Tính cấp thiết của đề tài Việc tập trung các doanh nghiệp DN có quan hệ với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật trong một khu vực lãnh thổ nhất định và hình thành các cụm liên kết công nghiệ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc tập trung các doanh nghiệp (DN) có quan hệ với nhau về mặt kinh tế - kỹ thuật
trong một khu vực lãnh thổ nhất định và hình thành các cụm liên kết công nghiệp (CLKCN -
Industrial Cluster) là một xu hướng khách quan của phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại
Công nghiệp dệt may giữ vị trí trọng yếu trong nền kinh tế nước ta Tuy không phải là
ngành có mối liên hệ sản xuất phức tạp, nhưng tính chuyên môn hóa sản xuất của các DN trong
ngành dệt may thể hiện khá rõ nét Việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may sẽ tạo điều kiện
kết nối chuỗi sản xuất hữu hiệu hơn, tạo điều kiện tăng năng suất và khả năng cạnh tranh của
sản phẩm dệt may Do được bố trí trong một khu vực lãnh thổ nhất định dưới hình thức
CLKCN, các DN sản xuất sản phẩm và sản xuất nguyên, phụ liệu sẽ có điều kiện giảm thiểu chi
phí giao dịch và chi phí vận chuyển, chia xẻ thông tin thị trường
Nhận thức rõ vai trò của CLKCN trong phát triển công nghiệp dệt may, Nhà nước đã đề
ra chủ trương phát triển các CLKCN dệt may ở các địa phương khác nhau Chiến lược phát
triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 đã xác
định nhiệm vụ: “Xây dựng các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành dệt may có cơ sở hạ tầng
đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy
định của Nhà nước Thực hiện di dời và xây dựng mới các cơ sở dệt nhuộm tại các khu, cụm
công nghiệp tập trung để có điều kiện xử lý nước thải và giải quyết tốt việc ô nhiễm môi
trường…” Theo chủ trương này, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (VKTTĐBB) là vùng có khả
năng hình thành một số CLKCN dệt may Tuy nhiên đến nay, do những vướng mắc về nhận
thức, về cơ chế chính sách và về tổ chức thực hiện, các CLKCN dệt may ở vùng này vẫn chưa
được hình thành rõ rệt
Trong những năm tới, việc hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thông qua việc ký kết và
thực hiện các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và tham gia vào Hiệp định Đối tác xuyên
Thái Bình Dương (TPP) sẽ tạo ra cơ hội to lớn và đặt ra thách thức gay gắt với ngành dệt may
Việt Nam Cùng với việc tái cơ cấu các DN trong ngành, phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ
trợ (CNHT) dệt may, việc hình thành và phát triển CLKCN dệt may trở thành một yếu cầu cấp
thiết
Với những lý do nêu trên, có thể khẳng định rằng việc nghiên cứu chủ đề “Phát triển các
cụm liên kết công nghiệp dệt may ở vùng đồng bằng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ” có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn thiết thực
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CLKCN và đặc điểm công nghiệp dệt
may, luận án làm rõ sự cần thiết và điều kiện phát triển CLKCN dệt may ở VKTTĐBB, qua đó
góp phần phát triển có hiệu quả và bền vững các DN dệt may trong quá trình hội nhập quốc tế
Để thực hiện mục đích đó, luận án có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Hệ thống hóa và phát triển những vấn đề lý luận cơ bản về CLKCN
- Giới thiệu có chọn lọc kinh nghiệm phát triển CLKCN của một số nước, rút ra bài học
tham khảo cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB; xác định điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn cản trở với hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong vùng kinh tế này
- Đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là CLKCN và các nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển CLKCN dệt may, các điều kiện cần bảo đảm để thúc đẩy sự hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Phạm vi nội dung: từ những nội dung chung về bản chất, đặc trưng của CLKCN, các
nhân tố ảnh hưởng đến hình thành, phát triển CLKCN, luận án nghiên cứu đánh giá sự cần thiết, khả năng, điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn cản trở việc hình thành các CLKCN dệt may trong VKTTĐBB Từ đó, luận án làm rõ luận cứ khoa học định hướng hình thành, phát triển CLKCN trong vùng kinh tế này và các giải pháp thực hiện định hướng ấy
- Phạm vi không gian nghiên cứu: Các DN dệt may và các tổ chức liên quan trong phạm
vi VKTTĐBB
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2011 – 2014;
các tư liệu sơ cấp thu thập từ điều tra phỏng vấn sâu một số cán bộ lãnh đạo DN và chuyên gia được thực hiện trong năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu Cách tiếp cận nghiên cứu
Phù hợp với tính chất của chuyên ngành Quản trị kinh doanh, tác giả lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB trên góc độ DN và quan hệ liên kết giữa các DN Nghĩa là, nghiên cứu sự hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong vùng này thông qua việc nghiên cứu quá trình tích tụ, tập trung hóa sản xuất của các DN trong vùng lãnh thổ để tổ chức có hiệu quả các quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm dệt may Việc nghiên cứu các nội dung liên quan đến các cơ quan quản lý nhà nước nhằm làm rõ vai trò và trách nhiệm trong việc bảo đảm điều kiện cho sự phát triển quan hệ liên kết giữa các DN trong CLKCN dệt may phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Luận án sử dụng kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, phương pháp nghiên cứu tại bàn, điều tra khảo sát với thu thập dữ liệu là phỏng vấn cán bộ lãnh đạo DN và chuyên gia
Nguồn tư liệu thứ cấp thu thập từ Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê của các tỉnh/thành trong VKTTĐBB, Báo cáo của một số DN dệt may trong vùng, các website của Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Viện nghiên cứu Dệt may và một số tổng công ty, công ty dệt may
Trang 23
Nguồn tư liệu sơ cấp thu thập từ điều tra, phỏng vấn sâu 5 cán bộ cơ quan quản lý nhà
nước, 15 cán bộ lãnh đạo các DN dệt may trong vùng và tìm hiểu thực trạng phát triển của Cụm
liên kết xuất khẩu lụa Hà Đông và Khu Công nghiệp Dệt may Phố nối B Nội dung điều tra
phỏng vấn tập trung chủ yếu vào các vấn đề liên quan đến nhu cầu, khả năng, thuận lợi, khó
khăn và điều kiện hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
Khung nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu
Thu thập thông tin điều tra sự phát triển CLKCN dệt may tại VKTTĐBB
Xây dựng tổng quan lý
thuyết về hình thành, phát
triển CLKCN
Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển CLKCN dệt may tại VKTTĐBB
Đánh giá sự cần thiết, điều kiện thuận lợi và khó khăn với hình thành, phát triển CLKCN
dệt may tại VKTTĐBB VKTTĐBB
Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển CLKCN dệt may tại VKTTĐBB
Nhu cầu phát triển CLKCN dệt may:
Quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm;
Hiệu quả; Cạnh tranh;
Đổi mới…
Các điều kiện: Tích tụ
sản xuất; Quan hệ liên
kết; Công nghiệp hỗ
trợ; Cơ sở hạ tầng;
Cơ chế chính sách…
Phương hướng, giải pháp phát triển CLKCN dệt may
Thực trạng ngành dệt may trong VKTTĐBB:
- Điều kiện thuận lợi;
- Khó khăn cản trở
Bản chất, đặc trưng CLKCN dệt may
4
5 Dự kiến kết quả đạt được
Về mặt lý luận
Dựa trên khung lý luận về tích tụ, tập trung hóa các DN theo lãnh thổ và quan hệ liên kết theo chiều dọc, theo chiều ngang giữa các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm, luận án đã làm rõ bản chất, các đặc trưng cơ bản và vai trò của CLKCN với sự phát triển có hiệu quả và bền vững các DN trong chuỗi giá trị sản phẩm Luận án cũng chỉ rõ 5 nhân tố cơ bản có tác động trực tiếp tới sự hình thành, phát triển CLKCN: trình độ tích tụ, tập trung hóa các DN theo lãnh thổ; đặc trưng chuỗi giá trị sản phẩm và quan hệ liên kết giữa các DN trong chuỗi giá trị sản phẩm; sự phát triển CNHT; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng; cơ chế chính sách có liên quan của Nhà nước
Về mặt thực tiễn
Vận dụng những vấn đề lý thuyết cơ bản về CLKCN phù hợp với đặc điểm của ngành công nghiệp dệt may, từ phân tích những nét khái quát thực trạng phát triển công nghiệp dệt may trong VKTTĐBB, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng trình độ tích tụ, tập trung hóa sản xuất các DN dệt may trong vùng, thực trạng các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các DN, các tổ chức hữu quan trong vùng theo chuỗi giá trị sản phẩm dệt may Từ
đó, luận án đã đánh giá rõ nhu cầu, điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn cản trở trong phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
Trên cơ sở phân tích SWOT, luận án làm rõ luận cứ khoa học định hướng hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB Định hướng đó lấy hạt nhân là các DN đầu đàn của ngành trong vùng có khả năng phát triển rộng rãi quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị dệt may, đồng thời phát huy những ưu thế của KCN Dệt may Phố Nối B và các CCN làng nghề dệt may truyền thống ở mỗi địa phương Luận án đề xuất 5 giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện định hướng đã xác định Đó là: Xây dựng quy hoạch CLKCN dệt may trong vùng; Thúc đẩy phát triển quan hệ liên kết giữa các DN và các chủ thể hữu quan trong vùng; Đẩy mạnh thu hút đầu
tư phát triển CNHT dệt may vào vùng; Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới theo hướng đồng bộ
và hiện đại cơ sở hạ tầng trong vùng; Phát huy vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản trị DN dệt may và các nhà hoạch định chính sách phát triển công nghiệp dệt may trong việc nghiên cứu phát triển CLKCN dệt may, góp phần thúc đẩy phát triển sự phát triển có hiệu quả và bền vững các DN dệt may và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của VKTTĐBB
6 Kết cấu chung của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tế về phát triển cụm liên kết công nghiệp
Chương 3: Thực trạng hình thành và phát triển các cụm liên kết công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Chương 4: Phương hướng và giải pháp hình thành, phát triển cụm liên kết công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
1.3 Các kết luận rút ra từ tổng quan các công trình liên quan đến đề tài
Những nội dung có sự tương đồng trong các công trình liên quan đến đề tài
Từ việc tổng quan các nghiên cứu có thể thấy, trên thế giới, các nghiên cứu về CLKCN đã
được tiến hành từ khá lâu Các nghiên cứu này xuất phát từ yêu cầu thiết lập mối quan hệ liên
kết giữa các chủ thể kinh tế trong phạm vi mỗi vùng, mỗi quốc gia và đã hình thành những lý
thuyết nhất định, như lý thuyết về CLKCN và chiến lược cạnh tranh của M Porter, lý thuyết
thương mại mới và địa lý của P Krugman Ở trong nước, các nghiên cứu liên quan chủ yếu là
hệ thống hóa các tư tưởng về CLKCN của các học giả nước ngoài, giới thiệu kinh nghiệm quốc
tế và gợi mở định hướng ứng dụng hình thành, phát triển CLKCN trong các ngành kinh tế của
nước ta
Từ kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có thể khái quát
những nội dung sau đây có sự tương đồng:
- Các công trình ngoài nước và trong nước đã nêu ra những khía cạnh cơ bản về bản chất
của CLKCN Tuy có các cách diễn đạt khác nhau, nhưng tư tưởng chung của các tác giả đều đề
cập đến những điểm then chốt nhất của một CLKCN là: sự tập trung các DN của ngành và các
tổ chức liên quan trong một không gian địa lý nhất định; thiết lập quan hệ liên kết theo chiều
dọc hoặc theo chiều ngang giữa các chủ thể; hướng tới mục tiêu bảo đảm hiệu quả của mỗi chủ
thể và góp phần nâng cao hiệu quả chung của ngành và của vùng
- Các công trình nêu rõ chuỗi giá trị sản phẩm là nhân tố có tính chất tiền đề của hình
thành, phát triển CLKCN Khi các chủ thể trong ngành phân bố ở trong cùng một vùng sẽ tạo
thuận lợi trong việc thiết lập quan hệ liên kết, giảm chi phí vận chuyển và giao dịch Gắn liền
với nhân tố này, trình độ tích tụ, tập trung các chủ thể hữu quan trong một vùng cũng là nhân tố
trọng yếu tác động đến việc hình thành, phát triển CLKCN Các nghiên cứu cũng chỉ rõ vai trò
của nhân tố kết cấu và của Nhà nước, đặc biệt là của chính quyền địa phương, đến việc hình
thành, phát triển CLKCN
- Các công trình trong nước đã chú trọng giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài về hình
thành, phát triển CLKCN ở những ngành khác nhau Từ giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài, các
nghiên cứu ây đã đưa ra được một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo với Việt Nam
Các bài học kinh nghiệm rút ra đều chú trọng xem xét vai trò của Chính phủ trung ương và
chính quyền địa phương trong việc hoạch định chiến lược, quy hoạch phát triển CLKCN, các
chính sách hỗ trợ thúc đẩy hình thành, phát triển CLKCN ở các ngành và các vùng khác nhau
Những điểm tương đồng về CLKCN trên đây là cơ sở để NCS có thể kế thừa và phát
triển trong luận án của mình trong việc nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý thuyết về CLKCN
Đồng thời, đó cũng là cơ sở để vận dụng trong nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển
CLKCN phù hợp với đặc điểm ngành công nghiệp dệt may và đặc điểm của VKTTĐBB
Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
- Đã có một số nghiên cứu của các tác giả trong nước và chuyên gia nước ngoài đề cập đến định hướng và biện pháp hình thành và phát triển CLKCN trong một số ngành kinh tế của Việt Nam Những ngành được lựa chọn nghiên cứu là điện tử, dệt may, da giày, chế biến gỗ, cơ khí, chế biến thủy sản Nhưng những nghiên cứu này mới đưa ra các gợi ý chung, mang tính chất tổng quát
- Đã có một số nghiên cứu trực tiếp về hình thành, phát triển CLKCN dệt may ở Việt Nam Nhưng các nghiên cứu này mới chỉ nêu ra những ý tưởng chung về sự cần thiết, vai trò của CLKCN dệt may trong việc nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh của mỗi DN và của ngành công nghiệp dệt may Các nghiên cứu ấy chưa đi sâu làm rõ đặc điểm ngành công nghiệp dệt may ảnh hưởng đến hình thành, phát triển CLKCN, chưa đánh giá cụ thể điều kiện tiền đề, khó khăn cản trở việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may, cũng chưa nêu rõ phương hướng
và giải pháp thiết thực để hình thành và phát triển CLKCN dệt may trong những vùng cụ thể
- Chưa có công trình nghiên cứu về phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB Nghĩa
là, chưa có nghiên cứu nào làm rõ sự cần thiết, những điều kiện thuận lợi, những khó khăn của vùng và của các DN dệt may trong vùng với việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may Từ
đó, chưa có công trình nào nghiên cứu làm rõ luận cứ khoa học xác định phương hường và các giải pháp thúc đẩu hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
Từ những kết luận trên đây có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài Phát triển các cụm liên kết công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ là cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn thiết thực và hoàn toàn không trùng với các nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam
Với đề tài này, tác giả thực hiện các định hướng nghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu để hệ thống hóa và phát triển những vấn đề lý luận
cơ bản về CLKCN, chủ yếu là bản chất, vai trò, đặc trưng của CLKCN và các nhân tố ảnh hưởng đến hình thành, phát triển CLKCN
- Từ nghiên cứu đặc điểm và vị trí của VKTTĐBB, đặc điểm và vai trò của ngành công nghiệp dệt may, thực trạng và xu hướng phát triển công nghiệp dệt may trong VKTTĐBB, xác định rõ sự cần thiết, điều kiện tiền đề thuận lợi, khó khăn cản trở sự hình thành, phát triển các CLKCN dệt may trong vùng kinh tế này
- Đưa ra đề xuất luận cứ khoa học xác định phương hướng hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB, những giải pháp mà các DN dệt may, các chủ thể hữu quan và các
cơ quan quản lý nhà nước, các hiệp hội ngành nghề dệt may cần làm để thúc đẩy hình thành, phát triển các CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP
2.1 Khái niệm, đặc trưng và vai trò của cụm liên kết công nghiệp 2.1.1 Khái niệm cụm liên kết công nghiệp
Sau khi phân tích khái niệm CLKCN của một số tác giả ngoài nước và trong nước, NCS cho rằng, khái niệm của M Porter mang tính chất tổng hợp và thể hiện rõ bản chất của CLKCN Các khái niệm do các tác giả trong nước đưa ra, về cơ bản, đều dựa trên cơ sở khái niệm của M Porter
Trang 47
Bởi vậy, trong luận án này, NCS đã sử dụng khái niệm của M Porter Đó là: “CLKCN là
một nhóm các công ty liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một lĩnh vực cụ thể, quy tụ trong
một khu vực địa lý, được kết nối với bởi những sự tương đồng và tương hỗ Phạm vi địa lý của
một cụm ngành có thể là một thành phố hay tiểu bang đơn nhất, hoặc là cả một quốc gia hay
mạng lưới các nước láng giềng CLKCN có nhiều hình thức tùy thuộc vào độ sâu và tính phức
tạp của nó, nhưng đa số bao gồm các công ty tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cuối, các nhà cung
ứng những đầu vào chuyên biệt, linh kiện, máy móc và dịch vụ; các tổ chức tài chính và doanh
nghiệp trong các ngành liên quan CLKCN cũng bao gồm các doanh nghiệp thuộc ngành hạ
nguồn; nhà sản xuất sản phẩm bổ trợ, nhà cung cấp hạ tầng chuyên dụng, chính quyền và các tổ
chức cung cấp hoạt động đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ
thuật Ngoài ra, có thể xem một phần của CLKCN là các cơ quan nhà nước có ảnh hưởng lớn
Cuối cùng, nhiều CLKCN còn bao gồm các hiệp hội thương mại và những tổ chức tập thể khác
của khu vực tư nhân để hỗ trợ cho các thành viên trong CLKCN”
2.1.2 Các đặc trưng cơ bản của cụm liên kết công nghiệp
- Sự tích tụ (agglomeration) các doanh nghiệp công nghiệp và các tổ chức liên quan trong
một khu vực lãnh thổ nhất định
- Các doanh nghiệp công nghiệp và các tổ chức thành viên của CLKCN có quan hệ với
nhau với những nội dung và mức độ khác nhau
- Tính đa dạng của các chủ thể trong CLKCN
- Sự tác động của Nhà nước trong quá trình hình thành cơ chế vận hành CLKCN
2.1.3 Vai trò của cụm liên kết công nghiệp
- Tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho các doanh nghiệp và các tổ chức hữu quan
- Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, tiếp cận thị trường công nghệ và
chuyển giao, đổi mới công nghệ
- CLKCN hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng hình ảnh, quảng bá thương hiệu và xúc tiến
thương mại
- CLKCN hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng
2.1.4 Đánh giá sự phát triển cụm liên kết công nghiệp
Phân tích chỉ tiêu Mức độ tương đồng khu vực (Location Quotient - LQ) cho phép đánh
giá khả năng hình thành CLKCN dựa vào mức độ tập trung của một ngành công nghiệp trong
khu vực Phương pháp này giả thiết rằng nếu có sự tập trung lao động và sản xuất của một
ngành công nghiệp, thì có khả năng lớn để hình thành, phát triển CLKCN
Mức độ tương đồng khu vực về lao động được tính bằng công thức sau:
Trong đó: ei là số lao động trong ngành công nghiệp i tại khu vực; e là số lao động trong
tất cả các ngành công nghiệp tại khu vực; Ei là số lao động trong ngành công nghiệp i trong cả
nước; E là số lao động trong tất cả các ngành công nghiệp trong cả nước; LQLD là mức độ
tương đồng khu vực về lao động
8
LQLD >1: khu vực có mức độ tập trung lao động cao hơn so với bình quân quốc gia, nghĩa
là khu vực có khả năng phát triển cụm ngành công nghiệp I và ngược lại
Bên cạnh LQLD, người ta còn tính LQ theo giá trị sản xuất (LQGTSX) Công thức cụ thể là:
Trong đó: oi là GTSXCN của ngành công nghiệp i tại khu vực; o là GTSXCN của toàn ngành công nghiệp tại khu vực; Oi là GTSXCN của ngành công nghiệp i trong cả nước; O là GTSXCN của toàn ngành công nghiệp trong cả nước; LQGTSX là mức độ tương đồng khu vực
về GTSXCN
LQGTSX >1: khu vực có GTSXCN của ngành công nghiệp i cao hơn so với bình quân quốc gia, nghĩa là trong vùng có khả năng lớn để phát triển CLKCN và ngược lại
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cụm liên kết công nghiệp
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển CLKCN thực chất là nghiên cứu xác định các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố cản trở việc hình thành, phát triển hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ này Với cách đặt vấn đề như vậy, NCS đã xác định có 5 nhóm nhân tố sau đây có tác động đến sự hình thành và phát triển CLKCN
2.2.1 Tính phức tạp của chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp
Chuỗi giá trị sản phẩm là tập hợp các giá trị được tạo ra từ các giai đoạn của quá trình sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ, từ khâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, cung cấp đầu vào, sản xuất, marketing và phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng Nếu chuỗi giá trị của một sản phẩm được thực hiện ở nhiều quốc gia trên phạm vi toàn cầu thì gọi là chuỗi giá trị toàn cầu
Để thực hiện chuỗi giá trị sản phẩm đòi hỏi phải tổ chức quan hệ liên kết (theo chiều dọc
và theo chiều ngang) giữa các chủ thể Nếu các chủ thể này được phân bố tập trung trong một không gian địa lý giới hạn, việc tổ chức các quan hệ liên kết sẽ thuận lợi và có hiệu quả hơn
2.2.2 Chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ trong nước
Xét theo “dòng chảy” của quá trình công nghệ sản xuất, các DN CNHT thuộc khu vực thượng nguồn, các DN sử dụng sản phẩm của các DN CNHT trợ này để tiếp tục gia công chế biến hoặc để lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng thuộc khu vực hạ nguồn Trong quá trình phát triển, các nước đều dành sự quan tâm cho phát triển CNHT trong nước và tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu
Việc phát triển CNHT trong vùng sẽ tạo cơ sở phát triển quan hệ liên kết giữa các DN Ngược lại, sự phát triển CLKCN là yếu tố thuận lợi thúc đẩy phát triển CNHT do sự thuận lợi trong việc liên kết giữa khu vực thượng nguồn với khu vực hạ nguồn trong vùng lãnh thổ
2.2.3 Trình độ tích tụ sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ
Tích tụ (agglomeration) là quá trình tập trung một số hoạt động sản xuất vào một khu vực địa lý nhất định Thuyết địa lý mới của P Krugman được coi là cơ sở lý thuyết giải thích sự phân bố của các hoạt động công nghiệp, trong đó yếu tố chi phí vận chuyển và lợi ích kinh tế theo quy mô đóng vai trò quan trọng Việc tổ chức sản xuất hợp lý, tăng sản lượng đến mức tối ưu,…giúp DN giảm giá thành, cải thiện chất lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh Sự tác
Trang 5động này gọi là lợi ích kinh tế nội tại theo quy mô (Internal Economies of Scale) Đồng thời, sự
phát triển của các lĩnh vực hoạt động bên ngoài có liên quan tác động đến DN và giúp DN hoạt
động thuận lợi và đạt hiệu quả cao Sự tác động này được gọi là lợi ích kinh tế ngoại vi của quy
mô (External Economies of Scale)
Việc tập trung một số DN, trong đó có DN đầu đàn, trong một khu vực địa lý nhất định
sẽ tạo nên sự hấp dẫn các DN và các tổ chức hữu quan đầu tư vào khu vực này do những lợi ích
từ việc giảm chi phí vận chuyển, thuận tiện trong việc bảo đảm các yếu tố đầu vào…Điều đó sẽ
thúc đẩy sự hình thành và phát triển CLKCN
2.2.4 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng trong vùng lãnh thổ
Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bao gồm mạng lưới giao thông vận tải, mạng
lưới cung ứng điện năng, mạng lưới cấp - thoát nước, mạng lưới thông tin liên lạc, mạng lưới
thu gom và xử lý chất thải…được coi là điều kiện tiền đề cơ bản để phát triển mỗi DN, mỗi
vùng lãnh thổ và mỗi quốc gia Đó cũng là điều kiện để kết nối nền kinh tế của đất nước với các
nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế toàn cầu
Trong việc hình thành và phát triển CLKCN, sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế
- kỹ thuật sẽ bảo đảm điều kiện thuận lợi cho sự kết nối giữa các DN trong một vùng và giữa
các vùng với chi phí nhỏ nhất
2.2.5 Cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển cụm liên kết công nghiệp
Phù hợp với vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, cơ chế chính sách của
Nhà nước về phát triển CLKCN bao gồm phạm vi rộng, từ chính sách định hướng phát triển
bằng các quy hoạch phát triển công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ, cơ chế chính sách về
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, cơ chế chính sách về ưu đãi thu hút đầu tư,
đến cơ chế chính sách về xúc tiến đầu tư phát triển CLKCN
2.3 Kinh nghiệm quốc tế về phát triển cụm liên kết công nghiệp và bài học tham
khảo cho Việt Nam
Sau khi giới thiệu kinh nghiệm của Malaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc trong việc hình
thành và phát triển CLKCN, NCS đã rút ra một số bài học tham khảo sau đây:
Thứ nhất: nhận thức đúng vai trò của CLKCN như một trong những giải pháp phát triển
có hiệu quả và bền vững công nghiệp của đất nước và của mỗi vùng, mỗi địa phương
Thứ hai, phát huy tính chủ động của các DN trong việc thúc đẩy tích tụ, tập trung sản
xuất, thiết lập quan hệ liên kết với nhau Vai trò của Nhà nước thể hiện thông qua: quy hoạch
mạng lưới các CLKCN trong phạm vi cả nước và trong mỗi vùng lãnh thổ; ban hành cơ chế
chính sách hỗ trợ phát triển CLKCN; khuyến khích và hỗ trợ thiết lập và phát triển quan hệ liên
kết giữa các chủ thể kinh tế trong mỗi vùng lãnh thổ
Thứ ba, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương và các quan hệ
liên kết vùng trong phát triển CLKCN và kết nối giữa các CLKCN
Thứ tư, chính sách phát triển CLKCN có quan hệ hữu cơ với chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ Đó là một trong các giải pháp hữu hiệu để phát triển công nghiệp hỗ trợ
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ
3.1 Tổng quan Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Dân số 1000 người 14.501 14.707 14.910 15.089
Giá trị GDP
Theo thành phần kinh tế
- Nhà nước
- Ngoài Nhà nước
- Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo ngành
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp-xây dựng
- Dịch vụ
Tỷ đồng
439.799
154.440 186.481
83.843
35.850 201.436 191.535
584.957
203.348 242.105
120.265
46.321 276.283 248.069
686.851
240.816 284.720
142.009
50.259 318.648 305.314
809.648
274.422 327.046
188.242
52.875 384.779 335.855
Cơ cấu ngành kinh tế
- Nông, lâm, ngư nghiệp
- Công nghiệp-xây dựng
- Dịch vụ
%
100,00 8,15 45,80 46,05
100,00 7,92 47,23 44,85
100,00 7,32 46,39 46,29
100,00 6,53 47,52 45,95 GDP/người/năm Triệu VND 30,33 39,77 40,06 53,65 Giá trị xuất, nhập khẩu Triệu USD 16.885,43 25.056,50 32.859,79 44.996,47
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Với việc phát huy lợi thế so sánh vốn có, VKTTĐBB đã có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
3.2 Thực trạng hình thành và phát triển cụm liên kết công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
3.2.1 Tổng quan về các doanh nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Các DN dệt may trong vùng gồm đủ các thành phần kinh tế, từ các DN nhà nước thuộc VINATEX, đến các DN tư nhân trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài Số DN dệt may trong vùng chiếm trên 26% tổng số DN dệt may của cả nước và được phân bố rộng rãi trong tất
cả các tỉnh, trong đó tập trung nhiều nhất ở Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên (bảng 3.2)
Bảng 3.2 Số lượng doanh nghiệp dệt may tại các địa phương trong vùng
Tỉnh/Thành phố Doanh nghiệp 2011 2012 2013 2014
Sản xuất trang phục 420 540 565 635
Sản xuất trang phục 33 54 52 49
Sản xuất trang phục 12 22 26 27
Trang 611
Tỉnh/Thành phố Doanh nghiệp 2011 2012 2013 2014
Sản xuất trang phục 85 112 115 128
Sản xuất trang phục 61 90 99 107
Sản xuất trang phục 72 86 87 89
Sản xuất trang phục 690 912 955 1.044
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Sự phát triển của ngành đã góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động Số lượng lao
động trong ngành dệt may không ngừng tăng lên (Bảng 3.3)
Bảng 3.3: Số lượng lao động ngành dệt may trong Vùng (người)
Sản xuất trang phục 166.416 186.841 199.102 220.153
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
Công nghiệp dệt may được xác định là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm
của vùng với mức đóng góp khá cao trong tổng GDP của vùng Năm 2011, tổng GTSX của
công nghiệp dệt may đạt 33.683 tỷ VND, trong đó GTSX của dệt đạt 16.446 tỷ VND, của may
đạt 17.237 tỷ VND; năm 2014, GTSX của dệt may đạt 56.150 tỷ VND, tăng 1,67 lần, trong đó
của dệt đạt 23.243 tỷ VND, tăng 1,41 lần, của may đạt 32.907 tỷ VND, tăng 1,91 lần
Sản phẩm của công nghiệp dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
vùng Hiện nay, mặt hàng này đứng hàng thứ hai về giá trị xuất khẩu, sau mặt hàng điện thoại
Bảng 3.5 Tình hình xuất khẩu hàng dệt may trong Vùng (triệu USD; %)
Tổng giá trị xuất khẩu của vùng (triệu USD) 16.885 25.056 32.859 44.996
Nguồn: Tổng hợp từ Niên giám thống kê
3.2.2 Thực trạng hình thành và phát triển cụm liên kết công nghiệp dệt may trong
Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Việc nghiên cứu khảo sát thực tế cho thấy, trong VKTTĐBB chưa hình thành CLKCN
dệt may theo đúng nghĩa đầy đủ, mà mới chỉ có những dấu hiệu thể hiện sự manh nha của loại
hình tổ chức sản xuất theo lãnh thổ này Bởi vậy, trong mục này, NCS sẽ tập trung trình bày 2
nội dung lớn: tiềm năng hình thành và phát triển CLKCN dệt may trong vùng; thực trạng quan
12
hệ liên kết giữa các chủ thể dệt may trong vùng Trên cơ sở đó, sẽ xác định điều kiện tiền đề
thuận lợi và khó khăn cản trở việc hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
3.2.2.1 Đánh giá tiềm năng hình thành và phát triển cụm liên kết dệt may trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Xuất phát từ đặc điểm của công nghiệp dệt may và dựa vào các nhân tố ảnh hưởng đến hình thành, phát triển CLKCN đã đề cập trong Chương 2, trong mục này tác giả sẽ tập trung trình bày hai yếu tố cơ bản thể hiện tiềm năng phát triển CLKCN dệt may ở các địa phương trong vùng này: (1) Mức độ tích tụ các DN trên lãnh thổ địa phương qua phân tích chỉ tiêu LQ; (2) Quan hệ liên kết giữa các DN dệt may, các tổ chức hữu quan trong vùng qua phân tích quan
hệ liên kết giữa các chủ thể liên quan trong việc thực hiện chuỗi giá trị dệt may
Chỉ tiêu Hệ số vị trí (LQ)
Chỉ tiêu LQ LĐ: Căn cứ vào số liệu lao động của các DN công nghiệp dệt may và tổng số lao động công nghiệp, kết quả tính toán chỉ tiêu LQLĐ được tổng hợp trong bảng 3.6
Bảng 3.6 Chỉ số LQ LĐ của các tỉnh, thành phố trong vùng năm 2012
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu từ Niên giám thống kê của các tỉnh, thành phố
Chỉ tiêu LQ GTSX : Dựa vào những căn cứ tương tự như tính toán chỉ tiêu LQLĐ, kết quả tính toán chỉ tiêu LQGTSX cho công nghiệp dệt may của các tỉnh, thành phố trong VKTTĐBB thể hiện trong bảng 3.7
Bảng 3.7 Chỉ số LQ GTSX của các tỉnh, thành phố trong vùng năm 2012
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu từ Niên giám thống kê của các tỉnh, thành phố
Tổng hợp hai chỉ tiêu LQLĐ và LQGTSX có thể thấy: ngành dệt may ở VKTTĐBB đã đạt được mức độ tích tụ nhất định Đó là điều kiện tiền đề quan trọng cho việc hình thành và phát triển các CLKCN dệt may trong thời gian tới Đặc biệt là sự tập trung khá cao của các DN dệt may ở hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương đã tạo cơ sở hình thành, phát triển CLKCN dệt may ở
Trang 7hai tỉnh này trong thời gian trước mắt So với Hà Nội, số lượng các DN dệt may của hai tỉnh
này hiện thấp hơn, nhưng lại có điều kiện thuận lợi hơn về khả năng bảo đảm mặt bằng sản xuất
và khoảng cách tới Cảng Hải Phòng – cửa ngõ xuất khẩu hàng hóa của các tỉnh Bắc bộ Hơn
nữa, trong tương lai, Hà Nội có chủ trương tập trung vào phát triển các ngành công nghệ cao và
dịch chuyển các DN dệt may sang các tỉnh lân cận Điều đó sẽ dẫn đến trong tương lai ngành
dệt may ở hai tỉnh này sẽ được phát triển mạnh mẽ hơn
Có thể đưa ra nhận định rằng hình thành CLKCN dệt may trong VKTTĐBB đã có tiền đề
thuận lợi từ quá trình tích tụ, tập trung sản xuất ngày càng mạnh mẽ Tuy nhiên, sự gia tăng
mức độ tích tụ, tập trung sản xuất dệt may và các hoạt động liên quan mới chỉ là điều kiện tiền
đề cần có Điều quan trọng hơn là phải tổ chức được mối quan hệ hợp tác, liên kết giữa các DN
dệt may và có tổ chức liên quan đó
3.2.2.2 Mối quan hệ liên kết các doanh nghiệp dệt may trong Vùng Kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ
Trong VKTTĐBB có đầy đủ các DN công nghiệp và các chủ thể thực hiện các khâu khác
nhau của chuỗi giá trị dệt may Luận án đã trình bày khái quát mức độ liên kết với các chủ thể
khác trong chuỗi giá trị dệt may
(1) Khâu thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất sản phẩm và đào tạo nhân lực
Thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất sản phẩm là khâu khởi đầu và cũng là khâu có
vị trí trọng yếu trong chuỗi giá trị dệt may Nhiệm vụ của khâu này là thiết kế kiểu cách, mẫu
mã sản phẩm mới và nguyên liệu mới đáp ứng sự thay đổi thị hiếu của các loại khách hàng khác
nhau ở những thị trường khác nhau Trong thực tế, năng lực của Viện Dệt may (trực thuộc
VINATEX) và các DN may lớn còn thấp kém, chưa thực hiện được nhiệm vụ thiết kế sản phẩm
và công nghệ sản xuất Hơn nữa, do chủ yếu thực hiện phương thức gia công xuất khẩu (CMT
và FOB), nên thiết kế sản phẩm và công nghệ của hãng nước ngoài cung cấp
Trong VKTTĐBB có hệ thống các cơ sở đào tạo phát triển khá mạnh Ngoài các lớp đào
tạo nghề ngắn hạn do các DN tự tổ chức, hầu hết các Trung tâm dạy nghề của các tỉnh đều đào
tạo công nhân may công nghiệp Các cơ sở này đã có quan hệ phối hợp, liên kết với các DN dệt
may trong vùng trong việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật Nhưng
nhìn chung, quan hệ hợp tác, liên kết này chưa thật sự bền chặt và có hiệu quả
(2) Khâu sản xuất nguyên phụ liệu
Tốc độ phát triển cao của ngành dệt may trong VKTTĐBB đã đặt ra nhu cầu lớn về
nguyên, phụ liệu dệt may Mặc dù Nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích phát
triển CNHT dệt may, nhưng CNHT dệt may còn hết sức yếu kém Các DN dệt may trong vùng
vẫn chủ yếu dựa vào nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu, trong đó đại bộ phận là từ Trung
Quốc
Nói chung, quan hệ liên kết giữa các DN may với các DN sản xuất nguyên phụ liệu còn
yếu kém Có ba nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này: (1) Quy mô sản xuất vải và các
loại phụ liệu may mặc khác sản xuất trong nước còn thấp hơn nhu cầu của các DN may; (2)
Chủng loại, chất lượng và chi phí sản xuất nguyên phụ liệu trong nước không đáp ứng được
nhu cầu của các DN may; (3) Phần lớn các DN may xuất khẩu trong vùng thực hiện phương
thức gia công cho các hãng nước ngoài
Biểu đồ 3.4: Tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may và kim ngạch nhập khẩu vải trong Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Tỷ USD)
Nguồn: Tổng cục Thống kê (3) Khâu cắt, may
Trong VKTTĐBB hiện đang phát triển khá mạnh các DN may thuộc các thành phần kinh
tế khác nhau Các DN may lớn trong vùng trực thuộc VINATEX đã được cổ phần hóa, chuyển thành công ty cổ phần Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ và hoạt động với tư cách các DN liên kết của VINATEX Các DN dệt may địa phương trong vùng đều đã được cổ phần hóa May mặc cũng là lĩnh vực thu hút khá mạnh các nhà đầu tư tư nhân trong nước và nước ngoài, nhưng phần lớn các DN may này có quy mô vừa và nhỏ
Với việc thực hiện các phương thức CMT và FOB, giữa các DN may trong vùng không những không có mối quan hệ liên kết theo chiều ngang, mà thậm chí lại còn cạnh tranh với nhau để giành đơn hàng từ nước ngoài Việc thiết lập quan hệ liên kết theo chiều dọc với các
DN sản xuất nguyên phụ liệu) cũng hết sức hạn chế do được các hãng nước ngoài đặt hàng cung cấp, hoặc phải mua theo chỉ định của hãng nước ngoài
(4) Khâu thương mại hóa sản phẩm
Trong những năm gần đây, DN dệt may đã chú trọng hơn đến thị trường nội địa Việc tiêu thụ sản phẩm của các DN được thực hiện theo 2 kênh chủ yếu: 1/ Bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng bằng việc tổ chức các cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm tại DN và tại các đô thị lớn; 2/ Bán hàng gián tiếp cho người tiêu dùng bằng việc tổ chức mạng lưới đại lý và liên kết với các siêu thị, trung tâm thương mại Trong thời gian qua, Tổng công ty May 10, Tổng công ty Đức Giang, Công ty cổ phần May Đáp Cầu…là những đơn vị đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa
Thị trường xuất khẩu của các DN dệt may trong vùng chủ yếu là EU, Mỹ và Nhật Bản Tuy nhiên, tình trạng chung của các DN may trong vùng vẫn chủ yếu thực hiện xuất khẩu theo phương thức CMT và đang dần chuyển sang thực hiện phương thức FOB cấp 1 và FOB cấp 2
Do những hạn chế về khả năng marketing quốc tế, chưa tạo dựng được thương hiệu mạnh,…nên tỷ lệ xuất khẩu hàng may mặc bằng phương thức ODM còn thấp hơn so với các
DN may mặc ở Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam
Như vậy, trong khâu thương mại hóa sản phẩm trên thị trường nội địa, mối quan hệ liên kết giữa các DN may mặc với các tổ chức thương mại trong nước còn yếu; còn trên thị trường quốc tế, các DN này hầu như chưa thiết lập được quan hệ liên kết với các hãng phân phối lớn
Trang 815
Các nội dung phân tích trên đây về quan hệ liên kết giữa các DN và các tổ chức hữu quan
trong việc thực hiện các khâu khác nhau của chuỗi giá trị công nghiệp dệt may tại VKTTĐBB
được tổng hợp trong sơ đồ 3.6
Theo sơ đồ, các DN dệt may và các tổ chức hữu quan trong VKTTĐBB có khả năng lớn
để thiết lập quan hệ liên kết trong chuỗi giá trị sản phẩm Tuy nhiên, do năng lực của các chủ
thể trong chuỗi giá trị không đồng nhất như nhau và chủ yếu thực hiện phương thức gia công,
nên mức độ liên kết giữa các khâu cũng không đồng nhất như nhau
3.3 Đánh giá tổng hợp về điều kiện tiền đề thuận lợi và khó khăn hạn chế của việc
hình thành, phát triển cụm liên kết dệt may trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
3.3.1 Những điều kiện tiền đề thuận lợi
Thứ nhất, quá trình công nghệ sản xuất sản phẩm dệt may đòi hỏi hình thành các chủ thể
phát triển theo hướng chuyên môn hóa và kéo theo sự cần thiết phát triển quan hệ liên kết với
nhau Tuy sản phẩm của ngành công nghiệp dệt may có cấu trúc và quá trình công nghệ sản
xuất sản phẩm đơn giản, nhưng quá trình công nghệ này lại bao gồm nhiều công đoạn, mỗi
công đoạn lại có quy trình sản xuất riêng, phức tạp và có nhiều quy trình sản xuất con
Ngành công nghiệp dệt may thường tổ chức DN theo hình thức chuyên môn hóa giai
đoạn công nghệ: mỗi DN thực hiện một hoặc một số khâu của quá trình công nghệ sản xuất sản
phẩm may mặc (thực hiện một hoặc một số mắt xích của chuỗi giá trị sản phẩm) Quan hệ liên
kết theo chiều dọc và theo chiều ngang là yêu cầu tất yếu của mỗi DN Từ đó, việc hình thành
và phát triển CLKCN dệt may trong vùng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các quan
hệ liên kết giữa các DN dệt may với các chủ thể hữu quan
Sơ đồ 3.6: Quan hệ liên kết các doanh nghiệp và tổ chức trong chuỗi giá trị dệt may Vùng Kinh
tế trọng điểm Bắc bộ
Nguồn: Tác giả tự thiết kế
Khâu nghiên cứu,
đào tạo
(Viện/Trường)
-
- Nghiên cứu sản
phẩm, công nghệ
- Đào tạo, bồi
dưỡng nguồn
nhân lực
Khâu sản xuất nguyên phụ liệu (Doanh nghiệp phụ trợ) -
- Kéo sợi, dệt vải
- Phụ liệu
- Bao bì
Khâu may (Doanh nghiệp may mặc) -
- Quần áo
- Áo jacket
- Veston
- Quần áo dệt kim…
Khâu thương mại hóa sản phẩm -
- Thị trường nội địa (trực tiếp, gián tiếp)
- Thị trường xuất khẩu (CMT, FOB, ODM, OBM)
Khâu thương mại hóa sản phẩm - Người tiêu dùng
16
Thứ hai, trong VKTTĐBB đã hình thành gần như đồng bộ các chủ thể (các đơn vị) trong
chuỗi giá trị dệt may
Đó là: các đơn vị thiết kế sản phẩm và công nghệ sản xuất; các đơn vị sản xuất nguyên phụ liệu (sợi, dệt, khóa, chỉ, mex, bao bì…), các đơn vị may mặc, các đơn vị nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành Trong hệ thống này, các đơn vị thực hiện khâu cắt may có năng lực mạnh nhất, các đơn vị thiết kế sản phẩm và công nghệ có năng lực yếu nhất Hơn nữa, trình độ tích tụ các đơn vị trong vùng đạt mức khá cao, đặc biệt là ở Hà Nội, Hải Dương và Hưng Yên
Đây là những điều kiện tiền đề thuận lợi để hình thành CLKCN dệt may, thúc đẩy phát triển các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các chủ thể kinh tế này
Thứ ba, VKTTĐBB có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và đang được phát triển theo
hướng hiện đại
Tuy còn thấp so với yêu cầu phát triển, hệ thống cơ sở hạ tầng trong VKTTĐBB được đánh giá là phát triển hơn so với các vùng kinh tế khác Trong vùng có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, cảng biển nước sâu, cảng hàng không quốc tế đang được cải tạo, nâng cấp
và xây dựng mới theo hướng hiện đại Mạng lưới cung ứng điện, cơ sở hạ tầng viễn thông và thủy lợi, cấp thoát nước cũng được chú trọng đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và cải thiện đời sống dân cư
Sự phát triển ấy của hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển quan hệ liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong ngành công nghiệp dệt may của vùng, là yếu tố tiền đề không thể thiếu cho sự hình thành và phát triển các CLKCN dệt may
Thứ tư, sự manh nha hình thành các hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ mang tính
chất của CLKCN dệt may
Ngoài những cụm công nghiệp nhỏ ở các làng nghề dệt may truyền thống, mà điển hình
là Cụm công nghiệp dệt lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông, Hà Nội), biểu hiện rõ nhất của “sự manh nha” của CLKCN dệt may trong vùng kinh tế này là Khu công nghiệp Dệt may Phố Nối B Với
cơ sở hạ tầng đồng bộ, Khu công nghiệp này đã thu hút hàng loạt DN dệt may và DN công nghiệp hỗ trợ dệt may trong nước và ngoài nước Bước đầu các DN này đã thiết lập được quan
hệ liên kết với các DN dệt may trong vùng Có thể coi Khu công nghiệp này là hạt nhân cơ bản cho sự hình thành CLKCN dệt may trong tương lai gần
Thứ năm, chủ trương và chính sách của Nhà nước về hình thành và phát triển CLKCN nói chung và CLKCN dệt may được xác định ngày càng rõ
Sau những chủ trương chung được nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI (2011), chiến lược và quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may, ngày 13/1/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 32/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình đồng bộ phát triển và nâng cấp cụm ngành và chuỗi giá trị sản xuất các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh: điện tử và công nghệ thông tin, dệt may, chế biến lương thực thực phẩm, máy nông nghiệp, du lịch và dịch vụ liên quan” Quyết định đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp của Chương trình Tóm lại, VKTTĐBB đã có được các yếu tố tiền đề thuận lợi cho sự hình thành, phát triển CLKCN dệt may Tuy nhiên, những yếu tố đó chưa thật sự toàn diện và đồng bộ, quá trình phát
Trang 9triển sẽ phải là quá trình tiếp tục bổ sung và hoàn thiện những yếu tố tiền đề này để đáp ứng
một cách tốt nhất yêu cầu hình thành và phát triển CLKCN dệt may
3.3.2 Những khó khăn hạn chế và nguyên nhân chủ yếu
Thứ nhất, chưa có sự thống nhất trong nhận thức về CLKCN nói chung, CLKCN dệt may
nói riêng
Ở nước ta, việc nghiên cứu về CLKCN mới chỉ thực sự được bắt đầu từ đầu thập niên
2000 và việc triển khai trong thực tế còn đang ở giai đoạn nghiên cứu thí điểm Trong điều kiện
đó, việc chưa có sự thống nhất trong nhận thức, thậm chí chưa có sự hiểu biết, về CLKCN là
điều không tránh khỏi Trong các chuyên gia của các cơ quan nghiên cứu và cơ quan hoạch
định chính sách vẫn còn có những giải thích khác nhau về bản chất, đặc trưng, các nhân tố tác
động và các điều kiện hình thành CLKCN Ở cấp vi mô, hình thức CLKCN được đánh giá là
hoàn toàn mới mẻ đối với phần lớn các nhà quản trị DN Nhưng dù chưa có sự hiểu biết, hoặc
hiểu biết chưa đầy đủ về CLKCN, các nhà quản trị DN đều nhận thức được sự cần thiết phải
liên kết với nhau trong chuỗi giá trị và việc lựa chọn các đối tác trong cùng không gian lãnh thổ
sẽ thuận lợi hơn và có hiệu quả hơn Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, quan
hệ liên kết giữa các DN, các tổ chức chưa được thiết lập
Thứ hai, quan hệ hợp tác, liên kết giữa các DN dệt may với nhau và với các tổ chức liên
quan còn rời rạc và kém hiệu quả
Quan hệ liên kết theo chiều dọc giữa các đơn vị thuộc khu vực hạ nguồn (DN may) với
các đơn vị thuộc khu vực thượng nguồn (DN hỗ trợ) kém phát triển do sự yếu kém của khu vực
thượng nguồn trong việc đáp ứng yêu cầu của khu vực hạ nguồn về chủng loại, số lượng, chất
lượng giá cả và thời gian cung ứng các loại nguyên phụ liệu
Quan hệ liên kết theo chiều ngang giữa các DN hoạt động cùng lĩnh vực, chủ yếu là cắt –
may, gần như chưa được thiết lập, do các DN này chủ yếu thực hiện phương thức gia công cho
các hãng nước ngoài (CMT, FOB cấp 1 và FOB cấp 2) Thậm chí, các DN này còn cạnh tranh
với nhau để giành đơn hàng của nước ngoài Hiện nay, các DN dệt may Việt Nam đang thực
hiện khâu có giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu (Sơ đồ 3.8)
Sơ đồ 3.8: Vị trí của các doanh nghiệp may Việt Nam trong chuỗi giá trị dệt may toàn cầu
Nguồn: Tác giả thiết kế dựa theo Lý thuyết Đường cong nụ cười của Stan Shih
Thứ ba, công nghiệp hỗ trợ dệt may chưa phát triển
Căn nguyên của tình trạng phát triển yếu kém này bắt nguồn từ cơ chế chính sách của Nhà nước chưa có những ưu đãi đủ để tạo động lực mạnh mẽ thu hút đầu tư trong và ngoài nước Trong khi chủ trương phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ để phát triển có hiệu quả và bền vững công nghiệp đất nước, thì những cơ chế chính sách liên quan không những chưa thể hiện rõ nét những ưu đãi trong đầu tư, mà còn gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm cho các nhà đầu tư tiếp cận với những ưu đãi Điều đó không những làm cho công nghiệp hỗ trợ dệt may chưa phát triển tương xứng với yêu cầu, mà vô hình trung còn dẫn đến sự phát triển mất cân đối giữa các DN thuộc khu vực hạ nguồn (DN cắt may) với các DN khu vực thượng nguồn (DN công nghiệp hỗ trợ dệt may) Trong điều kiện hiện nay, đứng trên góc độ nhà đầu tư, việc đầu tư vào lĩnh vực cắt may có sự hấp dẫn hơn so với đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ: tổng vốn đầu tư, suất đầu tư thấp, sự phức tạp về công nghệ sản xuất và độ rủi ro kinh doanh đều thấp hơn
Tình trạng này đã dẫn đến hạn chế khả năng thiết lập CLKCN dệt may vì hạn chế khả năng thiết lập quan hệ liên kết theo chiều dọc của chuỗi giá trị dệt may
Thứ tư, chưa có cơ chế chính sách cụ thể khuyến khích, hỗ trợ phát triển CLKCN dệt may
Chủ trương về hình thành CLKCN ở một số ngành và một số vùng kinh tế thì mới được hình thành trong Quyết định số 32/QĐ-TTg ngày 13/1/2015 của Thủ tướng Chính phủ Đó là điều kiện tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển CLKCN dệt may trong Vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ Nhưng, như trên đã đề cập, từ ban hành cơ chế chính sách đến triển khai thực hiện ở nước ta thường có một khoảng cách khá xa Tuy Quyết định đã quy định trách nhiệm của Bộ Công thương chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, nhưng từ quy định cơ chế chính sách chung này đến triển khai thực hiện cho từng ngành, từng vùng kinh tế và từng địa phương còn quá nhiều việc phải làm
và phải phối hợp giữa các cơ quan cùng làm Đó là điều không thể thực hiện trong một sớm một chiều
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP DỆT MAY TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 4.1 Phương hướng phát triển công nghiệp dệt may và cụm liên kết công nghiệp dệt may trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
4.1.1 Bối cảnh phát triển 4.1.1.1 Bối cảnh quốc tế
- Xu hướng chuyển dịch ngành công nghiệp dệt may từ các nước công nghiệp phát triển sang các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
- Nhu cầu hàng dệt may không ngừng tăng lên về số lượng, đa dạng về kiểu cách mẫu mã
và đòi hỏi khắt khe về thời hạn cung ứng ra thị trường
- Sự hình thành Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (tpp) vừa tạo ra những cơ hội, nhưng cùng làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường dệt may thế giới ngày càng gay gắt
Trang 1019
4.1.1.2 Bối cảnh trong nước
- Công nghiệp dệt may được xác định là một trong những ngành công nghiệp trọng điểm
trong chiến lược phát triển công nghiệp thời kỳ đẩy nhanh CNH,HĐH
- Với việc ký kết hàng loạt FTA thế hệ mơi và gần đây là việc kết thúc đàm phán về TPP
đã mang lại cơ hội to lớn và cũng đặt ra thách thức gay gắt với công nghiệp dệt may nước ta
- Những lợi thế nổi trội của VKTTĐBB về truyền thống sản xuất, vị trí địa lý, số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thuật sẵn có, tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển mạnh mẽ ngành dệt may
4.1.2 Phương hướng phát triển
Phương hướng phát triển thị trường
- Về thị trường nội địa: cùng với các DN may trong cả nước phấn đấu nâng cao năng lực
cạnh tranh, đa dạng hóa kiểu cách mẫu mã, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, đa
dạng hóa các kênh tiêu thụ để tiến tới làm chủ thị trường trong nước
- Về thị trường nước ngoài: củng cố và phát triển các thị trường xuất khẩu truyền thống
hiện có (Mỹ, EU, Nhật Bản), vươn lên thâm nhập vào các khúc thị trường cao cấp; mở rộng thị
trường các nước thành viên TPP
Phương hướng phát triển các khâu theo chuỗi giá trị dệt may
- Phát triển các DN cắt may theo hướng hiện đại, đủ khả năng sản xuất chủng loại sản
phẩm đáp ứng nhu cầu ở các phân khúc thị trường khác nhau
- Đẩy mạnh phát triển các DN công nghiệp hỗ trợ dệt may, trước hết tập trung vào các
khâu kéo sợi, dệt vải, sản xuất chỉ khâu, khóa kéo và bao bì
- Chú trọng phát triển các khâu thiết kế sản phẩm và chế tạo mẫu, các dịch vụ hỗ trợ đầu
tư và kinh doanh cho các DN dệt may, đặc biệt là dịch vụ logistics
Phương hướng phát triển công nghệ
Phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững
Phương hướng phát triển theo không gian lãnh thổ
- Hà Nội tập trung phát triển mẫu mốt, thời trang
- Các doanh nghiệp kéo sợi và dệt vải được phát triển tập trung tại Khu Công nghiệp
Đình Vũ (Hải Phòng) và Khu Công nghiệp Hải Hà (Quảng Ninh)
- Các doanh nghiệp sản xuất phụ liệu may mặc (chỉ khâu, khóa kéo, mex, bao bì…) được
phát triển tập trung tại Hưng Yên và Hải Dương
- Các doanh nghiệp cắt may được phát triển rộng rãi ở tất cả các địa phương trong Vùng
4.1.3 Ma trận SWOT cho hình thành và phát triển cụm liên kết dệt may trong
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
Trên cơ sở các nội dung đã trình bày ở trên, tác giả tổng hợp ma trận SWOT đối với việc
hình thành, phát triển CLKCN dệt may trong VKTTĐBB
20
Bảng 4.1 Ma trận SWOT với hình thành và phát triển CLKCN dệt may
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
(1) Có truyền thống phát triển lâu đời; có mức độ tích tụ khá cao các DN dệt may và các tổ chức liên quan
(2) Các DN dệt may, công nghiệp hỗ trợ và các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ, các cơ sở đào tạo,… nằm trong các khâu khác nhau của chuỗi giá trị dệt may, tạo tiền đề thiết lập các quan hệ liên kết cả theo chiều dọc và theo chiều ngang
(3) Vị trí địa lý thuận lợi; có cơ sở hạ tầng đồng bộ và được ưu tiên đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới theo hướng hiện đại
(4) Ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ dệt may được xác định là ngành công nghiệp trọng điểm của vùng, được dành nhiều ưu đãi đầu tư và có độ hấp dẫn cao với các nhà đầu tư trong và ngoài nước
(5) Nhà nước đã ban hành chủ trương và chính sách phát triển CLKCN dệt may và dệt may được lựa chọn thí điểm hình thành CLKCN với sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế
(1) Chưa có nhận thức đầy đủ và thống nhất về CLKCN dẫn đến khó khăn trong việc nghiên cứu ban hành chính sách và tổ chức thực hiện trong thực tế
(2) Các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang giữa các chủ thể thực hiện các khâu khác nhau của chuỗi giá trị dệt may chưa được thiết lập rộng rãi, có hiệu quả và bền vững
(3) Cắt may là khâu mạnh nhất nhưng lại là khâu có giá trị gia tăng và hiệu quả kinh tế thấp và phụ thuộc vào nước ngoài do chủ yếu thực hiện phương thức gia công Thiết
kế sản phẩm, chế tạo mẫu, sản xuất nguyên phụ liệu dệt may và thương mại hóa sản phẩm là những khâu yếu nhất trong chuỗi giá trị dệt may
(4) Chủ trương chính sách của Nhà nước về CLKCN còn chung chung; chưa có quy hoạch cụ thể làm cơ sở phối hợp giữa cơ quan quản lý ngành và chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện
(1) Xu hướng dịch chuyển ngành dệt may
từ các nước công nghiệp phát triển tạo ra
cơ hội thuận lợi trong việc phát huy lợi thế của Vùng để phát triển mạnh mẽ ngành dệt may
(2) Nhu cầu hàng dệt may trên thị trường không ngừng gia tăng, trong khi các DN dệt may trong vùng ngày càng khẳng định
rõ vị trí trên thị trường, chiếm được lòng tin của người tiêu dùng và các hãng đặt hàng nước ngoài
(3) Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với việc ký kết các FTA và TPP tạo
cơ hội to lớn cho ngành may mặc Việt Nam
về mở rộng thị trường, tiếp nhận đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ và nâng cao kỹ năng quản lý
(4) Sự chia xẻ kinh nghiệm tổ chức hình thành, phát triển và vận hành CLKCN từ các nước thành công trong việc áp dụng mô hình tổ chức sản xuất theo lãnh thổ này
(1) Năng lực cạnh tranh của ngành dệt may còn thấp kém; quan hệ liên kết giữa các DN dệt may và các chủ thể liên quan còn rất lỏng lẻo, kém hiệu quả và kém bền vững (2) Phụ thuộc vào nước ngoài do chủ yếu thực hiện phương thức gia công, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển năng lực thiết
kế và marketing quốc tế còn yếu; đã tham gia được vào mạng sản xuất dệt may toàn cầu, nhưng chưa tham gia được vào khâu thương mại hóa, phân phối hàng may mặc trên thị trường quốc tế
(3) Phải tuân thủ những ràng buộc khắt khe liên quan đến hàng dệt may trong các FTA
và trong TPP; đang tồn tại khoảng cách chênh lệch lớn về trình độ phát triển giữa nước ta với các nước đối tác
(4) Chưa có cơ chế chính sách cụ thể về hình thành, phát triển CLKCN dệt may; đang tồn tại khoảng cách lớn từ chủ trương đến thực thi trong thực tế
Nguồn: Tác giả tổng hợp