--- TRẦN THỊ KIM TUYẾN NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC VÀ THỂ LỰC CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN Ở HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm Mã số: 60 42 01 14 LUẬN
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hà Nội, 2015
Trang 2-
TRẦN THỊ KIM TUYẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC VÀ THỂ LỰC CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN Ở HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60 42 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Loan
Hà Nội, 2015
Trang 3Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình về mọi mặt của PGS TS Trần Thị Loan Em vô cùng biết ơn và chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cô!
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn Sinh lý người và động vật, khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các em học sinh các trường: Trung học cơ sở Thị Trấn Sóc Sơn, Trung học cơ sở Hồng Kì, Trung học cơ sở Sóc Sơn, Trung học phổ thông Đa Phúc, Trung học phổ thông Trung Giã, Trung học phổ thông KimAnh và các
em lứa tuổi vị thành niên ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Kim Tuyến
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là của riêng tôi và chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Kim Tuyến
Trang 5MỞ ĐẦU 11
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4.1 Phạm vi nghiên cứu 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của đề tài 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục 3
6.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ em …4
1.2 Đặc điểm về thể lực của trẻ em 7
1.2.1 Đặc điểm hình thái của trẻ em 7
1.2.2 Đặc điểm về thể lực và thể trạng của trẻ em 9
1.3 Đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ em 13
1.3.1 Đặc điểm tần số thở của trẻ em 13
1.3.2 Đặc điểm tần số tim của trẻ em 14
1.3.3 Đặc điểm huyết áp của trẻ em 15
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục 18
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực 19
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 22
Trang 63.1.1 Tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên 24
3.1.2 Thời gian chu kì kinh nguyệt của trẻ vị thành niên 26
3.1.3 Số ngày hành kinh của trẻ vị thành niên 27
3.2 Một số đặc điểm hình thái của trẻ vị thành niên 28
3.2.1 Chiều cao của trẻ vị thành niên 28
3.2.2 Khối lƣợng cơ thể của trẻ vị thành niên 31
3.2.3 Vòng ngực trung bình của trẻ vị thành niên 35
3.2.4 Vòng bụng của trẻ vị thành niên 38
3.2.5 Vòng mông của trẻ vị thành niên 41
3.2.6 Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên 43
3.3 Đặc điểm thể lực và thể trạng của trẻ vị thành niên 46
3.3.1 Chỉ số pignet của trẻ vị thành niên 46
3.3.2 Thể lực của trẻ vị thành niên 47
3.3.3 Thể trạng của trẻ vị thành niên 50
3.4 Đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ vị thành niên 55
3.4.1 Tần số thở của trẻ vị thành niên 55
3.4.2 So sánh tần số thở của trẻ vị thành niên đã và chƣa dậy thì 56
3.4.3 Tần số tim của trẻ vị thành niên 57
3.4.4 Huyết áp của trẻ vị thành niên 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
KẾT LUẬN 65
KIẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 73
Trang 7BMI Body mass index (Chỉ số khối cơ thể)
CDC US Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm
kiểm soát và phòng ngừa bệnh của Mỹ)
Trang 8Bảng 2.1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu 18
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet 20
Bảng 3.1 Tuổi dậy thì (xuất tinh) của nam 24
Bảng 3.2 Tuổi dậy thì (có kinh nguyệt) của nữ 25
Bảng 3.3 Thời gian chu kì kinh nguyệt của trẻ vị thành niên 27
Bảng 3.4 Số ngày hành kinh của trẻ vị thành niên nữ 28
Bảng 3.5 Chiều cao của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 28
Bảng 3.6 Chiều cao của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 31
Bảng 3.7 Khối lƣợng cơ thể của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 33
Bảng 3.8 Khối lƣợng cơ thể của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 34
Bảng 3.9 Vòng ngực của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 35
Bảng 3.10 Vòng ngực của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 37 Bảng 3.11 Vòng bụng của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 38
Bảng 3.12 Vòng bụng của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 40 Bảng 3.13 Vòng mông của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 41
Bảng 3.14 Vòng mông của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 42 Bảng 3.15 Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 43
Bảng 3.16 Vòng cánh tay của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 45 Bảng 3.17 Chỉ số pignet của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 46
Bảng 3.18 Tỉ lệ trẻ vị thành niên theo thể lực 47
Bảng 3.19 Phân loại thể lực của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 49
Bảng 3.20 Chỉ số BMI của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 50
Bảng 3.21 Tỉ lệ trẻ vị thành niên theo thể trạng và giới tính 52
Bảng 3.22 Tỉ lệ trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì theo thể trạng 54
Bảng 3.23 Tần số thở của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 56
Trang 9Bảng 3.26 Tần số tim của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 59 Bảng 3.27 Huyết áp tối đa của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 60 Bảng 3.28 Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính 61 Bảng 3.29 Huyết áp tối đa của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì 63 Bảng 3.30 Huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã và chƣa
dậy thì 63
Trang 10Hình 2.1 Phân loại chỉ số BMI của trẻ em từ 2 đến 20 tuổi 21 Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ trẻ vị thành niên đã dậy thì theo tuổi 26 Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn chiều cao của trẻ vị thành niên theo tuổi và
giới tính 29 Hình 3.3 Biểu đồ biểu diễn chiều cao của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã
và chƣa dậy thì 31 Hình 3.4 Biểu đồ biểu diễn khối lƣợng cơ thể của trẻ vị thành niên theo
tuổi và giới tính 33 Hình 3.5 Biểu đồ biểu diễn khối lƣợng cơ thể của trẻ vị thành niên 11 - 13
tuổi đã và chƣa dậy thì 34 Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn vòng ngực trung bình của trẻ vị thành niên theo
tuổi và giới tính 36 Hình 3.7 Biểu đồ biểu diễn vòng ngực trung bình của trẻ vị thành niên 11 -
13 tuổi đã và chƣa dậy thì 37 Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn vòng bụng của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới
tính 37 Hình 3.9 Biểu đồ biểu diễn vòng bụng của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã
và chƣa dậy thì 39 Hình 3.10 Đồ thị biểu diễn vòng mông của trẻ vị thành niên theo tuổi và
giới tính 40 Hình 3.11 Đồ thị biểu diễn vòng mông của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi đã
và chƣa dậy thì 41 Hình 3.12 Biểu đồ biểu diễn vòng cánh tay của trẻ vị thành niên theo tuổi
và giới tính 43 Hình 3.13 Biểu đồ biểu diễn vòng cánh tay của trẻ vị thành niên 11 - 13 tuổi
đã và chƣa dậy thì 44
Trang 11Hình 3.15 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ trẻ vị thành niên theo loại thể lực 48 Hình 3.16 Biểu đồ biểu diễn thể lực của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới
tính 50 Hình 3.17 Biểu đồ biểu diễn chỉ số BMI của trẻ vị thành niên theo tuổi và
giới tính 51 Hình 3.18 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ trẻ vị thành niên theo thể trạng và giới tính 53 Hình 3.19 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ trẻ vị thành niên theo thể trạng 53 Hình 3.20 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ nam 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì theo
thể trạng 54 Hình 3.21 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ nữ 11 - 13 tuổi đã và chƣa dậy thì theo thể
trạng 55 Hình 3.22 Biểu đồ biểu diễn tần số thở của trẻ vị thành niên theo tuổi và
giới tính 56 Hình 3.23 Biểu đồ biểu diễn tần số tim của trẻ vị thành niên theo tuổi và
giới tính 58 Hình 3.24 Biểu đồ biểu diễn huyết áp tối đa của trẻ vị thành niên theo tuổi
và giới tính 61 Hình 3.25 Biểu đồ biểu diễn huyết áp tối thiểu của trẻ vị thành niên theo
tuổi và giới tính 62
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta, nền kinh tế, văn hoá, chính trị, khoa học, kỹ thuật đã và đang phát triển nhằm tiến tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy, việc nâng cao thể chất cho mỗi con người Việt Nam là vấn đề cực kỳ cấp thiết và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.Trong quá trình phát triển cá thể của con người, giai đoạn vị thành niên đặc biệt quan trọng vì đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn Trong giai đoạn này, quá trình sinh trưởng và phát triển của các
em diễn ra rất mạnh Mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành trong giai đoạn này
là tuổi dậy thì Chăm sóc sức khỏe tuổi vị thành niên là chăm sóc cho thế hệ tương lai, sao cho thế hệ trẻ của đất nước phát triển lành mạnh toàn diện về cả ba mặt: thể chất, trí tuệ và khả năng hòa nhập vào xã hội
Theo kết quả điều tra của các cơ quan chức năng, mặc dù thể lực và tầm vóc người Việt Nam đã có được bước phát triển khá trong những năm gần đây, nhưng
so với các tiêu chuẩn chung của quốc tế thì vẫn còn khiêm tốn, thua kém nhiều nước ngay trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản Trung Quốc So với chuẩn quốc tế, nam thanh niên Việt Nam kém 13,1cm (163,7cm so với 176,8cm), nữ thanh niên kém 10,7cm (153cm so với chuẩn quốc tế là 163,7cm) (theo [31]) Tố chất thể lực của thanh niên Việt Nam cũng bị xếp vào loại kém (thậm chí rất kém nếu so với chuẩn quốc tế hay Nhật Bản) (theo [37]) Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề về thể lực và chức năng sinh lý của trẻ em Việt Nam ở các địa bàn khác nhau Các kết quả nghiên cứu
đã được trình bày trong các tạp chí, các tài liệu chuyên ngành như trong cuốn sách
“Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX” [45],
“Hằng số sinh học người Việt nam” [44] và nhiều công trình nghiên cứu khác [2], [4], [7], [8], [9], [10], [15], [16], [17], [20], [23], [26],[27], [28], [29] [30], [31], [32], [38], [46], [50]
Cùng với đà phát triển của nền công nghiệp hiện đại, kinh tế ngày càng phát triển, tuổi dậy thì của thanh thiếu niên nước ta dường như cũng đến sớm hơn so với
Trang 13trước rất nhiều Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ em Việt Nam và trên thế giới Các kết quả nghiên cứu đã được lưu lại và trình bày trong các tạp chí, các tài liệu chuyên ngành [1], [3], [14], [24], [25], [33], [36], [40], [41], [42], [50], [51], [52], [53], [54], [58] Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh lý sinh dục, về hình thái - thể lực của trẻ em Việt Nam
ở các địa bàn khác nhau nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về sinh lý sinh dục
và thể lực của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn thuộc thủ đô Hà Nội Sóc Sơn là một huyện ngoại thành, nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, có sân bay quốc tế Nội Bài,
có nhiều khu du lịch đã và đang trên đà đô thị hóa rất mạnh cho nên trong những năm gần đây, tình hình kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn cũng có nhiều biến đổi, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em ở địa bàn, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên Nhằm cung cấp thêm một số thông tin về tuổi dậy thì và vấn đề thể lực của trẻ vị thành niên của huyện, với mong muốn hướng tới chương trình giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản, phát triển thể lực, giáo dục giới tính trong nhà trường kịp thời, phù hợp
với lứa tuổi, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục và
thể lực của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được một số đặc điểm sinh lý sinh dục và thể lực của trẻ vị thành
niên ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định được một số đặc điểm sinh lý sinh dục (tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên nam, nữ, thời gian của chu kỳ kinh nguyệt, số ngày hành kinh của nữ) của trẻ vị thành niên
- Xác định được một số đặc điểm thể lực (chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng bụng, vòng mông, vòng cánh tay) của trẻ vị thành niên
- Xác định được một số đặc điểm về thể lực và thể trạng (chỉ số pignet, thể lực, chỉ số BMI, thể trạng) của trẻ vị thành niên
- Xác định được một số đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp (tần số thở) và của hệ tuần hoàn (tần số tim, huyết áp tối đa, huyết áp tối thiểu) của trẻ vị thành niên
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cách chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý sinh dục và thể lực của trẻ vị thành niên (11 - 17 tuổi) thuộc một số trường THCS và trường THPT ở huyện Sóc Sơn, Hà
Nội Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2014 đến tháng 5/2015
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những trẻ vị thành niên (11 - 17 tuổi) thuộc một số trường THCS và trường THPT ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội Các đối tượng nghiên cứu
có sức khỏe và trạng thái tâm sinh lý bình thường, không có dị tật về hình thể và các bệnh mạn tính Tổng số đối tượng nghiên cứu là 840 trẻ vị thành niên, trong đó có
420 nam và 420 nữ
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Là đề tài đầu tiên xác định được đặc điểm sinh lý sinh dục và thể lực của trẻ
vị thành niên ở huyện Sóc Sơn, Hà Nội
- Các số liệu trong luận văn có thể góp phần vào việc bổ sung số liệu cho việc nghiên cứu về đặc điểm hình thái - thể lực và sinh lý sinh dục của trẻ vị thành niên
và có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nuôi, dạy trẻ em
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục
Các đặc điểm sinh lý sinh dục được xác định bằng phương pháp hồi cố và
phỏng vấn trực tiếp
6.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
Các đặc điểm hình thái (Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, vòng mông,
vòng bụng, vòng cánh tay, chỉ số pignet, chỉ số BMI) được xác định theo các
phương pháp đã chuẩn hóa hiện hành và nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang
Tần số thở và tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi
Huyết áp được xác định theo phương pháp Korotkov
Số liệu nghiên cứu được xử lý trên máy vi tính theo thuật toán thống kê xác suất dùng cho y, sinh học
Trang 15NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ em
Trong quá trình phát triển cá thể, giai đoạn vị thành niên đặc biệt quan trọng
vì đây là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người lớn, là giai đoạn phát triển mạnh cả về giới tính, thể lực, trí tuệ, tâm lý và khả năng thích nghi với xã hội Mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của cơ thể trong giai đoạn này là tuổi dậy thì Đây là lứa tuổi có những biến đổi có bản chất bước ngoặt về sinh lý và tâm lý Chính vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu các đặc điểm thể lực và sinh lý của trẻ em ở lớp tuổi này [1], [3], [14], [24], [25], [33], [34], [35], [36], [37], [38], [39], [40], [42], [48], [49], [53],…
Quá trình dậy thì thường kéo dài 3 - 4 năm và được chia thành thời kì bắt đầu dậy thì và tuổi dậy thì hoàn toàn Tuổi dậy thì hoàn toàn ở nữ được đánh dấu bằng lần có kinh nguyệt đầu tiên và của nam bằng lần xuất tinh đầu tiên Trong những năm 60 và nửa đầu thập kỉ 70 của thế kỉ trước, nhiều tác giả đã nghiên cứu về tuổi
có kinh lần đầu cũng như chu kì kinh nguyệt của công nhân, nông dân, học sinh
nông thôn và thành thị Năm 1975, trong cuốn “Hằng số sinh học của người Việt
Nam” các tác giả đã nêu lên tuổi dậy thì hoàn toàn ở các em gái là khoảng 13 - 14
tuổi và các em trai khoảng 15 - 16 tuổi [47]
Từ 1978 đến 1980, Đinh Kỷ, Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt, Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Thu Nhạn đã nghiên cứu những biến đổi của cơ thể tuổi dậy thì trên một số lượng lớn học sinh tiểu học và trung học cơ sở (THCS) thuộc nhiều địa bàn như Thái Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh Các chỉ số được nghiên cứu là tuổi có kinh lần đầu, kích thước tinh hoàn, tuổi phát triển tuyến vú, lông mu, lông nách, xuất tinh lần đầu [24]
Trang 16Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phú Đạt [14] trên 9587 trẻ em từ 6 - 17 tuổi
ở 6 tỉnh thành thuộc Miền Bắc Việt Nam cho thấy tuổi bắt đầu dậy thì ở trẻ nam là
13 năm 5 tháng 4 tháng và ở trẻ nữ cũng là 11 năm 10 tháng, còn tuổi bắt đầu xuất tinh của trẻ nam là 15 năm 3 tháng và tuổi bắt đầu kinh nguyệt của trẻ nữ là là 13 năm 5 tháng Ông nhận xét rằng tuổi dậy thì của trẻ em nam chậm hơn của trẻ em
nữ, của trẻ em ở thành phố sớm hơn ở nông thôn và của trẻ em nước ta chậm hơn các nước công nghiệp phát triển
Năm 1991, Đào Huy Khuê và cộng sự nghiên cứu trên 1478 học sinh lứa tuổi
6 - 17, trong đó có 750 nam và 728 nữ ở thị xã Hà Đông Kết quả cho thấy, tuổi có kinh lần đầu của nữ sinh là 13 năm 8 tháng ± 1 năm 8 tháng, tuổi dậy thì chính thức của nam là 15 - 16 tuổi Các dấu hiệu chính và phụ về tuổi dậy thì của nữ xuất hiện sớm hơn của nam từ 1 - 3 năm Tuy nhiên, đặc điểm phát dục theo từng cá thể, các dấu hiệu sinh dục của tuổi dậy thì xuất hiện rải rác nhiều năm và ngay ở tuổi 17 vẫn
có học sinh chưa bước vào dậy thì chính thức hoặc chưa đạt mức người trưởng thành Các tác giả còn nhận thấy, tuổi trung bình có kinh lần đầu và các dấu hiệu sinh dục phụ ở nữ sinh Hà Đông đến sớm hơn so với nữ sinh và thiếu nữ nông thôn trước đây Tác giả cho rằng điều này có liên quan chặt chẽ đến điều kiện sống ở thành thị và sự phát triển kinh tế - xã hội tốt hơn qua các năm [21]
Nghiên cứu của Cao Quốc Việt và cs [51] trên 7575 trẻ em từ 6 - 17 tuổi ở 4 tỉnh thành thuốc miền Bắc Việt Nam cho thấy tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ nam là lúc
13 năm 5 tháng ± 1 năm 3 tháng và tuổi dậy thì hoàn toàn là 15 năm 1 tháng ± 1 năm 4 tháng, và tuổi bắt đầu dậy thì của trẻ nữ là lúc 11 năm 10 tháng ± 1 năm 3 tháng và tuổi dậy thì hoàn toàn là 13 năm 5 tháng ± 1 năm 1 tháng
Năm 1997, Phan Thị Sang đã nghiên cứu một số chỉ số sinh lý sinh dục, sinh sản của nữ sinh và phụ nữ ở thành phố Huế Tác giả đã nghiên cứu mối liên quan giữa kích thước nhân trắc với việc có kinh nguyệt ở nữ sinh và cho rằng ở lứa tuổi
11 - 15, chiều cao đứng và cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt vượt trội hơn so với các em chưa có kinh nguyệt cùng lứa tuổi Tác giả nhận định, tuổi có kinh lần đầu ngày càng xuất hiện sớm hơn so với trước và tuổi có kinh lần đầu trung bình của các cô gái ở Huế trong thập kỷ 90 là 13,6 tuổi [40]
Trang 17Trong công trình nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỷ XX, Cao Quốc Việt và cs nghiên cứu về tuổi dậy thì ở trẻ
em và các yếu tố ảnh hưởng Các tác giả đã đưa ra kết luận là tuổi dậy thì của các
em gái thường đến sớm hơn so với các em trai khoảng từ 1 - 2 năm Tuổi dậy thì
của trẻ em thời điểm nghiên cứu đến sớm hơn so với các kết quả trong “Hằng số
sinh học người Việt Nam” năm 1975 khoảng 1 năm [53]
Kết quả nghiên cứu của Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan và cs [25] trên học sinh
từ 11 - 16 tuổi ở tỉnh Hải Dương cho thấy học sinh nam bắt dầu dậy thì từ 12 tuổi và đến 16 tuổi thì tất cả đều đã dậy thì; còn học sinh nữ bắt đầu dậy thì từ 11 tuổi và đến 15 tuổi thì tất cả đều đã dậy thì Phần lớn học sinh nam dậy thì ở tuổi 14 - 15 và phần lớn học sinh nữ dậy thì ở tuổi 13 - 14 Tuổi dậy thì của học sinh nữ đến sớm hơn của học sinh nam khoảng 1 năm Tuổi dậy thì trung bình của học sinh nam là
14 năm 7 tháng ± 1 năm 1 tháng và của học sinh nữ là 13 năm 5 tháng ± 11 tháng
Trong cuốn sách “Các giá tr sinh học người Việt Nam b nh thường th p ỉ 90
- thế ỉ ” (GTSH), các tác giả nhận thấy tuổi có kinh nguyệt lần đầu ở trẻ gái thay
đổi theo vùng miền Ở Hà Nội, tuổi có kinh lần đầu là 13 năm 2 tháng, ở nông thôn là
14 năm, ở Huế là 13 năm 7 tháng, ở miền núi Thừa Thiên Huế là 14 năm 7 tháng, ở thị xã Đắk Lắk là 13 năm 5 tháng, ở miền núi Đắk Lắk là 13 năm 9 tháng [48]
Năm 2006, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu về tuổi dậy thì hoàn toàn của học sinh trung học cơ sở các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình cho thấy tuổi dậy thì của nam dao động từ 13 năm 9 tháng đến 14 năm, tuổi dậy thì của nữ dao động từ 13 năm 4 tháng đến 13 năm 7 tháng; Thời điểm dậy thì hoàn toàn của học sinh dân tộc Dao đến sớm hơn so với các dân tộc Mường, Kinh, Tày [3]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] trên 3691 học sinh từ 11
- 17 tuổi ở Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy tuổi dậy thì của học sinh nữ dân tộc Kinh là 12 năm 10 tháng ± 1 năm 3 tháng, ở học sinh Mường là 13 năm 2 tháng ± 1 năm 3 tháng và ở học sinh Sán Dìu là 13 năm 4 tháng ± 1 năm 8 tháng; tuổi dậy thì của học sinh nam dân tộc Kinh là 14 năm 5 tháng ± 1 năm 2 tháng, ở học sinh Mường là 14 năm 2 tháng ± 1 năm 1 tháng và ở học sinh Sán Dìu là 14 năm 7 tháng
± 1 năm 4 tháng
Trang 18Nhìn chung kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy dậy thì là giai đoạn không chỉ thay đổi các yếu tố bên trong cơ thể mà còn chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố khác như giới tính, chủng tộc, môi trường sống v.v…
1.2 Nghiên cứu các đặc điểm về thể lực của trẻ em
1.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm h nh thái của trẻ em
Ở Việt nam, công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng về chiều cao và cân nặng của trẻ em là Mondiere (1875), sau đó đến công trình nghiên cứu của Huard và Bogot (1938), Đỗ Xuân Hợp (1943) (theo [24]) Tuy nhiên các công trình này còn lẻ tẻ và phương pháp nghiên cứu còn đơn giản
Từ năm 1974 đã có một số tác giả nghiên cứu các chỉ số hình thái giải phẫu của người Việt Nam Năm 1975, kết quả của những công trình nghiên cứu đó được tập hợp lại và được trình bày trong cuốn “Hằng số sinh học của người Việt Nam” [47] Trong đó trình bày khá đầy đủ các chỉ số sinh học của người Việt Nam từ sơ sinh đến trưởng thành như chiều cao, cân nặng, vòng đầu, vòng ngực, vòng bụng, vòng mông
Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs [16] nghiên cứu trên 8000 người từ 1
- 55 tuổi nhận thấy chiều cao của nam tăng nhanh đến 18 tuổi và của nữ đến 14 tuổi
và có sự gia tăng về chiều cao của người Việt Nam
Từ năm 1980 đến 1990, Thẩm Thị Hoàng Điệp [15] nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 16 - 17 tuổi đã đưa ra kết luận, chiều cao phát triển mạnh nhất lúc 11 - 12 tuổi ở nữ và 13 - 15 tuổi ở nam, cân nặng phát triển mạnh nhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam Quy luật phát triển các đoạn chi phù hợp với quy luật phát triển chiều cao còn quy luật phát triển kích thước các vòng gần giống với quy luật phát triển khối lượng cơ thể
Năm 1991, Đào Huy Khuê [21] đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thước về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ 6 - 17 tuổi ở thị xã Hà Đông -
Hà Sơn Bình nhận thấy hầu hết các thông số hình thái đều tăng dần theo tuổi nhưng nhịp độ tăng không đều theo tuổi và theo giới tính; So với số liệu của các tác giả trước đây thì học sinh ở Hà Đông có hiện tượng gia tăng chiều cao và sớm hơn về đặc điểm phát dục liên quan với điều kiện sống ở thành thị của thị xã Hà Đông
Trang 19Năm 1993, Đoàn Yên và cs [55] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của người Việt Nam từ 3 đến 110 tuổi như chiều cao, cân nặng Các tác giả đã đưa ra nhận xét rằng chiều cao đứng, cân nặng trung bình của người Việt Nam nhỏ hơn của người Âu, Mỹ ở mọi lứa tuổi, nhịp độ tăng trưởng chậm, thời kỳ tăng trưởng kéo dài hơn và bước vào thời kỳ dậy thì cũng muộn hơn Ở nữ tăng trưởng nhảy vọt
về chiều cao lúc 12 - 13 tuổi và cân nặng lúc 13 tuổi Còn ở nam tăng trưởng nhảy vọt về chiều cao lúc 13 - 16 tuổi và cân nặng lúc 15 tuổi
Năm 1990 đến 1996, Trần Đình Long và cs nghiên cứu đặc điểm phát triển
và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển cơ thể của học sinh tại một số trường phổ thông ở Hà Nội Kết quả cho thấy, từ 17 - 18 tuổi sự phát triển cơ thể của cả học sinh nam và học sinh nữ đều chậm lại rõ rệt hoặc chững lại [32]
Năm 1991 - 1995, nghiên cứu trên học sinh từ 8 - 14 tuổi ở Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình, Trần Văn Dần và cs [8] nhận thấy, so với số liệu trong cuốn “Hằng
số sinh học người Việt Nam” thì sự phát triển chiều cao của học sinh tốt hơn, đặc biệt là của học sinh ở thành phố và thị xã
Năm 1996, khi nghiên cứu chiều cao và cân nặng của nữ sinh từ 9 - 17 tuổi, Phan Thị Sang đưa ra nhận xét cả 2 chỉ số này của nữ sinh Huế tăng dần theo tuổi
Ở lứa tuổi 11 - 15, chiều cao và cân nặng của nhóm nữ sinh đã có kinh nguyệt trội hơn hẳn so với các em chưa có kinh nguyệt ở cùng lứa tuổi [40]
Năm 2002, Trần Thị Loan nghiên cứu trên học sinh Hà Nội 6 - 17 tuổi đã cho thấy, các chỉ số hình thái như chiều cao, cân nặng và vòng ngực của học sinh Hà Nội tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều trong các năm, thời điểm tăng nhanh chiều cao và cân nặng của nữ sớm hơn 2 năm so với của nam Do có sự phát triển không đồng thì và không đồng tốc của chiều cao, cân nặng và vòng ngực giữa nam và nữ nên trên đồ thị biểu diễn các chỉ số này theo tuổi và theo giới tính xuất hiện các điểm giao chéo tăng trưởng Tác giả còn nhận thấy chiều cao, cân nặng và vòng ngực của học sinh Hà Nội lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả từ những thập kỉ 80 trở về trước và so với học sinh Thái Bình, Hà Tây cùng thời điểm nghiên cứu [29]
Trang 20Năm 2009, Đỗ Hồng Cường [6] nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc tỉnh Hoà Bình đã cho thấy, tốc độ tăng các chỉ số sinh học của học sinh diễn ra không đều Chiều cao của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi và của học sinh nữ ở giai đoạn 11 - 13 tuổi Tốc độ tăng cân nặng của học sinh nam diễn ra nhanh ở giai đoạn 13 - 15 tuổi, của học sinh nữ ở giai đoạn 11 - 13 tuổi Vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng nhanh nhất ở giai đoạn từ 13 - 15 tuổi, ở học sinh nữ ở giai đoạn 11 - 13 tuổi
Gần đây, Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] nghiên cứu trên học sinh 11 - 17 tuổi ở miền núi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ nhận thấy các chỉ số hình thái của học sinh tăng theo tuổi Chiều cao của nam tăng nhanh lúc 14 - 15 và của nữ lúc 12 - 13 tuổi Thời điểm tăng nhanh cân nặng và vòng ngực của học sinh diễn ra chậm hơn so với thời điểm tăng chiều cao 1- 2 năm Chiều cao của học sinh dân tộc Kinh lớn hơn so với của học sinh dân tộc Mường và Sán Dìu
1.2.2 Nghiên cứu một số đặc điểm v thể lực và thể trạng của trẻ em
Thể lực của con người là một khái niệm tổng hợp có liên quan chặt chẽ tới sức khỏe lao động và thẩm mỹ của con người Một trong những biểu hiện cơ bản của thể lực là số đo của cơ thể, trong đó chiều cao, cân nặng và vòng ngực là những chỉ số cơ bản Từ ba chỉ số này có thể tính thêm các chỉ số tổng hợp nói lên mối liên
hệ giữa chúng nên có thể được dùng để đánh giá thể lực và thể trạng của con người một cách khách quan hơn như chỉ số khối cơ thể (BMI), chỉ số pignet, chỉ số Broca, chỉ số QVC, chỉ số Quetelet Trong số các chỉ số tổng hợp đó thì chỉ số pignet và chỉ số BMI được sử dụng phổ biến hơn cả
Chỉ số pignet thể hiện mối tương quan giữa chiều cao, cân nặng và vòng ngực, chỉ số này phản ánh tình trạng thể lực của con người
Chỉ số BMI thể hiện mối tương quan giữa chiều cao và cân nặng của cơ thể Chỉ số này cho phép đánh giá mức độ dinh dưỡng và khả năng hấp thu của cơ thể [29] nên được dùng để dánh giá thể trạng của con người Dựa vào chỉ số BMI, người ta có thể đánh giá được một người thuộc thể trạng bình thường hay bị suy dinh dưỡng hay bị thừa cân, béo phì
Trang 211.2.2.1 Nghi n cứu một số đặc điểm về thể lực của trẻ em
Chỉ số pignet có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của trẻ
em Do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Từ thế kỷ XX việc nghiên cứu thể lực của con người đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới như Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Quốc, Mỹ,… Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy, tốc độ phát triển thể lực diễn ra mạnh mẽ nhất ở tuổi dậy thì do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục Tốc độ tăng trưởng và thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào các yếu tố xã hội và môi trường sống [4] Điều này có thể thấy trong các công trình nghiên cứu của Bunak (1941), X.I.Galperin (1965), Toxniewicz (1968), Tanner (1979) (theo [29]) Một số tác giả đã nghiên cứu về các chỉ số thể lựccủa trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau như Ricken B, Wit J.M (theo [29])
Kết quả nghiên cứu chỉ số pignet của của Trần Đình Long và cs [32] năm
1995 trên học sinh ở Thái Bình cho thấy chỉ số pignet của học sinh tăng dần trong giai đoạn đầu và giảm dần ở giai đoạn sau Ranh giới giữa hai giai đoạn này ở nam
là 12 tuổi và ở nữ là 11 tuổi
Năm 1998, nguyễn Văn Mùi nghiên cứu chỉ số pignet của học sinh Hải Phòng cũng có nhận xét tương tự
Năm 1998, Tạ Thúy Lan và Đàm Phượng Sào [26] nghiên cứu trên học sinh
ở Hà Tây lại thấy chỉ số pignet của học sinh nam tăng dần đến 14 tuổi và của học sinh nữ tăng dần đến 13 tuổi, rồi sau đó giảm dần
Năm 2002, nghiên cứu trên học sinh Hà Nội, Trần Thị Loan [29] nhận thấy chỉ số pignet của học sinh nam tăng dần từ 6 đến 14 tuổi và của học sinh nữ tăng dần đến 13 tuổi Sau lứa tuổi này, chỉ số pignet của các em giảm dần Sở dĩ ở giai đoạn đầu, chỉ số pignet của các em tăng dần là do ở giai đoạn này tốc độ tăng chiều cao nhanh hơn so với tốc độ tăng cân nặng và vòng ngực, còn ở giai đoạn sau, chiều cao tăng chậm lại còn vòng ngực và cân nặng lại tăng nhanh
Năm 2012, Trần Thị Loan và Lê Thị Tám [31] nghiên cứu trên học sinh từ 12
- 18 tuổi ở Tuyên Quang cũng nhận thấy chỉ số pignet của học sinh tăng dần từ 12 đến 15 tuổi đối với nam và đến 13 tuổi đối với nữ và sau đó giảm dần Đối chiếu chỉ
Trang 22số pignet với thang phân loại thể lực cho thấy ở giai đoạn đầu học sinh có thể lực yếu (pignet >41,1) còn ở giai đoạn sau, học sinh có thể lực trung bình và khỏe Điều này chứng tỏ khi tuổi tăng, cơ thể học sinh dần cân đối hơn và thể lực tốt dần lên
Năm 2012, Trần Thị Loan và Nguyễn Bá Hùng [30] nghiên cứu thể lực của học sinh dân tộc Kinh và Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy chỉ số pignet của học sinh cả hai dân tộc đều giảm dần theo tuổi chứng tỏ thể lực của học sinh tăng dần theo tuổi Đối chiếu chỉ số pignet với thang phân loại thể lực cho thấy đối với học sinh nam dân tộc Kinh từ 12 - 15 tuổi và dân tộc Sán Dìu 12 - 13 tuổi có thể lực yếu, còn ở giai đoạn sau, từ 12 - 13 tuổi học sinh nữ dân tộc Kinh có thể lực trung bình và học sinh nữ dân tộc Sán Dìu có thể lực khỏe
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu trên học sinh dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ [37] cho thấy chỉ số pignet của học sinh tăng dần từ 11 - 14 tuổi - khi tốc độ tăng chiều cao của học sinh nhanh hơn so với tốc độ tăng cân nặng
và vòng ngực, và giảm dần ở giai đoạn 15 - 17 tuổi- khi tốc độ tăng chiều cao của học sinh chậm hơn so với tốc độ tăng cân nặng và vòng ngực Chỉ số pignet của học sinh cả ba dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu đều thuộc nhóm sức khỏe trung bình và tốt dần lên theo tuổi
1.2.1.2 Nghi n cứu một số đặc điểm về thể tr ng của trẻ em
Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả A Goran, Nguyễn Công Khanh và
cs (1996) trên học sinh Hà Nội về BMI cho thấy, chỉ số BMI đều tăng theo tuổi (theo [29]) Đặc điểm này cũng thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu khác [9], [16], [32], [54]… Theo một số tác giả nhận định, tốc độ phát triển thể lực giữa nam
và nữ khác nhau Từ 7 - 10 tuổi, tốc độ tăng trưởng chiều cao của nữ nhanh hơn so với của nam, nhưng từ 11 tuổi trở lên thì tốc độ tăng trưởng chiều cao của nam lại nhanh hơn so với của nữ Đây chính là nguyên nhân đã tạo ra điểm giao chéo tăng trưởng chiều cao lần thứ nhất và lần thứ 2 lúc 11 và 14 tuổi [26]
Năm 2002, nghiên cứu trên học sinh Hà Nội từ 6 - 17 tuổi, Trần Thị Loan [29] nhận thấy chỉ số BMI ở học sinh của cả nam và nữ đều tăng dần theo tuổi do trong quá trình phát triển cá thể, từ 6 đến 17 tuổi mức tăng cân nặng của học sinh lớn hơn so với mức tăng chiều cao
Trang 23Năm 2012, Trần Thị Loan và Lê Thị Tám [31] nghiên cứu trên học sinh từ 12
- 18 tuổi ở Tuyên Quang cũng nhận thấy do ở giai đoạn này tốc độ tăng chiều cao của học sinh thấp hơn mức độ tăng cân nặng nên chỉ số BMI của học sinh tăng dần theo tuổi Đối chiếu chỉ số BMI của học sinh với thang phân loại thể trạng của CDC thì học sinh trong nhóm nghiên cứu không có học sinh nào bị béo phì nhưng có tới 19,77% bị suy dinh dưỡng, 0,95% bị thừa cân và 79,28% có thể trạng bình thường
Năm 2012, Trần Thị Loan và Nguyễn Bá Hùng [30] nghiên cứu thể trạng của học sinh dân tộc Kinh và Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy chỉ số BMI của học sinh cả hai dân tộc đều tăng dần theo tuổi chứng tỏ thể trạng của các em tốt dần lên Đối chiếu chỉ số BMI của học sinh với thang phân loại thể trạng của CDC thì học sinh trong nhóm nghiên cứu có tới 11,38% bị suy dinh dưỡng, 0,73% bị thừa cân và 87,80% có thể trạng bình thường nhưng vẫn còn có 0,08% học sinh bị béo phì Tuy nhiên chỉ có học sinh dân tộc Kinh bị thừa cân và béo phì còn trong số học sinh dân tộc Sán Dìu không có em nào bị thừa cân hay béo phì
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc nghiên cứu trên học sinh dân tộc ở miền núi tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ [37] nhận thấy chỉ số BMI của học sinh cả ba dân tộc Kinh, Mường, Sán Dìu đều tăng dần theo tuổi, tăng nhanh nhất đối với nam lúc
15 - 17 tuổi và đối với nữ lúc 14 - 15 tuổi Thời điểm tăng nhanh chỉ số BMI trùng với thời điểm tăng nhanh cân nặng của học sinh Đa số học sinh có thể trạng bình thường (đối với nam là 84,55% và đối với nữ là 84,85%), có tới 14,80% học sinh nam và 14,94% học sinh nữ bị suy dinh dưỡng Học sinh bị thừa cân chiếm tỉ lệ rất thấp (0,65% nam và 0,22% nữ) và không có học sinh nào bị béo phì
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về hình thái - thể lực của trẻ vị thành niên ở Việt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu trong các công trình có khác nhau ít nhiều, nhưng đều xác định được sự thay đổi của các chỉ số này theo lứa tuổi và theo giới tính Có sự khác biệt về các chỉ số hình thái - thể lực và thể trạng giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, giữa các địa bàn khác nhau cũng như giữa các dân tộc.
Trang 241.3 Đặc điểm sinh lý của hệ hô hấp và tuần hoàn của trẻ em
1.3.1 Tần số thở của trẻ em
Cơ thể luôn cần ôxi để ôxi hoá các chất hữu cơ, giải phóng năng lượng cần cho mọi hoạt động sống của cơ thể, đồng thời thải cabonic ra khỏi cơ thể Vì vậy, cơ thể phải thường xuyên trao đổi khí với môi trường bên ngoài Việc đổi mới không khí trong phổi được thực hiện qua động tác thở nhờ cử động của các cơ hô hấp với
sự luân phiên nhịp nhàng giữa động tác hít vào và thở ra Động tác hít vào là một
động tác tích cực, được thực hiện do các cơ hít vào (cơ hoành và cơ liên sườn ngoài) co lại, làm tăng thể tích của lồng ngực theo cả ba chiều: chiều trên dưới,
chiều trước sau và chiều ngang Động tác thở ra là một động tác thụ động và không
tiêu hao năng lượng Mỗi lần vừa hít vào vừa thở ra được gọi là một lần thở hay một nhịp thở Số lần thở trong một phút được gọi là tần số thở hay tần số hô hấp.Vì vậy, tần số thở là một trong những biểu hiện của hoạt động hô hấp của con người nên việc nghiên cứu tần số thở giúp chúng ta biết được đặc điểm hô hấp của con người
Theo Tạ Thúy Lan và Trần Thị Loan [25], động tác thở của trẻ em không phải hoàn toàn giống nhau, thậm chí cùng một đứa trẻ lại mỗi lúc thở một kiểu Người ta có thể chia thành các kiểu thở như thở bụng, thở ngực Ở trẻ nhỏ, các cơ của lồng ngực còn yếu nên động tác thở chủ yếu thực hiện bằng cơ hoành tạo ra kiểu thở bụng Ở trẻ lớn, các cơ liên sườn và cơ ức đòn chũm phát triển mạnh nên động tác thở được thực hiện chủ yếu bằng các cơ liên sườn phối hợp với cơ hoành tạo nên kiểu thở ngực Tần số thở của trẻ em vào mùa hè cao hơn vào mùa đông khoảng 2 - 6 nhịp/phút Do trung khu hô hấp chưa phát triển hoàn chỉnh nên tần số thở của trẻ em hay bị rối loạn, có lúc thở nhanh, có lúc thở chậm
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [55] nghiên cứu tần số thở của người Việt Nam
từ 4 - 110 tuổi nhận thấy từ 6 đến 17 tuổi, tần số thở của trẻ em giảm dần Cụ thể là tần số thở của nam giảm từ 28,8 lần/phút lúc 6 tuổi xuống còn 17 lần/phút lúc 17 tuổi; tần số thở của nữ giảm từ 24,2 lần/phút lúc 6 tuổi xuống còn 18,2 lần/phút lúc
17 tuổi
Trang 25Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] trên học sinh miền núi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy tần số thở của học sinh giảm dần theo tuổi với mức giảm dao động từ 0,44 ÷ 1,32 nhịp/năm và đến 17 tuổi gần tương đương so với của người lớn Thời điểm giảm nhanh tần số hô hấp của học sinh nam từ 13 - 15 tuổi
và của nữ từ 12 - 14 tuổi
Công trình của Đoàn Yên và cs [55] nghiên cứu tần số thở, dung tích sống, thể tích khí lưu thông, thể tích phút của người Việt Nam từ 6 đến 79 tuổi Các tác giả đã cho thấy, dung tích sống tăng nhanh đến 19 tuổi sau đó ổn định, từ 30 tuổi trở đi nó bắt đầu giảm Dung tích sống của người Việt Nam nhỏ hơn so với người Âu, Mỹ
Nghiêm Xuân Thăng [41] nghiên cứu một số chỉ số chức năng sinh lý của người Nghệ Tĩnh cho thấy, khí hậu có ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, trong đó tần số thở và dung tích sống chịu ảnh hưởng nhiều nhất của khí hậu
Nhìn chung, những nghiên cứu về chức năng hô hấp của người Việt Nam khá phổ biến, nhưng chủ yếu là trên đối tượng người trưởng thành với các chỉ tiêu phân
áp các chất khí trong máu, khuếch tán khí, chỉ tiêu chức năng thông khí phổi như dung tích sống, dung tích sống thở mạnh, thể tích khí lưu thông, thể tích khí cặn [10], [23], [25], [41], [52] nhưng các công trình nghiên cứu tần số thở của trẻ em chưa nhiều
1.3.2 Tần số tim của trẻ em
Hệ tuần hoàn có chức năng cơ bản là vận chuyển máu giàu oxi và chất dinh dưỡng đi nuôi toàn bộ cơ thể và vận chuyển khí cacbonic cùng những chất độc, chất thừa đến các cơ quan bài tiết để thải ra ngoài Hệ tuần hoàn gồm có tim và hệ thống mạch máu Trong đó, tim có chức năng vừa hút máu vừa đẩy máu, là động cơ chính của hệ tuần hoàn Công suất của tim phụ thuộc vào tần số tim và thể tích co tim Lượng máu do một tâm thất đẩy vào động mạch trong một lần co được gọi là thể tích
co tim Mỗi lần tim co bóp để đẩy máu đi được gọi là một nhịp tim Số lần tim co bóp trong một phút được gọi là tần số tim Vì vậy, tần số tim là một trong những biểu hiện của hoạt động tuần hoàn của con người nên việc nghiên cứu tần số tim là một trong các chỉ số giúp chúng ta biết được đặc điểm tuần hoàn của con người Vì vậy, tần số tim là một trong các chỉ số quan trọng để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn [37]
Trang 26Năm 1993, Đoàn Yên và cs [55] nghiên cứu tần số tim của người Việt Nam
từ 4 đến 110 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy tần số tim giảm dần từ 4 đến 25 tuổi
Từ 25 đến 60 tuổi, tần số tim đi vào ổn định và sau 60 tuổi, tần số tim lại tăng lên chút ít Các tác giả còn nhận thấy có sự khác biệt tần số tim theo giới tính, trước 12 tuổi, tần số tim của nam và nữ gần bằng nhau, sau 12 tuổi cho đến già, tần số tim của nữ cao hơn của nam
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thăng [41] nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ tiêu sinh lý của người cho thấy, tần số tim của con người ở tất cả các độ tuổi đều chịu ảnh hưởng của khí hậu Tần số tim tăng theo
sự tăng của nhiệt độ môi trường và biến đổi theo ngày, theo mùa, theo mức độ bức xạ
và trạng thái tâm, sinh lý Trong một ngày, tần số tim tăng dần từ sáng đến trưa, mùa
hè cao hơn so với mùa đông
Năm 1998, Nguyễn Văn Mùi [34] nghiên cứu trên học sinh từ 7 đến 15 tuổi ở Hải Phòng và nhận thấy huyết áp của các em tăng theo tuổi
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Loan [29] trên học sinh từ 6 đến 17 tuổi ở Hà Nội cho thấy tần số tim của các em tăng theo tuổi; Từ 6 đến 11 tuổi, tần số tim của nam và nữ khác nhau không đáng kể, còn từ 12 đến 17 tuổi tần số tim của nữ lớn hơn của nam 2 - 4 lần/phút
Năm 2006, Đỗ Hồng Cường nghiên cứu trên học sinh các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình cũng đưa ra kết luận tần số tim của học sinh THCS các dân tộc Kinh, Mường, Thái và Tày giảm dần theo tuổi [15]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] trên học sinh miền núi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy tần số tim của học sinh giảm dần theo tuổi, thời điểm giảm nhanh lúc 11 - 13 tuổi đối với nữ và 12 - 14 tuổi đối với nam Tần
số tim của nữ cao hơn so với của nam ở hầu hết các lứa tuổi nghiên cứu
1.3.3 Huyết áp của trẻ em
Khi tim co bóp sẽ tạo nên lực đẩy máu chảy trong động mạch Áp lực của máu lên thành mạch được gọi là huyết áp Như vậy, huyết áp là kết quả tổng hợp của sức co bóp của tim, sức đàn hồi của thành mạch máu và sức cản của dòng máu
Trang 27Huyết áp khi tim co và khi tim giãn không giống nhau Khi tim co, áp lực của máu mạnh tạo nên huyết áp tối đa (hay còn gọi là huyết áp tâm thu) Khi tim giãn, áp lực của máu yếu nhất tạo nên huyết áp tối thiểu (hay còn gọi là huyết áp tâm trương) Ở trẻ em, do lực co bóp của tim còn yếu, thành mạch máu còn mỏng nên huyết áp thường nhỏ hơn của người lớn Như vậy, huyết áp là một chỉ số quan trọng phản ánh chức năng của hệ tuần hoàn và ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển của toàn bộ cơ thể trẻ em Vì vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này
Số liệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [47] cho thấy huyết áp tăng dần từ 3 đến 17 tuổi và trong cùng một độ tuổi thì huyết áp của nam cao hơn của
nữ Huyết áp thay đổi tùy theo tư thế của trẻ khi đo, khi đứng cao hơn khi nằm và ngồi
Kết quả nghiên cứu của Nghiêm Xuân Thăng [41] trên cư dân vùng Nghệ
An, Hà Tĩnh và nhận thấy huyết áp của trẻ em chịu ảnh hưởng của khí hậu
Trần Đỗ Trinh và cs nghiên cứu một số chỉ số sinh học người Việt Nam thập
kỷ 90 đã đưa ra kết luận: huyết áp tăng dần theo tuổi với mức tăng chậm nhất ở nhóm tuổi 15 - 19 và huyết áp của nam giới cao hơn so với của nữ giới [46]
Năm 1993, Đoàn Yên và cộng sự [55] nghiên cứu trên đối tượng 17 - 20 và 23
- 30 tuổi đã cho thấy, huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến 18 tuổi, sau đó ổn định đến 49 tuổi rồi lại tăng dần Huyết áp động mạch của người Việt Nam ở mọi lứa tuổi đều thấp hơn so với người Âu, Mỹ Ngoài ra, ông còn đưa ra nhận xét, thời điểm kết thúc tăng huyết áp tâm thu ở nam vào tuổi 18, ở nữ là 17 tuổi và thời điểm kết thúc tăng huyết áp tâm trương ở nam lúc
14 và ở nữ lúc 15 tuổi
Năm 1998, Nguyễn Văn Mùi nghiên cứu trên đối tượng trẻ em 7 - 15 tuổi cho thấy, huyết áp tâm thu của nam từ 7 - 9 tuổi cao hơn so với của nữ Từ 10 - 15 tuổi không có sự khác biệt chỉ số này theo giới tính Huyết áp tâm trương của các em nam
từ 7 - 13 tuổi cũng lớn hơn so với của nữ [34] Nhìn chung, huyết áp của nam cao hơn của nữ
Năm 2001, Trần Thị Loan trong nghiên cứu của mình cũng đưa ra kết luận huyết
áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh tăng dần theo tuổi, mỗi năm tăng trung bình
Trang 282 mmHg Từ 6 đến 17 tuổi, trong cùng một độ tuổi, huyết âp tâm thu và huyết áp tâm trương của nữ cao hơn so với của nam cùng tuổi khoảng 2 - 3 mmHg [27]
Năm 2006, Đỗ Hồng Cường cũng đưa ra kết luận huyết áp động mạch của học sinh THCS các dân tộc Kinh, Mường, Thái và Tày ở tỉnh Hòa Bình tăng dần theo tuổi, huyết áp động mạch của nữ cao hơn so với của nam [15]
Năm 2006, Trần Trọng Thủy và cs nghiên cứu huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 đến 20 tuổi Kết quả cho thấy, cả hai chỉ số này ở học sinh nông thôn đều cao hơn so với ở học sinh thành phố và vẫn thấp hơn so với chuẩn về huyết áp theo độ tuổi của Tổ chức Y tế thế giới [42]
Năm 2013, Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] nghiên cứu trên học sinh miền núi ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ nhận thấy huyết áp tâm thu và tâm trương của học sinh tăng dần theo tuổi Thời điểm tăng nhanh nhất huyết áp tâm thu lúc 12 - 13 tuổi đối với nam và 13 - 14 tuổi đối với nữ Thời điểm tăng nhanh huyết áp tâm trương lúc 12 - 14 tuổi đối với nữ và 13 - 15 tuổi đối với nam Huyết áp tâm thu của học sinh nữ cao hơn
so với của học sinh nam cả ba dân tộc Kinh, Mường và Sán Dìu
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, tần số tim và huyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kì Tần số tim giảm dần, huyết áp tâm thu và tâm trương tăng dần theo tuổi, nhưng tốc độ tăng không đều Tần số tim, huyết áp động mạch ở bất kì lứa tuổi nào cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu Ngoài
ra, tần số tim còn chịu sự chi phối bởi các yếu tố xã hội như lao động, trạng thái sinh, tâm lí
Trang 29Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là trẻ vị thành niên có độ tuổi từ 11 - 17 ở huyện Sóc
Sơn - Hà Nội Các đối tượng nghiên cứu có trạng thái tâm, sinh lý bình thường và
không có dị tật bẩm sinh, không có bệnh mạn tính Tổng số các đối tượng nghiên cứu gồm 840 trẻ vị thành niên độ tuổi từ 11 - 17, trong đó có 420 nam và 420 nữ Đối tượng nghiên cứu gồm 7 nhóm với các độ tuổi khác nhau, từ 11 đến 17 tuổi Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và theo giới tính được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Cách chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên (Ở mỗi lứa tuổi chọn bốc thăm ngẫu nhiên 120 em gồm 60 nam và 60 nữ)
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục
Các đặc điểm sinh lý sinh dục được xác định bằng phương pháp phỏng vấn
trực tiếp và điều tra cơ bản Nội dung phỏng vấn về tuổi dậy thì, thời gian chu kì
Trang 30kinh nguyệt, số ngày hành kinh, mức độ tuần hoàn của chu kỳ kinh, những biến đổi của cơ thể trong chu kỳ kinh nguyệt (phụ lục 10)
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực
Các chỉ số thể lực được xác định theo các phương pháp đã chuẩn hóa hiện hành
- Chiều cao đứng được xác định ở tư thế đứng thẳng trên nền phẳng, hai gót
chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thời đảm bảo 4 điểm chẩm, lưng, mông, gót chạm vào thước đo Tư thế thẳng đứng được xác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song song với mặt bàn cân
- Khối lượng cơ thể được xác định bằng cân đồng hồ có vạch chia đến 0,1 kg
Khi cân, đối tượng chỉ mặc quần áo mỏng, không đi giày dép và đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, đo xa bữa ăn
Các số đo vòng ngực, vòng mông, vòng bụng, vòng cánh tay được xác định bằng thước đo polyme có độ chính xác đến 1mm do Trung tâm thiết bị trường học -
Bộ Giáo dục và Đào tạo sản xuất Lấy trị số chính xác đến 0,1cm
- Vòng ngực trung b nh được xác định bằng số trung bình cộng của số đo
vòng ngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra gắng sức Vòng ngực được đo ở tư thế
đứng thẳng, vòng thước quấn quanh ngực, phía sau vuông góc với cột sống, sát dưới xương bả vai, phía trước qua mũi ức, sao cho mặt phẳng do thước đo tạo ra song song với mặt đất Trước khi đo hướng dẫn trẻ vị thành niên cách hít vào tận lực và thở ra gắng sức
- Vòng mông được đo ở tư thế đứng thẳng, vòng thước quấn quanh mông nơi
nở nhất, sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với mặt đất
- Vòng bụng được đo ở tư thế đứng thẳng Vòng thước dây quanh bụng, ở chỗ
eo nhỏ nhất sao cho mặt phẳng do thước dây tạo ra song song với mặt đất
Vòng cánh tay Đối tượng đứng thẳng, tay buông thõng, lòng bàn tay úp vào
đùi Vòng thước dây quanh cánh tay, ở vị trí 1/3 dưới
- Chỉ số pignet được tính theo công thức:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) - [Cân nặng (kg) + vòng ngực trung bình (cm)]
Trang 31Phân loại thể lực theo chỉ số pignet theo tiêu chuẩn của Nguyễn Quang Quyền [24]
Bảng 2.2 Phân loại thể lực theo chỉ số pignet
BMI đƣợc đánh giá theo CDC dùng cho trẻ em từ 2 - 20 tuổi (hình 2.1)
Biểu đồ BMI của nam từ 2 đến 20 tuổi
Trang 32Biểu đồ BMI của nữ từ 2 đến 20 tuổi
Hình 2.1 Phân lo i chỉ số BMI của trẻ em từ 2 đến 20 tuổi
- Tần số thở được xác định bằng ống nghe tim phổi sau khi đối tượng đã nghỉ
ngơi ít nhất 15 phút Người đo đặt ống nghe ở phía sau ngực trái hoặc phải của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp thở trong vòng 1 phút, đo
3 lần rồi lấy giá trị trung bình
- Tần số tim được xác định sau khi đối tượng đã nghỉ ngơi ít nhất 15 phút và
dùng ống nghe tim phổi để đo Người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng,
ở vị trí giữa xương sườn thứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút, đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếu thấy kết quả ba lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ ngơi 15 - 20 phút rồi đo lại
- Huyết áp động m ch được xác định bằng phương pháp Korotkov Dùng
huyết áp kế đồng hồ, đo huyết áp động mạch cánh tay trái Đối tượng nằm ở tư thế thoải mái, người đo quấn bao cao su quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải và đặt ống nghe ở động mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồ trước mặt Vặn chặt ốc ở bóp cao su và từ từ bơm cho tới khi không nghe thấy tiếng mạch đập và kim đồng hồ của huyết áp kế chỉ vào số 140 - 150 mmHg Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi ra từ từ và lắng nghe Trị số trên đồng hồ khi nghe thấy
Trang 33tiếng mạch đập đầu tiên chỉ huyết áp tối đa và lúc bắt đầu không nghe thấy tiếng mạch đập nữa chỉ huyết áp tối thiểu Đối với các trường hợp kim đồng hồ hạ dần tới
0 mmHg mà vẫn nghe thấy tiếng mạch đập thì đo lại và lấy trị số huyết áp tối thiểu ngang mức khi tiếng mạch đập thay đổi âm sắc Đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình của 3 lần đo
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các dữ liệu được xử lý theo phương pháp thống kê dùng trong y - sinh học [48] được tính theo trị số giá trị trung bình (X ), độ lệch chuẩn (SD), hệ số tương quan pearson (r) Các mẫu nghiên cứu đều có n > 30, nên:
- Tính giá trị trung bình theo công thức:
n
X X
n
i i
Trong đó: X - Giá trị trung bình;
Xi - Giá trị thứ i của đại lượng X;
n - Số cá thể ở mẫu nghiên cứu;
n
i
n i
n
i
n i
n i
n
i i
i
Y Y
n X
X n
Y X
Y X
n r
1
2 1
2 1
2 1 2
.
.
.
Trang 34Trong đó: Xi - Từng giá trị của đại lượng X;
Yi - Từng giá trị của đại lượng Y;
n - Số mẫu có trong công thức;
r - Hệ số tương quan giữa hai đại lượng X và Y;
Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu được kiểm định bằng hàm “T - test” theo phương pháp Student - Fisher
.
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của trẻ vị thành niên
3.1.1 Tuổi dậy th của trẻ vị thành niên
Tuổi dậy thì (hay còn gọi là tuổi dậy thì hoàn toàn) của nữ được tính bằng tuổi có kinh lần đầu tiên trong đời và của nam được tính bằng lần xuất tinh đầu tiên trong đời
3.1.1.1 Tuổi d y th của trẻ v thành ni n nam
Kết quả nghiên cứu tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên được trình bày trong bảng 3.1, bảng 3.2 và hình 3.1
Bảng 3.1 Tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên nam
Tuổi n Số trẻ đã dậy thì Tuổi dậy thì (năm, tháng)
Số liệu trong bảng 3.1 cho thấy ở độ tuổi 11 đã có 18,33% trẻ nam đã dậy thì
Tỉ lệ trẻ nam đã dậy thì tăng dần theo tuổi, đến 12 tuổi có 83,33%, đến 14 và 15 tuổi
có 98,33% và đến 16 tuổi trở lên thì tất cả trẻ nam đều đã dậy thì Như vậy, phần lớn trẻ nam dậy thì ở độ tuổi 12 So với kết quả nghiên cứu của Tạ Thúy Lan, Trần Thị Loan và cs (tuổi dậy thì của nam bắt đầu từ 12 tuổi và kết thúc lúc 16 tuổi), của Nguyễn Thị Bích Ngọc năm 2013 (tuổi dậy thì của các em nam dân tộc Kinh bắt
Trang 36đầu từ lúc 12 tuổi và đến 17 tuổi vẫn còn 0,5% chưa dậy thì), thì các em nam trong nghiên cứu của chúng tôi dậy thì sớm hơn
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy tuổi dậy thì trung bình của trẻ
vị thành niên nam ở huyện Sóc Sơn là 12 năm 9 tháng ± 10 tháng So với số liệu của các tác giả khác (phụ lục 1) như của Đỗ Hồng Cường [3], Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] thì tuổi dậy thì cùa trẻ em nam trong nghiên cứu của chúng tôi đến sớm hơn
Số liệu trong bảng 3.2 cho thấy ở độ tuổi 11 đã có 60,00% trẻ nữ đã dậy thì
Tỉ lệ trẻ nữ đã dậy thì tăng dần theo tuổi, đến 12 tuổi có 63,33%, đến 13 tuổi có 90,00% và đến 14 tuổi trở lên thì tất cả trẻ nữ đều đã dậy thì Như vậy, phần lớn trẻ
nữ dậy thì ở độ tuổi 11 - 12 So với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc năm 2013 (tuổi dậy thì của các em nữ dân tộc Kinh bắt đầu từ lúc 11 tuổi và đến 16 tuổi tất cả đã dậy thì), thì các em nữ trong nghiên cứu của chúng tôi dậy thì sớm hơn Kết quả nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy tuổi dậy thì trung bình của trẻ
vị thành niên nữ ở huyện Sóc Sơn là 12 năm 5 tháng ± 1 năm
So sánh kết quả nghiên cứu về tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên nam và nữ ở huyện Sóc Sơn cho thấy nam dậy thì muộn hơn so với nữ khoảng 1 năm Kết quả này phù hợp với kết luận trong nghiên cứu của Cao Quốc Việt và cs [51]
Trang 37So với số liệu của các tác giả khác (phụ lục 1) như của Taner [58], Đinh Kỷ và Cao Quốc Việt [22], Đào Huy Khuê [21], Đỗ Hồng Cường [3], Nguyễn Thị Bích Ngọc [37] thì tuổi dậy thì cùa trẻ em nữ trong nghiên cứu của chúng tôi đến sớm hơn
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Tỉ lệ (%)
Nam Nữ
Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ trẻ v thành ni n đã d y th theo tuổi
Qua phân tích ở trên cho thấy tuổi dậy thì của trẻ vị thành niên cả nam và nữ
ở huyện Sóc Sơn đến sớm hơn so với trẻ em trong các nghiên cứu trước đây của các tác giả khác Điều này theo chúng tôi ngoài các yếu tố về di truyền, giới tính còn do điều kiện sinh hoạt, chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, chế độ dinh dưỡng được đảm bảo hơn, bên cạnh đó việc tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, ti vi, internet, sinh hoạt cộng đồng,… cũng phần nào tác động đến việc dậy thì sớm của các em
3.1.2 Thời gian chu k kinh nguyệt của trẻ vị thành niên
Kỳ kinh nguyệt đầu tiên là dấu hiệu kịch tính và khái quát nhất về một vai trò mới của bé gái Sau đó, mỗi tháng thường xuất hiện hiện tượng hành kinh một lần Thời gian giữa hai lần kinh nguyệt liền kề được gọi là chu kỳ kinh nguyệt Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt được tính bằng khoảng thời gian giữa ngày chảy máu đầu tiên của chu kì kinh nguyệt này với ngày chảy máu đầu tiên của chu kỳ kế tiếp Kết qủa nghiên cứu ở trẻ vị thành niên huyện Sóc Sơn được trình bày trong bảng 3.3
Trang 38Bảng 3.3 Thời gian chu kì kinh nguyệt của trẻ vị thành niên
3.1.3 Số ngày hành kinh ở trẻ vị thành niên
Số liệu trong bảng 3.4 cho thấy, số ngày hành kinh của các em dao động từ 4,98 đến 5,85 ngày, chênh lệch trung bình giữa số ngày hành kinh ngắn nhất và dài nhất là 0,87 ngày Mức chênh lệch về số ngày hành kinh nhiều nhất ở lứa tuổi 11 là 1,33 ngày và 12 tuổi là 1,37 ngày, sau đó giảm dần sau mỗi lứa tuổi và đến 17 tuổi mức chênh lệch chỉ còn 0,40 ngày Ở giai đoạn từ 11 - 13 tuổi, mức chênh lệch về
số ngày hành kinh khá cao chứng tỏ ở giai đoạn này, kinh nguyệt của các em chưa
ổn định Từ 15 tuổi trở đi, do các chức năng sinh lý sinh dục của các em đã tương
Trang 39đối ổn định nên số ngày hành kinh cũng đƣợc ổn định hơn Điều này phù hợp với nhận xét của một số tác giả khác [40], [47]
Bảng 3.4 Số ngày hành kinh của trẻ vị thành niên nữ
3.2 Một số đặc điểm hình thái của trẻ vị thành niên
3.2.1 Chi u cao của trẻ vị thành niên
3.2.1.1 Chiều cao của trẻ v thành ni n theo tuổi và giới tính
Bảng 3.5 Chiều cao của trẻ vị thành niên theo tuổi và giới tính
Trang 400 10
Hình 3.2 Biểu đồ biểu diễn chiều cao của trẻ v thành ni n theo tuổi và giới tính
Chiều cao là một trong các chỉ số quan trọng trong việc đánh giá thể lực của con người Nó thể hiện đặc điểm phát triển của từng cá thể theo lớp tuổi Chiều cao phụ thuộc vào yếu tố di truyền và có thể thay đổi tốc độ phát triển tùy thuộc vào điều kiện sống và hoạt động của con người
Kết quả nghiên cứu chiều cao của trẻ vị thành niên ở huyện Sóc Sơn (bảng 3.5 và hình 3.2) cho thấy, chiều cao của các em tăng khi tuổi tăng Cụ thể là chiều cao của nam tăng từ 147,33 cm lúc 11 tuổi lên đến 167,98 cm lúc 17 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 3,44cm; chiều cao của nữ tăng từ 147,16 cm lúc 11 tuổi lên đến 156,73 cm lúc 17 tuổi, mỗi năm tăng trung bình 1,60 cm Như vậy, ở giai đoạn này, chiều cao của nam tăng nhanh và tăng nhiều hơn của nữ Tuy nhiên, tốc độ tăng chiều cao của các em diễn ra không đồng đều theo độ tuổi và có thời điểm tăng nhảy vọt Chiều cao của nam tăng nhanh trong giai đoạn từ 12 - 14 tuổi, tăng nhảy vọt lúc 12 - 13 tuổi (tăng 8,56 cm/năm), còn của nữ tăng nhanh từ 11 - 13 tuổi, tăng nhảy vọt lúc 11 - 12 tuổi (tăng 4,51 cm/năm) Trong cùng một độ tuổi, chiều cao của nam và nữ không giống nhau Từ 11 - 12 tuổi, chiều cao của nam và của nữ tương đương nhau, còn từ 13 - 17 tuổi, chiều cao của nam lớn hơn của nữ với mức