116 4.2 Triển vọng kinh tế xã hội và dự báo nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực

phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2030 121 4.2.1 Triển vọng kinh tế - xã hội có liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực

phòng cháy chữa cháy 121 4.2.2 Dự báo nhu cầu và nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy 123

Trang 7

4.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo lực lượng cảnh sát phòng

cháy chữa cháy ở Việt Nam (giải pháp đối với cơ sở đào tạo nguồn nhân

lực phòng cháy chữa cháy) 126

4.3.1 Nhóm giải pháp xây dựng các chính sách, các nhân tố hỗ trợ đào tạo và điều kiện đào tạo 127

4.3.2 Nhóm giải pháp xây dựng các nhân tố cơ bản của hoạt động đào tạo trong nhà trường 131

4.3.3 Nhóm giải pháp xây dựng các nhân tố về con người: Lực lượng đào tạo (đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo) và đối tượng đào tạo trong nhà trường 136

4.4 Một số kiến nghị, đề xuất 140

4.4.1 Kiến nghị, đề xuất đối với Chính phủ 140

4.4.2 Kiến nghị, đề xuất đối với Bộ Công an 141

4.4.3 Kiến nghị, đề xuất đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 142

KẾT LUẬN 144

TÀI LIỆU THAM KHẢO 147 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DHSES Division of Homeland

Security & Emergency

Services

Bộ An ninh Nội địa và Các Dịch vụ Khẩn cấp Hoa Kỳ

FTA Free Trade Agreement Hiệp định tự do thương mại

ILO International Labour

Prevetion and Control

Văn phòng Ngăn ngừa và Kiểm soát Hỏa hoạn Hoa Kỳ

PCCC& CNCH Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn,

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Mô hình đào tạo có hệ thống của Michael Armstrong (2006) 36 Hình 2.2 Mô hình chuyển giao đào tạo của Holton 37 Hình 2.3 Sơ đồ nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất

lượng đào tạo bậc đại học 39 Hình 2.4 Các bước xác định nhu cầu đào tạo 48 Hình 3.1 Yêu cầu về bằng cấp đối với nhân viên cứu hỏa ở North Carolina 63 Hình 3.2 Khảo sát về mức độ yêu thích đối với các phương pháp đào tạo lực

lượng cứu hỏa tại Sở cứu hỏa Menomonie và Rice Lake, bang Wisconsin 67 Hình 3.3 Mô hình tổ chức lực lượng PCCC Trung Quốc 73 Hình 3.4 Mô hình tổ chức lực lượng PCCC Liên Bang Nga 85 Hình 4.1 Mô hình tổ chức của lực lượng cảnh sát PCCC và CNCH Việt Nam 106

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nhu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (NNL) của một quốc gia, một ngành, một lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như trong các tổ chức đang ngày càng tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, sự thay đổi nhanh chóng về khoa học và công nghệ và những áp lực ngày càng lớn

về kinh tế xã hội Đào tạo NNL được coi là một trong những yếu tố cơ bản nhằm nâng cao chất lượng NNL, để đáp ứng các mục tiêu phát triển của một một quốc gia, một ngành cũng như của một tổ chức Thực tế cho thấy, việc đầu tư vào đào tạo NNL có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, các tổ chức cũng như các doanh nghiệp của các quốc gia lớn nhất thế giới như Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc đều hết sức chú trọng đến công tác đào tạo và phát triển NNL

Trong lĩnh vực Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (PCCC

&CNCH), nhằm góp phần đảm bảo cho sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế trong bối cảnh nguy cơ cháy nổ ngày càng tăng cao, lực lượng PCCC &CNCH tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển thường được đào tạo trong điều kiện thuận lợi, dựa trên các phương pháp tốt nhất và với các thiết bị PCCC hiện đại Hoa Kỳ là đất nước nổi tiếng hàng đầu thế giới về chất lượng giáo dục và đào tạo, và lực lượng PCCC&CNCH của quốc gia này cũng được chú ý đào tạo theo hướng chuyên nghiệp và thực tế, và được trang bịcác phương tiện kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới Trung Quốc là một quốc gia có nền kinh tế mới nổi, khá gần gũi với Việt Nam về mặt địa lý, có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về kinh tế, chính trị, xã hội, vì vậy kinh nghiệm của Trung Quốc, trong đó có kinh nghiệm về đào tạo NNL PCCC, sẽ có nhiều điểm (cả thành công lẫn hạn chế) đáng để tham khảo Cuối cùng, Liên Bang Nga có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trong lĩnh vực PCCC&CNCH, có lực lượng PCCC&CNCH chuyên nghiệp được đào tạo tại các cơ sở đào tạo lực lượng PCCC&CNCH nổi tiếng thế

Trang 12

giới, và hệ thống tổ chức và đào tạo NNL PCCC của Việt Nam vốn chịu nhiều ảnh hưởng từ thời Liên Xô cũ Trong khi đó, việc đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam hiện đang tồn tại không ít vấn đề ở các phương diện khác nhau, làm ảnh hưởng tới chất lượng NNL PCCC được đào tạo, và sau đó là đến hiệu quả công tác của lực lượng và PCCC Việt Nam Làm thế nào để có thể nâng cao được chất lượng đào tạo NNL PCCC của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc

tế (HNKTQT) Bằng việc nghiên cứu thực tế NNL và đào tạo NNL PCCC tại ba quốc gia Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga, và so sánh với thực tế đào tạo NNL PCCC của Việt Nam, một mặt, Luận án có thể sẽ chỉ ra được những vấn đề

mà Việt Nam đã và đang làm được, cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc đào tạo NNL PCCC Mặt khác, qua đó, Luận án sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm cụ thể và tìm ra được những hướng đi thích hợp cho việc đổi mới công tác đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thời gian tới

Đồng thời, là một người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học

về PCCC&CNCH, nghiên cứu sinh cũng muốn đi sâu nghiên cứu thực tế và kinh nghiệm đào tạo NNL PCCC của nước ngoài, trên cơ sở đó rút ra những hướng đi nhằm hoàn thiện thêm công việc nghiên cứu và đào tạo NNL PCCC của bản thân, của trường Đại học PCCC – nơi mình công tác nói riêng, cũng như hoạt động đào tạo NNL PCCC của Việt Nam nói chung trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế

Chính vì những lý do trên, Nghiên cứu sinh đã lựa chọn chủ đề “Đào tạo

NNL PCCC & CNCH: Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam” làm

chủ đề nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ kinh tế của mình Hy vọng luận án sau khi hoàn thành sẽ không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với công tác đào tạo NNL PCCC&CNCH tại Việt Nam cũng như của trường Đại học PCCC và bản thân

Trang 13

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án phân tích thực trạng công tác đào tạo NNL PCCC & CNCH tại một số nước, chỉ rõ những đặc điểm, những thành công cùng những tồn tại của công tác này, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Trên cơ sở

đó và xuất phát từ các vấn đề thực tế của công tác đào tạo NNL PCCC & CNCH của Việt Nam, luận án sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực PCCC của Việt Nam trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án phải giải quyết được các nhiệm vụ hay trả lời được các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, việc đào tạo NNL PCCC&CNCH xuất phát từ những cơ sở lý

luận và thực tiễn chủ yếu nào?

Thứ hai, NNL và công tác đào tạo NNL PCCC&CNCH của các nước Hoa

Kỳ, Trung Quốc và Liên Bang Nga có những đặc điểm chủ yếu gì, có những thành công và còn tồn tại những vấn đề gì, và tại sao?

Thứ ba, từ nghiên cứu NNL và hoạt động đào tạo NNL PCCC&CNCH ở các

quốc gia trên, có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm gì cho Việt Nam?

Thứ tư, từ đó và từ việc phân tích những đặc điểm của công tác đào tạo NNL

PCCC&CCH nói chung và hoạt động đào tạo Cảnh sát PCCC nói riêng ở Việt Nam, chúng ta cần làm gì và làm như thế nào để vận dụng được những kinh nghiệm trên vào việc nâng cao chất lượng đào tạo NNL Việt Nam trong lĩnh vực này?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là công tác đào tạo NNL PCCC &CNCH của một số nước, bao gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên Bang Nga và Việt Nam

3.2 Về phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về nội dung: PCCC & CNCH là hai mảng hoạt động rất khác

nhau, mặc dù có thể có liên quan đến nhau khá chặt chẽ, và việc đào tạo NNL

Trang 14

PCCC và NNL CNCH cũng vậy Trong thực tế, nội dung của hai mảng hoạt động này đều rất lớn và bao gồm nhiều vấn đề phức tạp, nên NCS e rằng, quy mô 150 trang sẽ là không đủ để Luận án có thể giải quyết thấu đáo được hết các vấn đề có liên quan đến hai mảng hoạt động này ở một số quốc gia, khiến cho các kết luận khoa học của Luận án sẽ trở nên thiếu sức thuyết phục, ít ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đồng thời, ở Việt Nam, hoạt động CNCH và đào tạo NNL CNCH không chỉ là trách nhiệm của riêng lực lượng cảnh sát chuyên trách về PCCC (Bộ Công an), mà còn thuộc phạm vi trách nhiệm của nhiều ngành khác như Giao thông vận tải (cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và hàng không), Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, với nội dung đào tạo cũng như cơ sở và điều kiện đào tạo hết sức khác nhau (Xin xem thêm Tiểu mục 2.1.2) Do đó, để các vấn đề đặt

ra trong Luận án với chủ đề trên được nghiên cứu thấu đáo và hữu ích, Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu hoạt động đào tạo cho NNL PCCC&CNCH của lực lượng cảnh sát PCCC (ở Việt Nam, thuộc Bộ Công an), mà không nghiên cứu hoạt động CNCH và đào tạo NNL CNCH thuộc phạm vi của các Bộ, ban, ngành khác, cũng như đào tạo cho NNL CNCH của các đơn vị kiêm nhiệm thuộc Bộ Công an Đặc biệt, trong đó, Luận án cũng tập trung chủ yếu vào các hoạt động PCCC và việc đào tạo NNL PCCC, là mảng hoạt động chính của lực lượng cảnh sát chuyên trách PCCC, và chỉ đề cập đến mảng CNCH và đào tạo NNL CNCH trong trường hợp cháy, nổ và thuộc phạm vi trách nhiệm của lực lượng cảnh sát PCCC, chứ không nghiên cứu CNCH và đào tạo NNL CNCH của các Bộ, ban, ngành và lĩnh vực khác Đồng thời, việc đào tạo NNL CNCH cũng chỉ được nghiên cứu trong chừng mực có liên quan đến hoạt động PCCC, tức CNCH trong chữa cháy Và cuối cùng, với nhận thức và quan điểm nghiên cứu như vậy, cộng với việc để thuận tiện cho việc trình bày, thuật ngữ PCCC&CNCH trong Luận án sẽ được viết ngắn gọn lại

thành PCCC, NNL PCCC&CNCH được viết gọn thành NNL PCCC

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu hoạt động đào tạo NNL PCCC ở

một số quốc gia, bao gồm Trung Quốc, Liên Bang Nga, Hoa Kỳ và Việt Nam Riêng tại Việt Nam, mặc dù Luận án cũng nghiên cứu công tác đào tạo PCCC cả

Trang 15

trong và ngoài nhà trường trên phạm vi cả nước, song do hoạt động động đào tạo NNL PCCC chính quy trong nhà trường chỉ tập trung (duy nhất) ở trường Đại học PCCC (bao gồm cả trung cấp, đại học và trên đại học), nên hầu hết các vấn

đề liên quan đến đào tạo NNL PCCC chính quy trong nhà trường ở Việt Nam lại xoay quanh hay trùng với hoạt động đào tạo tại trường này Ít ra thì hầu hết những minh họa cho các vấn đề liên quan đến đào tạo NNL PCCC chính quy trong nhà trường nói chung ở Việt Nam được đề cập trong Luận án đều lấy ví dụ tại trường Đại học PCCC

- Phạm vi về thời gian:

Đối với hoạt động đào tạo NNL PCCC của các quốc gia Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu thời gian từ khoảng hai thập kỷ trở lại đây, song có liên hệ và so sánh với các giai đoạn trước đó trong một số khía cạnh, khi cần thiết Đối với Việt Nam, thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 2001 (thời điểm Luật Phòng cháy và chữa cháy được ban hành và có hiệu lực) đến năm 2014, định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

- Tiếp cận hệ thống: Phân tích và đánh giá các vấn đề về đào tạo NNL

PCCC được đặt trong một phức hợp các yếu tố có liên quan và tác động qua lại với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất

- Tiếp cận liên ngành: Luận án tiếp cận vấn đề đào tạo NNL trong lĩnh

vực PCCC dựa trên sự phối hợp của nhiều ngành khoa học xã hội nhân văn như khoa học lịch sử, xã hội học, chính trị học, kinh tế học, giaos dục học,…

- Tiếp cận lịch sử: Quan điểm mang tính lịch sử cụ thể được quán triệt

trong quá trình nghiên cứu các vấn đề liên quan tới đào tạo NNL trong lĩnh vực PCCC ở một số giai đoạn lịch sử Đồng thời khi phân tích, đánh giá quan điểm

và thực trạng về đào tạo NNL PCCC, tác giả xem xét trong những bối cảnh lịch

sử và điều kiện cụ thể, nhìn nhận dưới góc độ logic phát triển

Trang 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ quá trình

thực hiện luận án nhằm phân tích và tổng hợp những kết luận về các quan điểm liên quan đến việc đào tạo NNL nói chung và NNL PCCC nói riêng, vận dụng để phân tích và tổng hợp những đánh giá về thực trạng đào tạo NNL PCCC trong giai đoạn hiện nay tại Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng nhằm hỗ trợ cho việc đánh

giá quá trình đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam so với những nội dung, tiêu chí đã

đề ra và so với một số quốc gia khác trên thế giới

- Phương pháp kế thừa: Luận án cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu về đào

tạo nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực PCCC và CNCH của các tác giả

trong và ngoài nước, nhất là những công trình được nêu ở Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và các tài liệu tham khảo trong

danh mục tài liệu tham khảo ở cuối Luận án để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu điển hình (tiếp cận điểm – case studies): Hoạt

động đào tạo NNL PCCC ở mỗi quốc gia có những đặc trưng khác nhau, do đó, khi nghiên cứu về đào tạo NNL PCCC, luận án đã lựa chọn phân tích thực trạng đào tạo lực lượng PCCC tại ba quốc gia điển hình về lĩnh vực này là Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga Và trong trường hợp Việt Nam, hoạt động đào tạo NNL PCCC và các vấn đề của nó tại trường Đại học PCCC sẽ được khai thác

và lấy làm ví dụ minh họa

5 Đóng góp mới của luận án

Trang 17

ra được những thành công và hạn chế, cùng các nguyên nhân chủ yếu của chúng,

và rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

+ Đồng thời, từ những kinh nghiệm đó, cộng với việc phân tích thực trạng đào tạo NNL PCCC tại Việt Nam thời gian 2001-2014, chỉ ra những đặc điểm và những vấn đề còn tồn tại của hoạt động này tại Việt Nam, luận án đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NNL PCCC của Việt Nam trong thời gian tới

- Về thực tiễn: Với những đóng góp như vậy, luận án có thể được sử dụng

làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan, các trường đại học và cao đẳng, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy có liên quan đến công tác này ở Việt Nam

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các Bảng, Biểu, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận

án bao gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nguồn nhân lực cho công

tác phòng cháy chữa cháy

Chương 3 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy tại

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga

Chương 4 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phòng

cháy chữa cháy tại Việt Nam

Trang 18

Chương 1:

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực

1.1.1 Nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về nguồn nhân lực

Những vấn đề lý luận về NNL nói chung và trong quá trình hiện đại hóa ở

nước ta đã được đề cập đến trong các cuốn “Quản trị Nhân sự” (NXB Thống kê) của Nguyễn Hữu Thân (2004), “Nghiên cứu con người và NNL đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (NXB Chính trị Quốc gia) của Phạm Minh Hạc

(2001), trong đó những khái niệm cơ bản về NNL và vai trò của NNL trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã được hệ thống hóa một cách khá cụ thể Theo Phạm Minh Hạc (2001), NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể NNL hiện có trong thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó ” Đồng thời, theo ông, trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế,

và khi các nền kinh tế có xu hướng chuyển dần sang nền kinh tế tri thức, NNL ngày càng thể hiện vai trò quan trọng của nó

1.1.2 Các nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo nguồn nhân lực

- Trong Giáo trình “Quản lý NNL trong tổ chức công”, NXB Đại học

Kinh tế quốc dân Hà Nội, Trần Thị Thu và Vũ Hoàng Ngân (2013) đã phân tích

cơ sở lý luận về đào tạo NNL trong tổ chức công bao gồm: các phương pháp đào tạo NNL, nội dung công tác quản lý đào tạo NNL trong tổ chức công và đường chức nghiệp của người lao động trong tổ chức công, đã đưa ra một số khái niệm

cơ bản về nội dung công tác đào tạo NNL trong các tổ chức công ở Việt Nam

- Trần Kim Dung trong cuốn “Quản trị NNL” (tái bản lần thứ 8, năm

2011), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, đã phân tích một số khái niệm về đào tạo và phát triển, các hình thức và phương pháp đào tạo, các nguyên tắc cơ bản trong học tập và việc thực hiện quá trình đào tạo

Trang 19

- Võ Xuân Tiến (2010) trong bài “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển NNL” đăng trên Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 5 (40) cho

rằng, NNL là tổng thể những tiềm năng của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định Đào tạo NNL là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận liên quan đến giáo dục, đào tạo và phát triển NNL Có thể kể ra một số nghiên cứu điển hình như:

- Bài viết “Theories Supporting Transfer of Training” của Siriporn

Yamnill và Gary N.Mclean đăng trên Tạp chí Human Resource Development, quyển 2, số 2/2001, mô tả ba yếu tố tác động tới chuyển giao đào tạo bao gồm: (i) Tại sao con người mong muốn thay đổi khả năng làm việc sau khi tham gia chương trình đào tạo, (ii) Chương trình đào tạo nào có thể giúp con người chuyển giao được các kỹ năng một cách thành công, và (iii) Môi trường tổ chức nào phù hợp để người học sau khi tốt nghiệp có thể áp dụng những kiến thức, kỹ năng và các giá trị khác mà người đó thu được trong một chương trình đào tạo cho công việc

- Cuốn sách dịch “Chương trình, Các phương pháp tiếp cận, Các vấn đề đang tiếp diễn” từ công trình nghiên cứu của Collin J Marsh và George Willis

(2005) đã phân tích khá sâu sắc chương trình đào tạo, các phương pháp xây dựng chương trình, xây dựng lý thuyết chương trình, sự thay đổi về phát triển chương trình đào tạo, quá trình lập kế hoạch chương trình đào tạo, thực hiện chương trình đào tạo, đánh giá giáo trình và lượng giá sinh viên, chính sách và việc ra quyết định giáo trình Đây là những phân tích cơ sở để có thể xây dựng chương trình đào tạo đem lại hiệu quả đào tạo cao nhất

- Michael Armstrong (2006) trong cuốn “A Handbook of Human Resource Management Practice”, NXB Đại học Cambridge, tái bản lần thứ 10, đã phân

tích những khái niệm cơ bản về quản lý con người, phát triển nguồn lực con

Trang 20

người và các mối quan hệ trong công việc Trong đó, tác giả cho rằng, quá trình học tập và phát triển bao gồm ba khía cạnh: học tập, đào tạo, và phát triển Trên thực tế, đào tạo đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo cho việc học tập và thúc đẩy sự phát triển NNL

- Báo cáo “Training and Development: A Prominent Determinant for Improving HR Productivity” của Hardeep Singh (2012) trong kỷ yếu Hội nghị Quốc

tế về “Đổi mới Quản lý và Giáo dục”, NXB IACSIT, Singapore đã trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến đào tạo và phát triển con người Báo cáo kết luận, quá trình đào tạo và phát triển góp phần thúc đẩy sự gia tăng năng suất của người lao động, giúp các tổ chức đạt được những mục tiêu dài hạn, góp phần cải thiện chất lượng công việc và cuộc sống, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh

- Các tác giả J Coyle-Shapiro, K Hoque, I Kessler, A Pepper, R Richardson và L Walker (2013) ở trường Đại học London trong một công trình

nghiên cứu về “Human resource management” đã bàn đến những vấn đề lý luận

cơ bản về quản lý NNL: các mô hình, chính sách và kế hoạch Đồng thời, các tác giả cũng trình bày một số quan điểm về đào tạo và phát triển NNL, các giai đoạn

để xây dựng một chương trình đào tạo Chương trình đào tạo cần được xây dựng dựa trên việc xác định nhu cầu về đào tạo, qua đó có thể tiến hành việc đào tạo và đánh giá quá trình đào tạo để có thể cải thiện các chương trình đào tạo tiếp theo

1.1.3 Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài về đào tạo nguồn nhân lực

- Cuốn sách Phát triển NNL – Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta

(1996) do Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm chủ biên, đã giới thiệu một số nội dung về kinh nghiệm phát triển NNL, trong đó bao gồm các chính sách phát triển NNL ở một số quốc gia trên thế giới

- Lê Thị Ái Lâm (2003), Phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Đây là một công trình

nghiên cứu khoa học công phu, tiếp cận vấn đề theo giác độ chuyên ngành Kinh

tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, được chia làm 3 phần Trong đó, ở Phần thứ nhất, tác giả đưa ra các luận giải lý thuyết về phát triển NNL thông qua giáo

Trang 21

dục và đào tạo trên cơ sở trình bày khái niệm phát triển NNL, phát triển con người, mối quan hệ giữa phát triển NNL với công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đồng thời tác giả đã đưa một bộ khung lý thuyết với các luận điểm chính, bao gồm: NNL đóng góp cho tăng trưởng kinh tế; NNL đóng góp cho nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và bất bình đẳng trong

xã hội; xu thế phát triển kinh tế thị trường và toàn cầu hoá tạo ra nhu cầu đại chúng đối với NNL Qua đó, tác giả Lê Thị Ái Lâm đã góp phần luận giải vai

trò của nâng cao chất lượng NNL thông qua giáo dục và đào tạo; Ở Phần thứ hai, với bốn chương, tác giả tập trung vào phân tích thực tiễn phát triển NNL

thông qua giáo dục và đào tạo tại các nước khu vực Đông Á, bao gồm các nội

dung chính như sau: Vai trò phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở các

nước Đông Á; Chiến lược Công nghiệp hóa và sự phù hợp lẫn nhau với phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á; Điều chỉnh phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo ở Đông Á; Vấn đề và giải pháp hiện nay của phát

triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo Đông Á Và Phần thứ ba đã tổng kết

được 5 bài học từ thực tiễn giáo dục và đào tạo NNL ở các quốc gia và lãnh thổ Đông Á, và trên cơ sở đó, đưa ra một số lưu ý về bối cảnh phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo hiện nay tại Việt Nam

- Bài viết của TS Phạm Thị Ly “Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ: Kinh nghiệm của Trung Quốc” đăng trên website của Trường Đại học

Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, truy cập ngày 09/4/2008 cho rằng, trong giáo dục đại học, Trung Quốc đang quyết tâm tạo ra những trường đại học đẳng cấp quốc

tế để cạnh tranh với những trường tốt nhất trên thế giới Chính phủ Trung Quốc đang đầu tư lớn vào hệ thống giáo dục đại học và đổi mới chất lượng giáo dục đại học, trong đó một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm là việc chuyển đổi sang hệ thống đào tạo theo tín chỉ

- Theo Nguyễn Thị Minh Phước (2011) trong bài viết “Phát triển NNL: Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới”, đăng trên Tạp chí Cộng sản, ngày

30/11/2011, hiện nay chính phủ Trung Quốc đang hết sức quan tâm đến việc đào

Trang 22

tạo và sử dụng hiệu quả NNL trong nước nhằm nâng cao chất lượng NNL khi chuyển dần sang nền kinh tế tri thức

- Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng trong bài viết “Đào tạo và phát triển NNL ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” đăng trên Tạp

chí Phát triển và Hội nhập, số 12 (22), tháng 09-10/2013, đã khảo sát kinh nghiệm về đào tạo và phát triển NNL ở một số quốc gia phát triển có NNL chất lượng cao như Mỹ, Nhật và một số quốc gia mới nổi có điều kiện văn hóa – xã hội gần gũi với Việt Nam như Trung Quốc và Singapore nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về đào tạo và phát triển trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

- Vũ Bá Thể (2005) trong cuốn sách “Phát huy nguồn lực con người để CNH, HĐH – Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Nxb Lao động – Xã

hội, Hà Nội, đã phân tích kinh nghiệm phát triển NNL của một số quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ và các nước châu Á – Thái Bình Dương; đánh giá thực trạng NNL của Việt Nam và đề ra các giải pháp phát triển NNL của Việt Nam bao gồm: phát triển giáo dục phổ thông, phát triển giáo dục cao đẳng, đại học và trên đại học, nâng cao hiệu quả sử dụng NNL hiện có, nâng cao trạng thái sức khỏe NNL

- Trần Khánh Đức (2014), Giáo dục và phát triển NNL trong thế kỷ XXI,

NXB Giáo dục Việt Nam, đã phân tích một số khái niệm và cách tiếp cận chương trình giáo dục, phân tích quy trình xây dựng chương trình đào tạo (bao gồm bối cảnh và nhu cầu đào tạo, hệ mục tiêu đào tạo, cấu trúc chương trình, nội dung đào tạo, thực hiện và đánh giá chương trình), chuyển đổi phát triển chương trình đào tạo theo năng lực, phát triển chương trình và tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giáo dục đại học Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích một số nội dung về đo lường và đánh giá kết quả học tập, các nội dung cơ bản về quản

lý giáo dục trong nhà trường Ngoài ra, cuốn sách cũng trình bày một số quan điểm về hệ thống giáo dục hiện đại và hệ thống giáo dục ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Hà Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các mô hình đánh giá đào tạo của các nước để từ đó rút ra những kinh nghiệm có ý nghĩa cho Việt Nam

Trang 23

1.1.4 Các nghiên cứu về giải pháp đào tạo nguồn nhân lực

- Luận án Tiến sĩ“Phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” của NCS Lê Thị Hồng Điệp (2010) đã đề cập đến thực trạng

phát triển NNL chất lượng cao và đưa ra một số giải pháp đối với vấn đề này Luận án phân tích tình hình gia tăng số lượng NNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, thực trạng điều chỉnh cơ cấu NNL chất lượng cao theo các ngành nghề

và khu vực, phân tích những điểm hạn chế trong phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam bao gồm: sự mất cân đối giữa số lượng và chất lượng NNL trình độ đại học, không bắt kịp và bị bỏ lại quá xa trong phát triển so với xu thế của nền kinh

tế tri thức hiện nay Từ đó luận án đề ra một số giải pháp bao gồm: tăng cường đầu

tư phát triển, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đổi mới tư duy giáo dục đại học, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên

- Luận án tiến sĩ “Phát triển NNL trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” của Lê Thị Mỹ Linh (2009) tại trường

Đại học Kinh tế Quốc dân, đã đánh giá thực trạng phát triển NNL trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thông qua từ các phiếu khảo sát và phỏng vấn, từ đó rút ra những nguyên nhân hạn chế và đưa ra một số giải pháp kiến nghị Kết quả phân tích của luận án chỉ ra rằng, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý cũng như người lao động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện đang thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực

và chưa đáp ứng được yêu cầu kinh doanh Tác giả nêu ra một số giải pháp bao gồm: nâng cao nhận thức của các chủ doanh nghiệp, xây dựng chính sách phát triển NNL, hoàn thiện hoạt động quản lý, phát triển nghề nghiệp cho người lao động, hoàn thiện công tác đánh giá kết quả thực hiện công việc

1.2 Các nghiên cứu về công tác đào tạo nguồn nhân lực cho phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan đến cơ sở lý luận về hoạt động phòng cháy chữa cháy và lực lượng phòng cháy chữa cháy

- Công trình nghiên cứu của Ngô Văn Xiêm (1995) “Nghiên cứu sự chuyển đổi nhận thức về hoạt động PCCC từ khi chuyển sang kinh tế thị trường”

Trang 24

đã có những kiến giải hữu ích về sự chuyển đổi nhận thức về các hoạt động PCCC Công trình này khẳng định rằng cần phải thay đổi để có cách nhìn phù hợp về hoạt động PCCC ở nước ta trong giai đoạn mới

- Nguyễn Mạnh Hà (2008), trong Luận án Tiến sĩ “Hoạt động điều tra các

vụ án cháy của lực lượng Cảnh sát nhân dân” bảo vệ tại Học viện Cảnh sát

Nhân dân, đã làm rõ những lý luận cơ bản về hoạt động điều tra các vụ án cháy của lực lượng cảnh sát nhân dân trên cơ sở tổng hợp, phân tích các văn bản pháp luật, các tài liệu lý luận trong và ngoài nước có liên quan

- Công trình nghiên cứu “Role of a Firefighter” của Cơ quan PCCC tại

New South Wales, Australia (2010), đã xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể của người lính cứu hỏa ngoài các nhiệm vụ cơ bản là chiến đấu làm dập tắt và hạn chế tổn thất do đám cháy gây ra, còn phải làm thêm các chức năng nhiệm vụ khác như điều tra để xác định nguyên nhân và ngăn chặn sự cố hỏa hoạn, giáo dục cộng đồng và các hoạt động có liên quan đến an toàn và ngăn ngừa hỏa hoạn, quản lý các vật liệu nguy hiểm, phòng chống bão lụt, phát triển các kỹ năng nghề nghiệp thông qua hoạt động đào tạo và nghiên cứu thường xuyên, Theo các tác giả, để có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó, đào tạo là một yếu tố quan trọng để tạo điều kiện và nâng cao năng lực cho người lính cứu hỏa nhằm duy trì và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp

- Luận án tiến sĩ của Jefffrey C.Fox, Prescolt Valley (2009) “Analyzing

Leadership styles of Incident Commaders” (Northcentral University, Hoa Kỳ) đã

hệ thống hóa được các mô hình chỉ huy xử lý tai nạn, thảm họa, sự cố và từ đó

đề xuất các mô hình đặc thù để áp dụng với các điều kiện phù hợp

1.2.2 Nghiên cứu lý thuyết về đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Những cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định nhu

cầu nhân lực và tổ chức đào tạo cán bộ phòng cháy chữa cháy cho các ngành, đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội” của TS Đào Quốc Hợp, Bùi Xuân Hòa và Đặng

Trung Khánh (2006) đã đưa ra một số khái niệm và quan điểm về đào tạo và nâng

Trang 25

cao chất lượng đào tạo NNL PCCC trong giai đoạn hiện nay Đề tài phân tích những nhiệm vụ cơ bản của lực lượng dân phòng, lực lượng phòng cháy và chữa cháy trên cơ sở phân tích kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng lực lượng PCCC và qua đó xác định nhu cầu đào tạo NNL PCCC

- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Dịch vụ phòng cháy chữa cháy trong nền kinh tế thị trường và yêu cầu đối với việc đào tạo NNL làm công tác phòng cháy, chữa cháy ở nước ta từ nay đến năm 2020” của TS Nguyễn Quang Thứ (2010)

đã đề cập đến những yêu cầu và các tiêu chí để đào tạo lực lượng PCCC đáp ứng những yêu cầu mới trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ở nước ta Lực lượng PCCC ngày nay không chỉ cần đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe, thể chất mà còn cần được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ và nhất là về đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp với yêu cầu về chất lượng đào tạo ngày càng cao trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế

- Ngoài ra còn có nhiều công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam luận bàn về cơ sở lý luận, các mô hình lý thuyết và những vấn đề thực tiễn liên quan đến việc đào tạo NNL và đào tạo NNL trong lĩnh vực PCCC Song nhìn chung các nghiên cứu này hầu hết đều chưa đề cập trực tiếp hoặc chưa hệ thống hóa được cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn riêng cho công tác đào tạo NNL PCCC

1.2.3 Các nghiên cứu về giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy ở Việt Nam

- Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Công an “Những giải pháp đảm bảo chất

lượng đào tạo Đại học phòng cháy chữa cháy” do Vũ Văn Bình làm chủ nhiệm

đề tài (2003) đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo cán bộ và nhân viên tại trường Đại học PCCC

Một số bài báo, báo cáo chuyên đề liên quan đến vấn đề này bao gồm:

- Bài viết “Đổi mới công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Lê Thế Tiệm (Thứ trưởng Bộ Công an) đang trên Tạp chí

Trang 26

Khoa học và giáo dục PCCC, số 3, tháng 1/2009, tr 6-8) đã chỉ ra những vấn đề

bất cập trong công tác đào tạo NNL PCCC và đưa ra một số phương phướng về nâng cao hiệu quả công tác đào tạo như mở rộng quy mô và hình thức đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới nội dung chương trình đào tạo, tăng cường hợp tác quốc tế trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Bài viết “Tăng cường hợp tác quốc tế trên lĩnh vực phòng cháy chữa cháy trong tình hình mới” của Trần Đại Quang (Thứ trưởng Bộ Công an) trên Tạp chí PCCC, số 7, tháng 2/2010, tr.6-7, đã chỉ rõ vai trò của việc hợp tác quốc tế trong

lĩnh vực đào tạo và nâng cao năng lực của cán bộ PCCC ở nước ta

- Một số bài viết khác bao gồm: “Thực trạng và các giải pháp tăng cường

sự gắn kết nghiên cứu khoa học, đào tạo và thực tiễn chiến đấu của lực lượng” của Đỗ Ngọc Cẩn (Hiệu trưởng trường Đại học PCCC) trên Tạp chí PCCC, số 7, tháng 2/2010, tr.8-9; “Một số suy nghĩ về xây dựng lực lượng cảnh sát PCCC đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới” của Nguyễn Mạnh Hà (Tạp chí khoa học và giáo dục PCCC, số 5, tháng 9/2009, tr 14-15); “Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” của Đặng Văn Hiếu (Thứ trưởng Bộ Công an), Tạp chí PCCC, số 01/2010, tr.8-9 nói chung đều

đã chỉ ra và phân tích được một số vấn đề hạn chế trong công tác đào tạo và xây dựng lực lượng PCCC đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới, qua đó nêu ra một

số phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo lực lượng PCCC

1.3 Các nghiên cứu về kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ ở Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga

Ở Việt Nam và trên thế giới, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên bang Nga đã có không ít các công trình nghiên cứu có liên quan đến đào tạo NNL PCCC Các nghiên cứu điển hình có thể kể đến như sau:

- Đinh Thúy Lan trong bài viết Chương trình đào tạo thạc sỹ PCCC tại WPI của Hoa Kỳ đăng trên Nội san An toàn PCCC, số 1 (2007-008) đã mô tả nội

Trang 27

dung chương trình các môn học đào tạo thạc sỹ kỹ thuật PCCC ở Hoa Kỳ bao gồm: mô hình cháy, ngăn cháy ở mức cao, phát hiện, báo động và kiểm soát khói, quản lý rủi ro trong hoạt động, đánh giá kỹ thuật an toàn cháy, phân tích lỗi, các vấn đề đặt biệt, Trong đó, việc quản lý rủi ro và giảm thiểu những tổn thất khi có biến cố xảy ra là những mục tiêu quan trọng nhất

- Ở Hoa Kỳ, việc đảm bảo an toàn cho nhân viên PCCC cũng được đề cao, do đó, vấn đề đảm bảo thể chất và kiểm soát tâm lý căng thẳng là những vấn

đề luôn được chú trọng như là một nội dung đào tạo NNL PCCC ở quốc gia này

Công trình Effect of work-related stress on Firefighter/parametic của Mark C

Shantz (2002) nghiên cứu về tác động của công việc đối với sự căng thẳng tâm

lý của lính cứu hỏa và đưa ra các biện pháp đào tạo và hỗ trợ liên quan để giảm tải vấn đề nghiêm trọng này

- Trixie G Lohrke (2011) trong tác phẩm “Analyzing the need for special operations teams within the fire service” cho rằng, việc dập tắt đám cháy và cứu hộ

cứu nạn là nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động cứu hỏa, nhưng không phải mọi nỗ lực đều được thực hiện, vì vậy cơ quan cứu hỏa đã thành lập các đội hoạt động đặc biệt bao gồm các nhân viên chuyên nghiệp được đào tạo ở trình độ cao Điều đó có nghĩa là, các nhân viên PCCC cần được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ PCCC ở trình độ cao

- Cùng chung quan điểm này, Nick Geis (2012) trong “The higher education factor: The role of higher education in the hiring and promotioning practices in the fire service” cho rằng, cùng với sự tiến bộ và áp dụng ngày các

nhiều các thành tựu vào công tác cứu nạn cứu hộ và PCC, sự gia tăng giáo dục đại học đối với lực lượng cứu hỏa ở Hoa Kỳ là một chiến lược và nội dung đào tạo cần thiết nhằm đáp ứng những yêu cầu và thách thức mới trong bối cảnh dịch

vụ cứu hỏa hiện đang ngày càng trở nên phức tạp

- Andrew M Cuomo, Bryan D Stevens and Jerome M Hauer, thuộc Bộ

An ninh nội địa và Dịch vụ khẩn cấp (Division of Homeland Security and

Emergency Services) (2012, 2013), trong các Báo cáo hàng năm: “2012 Annual

Trang 28

Report of Firefighter Training” and “2013 Annual Report of Firefighter Training) của Bộ này cũng đã đề cao vai trò của việc đào tạo chất lượng cao

(trình độ khoa học và công nghệ) trong các chương trình đào tạo lực lượng cứu hỏa ở Hoa Kỳ trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ mới và kinh tế tri thức hiện nay

- Ở Trung Quốc, hệ thống đào tạo lực lượng PCCC được phân bổ ở nhiều địa phương trên cả nước Bài viết Hệ thống đào tạo cán bộ PCCC ở Trung Quốc

của Đỗ Ngọc Cẩn đăng trên Nội san An toàn PCCC, số 1 (2007-2008) đã nhận

định, hệ thống đào tạo cán bộ PCCC ở Trung Quốc hiện nay được xây dựng khá hoàn chỉnh với 01 Học viện đào tạo cán bộ trình độ đại học và cao học và nhiều Trung tâm huấn luyện ở địa phương để tiến hành các khóa đào tạo ngắn hạn về kỹ năng, kỹ thuật cho các sỹ quan, chiến sỹ chữa cháy và nhân viên chữa cháy của các cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội khác ngoài lực lượng vũ trang

- Zhengyang An (2012) trong bài viết “Exploration of Teaching Research and Teaching Reformation of Fire Combustion Science” đăng trên Lecture Notes

in Information Technology, Vols 16-17, đã đề cập đến các vấn đề đổi mới giảng

dạy trong lĩnh vực PCCC nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo lực lượng PCCC ở Trung Quốc

- Christine Wrong, làm việc tại Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc (Anh)

trong bài viết “Rebuilding Government for the 21st Century: Can China Incrementally Reform the Public Sector” công bố năm 2008 đã làm rõ một số

vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc cải tổ dịch vụ công nói chung và dịch vụ PCCC nói riêng ở Trung Quốc trong thế kỷ 21

- Báo cáo tóm tắt nội dung dự án đào tạo cán bộ PCCC ở Bắc Kinh có tên

“Project for Beijing Municipal Education and Training for Fire Fighting and Prevention” nêu rõ tầm quan trọng của việc đào tạo lực lượng nhân viên PCCC

chuyên nghiệp ở Bắc Kinh Dự án này kéo dài từ năm 1997-2002 và tiếp tục từ năm 2003-2005, với sự hợp tác của nhiều chuyên gia Nhật Bản và được sự hỗ trợ

về kinh phí của Nhật Bản, tập trung vào ba lĩnh vực: đào tạo về chiến thuật và kỹ thuật PCCC, tuyên truyền giáo dục về phòng cháy và kiểm soát sự cố cháy nổ

Trang 29

- Các tác giả Zhang Yan & Wang Xiaodong trong bài “Safety issues heat

up for firefighters” đăng trên Trung Hoa Nhật báo (China Daily) tháng 2 năm

2015 cho rằng, việc thiếu các chuyên gia về PCCC và nhân viên PCCC chưa được đào tạo chuyên nghiệp đang là một trở ngại lớn đối với các sở phòng cháy của Trung Quốc trong công việc Trên thực tế, phần lớn lực lượng nhân viên PCCC của Trung Quốc được tuyển từ lính đi nghĩa vụ quân sự, vì vậy ít được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ PCCC Do đó, theo các tác giả, việc đổi mới và tăng cường các dự án đào tạo chuyên nghiệp đối với lực lượng PCCC

ở Trung Quốc là yêu cầu hết sức cấp thiết hiện nay

- Bài báo “Russia’s firefighting service: A glance into history” trên kênh radio “The Voice of Russia” năm 2010 đưa ra nhận xét, lực lượng PCCC của Nga

tương đối hùng mạnh với đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên nghiệp, thiết bị chữa cháy hiện đại, cơ sở nghiên cứu và cơ sở vật chất cho đào tạo khá phát triển

Ở Nga, nhiệm vụ phòng cháy và chữa cháy được coi là trách nhiệm của cả cộng đồng, vì vậy, công tác tuyên truyền về PCCC cũng như công tác đào tạo, không chỉ chuyên nghiệp mà cả lực lượng dân phòng tại chỗ, đều được hết sức chú trọng

- Bài viết “Saint-Petersburg University of State Fire Service of Russian Ministry of Emergency Situations” đăng trên trang EMERCOM of Russia giới

thiệu về việc đào tạo lực lượng PCCC chuyên nghiệp tại trường Đại học Petersburg Đây là trường đại học hàng đầu ở Nga về đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực PCCC Mục tiêu đào tạo của trường, cũng là mục tiêu đào tạo chung của các trường đại học và cao đẳng về PCCC ở Nga, là đào tạo các chuyên gia bảo vệ sự an toàn cho cuộc sống của người dân Các chương trình đào tạo luôn được đổi mới để đáp ứng nhu cầu về đào tạo và nâng cao trình độ của lực lượng PCCC đáp ứng yêu cầu của thực tế phát triển kinh tế và xã hội của đất nước

Saint-1.4 Nhận xét về tình hình nghiên cứu

Sau khi điểm lại và tổng quan về các công trình cũng như các tác giả trong

và ngoài nước có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, tác giả đưa ra một số nhận định như sau:

Trang 30

- Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về đào tạo NNL trong các ngành và tổ chức nói chung, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu đề cập đến việc đào tạo NNL trong lĩnh vực PCCC Các nghiên cứu và báo cáo đó mới chỉ tiếp cận ở góc độ đánh giá bên ngoài, chưa thực sự nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Đối với các công trình nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của các tác giả Việt Nam, hầu hết mới chỉ dừng lại ở các vấn

đề nghiên cứu riêng biệt đối với lực lượng cảnh sát PCCC của Việt Nam mà

chưa đi vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đào tạo NNL Cảnh sát PCCC

- Các nghiên cứu về kinh nghiệm đào tạo NNL PCCC ở nước ngoài, đặc biệt

là ở các nước Hoa Kỳ, Liên bang Nga và Trung Quốc không có nhiều Hầu hết đều không tập trung vào phân tích thực trạng đào tạo lực lượng PCCC mà chỉ khai thác một số khía cạnh có liên quan như phương pháp đào tạo, các vấn đề của quá trình đào tạo, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo

- Đối với các nghiên cứu về thực trạng và giải pháp đào tạo NNL PCCC ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu và bài viết đã phản ánh được bức tranh chung về NNL và NNL PCCC ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp trên cơ sở phân tích khoa học, tuy nhiên các giải pháp được đưa ra còn tương đối chung chung và chưa công trình hay bài viết nào nghiên cứu về những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo NNL PCCC ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án với chủ đề trên của NCS sẽ kế thừa các quan điểm về tính cấp thiết cần phát triển NNL PCCC cho Việt Nam cũng như rút ra những mấu chốt nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trên liên quan đến công tác đào tạo NNL PCCC

Nghiên cứu của Luận án cũng sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu trên thế giới để đề xuất các hoạt động đào tạo cho cơ sở đào tạo đối với học viên PCCC trong việc ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào hoạt động PCCC Những đề xuất về cung cấp thiết bị, công nghệ mới đáp ứng yêu cầu về PCCC trong tình hình mới ở Việt Nam đối với các cơ sở đào tạo trong hoạt động thực hành cho học viên cũng như tại các cơ sở thực hiện nhiệm vụ PCCC

Trang 31

Kế thừa các kết quả nghiên cứu đã đề cập đến ở trên, nhưng tác giả tập

trung đi sâu vào phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn công tác đào tạo

NNL PCCC cho Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới và nâng cao chất

lượng đào tạo NNL PCCC để đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước từ nay đến

năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Kết quả của luận án góp phần vào việc

hoàn thiện hơn các điều kiện và chương trình nội dung đào tạo NNL PCCC,

nhằm nâng cấp và bổ sung NNL PCCC ở Việt Nam có chất lượng ngày càng cao

từ nay cho đến năm 2030

Trang 32

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực (NNL) hay nguồn lực con người và mỗi quan điểm lại có cách tiếp cận riêng và thực tế khái niệm NNL nào được thừa nhận tùy vào đối tượng và mục đích cụ thể

Theo Ngân hàng thế giới, “NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,… của mỗi cá nhân” Như vậy, nguồn lực con

người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền

tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và NNL bao gồm không chỉ thể lực (sức khỏe), trí lực (tức học vấn được đào tạo), mà cả kỹ năng nghề nghiệp (trình độ lành nghề), mà cả đạo đức nghề nghiệp hay tâm lực (tác phong làm việc, trách nhiệm với công việc, với khác hàng, ) [44, tr.12-14]

Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organissation – ILO) cho

rằng: NNL của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động Theo cách tiếp cận của ILO, NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển của xã hội Do đó, NNL bao gồm toàn

bộ dân cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [62, tr.61]

Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc

dân (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh chủ biên, năm 2008), “nguồn nhân lực”

Trang 33

được định nghĩa là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định [23]

Các khái niệm trên đều định nghĩa nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô toàn nền kinh tế hay quốc gia Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, đối tượng nghiên cứu là vấn đề đào tạo NNL cảnh sát PCCC, vì vậy khái niệm NNL sẽ đề cập chủ yếu đến NNL trong tổ chức công hoặc rộng hơn một chút là trong một ngành hay lĩnh vực kinh tế, xã hội

Bùi Văn Nhơn (2004) trong Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức” của Học viện Hành chính quốc gia, đưa ra khái

niêm, nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành NNL của xã hội Đó

là tất cả những người làm việc trong tổ chức, có những yêu cầu, đòi hỏi riêng do tính chất, đặc điểm và việc làm trong tổ chức quyết định [61]

Theo Giáo trình quản trị nhân lực của Nguyễn Văn Điềm & Nguyễn Ngọc

Quân (2004), NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người và

có thể gồm cả thể lực và trí lực [34, tr.8] Trong đó, trí lực được hiểu không chỉ là sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu, mà còn cả quan điểm, lòng tin, nhân cách, tức tâm lực của từng con người

Trong luận án này, khái niệm NNL được hiểu như sau: NNL của một tổ chức hoặc rộng hơn trong một lĩnh vực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức hay lĩnh vực đó, bao gồm tổng thể những tiềm năng lao động gồm thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của

tổ chức và hoàn thành tốt các mục tiêu của tổ chức hay lĩnh vực đó và thúc đẩy

sự phát triển của nền kinh tế - xã hội

Với quan niệm và giới hạn nghiên cứu như vậy, Luận án sẽ tập trung nghiên cứu việc đào tạo NNL trong lĩnh vực cụ thể (lĩnh vực PCCC), còn các vấn đề thuộc đào tạo NNL trên phạm vi vĩ mô cả nước, phạm vi toàn nền kinh tế

sẽ được đề cập trong chừng mực có liên quan và hỗ trợ cho đào tạo NNL của lĩnh vực này

Trang 34

2.1.2 Nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ

Nguồn nhân lực phòng cháy chữa cháy

Qua những quan điểm chính về NNL nêu trên có thể hiểu được một cách cơ bản nhất về NNL ở tầm tổng quát dưới góc độ kinh tế phát triển và quản lý nhà nước về NNL Tuy vậy, NNL trong một lực lượng khá đặc thù vừa thực hiện dịch vụ công, vừa thực hiện công tác quản lý nhà nước, đồng thời được biên chế trong lực lượng Công an nhân dân như cảnh sát, nên NNL PCCC &CNCH ở Việt Nam lại có khái niệm và những đặc điểm riêng

Ở một số nước trên thế giới, NNL PCCC còn được gọi là nhân viên PCCC hoặc lính cứu hỏa, là người được đào tạo một cách đầy đủ về phòng cháy chữa cháy, chủ yếu để có thể dập tắt được đám cháy nguy hiểm đe dọa tài sản và cứu người bị nạn thoát khỏi nguy hiểm do sự cố, tai nạn hoặc các rủi ro khác đang đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của họ

Hoạt động PCCC, hay ở một số nước được thực hiện dưới dạng dịch vụ PCCC, được tổ chức dưới dạng một đơn vị PCCC và là một trong những dịch vụ khẩn cấp chủ yếu của các quốc gia trên thế giới giống như cấp cứu y tế hay lực lượng cảnh sát phản ứng nhanh Hoạt động PCCC và nhân viên PCCC đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới, từ các khu vực làng mạc xa xôi cho tới các khu vực

đô thị, thậm chí ngay cả trên các con tầu chuyên chở hành khách đông người

Thuật ngữ lính cứu hỏa (firefighter) trong tiếng Anh được sử dụng từ năm

1903 thay cho thuật ngữ “fireman” do đã có sự tham gia của nữ giới vào các hoạt động PCCC một cách chính thức, đồng thời, bản thân thuật ngữ “firefighter” có nhiều ý nghĩa sát hơn với hoạt động PCCC (như chống cháy, phòng cháy, ) trong khi thuật ngữ “fireman” lại bao gồm cả một số nghĩa trái ngược với vai trò chữa cháy (như người gây cháy hoặc đốt cháy, )

NNL PCCC ở nhiều nước, ngoài những người được biên chế chính thức như các cán bộ nhân viên nhà nước với thời gian công tác và chế độ phúc lợi xã hội thông thường, còn có cả các tình nguyện viên PCCC tham gia hoạt động PCCC được chi trả thù lao theo thời gian công tác cụ thể và họ thường làm nhiệm vụ này dưới dạng bán thời gian hoặc trên cuộc gọi theo yêu cầu

Trang 35

Cảnh sát và các nhân viên PCCC được đào tạo về nghiệp vụ và các kỹ năng cần thiết để có kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm khi tham gia các hoạt động PCCC Đồng thời, Cảnh sát và các nhân viên PCCC cũng sẽ là người cung cấp các thông tin cần thiết cho các cơ quan điều tra về hỏa hoạn cũng như các thảm họa cháy nổ liên quan Ở một số nước, công tác PCCC là trách nhiệm của/và có liên quan đến công tác nghiệp vụ của cơ quan cảnh sát, trong khi ở một số nước khác, công tác PCCC lại thuộc lực lượng dân sự, không thuộc các đơn vị cảnh sát, và lực lượng PCCC nói chung không thực thi các nhiệm vụ của cơ quan an ninh hay cảnh sát Tại Việt Nam, lực lượng PCCC được biên chế trong lực lượng công an nhân dân, chịu sự quản lý của Bộ Công an Chính vì vậy, cảnh sát PCCC

ở Việt Nam có những đặc điểm riêng so với một số nước khác Sự khác biệt này

sẽ được đề cập ở nhiều nội dung khác nhau của luận án đối với công tác huấn luyện, công tác đào tạo cũng như các giải pháp để nâng cao chất lượng NNL cho lực lượng này ở Việt Nam

Nghiệp vụ PCCC có những kỹ năng cơ bản, bao gồm: phòng ngừa cháy nổ, chữa cháy, cứu người, cứu tài sản, chăm sóc y tế cơ bản, điều khiển và kiểm soát đám cháy, Với sức hủy diệt nhanh chóng và sự lan tỏa của hơi nóng, khói khí độc rất nhanh thì an toàn tính mạng của con người trong các đám cháy trở nên cấp thiết đòi hỏi lính PCCC phải có thể lực, trí lực, nhân cách tốt (đặc biệt là lòng dũng cảm quên mình vì nạn nhân) cùng với kinh nghiệm quý báu để có những phương án giải cứu nạn nhân một cách hiệu quả

Ở Việt Nam, Điều 43 Luật PCCC quy định, lực lượng PCCC là lực lượng nòng cốt trong hoạt động phòng cháy và chữa cháy của toàn dân, bao gồm: (i) lực lượng dân phòng; (ii) lực lượng PCCC cơ sở; (iii) lực lượng PCCC chuyên ngành; và (iv) lực lượng cảnh sát PCCC [66]

Nguồn nhân lực cứu nạn cứu hộ

Lực lượng PCCC của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay đều được giao thực hiện nhiệm vụ trong các trường hợp khẩn cấp, như: Sụp đổ công trình, các trường hợp đuối nước, rò rỉ gas, tràn dầu, tai nạn đường bộ và đường sắt, cứu hộ

Trang 36

động vật, cây đổ, tham gia một phần trong phòng chống thiên tai và tư vấn trong việc thực hiện phòng chống cháy và an toàn cháy nổ trong các ngành công nghiệp và các tòa nhà cao tầng và các công trình có nguy cơ cháy nổ đặc biệt

Ví dụ, ở Australia, nhân viên cứu hỏa ngoài nhiệm vụ ngăn ngừa và dập tắt đám cháy còn đảm nhiệm thêm các nhiệm vụ về CNCH bao gồm: khắc phục hậu quả do bão lụt, tai nạn giao thông, cứu hộ và sơ cứu người gặp nạn, [145, tr.1]

Trong điều kiện kinh tế và đô thị hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, trong

xu thế chung về hội nhập quốc tế, nên gần đây, lực lượng cảnh sát PCCC của Việt Nam cũng được giao thêm các nhiệm vụ về CNCH bên cạnh các hoạt động thường xuyên có tính bắt buộc là phòng cháy và chữa cháy

Tuy vậy, theo quyết định số 76/2009/QĐ-TTg, ngày 11/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ, việc CNCH còn là trách nhiệm của các Bộ, Ban, ngành khác, như [75]:

- Các đơn vị chuyên trách:

+ Bộ Quốc Phòng (Cục CNCH, Trung tâm Quốc gia huấn luyện, tìm kiếm cứu nạn đường không; Trung tâm Quốc gia huấn luyện, tìm kiếm cứu nạn đường biển; Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Bắc, Trung tâm ứng phó

sự cố tràn dầu khu vực miền Trung)

+ Bộ Công an (Các đơn vị thuộc lực lượng cảnh sát PCCC)

+ Bộ Giao thông vận tải (Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam và Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải khu vực; Các Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không trực thuộc Tổng Công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam; Các trung tâm cấp cứu khẩn nguy sân bay trực thuộc Tổng Công ty Cảng hàng không các khu vực; Trung tâm ứng phó sự cố, thiên tai

và cứu nạn đường sắt trực thuộc Tổng Công ty đường sắt Việt Nam và các trung tâm ứng phó sự cố, thiên tai và cứu nạn đường sắt khu vực; Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực Miền Nam; Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt nam có Trung tâm cấp cứu mỏ)

- Các đơn vị kiêm nhiệm:

Trang 37

+ Bộ Quốc phòng (Các trạm tìm kiếm, cứu nạn tại một số huyện đảo; Các tiểu đoàn công binh tìm kiếm, cứu nạn do sập đổ công trình; Các đội ứng phó sự

cố hóa học, sinh học và phóng xạ hạt nhân; Các đội quân y cứu trợ thảm họa; các đội bay tìm kiếm, cứu nạn đường không, các đội tàu tìm kiếm, cứu nạn đường biển);

+ Bộ Công an (Các đơn vị của lực lượng cảnh sát giao thông, bảo vệ và hỗ trợ tư pháp);

+ Bộ Giao thông vận tải (Các trung tâm phối hợp cứu nạn đường bộ Việt Nam)

Theo Quyết định số 44/2012/QĐ-TTg ngày 15/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định về công tác CNCH của lực lượng Phòng cháy và chữa cháy; cứu hộ là các hoạt động cứu phương tiện, tài sản thoát khỏi nguy hiểm hoặc hoạt động cứu trợ phương tiện, tài sản đang bị nguy hiểm; hoạt động này được thực hiện thông qua thỏa thuận cứu hộ giữa tổ chức, cá nhân đề nghị được cứu hộ với

tổ chức, cá nhân thực hiện việc cứu hộ Cứu nạn là là các hoạt động để cứu người

bị nạn thoát khỏi nguy hiểm đang đe dọa tính mạng của họ, bao gồm cả tư vấn biện pháp y tế ban đầu, các biện pháp để đưa người bị nạn đến vị trí an toàn [78]

Ngày 26/11/2013, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 65/2013/TT-BCA quy định chi tiết thi hành một số điều của Quyết định số 44/2012/QĐ-TTg ngày 15/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định về công

tác CNCH của lực lượng Phòng cháy và chữa cháy [11] Theo đó, lực lượng cảnh sát PCCC chính thức được giao nhiệm vụ CNCH đối với các tình huống tai nạn, sự cố trong sinh hoạt, vui chơi, giải trí, lao động sản xuất hàng ngày được

quy định trong điều 12 Quyết định số 44/2012 Phạm vi hoạt động CNCH của lực lượng cảnh sát PCCC được thực hiện trên đất liền và thủy nội địa

Từ những khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, về lực lượng PCCC và lực lượng CNCH nêu trên, luận án này đi đến khái niệm về NNL PCCC&CNCH nói

chung như sau: NNL PCCC&CNCH được hiểu là những người được đào tạo hoặc tự đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ PCCC&CNCH và được làm việc cho

Trang 38

các cơ quan, tổ chức chuyên trách về PCCC&CNCH, các cơ quan hay tổ chức khác nhằm thực hiện các công việc liên quan đến công tác PCCC &CNCH

Trong phạm vi luận án này, để có thể nghiên cứu được thấu đáo vấn đề đào tạo nguồn nhân lực PCCC&CNCH, ngoài NNL PCCC và việc đào tạo NNL PCCC, Luận án chỉ đề cập đến NNL và việc đào tạo NNL thực hiện nhiệm vụ CNCH của lực lượng cảnh sát PCCC, chứ không đề cập đến NNL CNCH của các đơn vị kiêm nhiệm thuộc Bộ Công an, và càng không đề cập đến NNL CNCH của các đơn vị chuyên trách thuộc các Bộ, Ban, ngành khác

2.1.3 Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực

Theo Cerrel (1995) và các cộng sự, đào tạo có hai loại: đào tạo chung và đào

tạo chuyên sâu Đào tạo chung được áp dụng để nhân viên có được các kỹ năng có thể sử dụng ở mọi nơi Đào tạo chuyên sâu được áp dụng để tạo cho các nhân viên có

được các thông tin và kỹ năng chuyên biệt, áp dụng cho công việc của mình tại nơi làm việc [110]

Cerrel và các cộng sự cho rằng, khái niệm đào tạo được sử dụng trong trường hợp các nhân viên (không phải các quản trị gia) học tập, lĩnh hội các kiến thức, kỹ thuật Quan điểm này cho rằng đào tạo là dành cho các nhân viên, khác với khái niệm phát triển chỉ dành cho các quản trị gia hoặc quản trị gia tương lai Các chương trình đào tạo chỉ tập trung vào một số vấn đề, trong khi các chương trình phát triển chú ý đến nhiều nhóm kỹ năng hoặc các vấn đề rộng hơn Các chương trình đào tạo thường chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu trước mắt, trong khi các chương trình phát triển thường hướng đến mục đích lâu dài [110, tr 398-400]

Trái với quan điểm của Cerrel, Wayne lại cho rằng khái niệm đào tạo và phát triển sẽ được dùng thay đổi cho nhau và đều bao gồm các chương trình được hoạch định nhằm hoàn thiện việc thực hiện công việc ở các cấp: cá nhân, nhóm và doanh nghiệp Vấn đề hoàn thiện việc thực hiện công việc sẽ kéo theo những thay đổi có thể đo lường được về kiến thức, kỹ năng, quan điểm và hành

vi xã hội [162, tr.232]

Trang 39

Nhìn chung, đa số các quan điểm về đào tạo nhân lực đều cho rằng khái niệm đào tạo được sử dụng dành cho tất cả các đối tượng, bao gồm cả nhân viên cũng như các nhà quản lý Các quan điểm hiện đại cũng cho rằng, đào tạo nhằm thúc đẩy học tập nhằm củng cố kỹ năng, thay đổi thái độ, hành vi và đào tạo là dựa trên cơ sở người học

Michael Armstrong (2006) trong cuốn “A Handbook of Human Resource Management Practice”, tái bản lần thứ 10, Nhà xuất bản Đại học Cambridge,

đưa ra quan điểm cho rằng, đào tạo là việc sử dụng các hoạt động giảng dạy có

hệ thống và có kế hoạch để thúc đẩy học tập Cách tiếp cận này có thể được tóm tắt bằng cụm từ “đào tạo dựa trên cơ sở người học” [142] Như vậy, đào tạo liên quan đến việc vận dụng các quá trình chính thức để truyền đạt kiến thức và giúp con người đạt được những kỹ năng cần thiết cho công việc của mình

Hardeep Singh (2012) trong báo cáo “Training and Development: A Prominent Determinant for Improving HR Productivity” tại Hội nghị Quốc tế về

Quản lý và Đổi mới Giáo dục, số 37 (2012), Nhà xuất bản IACSIT, Singapore,

đã đưa ra khái niệm “đào tạo” như sau: “Đào tạo là một quá trình học tập liên quan đến việc tiếp thu kiến thức, củng cố các kỹ năng, khái niệm, quy tắc hoặc thay đổi thái độ và hành vi nhằm nâng cao hiệu suất công việc của người lao động” Như vậy, đào tạo là hoạt động dẫn đến hành vi có kỹ năng”[127]

Công trình “Human Resource Management” của Hiệp hội các nhà điều

hành quản trị doanh nghiệp Anh quốc (ABE-UK) cho rằng, không một tổ chức nào có thể thực hiện được các chức năng và nhiệm vụ của mình mà không có vai trò của con người, đặc biệt là con người được đào tạo và phát triển các kỹ năng nghề nghiệp Như vậy, việc đào tạo có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của một tổ chức Các tổ chức luôn trong tiến trình thay đổi, do

đó nếu như kỹ năng và kiến thức của con người không tiến bộ thì họ sẽ không thể thích nghi với những thay đổi bên trong của tổ chức đó Theo nghiên cứu này, đào tạo được định nghĩa là một quá trình có kế hoạch nhằm điều chỉnh quan điểm, nhận thức và kỹ năng, hành vi thông qua kinh nghiệm học tập để có thể

Trang 40

thực hiện công việc một cách có hiệu quả Việc đào tạo nhằm trang bị các kỹ năng để đáp ứng những yêu cầu cụ thể của công việc, hỗ trợ phát triển nghề nghiệp và xây dựng các kỹ năng cần thiết trong tương lai [95, tr.234]

Giáo trình Quản lý NNL trong tổ chức công, NXB Đại học Kinh tế quốc

dân, cho rằng “Đào tạo là các hoạt động để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng và nhiệm vụ của mình” [70, tr.134]

Trong luận án này, khái niệm đào tạo được hiểu dưới góc độ kinh tế học, được coi là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Các hoạt động đào tạo được thực hiện để duy trì và nâng cao chất lượng NNL của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh và góp phần đạt được mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của ngành và nền kinh tế

Theo DeCenzo và Robbins (1999) trong cuốn “Human resource management”, điểm tương đồng giữa đào tạo và phát triển là chúng đều có

phương pháp tương tự, được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao các kiến thức và kỹ năng thực hành Tuy nhiên, đào tạo có định hướng vào hiện tại, chú trọng đến công việc hiện thời của cá nhân, giúp cá nhân đạt được mục tiêu trước mắt về cải thiện kỹ năng cho công việc hiện tại, còn phát triển nhân viên lại chú trọng đến các công việc tương lai trong tổ chức hoặc

doanh nghiệp [114]

Đào tạo và phát triển là một bộ phận quan trọng của công tác quản trị NNL Theo đó, đào tạo và phát triển NNL nhằm đảm bảo nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu cho tổ chức về số lượng, chất lượng NNL để góp phần tạo nên

Ngày đăng: 06/05/2016, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Mô hình đào tạo có hệ thống của Michael Armstrong (2006) - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.1. Mô hình đào tạo có hệ thống của Michael Armstrong (2006) (Trang 46)
Hình 2.3. Sơ đồ nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.3. Sơ đồ nghiên cứu về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất (Trang 49)
Hình 2.4. Các bước xác định nhu cầu đào tạo - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.4. Các bước xác định nhu cầu đào tạo (Trang 58)
Hình 2.5. Mô hình năng lực của Miller (1990). - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 2.5. Mô hình năng lực của Miller (1990) (Trang 59)
Hình 3.1. Yêu cầu về bằng cấp đối với nhân viên cứu hỏa ở North Carolina - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 3.1. Yêu cầu về bằng cấp đối với nhân viên cứu hỏa ở North Carolina (Trang 73)
Hình 3.2. Khảo sát về mức độ yêu thích đối với các phương pháp đào tạo lực - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 3.2. Khảo sát về mức độ yêu thích đối với các phương pháp đào tạo lực (Trang 77)
Bảng 3.1. Mô hình quản lý chất lƣợng theo đầu vào – quá trình – - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 3.1. Mô hình quản lý chất lƣợng theo đầu vào – quá trình – (Trang 78)
Hình 3.3. Mô hình tổ chức lực lƣợng PCCC - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 3.3. Mô hình tổ chức lực lƣợng PCCC (Trang 83)
Hình 3.4. Mô hình tổ chức lực lƣợng PCCC Liên Bang Nga - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 3.4. Mô hình tổ chức lực lƣợng PCCC Liên Bang Nga (Trang 95)
Bảng 3.2. Chương trình đào tạo môn học tổ chức và quản lý trong lĩnh vực - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 3.2. Chương trình đào tạo môn học tổ chức và quản lý trong lĩnh vực (Trang 99)
Bảng 3.3. Chương trình đào tạo về tổ chức lực lượng phòng chống khói, khí - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Bảng 3.3. Chương trình đào tạo về tổ chức lực lượng phòng chống khói, khí (Trang 100)
Hình 4.1. Mô hình tổ chức của lực lƣợng cảnh sát - Đào tạo nguồn lực cho công tác phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ -Kinh nghiệm một số nước và bài học cho Việt Nam
Hình 4.1. Mô hình tổ chức của lực lƣợng cảnh sát (Trang 116)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w