1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

kinh nghiem sua loi chinh ta cho hoc sinh trong giang day ngu van 6

16 672 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 151,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế cho thấy đa số học sinh viết chữ xấu, sai lỗi chính tả nhiều làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của các em.. Tôi đã tiến hành tìm những biện pháp cụ thể, thích hợp để luyện

Trang 1

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH

TRONG GIẢNG DẠY NGỮ VĂN LỚP 6.4

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

1 Cơ sở lý luận :

Học sinh bắt đầu làm quen học chữ và rèn luyện viết chính tả ngay từ khi học mẫu giáo Công việc này diễn ra đều đặn và thường xuyên trong suốt thời gian học Tiểu học Nhưng đến bậc trung học cơ sở thì chương trình Văn – Tiếng Việt không đề cập đến việc rèn chính tả cho học sinh nữa Như lớp 6 thì việc rèn luyện chính tả đã dần dần dừng lại để học các môn văn hoá Điều

đó cũng phù hợp với đặc điểm chương trình giáo dục Bởi việc viết chính tả chỉ tồn tại ở Tiểu học, lên bậc trung học cơ sở học sinh đã thành thạo chính tả từng con chữ Song, việc dừng hẳn không đề cập đến chính tả ở bậc học sau

đã làm cho một số đông học sinh tuỳ tiện khi viết chữ

Năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra việc luyện chính

tả vào Trung học cơ sở do bộ môn Ngữ Văn đảm nhiệm Điều này là một việc làm hết sức cần thiết và phù hợp với thực tế học sinh của chúng ta hiện nay Việc viết sai chính tả còn tồn tại ở số đông học sinh, kể cả bậc trung học phổ thông Qua thực tế giảng dạy và chấm sửa chữa bài cho học sinh, tôi nhận thấy rằng tình trạng viết sai chính tả rất nhiều Các em học yếu, kém viết sai chính tả là một lẽ, ngay cả các em học sinh khá, thậm chí cả học sinh giỏi cũng viết sai chính tả Khi hỏi các em tại sao thì bản thân các em đó không lý giải được hoặc có chăng thì cho là quen tay Bởi vì bản thân các em không hiểu được là sai hay đúng Việc viết sai chính tả của học sinh hiện nay chúng

ta có thể bắt gặp bất cứ ở văn bản nào, bất cứ ở môn học gì dù đó là môn xã hội hay môn tự nhiên Đây là một thực trạng chung của nhiều trường trung học cơ sở

.2 Cơ sở thực tiễn :

Chữ viết là hệ thống ký hiệu đồ hoạ đã được sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh Chức năng của chữ viết là đại diện cho lời nói So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau Vì vậy, chữ viết phải phụ thuộc vào lời nói Khi chữ viết và lời nói không có sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết

Chữ quốc ngữ (Tiếng Việt) là hệ thống chữ viết ghi âm Trong đó chính tả là sự chuẩn hoá hình thức của ngôn ngữ tiếng Việt Đó là một hệ thống các quy tắc về cách viết các âm vị, âm tiết, từ, cách dùng các dấu câu, lối viết hoa Từ đó, chính tả có vai trò rất lớn trong việc thể hiện thông tin của chữ viết Viết đúng chính tả sẽ làm cho việc truyền tin một cách chính xác đến người nhận, người nghe Ngược lại, trong một số trờng hợp sai chính tả sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu trái ngược thông tin định chuyển tải, có khi dẫn đến

sự hiểu lầm tai hại

Trang 2

Trong nhà trường, vai trò của chính tả rất quan trọng Một văn bản viết đúng chính tả thể hiện một nhận thức đúng đắn về tiếng Việt Viết đúng chính

tả cũng là một phần góp cho sự trong sáng của tiếng Việt

3 Tính cấp thiết của đề tài:

Chữ viết của học sinh hiện nay đang là vấn đề nan giải trong nhà trường Thực tế cho thấy đa số học sinh viết chữ xấu, sai lỗi chính tả nhiều làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập của các em Đã không ít thầy cô giáo phải kêu lên: “Em viết tôi không thể nào đọc được” Vì thế trong các kỳ thi, tỷ lệ môn Ngữ văn đạt yêu cầu thấp hơn các môn khác Điều đó chứng tỏ yếu tố chữ viết có vai trò rất quan trọng và phần nào quyết định chất lượng học tập của các em Đã có nhiều em nắm kiến thức tương đối tốt nhưng do chữ viết xấu, sai lỗi nhiều cho nên điểm không cao (thậm chí có khi không đạt yêu cầu…) và vì thế đã không ít trường hợp đáng tiếc xảy ra

Rồi thực tế ngoài xã hội nhiều người có học vấn, có bằng cấp hẳn hoi nhưng vẫn còn trường hợp chữ viết xấu khó đọc và sai lỗi chính tả còn rất nhiều Từ thực tế đó, là người làm công việc dạy chữ, tôi cảm thầy mình có một phần trách nhiệm trong đó Mỗi khi chấm vở và chấm bài cho các em, tôi rất buồn cho nên tôi đã mạnh dạn đi vào vấn đề nan giải đang là mối lo cho nhiều nhà trường và xã hội Tôi đã tiến hành tìm những biện pháp cụ thể, thích hợp để luyện chữ viết cho các em nhằm ngăn ngừa, uốn nắn và dần dần chấm dứt tình trạng viết chữ xấu và sai lỗi chính tả cho học sinh và bước đầu

đã có hiệu quả

4 Năng lực nghiên cứu của tác giả:

Là một giáo viên dạy Văn, đã hết sức coi trọng việc sửa lỗi chính tả cho học sinh và bước đầu thấy được kết quả khả quan, ý thức được điều đó tôi đã mạnh dạn áp dụng việc vừa dạy kiến thức văn học vừa kết hợp việc rèn chữ cho học sinh qua từng bài dạy, tiết dạy, thông qua việc chấm, chữa bài cho các em học sinh Tất cả những gì tôi đã thể hiện là để chuẩn chính tả cho các

em học sinh trong trường trung học cơ sở

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đề tài sẽ chỉ rõ thực trạng mắc lỗi chính tả cơ bản mà học sinh thường mắc phải Đồng thời chỉ ra những nguyên nhân mắc lỗi và những biện pháp khắc phục những lỗi đó

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Những lỗi chính tả( phụ âm đầu, lỗi viết hoa, )

Chương trình học tập của học sinh THCS

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát, tôi có sử dụng một số phương pháp sau:

- Điều tra, phát vấn

- Khảo sát

- Nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích dữ liệu

Trang 3

- Phương pháp tổng hợp

V GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

Do thời gian có hạn nên tôi chỉ nghiên cứu lớp 6.4 trường THCS Mỹ

Lương

VI PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1 Thời gian - địa điểm:

- Thời gian: Năm học 2012 - 2013 ( từ ngày 10 tháng 8 năm 2012 đến ngày 10 tháng 2 năm 2013)

- Địa điểm: Trường THCS Mỹ Lương

PHẦN II PHẦN NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I CƠ SỞ LÝ LUẬN:

- Việc chuẩn hóa và khắc phục lỗi mắc chính tả tiếng Việt trong nhà trường là một yêu cầu đúng đắn mang đầy đủ tính lí luận cũng như tính thực tiễn, tính cấp thiết trước mắt cũng như tính lâu dài Bởi như chúng ta đã biết, tiếng Việt được chia làm ba phương ngữ chính:

+ Phương ngữ Bắc Bộ

+ Phương ngữ Nam Bộ

+ Phương ngữ Trung Bộ

Do đó chuẩn hóa, khắc phục lỗi chính tả trên chữ viết và trong quá trình giao tiếp là việc làm cần thiết và quan trọng

- Một số quy định về chuẩn chính tả: (Theo UB khoa học xã hội và Bộ Giáo

dục)

1 Thống nhất viết nguyên âm:

(Âm chính) / i / bằng chữ cái i Ví dụ: Lí luận, kĩ thuật, thẩm mĩ …v.v

- Khi cần phân biệt “uy” với “ui” nh “tuý” với “túi” thì vần “uy” vẫn viết như cũ Hoặc uy trong quy luật, quy tắc

+ i hoặc y đứng một mình hoặc đứng đầu âm tiết vẫn viết theo thói quen

cũ Ví dụ: ý kiến, ỉ ụi …v.v

2 Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chỉ xác định được một chuẩn mực duy nhất thì chấp nhận cả hai hình thức ấy:

Ví dụ : eo sèo / eo xèo ; sứ mạng / sứ mệnh v.v.

3 Về cách viết hoa tên riêng tiếng Việt:

a Tên người và tên nơi chốn :

Viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từ mà không dùng gạch nối :

Ví dụ: Trần Quốc Toản; Bình trị Thiên …v.v.

b Tên tổ chức, cơ quan :

Viết hoa chữ cái đầu trong tổ hợp từ dùng làm tên :

Ví dụ : Đảng cộng sản Việt Nam; Trường Đại học Bách khoa v.v.

4 Về cách viết tên riêng không phải tiếng Việt:

a Nếu chữ nguyên ngữ dùng chữ cái Latin thì giữ nguyên chữ viết như

nguyên ngữ Ví dụ : Paris

Trang 4

b Nếu chữ nguyên ngữ dùng một hệ thống chữ cái khác thì áp dụng lối

chuyển từ chính thức sang chữ Latin Ví dụ : Lomonoxov, Moskow.

c Nếu chữ viết nguyên ngữ không phải là chữ ghi âm bằng chữ cái (ghi

từng âm hoặc dùng cách phiên âm chính thức bằng chữ cái Latin) Ví dụ :

Tokyo

d Những tên riêng đã có hình thức quen thuộc thì nói chung không cần thay đổi

Ví dụ : Pháp; Anh; Hi lạp; Lỗ Tấn …v.v.

e Chỉ viết hoa âm tiết đầu Ví dụ : Puskin

5 Về việc dùng dấu nối:

a Dùng dấu nối trong các liên doanh như: Khoa học - kĩ thuật;

Quảng Nam - Đà Nẵng …v.v.

b Dùng dấu nối khi chỉ giới hạn về không gian, thời gian, số lượng:

Ví dụ : Chuyến tàu Hà Nội - Huế; Thời kỳ 1945 - 1954; Sản lượng 5 - 7 tấn

…v.v.

c Khi phân biệt ngày, tháng, năm: Ví dụ : 02 9 1945; 30 4

-1975 …v.v.

*Như vậy: Việc xác định đúng những quy tắc khi viết - nói, giúp học

sinh cũng như giáo viên có phát âm chuẩn, tránh được những “hạt sạn” khi sử dụng tiếng Việt của chúng ta Điều quan trọng là phải sử dụng đúng những quy tắc chính tả, thậm chí cần nhớ một cách máy móc, đối với những lỗi khó nhớ

- Nghe, nói, đọc, viết là bốn kỹ năng rất quan trọng đối với bộ môn Ngữ văn Rèn nét chữ cho HS không chỉ là công việc ngày một ngày hai, cũng không phải một thầy cô giáo dạy môn Ngữ văn rèn luyện là có thể thành công đối với các em Mà đó là một quá trình nỗ lực tự bản thân học sinh cố gắng rèn luyện, có người hướng dẫn là các giáo viên dạy môn Ngữ văn, sự giám sát nhắc nhở của các thầy cô giáo bộ môn cùng phối hợp với phụ huynh của học sinh mới tạo nên sự thành công ấy Tục ngữ xưa đã nói: “Nét chữ nết người”, công việc rèn nét chữ cho các em không phải kết quả thu được là vở sạch chữ đẹp mà còn rèn luyện đức tính kiên trì, nhẫn nại, không bỏ cuộc giữ chừng cho các em Đó là đức tình mà mỗi con người muốn thành công không thể không có Hơn thế nữa, một học sinh khi ra đời, làm bất cứ một công việc gì cũng cần đến công việc viết lách Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển không ngừng các em có thể nói rằng chữ xấu thì có thể đánh máy, song không thể viết đúng nếu như các em không hiểu luật, và các quy tắc chính tả Bởi vậy, tôi mạnh dạn đi sâu vào vấn đề có thể xem là vấn nạn không chỉ ở học đường mà của toàn xã hội khi các biển quảng cáo, các bản tin, các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng sai nhiều lỗi chính tả một cách ngớ ngẩn

II THỰC TRẠNG BAN ĐẦU:

1 Thực trạng chung:

Theo “Báo cáo tình hình chính tả văn bản Tiếng việt” do viện Công nghệ

Trang 5

thụng tin- ĐH Quốc gia Hà Nội cho thấy, tỉ lệ lỗi chớnh tả trong văn bản Tiếng việt đó ở mức bỏo động, vượt quỏ cao so với tiờu chuẩn ( tỉ lệ cho phộp

là 1%, tỉ lệ mắc lỗi chung của học sinh hiện nay là 7, 79%)

Việc sai chớnh tả tồn tại ở một số đụng học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 6 Việc viết sai chớnh tả cú thể gặp ở bất cứ văn bản nào, mụn học nào Thậm chớ, ngay cả tờn của mỡnh, cỏc em cũng viết sai Đõy là thự trạng chung của nhiều trường THCS

2 Đặc điểm nơi tiến hành khảo sỏt

a Về phớa địa phương:

Mỹ Lương là một xó nhỏ của huyện Cỏi Bố – tỉnh Tiền Giang Nền kinh tế chủ yếu là nụng nghiệp Đời sống của người dõn cũn thấp, nhiều gia đỡnh cú hoàn cảnh khú khăn, nờn khụng quan tõm nhiều đến việc học của con em

b Về phớa nhà trường:

- Thuận lợi:

@ Đội ngũ giỏo viờn nhiệt tỡnh, đoàn kết trong cụng tỏc giảng dạy Cú thức tự tu dưỡng, rốn luyện để nõng cao trỡnh độ và năng lực giảng dạy

@ Đa số cỏc em học sinh chăm ngoan, học khỏ

- Khú khăn:

@ Nhiều học sinh cú hoàn cảnh đặc biệt khú khăn dẫn đến việc tới trường cũng hạn chế

@ Học sinh yếu kộm, lưu ban, ham thớch game cũn nhiều

3 Thực trạng học sinh lớp 6.4 trường THCS Mỹ Lương:

- Sỉ số lớp: 38

- Kết quả thi kiểm tra chất lượng đầu năm như sau:

ĐIỂM DƯỚI 5.0 ĐIỂM TRấN 5.0

- Đặc điểm lớp:

@ học sinh lưu ban nhiều: 5 học sinh

@ Học sinh chậm phỏt triển trớ tuệ: 4 học sinh

@ Đầu năm học 2012- 2013: Lớp 6.4 có 22 / 38 em thờng viết sai chính tả

Trong đó : 2 em học lực giỏi

3 em học lực khá

8 em học lực trung bình

9 em học lực yếu

III MỘT SỐ LỖI CHÍNH TẢ THƯỜNG GẶP Ở HỌC SINH VÀ BIỆN PHÁP SỬA CHỮA:

1 Khỏi niệm về lỗi chớnh tả:

- Chớnh tả tiếng Việt bao gồm nhiều yếu tố Muốn phỏt hiện và sửa lỗi

chớnh tả thật đầy đủ và chớnh xỏc thỡ chỳng ta cần nắm rừ về đặc điểm của cỏc yếu tố sau:

Trang 6

@ Âm: gồm cú nguyờn õm, phụ õm, bỏn õm, õm đệm

@ Chữ cỏi: Theo qui định về chớnh tả thỡ bảng chữ cỏi tiếng Việt gồm 33 con chữ được sắp xếp theo thứ tự:A, Ă, Â, B, C, D, E, ấ, (F), G, H, I, (J), K,

L, M, N, O, ễ, Ơ, P, Q, R, S, T, U, Ư, (W), X, Y, (Z) ( theo sỏch giỏo khoa

cải cỏch giỏo dục)

@ Thanh và dấu: tiếng Việt cú 6 thanh:( ngang, huyền, ngó, hỏi, sắc,

nặng), và được thể hiện bằng năm dấu ( huyền, ngó, hỏi, sắc, nặng)

@ Tiếng( õm tiết): tiếng cú õm đầu và thanh Vần cú õm đệm, õm chớnh

và õm cuối Trong cỏc yếu tố tạo thành tiếng, õm chớnh và thanh lỳc nào cũng

cú Cũn õm đầu, õm đệm và õm cuối cú thể vắng mặt

@ Chữ: Dựng để ghi tiếng

@ Từ: gồm một tiếng hoặc một tổ hợp tiếng Căn cứ vào cấu tạo, ta cú từ đơn và từ phức Trong từ phức thỡ cú từ ghộp và từ lỏy

Cú thể núi chữ viết là hệ thống kớ hiệu bằng đường nột, đặt ra để ghi tiếng núi và cú những qui tắc và qui định riờng thống nhất , biện chứng với nhau

Cho nờn, chỳng ta là ai, núi giọng địa phương nào và giữ cương vị nào cao đến đõu chăng nữa thỡ khi viết chỳng ta cũng cần phải tuõn theo những qui tắc qui định đó được xỏc lập

- Đặc điểm đầu tiên của chuẩn chính tả là tính chất bắt buộc gần nh tuyệt

đối của nó Đặc điểm này đòi hỏi ngời viết bao giờ cũng phải viết đúng chính tả Chữ viết có thể cho hợp lý, nhng khi đã đợc thừa nhận thì ngời cầm bút không đợc tự ý viết khác đi Ai cũng biết rằng viết “ghế”, “ghen” không hợp

lý và tiết kiệm bằng “gế”, “gen” nhng chỉ có cách viết thứ nhất mới đợc coi là

đúng chính tả

Vì vậy, khi nói đến chuẩn chính tả là nói đến tính chất pháp lệnh Trong chính tả không có sự phân biệt hợp lý hay không hợp lý, hay - dở mà chỉ có phân biệt đúng - sai Đối với chính tả, yêu cầu cao nhất là cách viết thống nhất, thống nhất trong mọi văn bản mọi địa phơng

Do chuẩn chính tả có tính chất bắt buộc gần nh tuyệt đối, cho nên nó ít

bị thay đổi nh các chuẩn mực khác của ngôn ngữ Nói cách khác, chuẩn chính tả có tính chất ổn định, tính chất cố hữu khá rõ

2 Cỏc lỗi sai chớnh tả thường gặp của học sinh lớp 6.4 trường THCS Mỹ Lương:

@ Chữ viết cẩu thả, tuỳ tiện nú thường thể hiện ở chỗ cỏc con chữ thường

rỳc vào nhau, góy nỏt, mất nột khụng phõn biệt được chữ (n) và chữ (u) hoặc chữ (h) và chữ (l)… rồi dấu cõu đặt khụng đỳng chỗ hoặc bỏ khụng đỏnh

dấu…

@ Lỗi chớnh tả do sai nguyờn tắc chớnh tả hiện hành:

- Lỗi do đỏnh sai vị trớ dấu thanh điệu:

Vớ dụ : “thoỏt” thỡ viết là “thúat”; “quý” thỡ viết là “qỳy”.

- Lỗi do khụng nắm được quy tắc phõn bố cỏc ký hiệu cựng biểu thị một õm:

Vớ dụ : nghành (ngh khụng đi trước a); kỏch (k khụng đi trước a trừ kali)

- Lỗi do khụng nắm được quy tắc viết hoa

Vớ dụ : Mỹ lương ; Cỏi bố …v.v.

Trang 7

Để khắc phục lỗi này, chỉ cần cho học sinh ghi nhớ và tuân thủ những

đặc điểm và nguyên tắc kết hợp, quy tắc viết hoa của chữ viết.

@ Lỗi chính tả do viết sai với phát âm chuẩn :

Đặc điểm phát âm đặc trưng cho từng vùng khác với phát âm chuẩn là nguyên nhân dẫn đến những cách viết sai chính tả Có thể quy những lỗi loại này thành ba dạng chủ yếu :

- Lỗi viết sai phụ âm đầu:

+ Lỗi do không phân biệt được tr và ch: Do cách phát âm của học sinh không phân biệt được tr - ch

- Lỗi do không phân biệt s và x:

+ Hiện tượng này cũng là do đặc điểm phát âm không phân biệt

+ Lỗi do không phân biệt r ,gi, tr, ch ví dụ: giăng - trăng;

giầu - trầu; giai – trai, chết- trếti ….v.v.

- Lỗi viết sai phần vần (Viết sai âm cuối hoặc âm chính)

Ví dụ: yêu / iêu ; ơu / iêu v.v.

- Lỗi viết sai thanh điệu:

Lỗi viết sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi

và thanh ngã Ví dụ: bẫy- bẩy; sỉ số- sĩ số

@ Sai qui tắc chính tả như không viết hoa danh từ riêng địa danh hành

chính, không viết hoa chữ cái đầu câu hay không phân biệt được khi nào viết (c), khi nào viết (k) hoặc hết một ý không biết xuống dòng, sau dấu chấm không viết hoa hoặc viết hoa tuỳ tiện bừa bãi…

@ Lẫn lộn phụ âm đơn như l/n, s/x…lẫn lộn phụ âm ghép như ch/tr,

ngh/ng …

@ Phát âm sai cho nên khi viết cũng bị sai Ví dụ: phát âm sai: cá gô

(rô), ủi (ổi) hoặc không phân biệt đúng dấu hỏi dấu ngã: suy nghỉ (suy nghĩ), chử viết (chữ viết)

Cụ thể, thống kê khi chấm bài, tôi học sinh hay sai chính tả như sau:

Âm, vần, dấu thanh Viết đúng chính tả Viết sai chính tả

Xong xuôi

Súc động Song xuôi/ xong suôi

Dán giấy

Con dán Gián giấy/ dán dấy

Trèo cây Trông nom Che chở

Chò truyện/ chò chuyện Chèo cây

Trong nôm/ chông nôm Tre chở/ che trở

Giếng nước

Gủ nhau Diếng nước

Trang 8

Gắng sức Gắn sức

Bữa tiệc Tiết hạnh

Làm việt Bữa tiệt Tiếc hạnh

Bàn tay Đáy hồ

Gà gáy

Sai sưa Bàn tai Đái hồ

Gà gái

Vay mượn Mảnh vườn

Vương vai Vay mượng Mảnh vường

Vất vả

Ngả nghiêng Vất vã

@ Ngoài ra còn lỗi do biến thể tùy tiện:

Hiện nay, trong nhà trường xuất hiện hiện tượng ngôn ngữ bị các em biến thể một cách tùy tiện không có căn cứ nào cả

Ví dụ:

Iêu/ yêu ( nhiều, yêu) iu ( nhìu/ iu)

B ( bó tay) p ( pó tay)

Đồng thời qua điều tra khảo sát, tôi còn nhận thấy học sinh đang mắc lỗi chính tả khá phổ biến và ở mức độ cần quan tâm Có em tự nhận thức được mình có mắc lỗi chính tả, nhưng có em lại không biết

Bảng thống kê nhận thức sai lỗi chính tả của học sinh:

Bảng thống kê nhận thức sai lỗi chính tả của các bạn học sinh xung quanh:

Dù chưa chính xác bằng con số cụ thể nhất, nhưng qua việc lấy kiến của học sinh cũng cho ta một cái nhìn khách quan nhất về thực trạng mắc lỗi chính tả của học sinh

3 Nguyên nhân sai lỗi chính tả:

Trang 9

Chủ yếu do những nguyên nhân sau:

- Do không nhớ, không thuộc mặt chữ.Do nhận thức hạn chế và thiếu thức rèn luyện, phân biệt chính tả đúng và sai dẫn tới việc phát âm không chuẩn hoặc viết sai chính tả

- Do không nắm được quy tắc kết hợp ngữ âm ( gh, h, y, i )

- Do ảnh hưởng của phương ngữ địa phương, ( âm đầu: tr/ch; s/x…), vần( ươ, i/ iê…) và thanh điệu ( dấu hỏi, ngã…)

4 Giải pháp khắc phục lỗi sai chính tả:

Với những nguyên nhân và thực trạng trên, tôi đưa ra những giải pháp để

khắc phục lỗi sai chính tả cho học sinh như sau:

1 Thường xuyên kiểm tra vở ghi và vở bài tập của học sinh Mục đích là kịp thời uốn nắn, chỉ lỗi chính tả cho học sinh, giúp các em nhận ra sự viết sai của mình, từ đó tự sửa chữa ngay, tránh lặp lại Khuyến khích việc viết đúng, viết đẹp của học sinh

2 Khi chấm bài kiểm tra, ngoài việc nhận xét nội dung bài làm, phải luôn chú trọng đến việc phát hiện ra lỗi chính tả và sửa cho các em, đồng thời ghi

rõ yêu cầu học sinh phải sửa chữa ngay những lỗi trên

Ví dụ : (Bài viết gồm 5 lỗi) Hướng dẫn các em trình bày cách sửa lỗi như

sau:

a Lỗi thanh điệu: mỉ mản = mĩ mãn

b Lỗi phần vần: mát rựi = mát rượi

c Lỗi phụ âm đầu : sạch xẽ = sạch sẽ; cảm dác = cảm giác ; gia tiên- da

tiên

Từ cách phát hiện lỗi chính tả và sắp xếp cho nó vào các lỗi thông th-ường nào đến việc sửa cho đúng chính tả mà học sinh sẽ nhớ để tránh viết sai

3 Cần và rất nên có điểm thưởng, điểm phạt ở các bài kiểm tra về vấn đề trình bày và chuẩn chính tả Đây cũng là một trong những việc làm để khuyến khích học sinh viết đúng chính tả

4 Ở các giờ thực hành tập nói (Phân môn tập làm văn ) tôi đã rất chú ý rèn

và sửa chữa cách phát âm cho đúng giữa s và x, tr và ch, d và r và phân biệt giữa thanh hỏi với thanh ngã

5 Ra thêm các dạng bài tập rèn chính tả để học sinh có thể tự làm ở nhà Đây là biện pháp rất có hiệu quả mà lại không mất thời gian trên lớp Biện pháp này vừa giúp học sinh viết đúng chính tả, vừa rèn luyện cho các em thói quen trình bày sạch, đẹp Biện pháp này đòi hỏi người giáo viên cần tận dụng thời gian các tiết trả bài, phụ đạo ,các buổi sinh hoạt lớp để giao bài tập chính

tả cho học sinh

Giáo viên đưa ra các dạng bài tập thường gặp là :

Dạng A : Dạng bài tập điền phụ âm đầu

1 Điền ch hay tr ?

a “ úng tôi đều úng tuyển” (Chúng tôi đều trúng tuyển)

b “ Ngời ồng đang lo ồng cây” (Người chồng đang lo trồng cây)

Trang 10

2 Điền s hay x ?

a “ ương uống đầy cả mặt ụng” (Sương xuống đầy cả mặt sụng)

b “Hụm nay cú ỳp , cú ụi , cú bỳn ỏo núng ốt mời cỏc cậu học .inh ơi tạm “ (Hụm nay cú sỳp, xụi .sỏo .xốt sinh xơi)

3 Điền r, d , hay gi ?

Chỳng tụi iút ượu mời ụng ỏm đốc

Dạng B : Dạng bài tập thanh điệu

Điền thanh hỏi, thanh ngó cho phự hợp:

Tụi khụng cú tiền le, le ra tụi phai mang theo ( lẻ .lẽ phải )

Hoặc tỡm lỗi và chữa lỗi: Bài giói cú thễ đỳng cú thễ sai.

Dạng C : Dạng bài tập vần

Sửa lỗi cho cõu: “Anh ấy là tay nỏt rựu, đầu úc đụi khi hũn tũn khụng bỡnh

thường’

( nỏt rượu, hoàn toàn)

Dạng D : Dạng bài tập tổng hợp

Khoanh tròn vào chữ cái đầu của từ hoặc cụm từ viết đúng:

1 A Bản án B Bảng án 2 A án mây B áng mây

3 A Bàn quang B Bàng quang 4 A Dản dị B Giản dị

5 A Dán giấy B Gián giấy 6 A Về hiêu B Về hu

( Các từ đúng là : 1A , 2B , 3B , 4B , 5A , 6B )

6 Phõn loại chữ viết cho học sinh và chia làm ba nhúm chớnh:

Nhúm 1: Gồm những học sinh viết chữ đẹp, rừ ràng, khụng sai lỗi

chớnh tả hoặc cú một hai lỗi khụng đỏng kể

Nhúm 2: Những em viết xấu, thiếu nột hoặc sai lỗi chớnh tả Hầu hết

trong nhúm này cỏc em đều mắc phải một số lỗi cơ bản như chữ viết cẩu thả, tuỳ tiện, sai quy tắc chớnh tả và khụng hiểu nghĩa dẫn đến lẫn lộn phụ õm

Nhúm 3: Cũn lại những em viết chữ quỏ xấu, cẩu thả, sai và lẫn lộn cỏc

phụ õm, khụng rừ chữ dẫn đến tỡnh trạng khụng đọc được hoặc đọc sai nghĩa của từ

Qua việc phõn loại học sinh để cú biện phỏp phự hợp với từng đối tượng Đồng thời nhận xột chung về chữ viết của từng em và ghi vào sổ ghi chộp của giỏo viờn Qua đú, giỏo viờn cú cỏch uốn nắn một cỏch cụ thể và phự hợp với từng đối tượng

- Dựa vào vở luyện viết, tụi hướng dẫn học sinh cỏch luyện viết theo từng tuần và yờu cầu học sinh đúng thờm một vở ụ-li để luyện văn và luyện viết nhằm giỳp cỏc em vừa ụn luyện lại kiến thức đó học, vừa luyện chữ viết

- Kiểm tra một thỏng một lần gồm hai bài (trong vở ụ-li tụi đó ra đề về nhà cho cỏc em làm)

- Đối với học sinh ở nhúm 1 khụng chỉ dừng lại ở mức độ rốn chữ viết

mà cũn chỳ ý đến nội dung, chất lượng của bài viết

Ngày đăng: 06/05/2016, 15:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê nhận thức sai lỗi chính tả của học sinh: - kinh nghiem sua loi chinh ta cho hoc sinh trong giang day ngu van 6
Bảng th ống kê nhận thức sai lỗi chính tả của học sinh: (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w