1.2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nó tới thu nhập và việc làm của các hộ bị thu hồi đất ở Việt Nam nói chung xã Dương Quang nói riêng và đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho những hộ bị thu hồi đất. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể . Hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn về sử dụng lao động và việc làm ở nông thôn. Nghiên cứu thực trạng việc làm của các hộ nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã Dương Quang. Đề ra một số giải pháp góp phần tạo công ăn việc làm và sử dụng hợp lý lượng lao động, nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân bị thu hồi đất. 1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 1.Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ mục đích công nghiệp hoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam? 2. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến thu nhập và việc làm của các hộ nông dân xã Dương Quang như thế nào? 3. Thực trang lao động việc làm ở các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp xã Dương Quang? 4. Các giải pháp để tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân bị mất đất?
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nước ta hiện nay đang trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóamạnh mẽ hướng đến mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành một nước côngnghiệp Để phục vụ mục tiêu đó thì quá trình thu hồi, chuyển đổi đất nôngnghiệp để xây dựng và phát triển khu công nghiệp là điều không tránh khỏi.Việc thu hồi đất đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của hàng triệu nôngdân trong cả nước Xã Dương Quang Huyện Mỹ Hào – Hưng Yên là một xãthuần nông điển hình của nông thôn miền bắc Từ khi có quá trình thu hồi đấtphục vụ xây dựng khu công nghiệp thì đời sống cũng như công ăn việc làmcủa các hộ nằm trong diện bị thu hồi đất bị ảnh hưởng rất lớn Qua quá trìnhđiều tra chúng tôi đã đã đưa ra một số lý luận và thực tế về những tác độngcủa việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệptập trung đến sản xuất và đời sống của hộ nông dân có đất bị thu hồi ở ViệtNam cũng như ở một số nước khác
Đề tài nghiên cứu thực trạng xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn xãDương Quang đã cho thấy diện tích đất cho việc xây dựng cụm công nghiệpchủ yếu là đất trồng lúa dẫn tới thu nhập từ nông nghiệp của các hộ nông dângiảm nhiều so với trước kia Giá đền bù cho các hộ nông dân nhìn chung làthấp đã gây ra một số khó khăn cho các hộ bị thu hồi đất Đề tài nghiên cứu
và làm rõ những tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp tới vấn đề kinh tế
-xã hội đặc biệt là lao động việc làm của người dân có đất bị thu hồi Do việcxây dựng khu công nghiệp đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của các hộgiảm xuống Quỹ đất sản xuất giảm xuống điều đó đồng nghĩa với việc thunhập từ nông nghiệp của các hộ cũng giảm xuống Cơ cấu lao động chuyểndịch theo hướng giảm số lượng lao động nông nghiệp, tăng lên số lao độngngành nghề dịch vụ và thương mại Hộ thuần nông cũng giảm đáng kể vàchuyển sang làm kinh doanh dịch vụ hoặc kiêm ngành nghề Cũng bởi còn ít
Trang 2đất sản xuất nên một số lao động đã thất nghiệp hoặc trở thành lao động tự dovới thu nhập thất thường.
Đề tài đã chỉ ra sau khi thu hồi đất nông nghiệp thì thu nhập của các hộvẫn tăng lên nhưng không đáng kể Một mặt tăng lên theo xu hướng chungcủa nền kinh tế, mặt khác là do sử dụng tiền đền bù nên thu nhập từ các khoảnkhác đã tăng lên Cơ cấu thu nhập thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng thu từnông nghiệp, tăng thu từ công nghiệp, dịch vụ, tiền lương và tiền đi làm thuê
Đề tài cũng đã điều tra được tỷ lệ số lao động được chuyển đổi ngànhnghề nhờ chính quyền xã và các công ty còn thấp, đa số là do người lao động
tự mình tìm kiếm việc làm Nhu cầu đào tạo nghề của các hộ lớn nhưng hiệntại chưa được đáp ứng
Đề tài cũng đã thăm dò được một số ý kiến của người dân về cuộc sốngsau khi thu hồi đất thì thấy được có một bộ phận lớn các hộ cho rằng cuộcsống gặp nhiều khó khăn hơn trước Sự bền vững của ngành nghề chuyển đổi
là không cao Các vấn đề khó khăn chủ yếu của các hộ là vốn, kỹ thuật và khảnăng tìm kiếm công việc mới
Từ đó đề tài đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn sau thu hồi đất củacác hộ nông dân qua đó bước đầu đưa ra những giải pháp để giải quyết khókhăn nhằm giải quyết việc làm nâng cao thu nhập cho hộ như: Cần phải sửdụng hợp lý tiền đền bù tránh lãng phí, khuyến khích phát triển các ngànhnghề dịch vụ, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, vận động người dân tham gia cáckhóa học nghề ngắn hạn, dồn điền đổi thửa các mảnh đất còn lại,… Đưa ramột số kiến nghị đối với nhà nước và các hộ nông dân bị thu hồi đất nôngnghiệp như cần có chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất thiết thựchơn nữa, có kế hoạch đào tạo tay nghề cho người dân, xây dựng chính sáchđền bù thỏa đáng hơn
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Để tiến lên một nền kinh tế - xã hội hiện đại và phát triển, tránh khỏinguy cơ tụt hậu thì CNH - HĐH đất nước là quy luật phổ biến và con đườngtất yếu mà mọi quốc gia đều phải thực hiện Ở Việt Nam trong thời kì quá độlên CNXH thì Đảng ta đã xác định CNH - HĐH là nhiệm vụ trọng tâm vàxuyên suốt, coi đây là chủ trương lớn để đưa nước ta nói chung và nền nôngnghiệp nông thôn nói riêng phát triển Chính vì vậy mà trong những năm gầnđây quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra hết sức mạnh mẽ vànhanh chóng Ngành công nghiệp ngày càng chiếm tỉ trọng cao, gần 43%trong tổng GDP cả nước Tuy nhiên, đồng nghĩa với quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước là quá trình thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng
từ đất nông nghiệp sang xây dựng, chuyên dùng cho phát triển khu côngnghiệp, đô thị, giao thông… dẫn tới diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảmmạnh
Hiện nước ta có 9,42 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó đất trồng lúa4,1 triệu ha Nông dân ước khoảng 60 triệu người (trên tổng số 86 triệu dân),như vậy bình quân đất canh tác là 480m2/người, chỉ bằng 1/4 của nông dânThái Lan Trước làn sóng công nghiệp hóa, đô thị hoá của thời hội nhập, diệntích đất canh tác ngày càng thu hẹp và chắc hẳn số "nông nhàn vĩnh viễn" sẽngày càng đông hơn
Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, trung bình mỗi hộ nông dân có 1,5 laođộng và mỗi hecta đất thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của 10 lao động Nhưvậy, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở trong 5 năm (2003- 2008) đã tácđộng tới đời sống của khoảng 2, 5 triệu nông dân Tại một số vùng ven đô củaĐồng bằng sông Hồng, trước khi thu hồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuêthì sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là 17% (Huyền Ngân 2009)
Trang 4Việc chuyển mục đích sử dụng đất đã gây xáo trộn, ảnh hưởng lớn đếnđời sống trước mắt cũng như về lâu dài của một bộ phận đông đảo nông dânnước ta Chỉ tính trong 5 năm (2003-2008) đất thu hồi làm dự án đầu tư đã tácđộng trực tiếp đến 627.000 hộ gia đình, với khoảng 2,5 triệu người Điều trathực tế cho thấy: 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ, chỉ có13% chuyển nghề mới và có tới 25-30% nông dân không có việc làm, hoặc cónhưng không ổn định 53% hộ nông dân bị thu hồi đất thu nhập bị giảm so vớitrước, chỉ có 13% là tăng hơn trước Nhiều địa bàn có tới hàng ngàn lao động
bị mất việc, nhưng chỉ có 10-20 người là đã qua đào tạo nghề mới Nhữngnăm qua Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên giải quyết việc làm chonông dân vùng dự án, nhưng mỗi năm chỉ giải quyết được khoảng 55.000người, là "muối bỏ biển" trong tổng số lao động mất việc (Huyền Ngân,2009)
Tỉnh Hưng Yên, năm 2001, tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh gần50.000ha, nhưng đến 2007, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn chưa đầy46.000ha Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi tập trung chủ yếu vào một sốhuyện: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ và thị xã Hưng Yên Xã Dương Quanghuyện Mỹ Hào Hưng Yên cũng là một xã có đất nông nghiệp bị thu hồi vàviệc làm của người nông dân bị mất đất nông nghiệp còn chưa được quan tâm
đúng mức Từ đó em quyết định nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp tạo việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tại
xã Dương Quang huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng của nótới thu nhập và việc làm của các hộ bị thu hồi đất ở Việt Nam nói chung xãDương Quang nói riêng và đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm chonhững hộ bị thu hồi đất
Trang 5- Đề ra một số giải pháp góp phần tạo công ăn việc làm và sử dụng hợp
lý lượng lao động, nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân bị thu hồi đất
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
1.Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp phục vụ mục đích công nghiệphoá ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam?
2 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến thu nhập và việclàm của các hộ nông dân xã Dương Quang như thế nào?
3 Thực trang lao động việc làm ở các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp xãDương Quang?
4 Các giải pháp để tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân bị mất đất?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là các hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp của các hộ tại
xã Dương Quang, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên
Trang 6PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra nhữngsản phẩm vật chất và tinh thần cho toàn xã hội Trong quá trình lao động conngười tiếp xúc với tự nhiên, có công cụ sản xuất và nắm được kỹ năng laođộng, đã làm thay đổi mọi giới và đối tượng lao động cho phù hợp với nhucầu của mình
Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động vàngười sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng,quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất Vì vậy có vị trí quan trọngtrong đời sống, xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia
Trong khái niệm lao động, nó còn liên quan đến một số khái niệm khác.Khái niệm về sức lao động Các Mác viết "Sức lao động hay năng lực lao động
là toàn bộ những năng lực về thể chất và tinh thần tồn tại trong mọtt cơ thể,trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khisản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó" Như thế sức lao động là yếu tố tíchcực nhất, hoạt động nhất của con người Khi sản xuất ra một giá trị sử dụngnào đó, con người phải tiêu hao một sức lao động nhất định và sản xuất ramột giá trị sự dụng nào đó, đó chính là hoạt động có mục đích của con người
Khái niệm về việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao độngsong chúng không hoàn toàn giống nhau Việc làm thể hiện mối quan hệ củacon người với những chỗ việc làm cụ thể, là những giới hạn cần thiết trong đódiễn ra quá trình lao động Về góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tươngquan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tốvật chất trong quá trình sản xuất ở nước ta, Bộ luật lao động cũng đã nêu ra
Trang 7khái niệm việc làm như sau: ''Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bịpháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" Như vậy, để có việc làmkhông nhất thiết chỉ có vào cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước mà có thể làmtrong mọi doanh nghiệp, cơ quan thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc do chínhbản thân người lao động tạo ra để có thu nhập.
2.1.1.2 Khái niệm về năng suất lao động, cường độ lao động và thời gian lao động
* Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động cụ thể có ích Nó nóilên hoạt động sản xuất có mục đích của con người trong một thời gian nhấtđịnh Năng suất lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trongmột đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vịsản phẩm
Năng suất lao động cá thể là sức sản xuất của một lao động cụ thể Nóđược đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra của một lao động trong một đơn
vị thời gian hoặc bằng thời gian hao phí của một lao động cụ thể sản xuất ramột đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động bình quân là sức sản xuất bình quân một lao độngtrong một đơn vị thời gian nhất định
Tăng năng suất lao động là sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suấtlao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm hàng hoá, sao cho số lượng lao động ít hơn mà lại cósức sản xuất ra nhiều giá trị sử dụng hơn
* Cường độ lao động là mức độ khẩn trương về lao động Trong cùngmột thời gian, mức chi phí năng lượng cơ bắp, trí não, thần kinh của conngười càng nhiều thì cường độ lao động càng cao, Các Mác gọi cường độ laođộng là "khối lượng lao động bị ép vào trong một thời gian nhất định" haycòn gọi là "những số lượng lao động khác nhau bị tiêu phí trong cùng mộtthời gian"
Trang 8Tăng cường độ lao động có nghĩa là tăng thêm chi phí lao động trongmột đơn vị thời gian, nâng cao độ khẩn trương của lao động cho của cải vậtchất sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng thêm tương ứng.
* Thời gian lao động là thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm, để biểu hiện năng suất lao động, giảm chi phí thời gian lao động trongsản xuất một đơn vị sản phẩm dẫn tới tăng năng suất lao động Vì vậy, sửdụng thời gian lao động là vấn đề cốt lõi sử dụng lao động và là nội dung cơbản của vấn đề tổ chức lao động khoa học
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian làm việc cần thiết của
xã hội để sản xuất một hàng hoá trong điều kiện sản xuất bình thường với trình độ kỹ thuật trung bình Do vậy, căn cứ vào thời gian lao động xã hội để tính giá trị của hàng hoá và từ đó đem trao đổi trên thị trường.
2.1.1.3 Khái niệm về nguồn lao động
Nguồn lao động (hay lực lượng lao động) là một bộ phận của dân sốtrong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia laođộng Việc quy định cụ thể độ tuổi lao động của mỗi nước rất khác nhau tuỳtheo yêu cầu của trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn, ở ViệtNam theo quy định của Bộ luật lao động, dân số trong độ tuổi lao động lànhững người từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam va từ đủ 15 đến 55 tuổi đối với
nữ thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm nhưngđang tích cực tìm việc làm Về chất lượng nguồn lao động là trình độ học vấn,trình độ chuyên môn kỹ thuật, sức khoẻ và phẩm chất của người lao động Về
số lượng, đó là tổng số người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc cóthể huy động được của họ
Như vậy theo khái niệm nguồn lao động thì trẻ em đang đi học, các thế hệ tương lai phản ánh nguồn nhân lực không tính vào nguồn lao động Theo khái niệm mở rộng dùng trong thống kê lao động còn gồm những người ngoài độ tuổi lao động (lao động cao tuổi) thực tế đang làm việc trong các ngành kinh tế.
Trang 92.1.1.4 Khái niệm về thất nghiệp
Thất nghiệp là tình trạng của những người có khả năng lao động, cónhu cầu lao động nhưng hiện tại không có việc làm, đang tích cực tìm việchoặc đang chờ đợi làm việc trở lại theo khái niệm dùng trong thống kê laođộng và việc làm ở Việt Nam thì người thất nghiệp là những người đủ 15 tuổitrở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễ trước điều trakhông có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Khi đánh giá về tình trạng thấtnghiệp, người ta thường dùng chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ này tính bằngphần trăm của số người thiếu việc làm so với dân số hoạt động kinh tế (lựclượng lao động) Tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao sẽ ảnh hưởng xấu tới cả tìnhhình kinh tế xã hội Chính vì thế, các quốc gia phải thường xuyên đưa ranhững chính sách, biện pháp để giải quuyết vấn đề này
2.1.2 Một số vấn đề về nguồn lao động và việc làm
2.1.2.1 Vai trò của nguồn lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
Trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nguồn lao động luôn có vai trò quantrọng và được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Nguồn lao động là lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế xã hội Cóthể nói nguồn lao động là nhân tố trung tâm, giữ vai trò quyết định đối với sựphát triển của nền kinh tế và đồng thời là mục đích của quá trình phát triểnkinh tế xã hội
- Nguồn lao động là chủ thể sáng tạo, đổi mới và hoàn thiện quá trìnhphát triển kinh tế xã hội Trong quá trình phát triển con người luôn hướng tớicái tốt đẹp, hoàn thiện khả năng lao động sáng tạo của mình để tạo ra sảnphẩm phù hợp Khả năng mới, trình độ kỹ thuật lại tác động trở lại nâng caonhu cầu của con người sáng tạo Cứ như vậy qua quá trình lao động, conngười và tư liệu lao động tác động lẫn nhau đưa xã hội phát triển từ thấp tớicao Hơn nữa con người luôn có ý thức vươn lên làm chủ trong quá trình pháttriển kinh tế xã hội Như vậy, con người thông qua quá trình lao động là chủ
Trang 10thể sáng tạo, hoàn thiện quá trình phát triển kinh tế xã hội.
- Nguồn lao động là mục đích của sự phát triển kinh tế xã hội Mọi hoạtđộng sản xuất suy cho cùng đều phục vụ nhu cầu của con người Nhu cầu củacon người là nhân tố kích thích sản xuất, là "Đơn đặt hàng của xã hội đối vớisản xuất" Nền kinh tế tư bản coi con người là thị trường tiêu thụ hàng hoá.Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa coi sự phát triển tiến
bộ của con người là nhân tố hàng đầu Vì vậy, Đảng đã khẳng định: "Phát huyyếu tố con người là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động"
- Nguồn lao động là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết định sự pháttriển của lực lượng sản xuất Trong quá trình lao động đặc biệt trong giai đoạnhiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, con người đượcđặt trong một hệ thống lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi con người luôn tìmtòi, suy nghĩ, sáng tạo, không chỉ sáng chế ra những tư liệu lao động có năngsuất cao mà còn kết hợp tư liệu lao động với đối tượng lao động, nhằm tạo rasản phẩm theo mục đích đã định
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lao động
- Các yếu tố ảnh hưởng đến số lượng lao động
+ Dân số: được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động Cácyếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự biến động của dân số hiện nay là: phong tục,tập quán từng nước, trình độ phát triển kinh tế, mức độ chăm sóc y tế và chínhsách của từng nước về vấn đề khuyến khích và hạn chế sinh đẻ
+ Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động:
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ lệ % của dân só trong độ tuổi lao độngtham gia lực lượng lao động trong tổng số nguồn lao động
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thường được sử dụng để ước tính quy môcủa dự trữ lao động trong nền kinh tế quốc dân và có vai trò quan trọng trongthống kê thất nghiệp
- Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động
Trang 11+ Giáo dục và đào tạo: được coi là một dạng quan trọng nhất của sựphát triển tiềm năng của con người theo nhiều nghĩa khác nhau Kết quả củagiáo dục làm tăng lực lượng lao động có trình độ cao, thúc đẩy nhanh quátrình đổi mới công nghệ Vai trò của giáo dục còn được đánh giá qua tác độngcủa nó qua việc nâng cao năng suất lao động của mỗi cá nhân nhờ nâng caotrình độ và tích luỹ kiến thức.
+ Sức khoẻ: làm tăng chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai.Người lao động có sức khoẻ tốt sẽ đạt được năng suất lao động cao và cónhiều khả năng sáng tạo trong sản xuất Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sứckhoẻ làm tăng số lượng lao động bằng việc kéo dài độ tuổi lao động
2.1.2.3 Đặc điểm của lao động, việc làm ở nông thôn
Các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, khu vựckinh tế nông thôn có đặc điểm chung là dân số tăng nhanh, cấu trúc dân sótrẻ, dẫn đến lực lượng lao động tăng với tốc độ cao hàng năm Vì vậy khảnăng tạo ra việc làm của nền kinh tế luôn thấp hơn nhu cầu việc làm củalao động nông thôn ở Việt Nam, số việc làm hàng năm chỉ đáp ứng đượcdưới 60% nhu cầu
Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ thấp hơn so với lao độngcông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp có nhiều loại công việc mang tínhchất khác nhau, một lao động có thể làm được nhiều việc và một việc cũng cóthể do nhiều lao động đảm nhiệm Hơn nữa, phần lớn lao động trong nôngnghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo, sản xuất bằng kinh nghiệm làchính, nguồn lao động chất xám khong nhiều và lại phân bố không đều Vì thếlàm cho hiệu quả lao động thấp, khó khăn cho việc đưa khoa học kỹ thuật vàotróng sản xuất nông nghiệp
Lao động nông thôn mang tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp luôn chịutác động và bị chi phối mạnh mẽ của các quy luật sinh học và các điều kiện tựnhiên cụ thể của từng vùng , tiểu vùng Quá trình sản xuất nông nghiệp mang
Trang 12tính thời vụ cao, cho nên có thời kỳ cần ít lao động song có những thời kỳ lạicần rất nhiều lao động Do đó khả năng thu hút lao động trong nông nghiệp,nông thôn là không đều và khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất Đối vớingành trồng trọt thì việc làm chỉ chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thuhoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là thời kỳ nông nhàn trong nông thôn.Thời kỳ nông nhàn một bộ phận lao động trong nông thôn thường chuyểnsang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc sang các địa phương khác hànhnghề để tăng thu nhập Tình trạng thời gian nông nhàn và thu nhập thấp trongsản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây lên hiện tượng di chuyểnlao động nông thôn từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị.
Lao động trong nông thôn có việc làm không ổn định và rất đa dạng:Hoạt động nông nghiệp diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn và luônphụ thuộc vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và các dịch vụsản xuất Bởi vậy, rủi ro có thể xảy ra với họ bất cứ lúc nào Do đó, công việccủa người lao động không ổn định và rất bấp bênh, có lúc thừa việc song cólúc thiếu vệc làm
Việc làm trong nông nghiệp nông thôn thường là những công việc giảnđơn, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai.Vìvậy, khả năng thu dụng lao động rất cao, nhưng sản phẩm làm ra chất lượngthấp và mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp nên thu nhập bìnhquân của lao động nông thôn nói chung không cao, tỷ lệ nghèo đói ở nôngthôn cao hơn so với khu vực đô thị ở nông thôn, có một số lớn công việc tạinhà không ổn định thời gian như: trông nhà, nọi trợ, trông con cháu , có tácdụng hỗ trợ tích cực tăng thu nhập cho gia đình Đã có những nghiên cứuthống kê cho thấy 1/3 quỹ thời gian của lao động làm các việc phụ mang tính
hỗ trợ cho kinh tế gia đình Thực chát đây cũng là việc làm có khả năng tăngthu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động
Thị trường sức lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém
Trang 13phát triển Hình thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyềnthống trong cộng đồng, thiếu một cơ chế điều tiết thống nhất và không đượcpháp chế hoá Vì vậy, giá trị công lao động thường được đánh giá theo thoảthuận dân sự, trực tiếp, việc thanh toán kết hợp cả giá trị và hiện vật Quan hệthuê mướn dựa trên mối quan hệ thân quen là chủ yếu, vừa kết hợp làm thêmchuyên nghiệp, vừa theo thời vụ, lao động thủ công cơ bắp là chính Một sốnơi do chưa phát triển được ngành nghề, dẫn tới dư thừa lao động, nhất là vàothời vụ nông nhàn, người lao động phải đi làm thuê ở vùng khác, xã kháchoặc ra thành phố để tìm việc làm.
Các đặc điểm trên có ảnh hưởng rất lớn đến chủ trương, chính sách vàđịnh hướng tạo việc làm ở nông thôn Nếu có cơ chế phù hợp, mở rộng vàphát triển các biện pháp tạo việc làm thích hợp sẽ góp phần giải quyết tốtquan hệ dân số việc làm
2.1.3 Vai trò của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là tặng vật vô cùng quý giá mà tạo hóa đã ban tặng cho conngười, là nguồn tài nguyên không tái tạo được trong nhóm tài nguyên hạn chếcủa mỗi quốc gia Đất đai là địa bàn phát triển dân sinh, kinh tế - xã hội vàquốc phòng an ninh, là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lao động nói chung vàtrong sản xuất nông nghiệp nói riêng Hơn nữa, trong NN đất đai là tư liệu sảnxuất đặc biệt và không thể thay thế Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nóvừa là đối tượng sản xuất vừa là công cụ sản xuất Thông qua đất đai conngười có thể tạo ra của cải vật chất, do đó nó được coi là công cụ sản xuất.Con người cùng với các công cụ lao động khác tác động vào đất nhằm làm racác sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình, do đó nó được coi là đối tượng sản
xuất Nhận thấy tầm quan trọng đó Mác đã khái quát rằng: “Đất là cha, sức lao động là mẹ sản sinh ra mọi của cải vật chất”.
Trang 142.1.4 Thu hồi đất và quá trình phát triển kinh tế xã hội
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới, hội nhập vào nền kinh tế thếgiới, cho nên nền kinh tế nước ta cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp với
xu thế phát triển chung của toàn cầu Đó là tăng tỉ trọng ngành công nghiệp,dịch vụ, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.Với yêu cầu đó thì CNH - HĐH là một xu hướng tất yếu của mọi quốc gia ỞViệt Nam, với chủ trương đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp pháttriển theo hướng hiện đại Để công nghiệp hóa thì chúng ta buộc phải côngnghiệp và đô thị hóa Do vậy phải lấy một phần quỹ đất từ nguồn đất nôngnghiệp Việc thu hồi đất phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước cũngđóng một vai trò hết sức to lớn Nó không chỉ tác động tích cực đến chỗ ở,đến việc làm của người nông dân mà còn tác động rất lớn và sâu sắc đến thunhập cũng như đời sống vật chất và tinh thần của gia đình họ
Thứ nhất, CNH - ĐTH sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương,tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người lao động Sau khi thu hồi đất nôngnghiệp sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu ngànhnghề theo hướng tăng lên số lượng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ,giảm dần số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Các lao động có cơ hội vào làm việc tại các khu công nghiệp với mứclương cao hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp, từ đó mức sống của ngườidân sẽ được cải thiện một các đáng kể
Việc thu hồi đất sản xuất tạo cho người dân có một khoản thu nhập khálớn có thể mua lại đất nông nghiệp hoặc đất ở Người dân có điều kiện muasắm các công cụ phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tạo cơ
sở cho việc tiếp tục tăng nguồn thu nhập và cải thiện đời sống Các gia đìnhcũng có thể dành ra một phần tiền trong số tiền bồi thường để đầu tư cho concái trong việc học tập, nhằm tạo cơ sở để sau này có thu nhập cao hơn, ổnđịnh hơn Đây cũng là khoản đầu tư hợp lý, phù hợp với mục đích bồi thường
Trang 15đã nói ở trên, mà tiêu xài hoang phí, thậm chí còn cờ bạc, nghiện hút… và vìvậy chẳng mấy chốc số tiền nhận được đã hết, họ trở thành trắng tay, khôngnhà cửa, không việc làm, không thu nhập Họ không hiểu rằng, tiền bồithường là nhằm giúp họ có điều kiện tạo lập nghề nghiệp mới ổn định thay thếcho nghề nghiệp cũ.
Như vậy, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp đóng một vai trò to lớn đếnviệc phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương Không chỉ thúc đẩy kinh
tế phát triển theo hướng công nghiệp mà nó còn là nhân tố tích cực tác độngtới các vấn đề xã hội như y tế, giáo dục Vấn đề đặt ra là chúng ta cần đưa ranhững quy hoạch và kế hoạch cụ thể để quá trình này diễn ra theo đúnghướng của nó và thể hiện rõ hơn vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xãhội của vùng, địa phương có đất bị thu hồi
Trang 16đào tạo trong một thời gian ngắn là đủ đảm nhận công việc Ngoài ra ngànhnghề TTCN cũng được khuyến khích phát triển Năm 70, Nhật Bản có phongtrào “ mỗi làng một sản phẩm”, nhằm khai thác ngành nghề truyền thốngnông thôn và đã đạt được nhiều thành tựu Từ đó nâng cao thu nhập chongười dân, giải quyết lao động dư thừa, hạn chế tệ nạn xã hội…góp phần làmthay đổi bộ mặt của nông thôn Nhật Bản (Nguyễn Thị Kim Phượng, 2008)
* Thái Lan:
Thái Lan là một nước ở Đông Nam Á có nhiều điều kiện thuận lợi đểphát triển nông nghiệp: điều kiện tự nhiên, diện tích canh tác bình quân đầungười cao Những năm 50, 60, Thái Lan thực hiện CNH tập trung vào đô thịnhưng không hiệu quả, nông nghiệp bị trì trệ Sau đó Thái Lan đã kịp thờichuyển hướng, tiến hành CNH cả ở đô thị và nông thôn theo hướng xuấtkhẩu Quá trình CNH nông thôn cũng đồng thời với chuyển đổi đất đai Đấtnông nghiệp bị cắt sang các loại đất khác nên cũng bị giảm diện tích Để đápứng đủ nhu cầu trong nước, Thái Lan vừa chủ trương mở mang xây dựngKCN, vừa tập trung vào phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá xuất khẩu,phát triển ngành nghề dịch vụ và TTCN, CN nông thôn Từ đó đã đưa nướcnày xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Bên cạnh sản xuất lúa hàng hoá, TháiLan còn chú trọng phát triển cây CN ngắn ngày, tiêu biểu là cây mía nguyênliệu Diện tích mía nguyên liệu được cơ giới hoá 100%, chuyển giao và ứngdụng trong khâu chế biến Máy móc trong nông nghiệp tăng nhanh, chi phílao động giảm, năng suất lao động cao
Ngoài những chủ trương trên, Thái Lan còn quan tâm đến hỗ trợ, cungcấp tín dụng, bồi dưỡng tay nghề, đào tạo cho công nhân, tạo hợp đồng giữa
CN và nông nghiệp Nhờ vậy mà nông nghiệp Thái Lan mặc dù giảm về diệntích nhưng lại phát triển về chiều sâu, nên năng suất và sản lượng đều cao Tất
cả những đường lối đúng đắn trong CNH đó đã làm cho khoảng cách nôngthôn và thành phố Thái Lan thu hẹp đáng kể (Nguyễn Thị Kim Phượng, 2008)
Trang 17* Trung Quốc
Từ khi cải cách mở cửa đến nay, tiến trình đô thị hóa ở Trung Quốc đãđạt được những thành tựu nổi bật, nhất là kể từ sau năm 1992 - thời điểm màthể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa được thiết lập
Mặc dù tiến trình đô thị hóa ở Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ từkhi cải cách mở cửa đến nay, nhưng so với các nước phát triển, tỷ lệ đô thịhóa ở Trung Quốc vẫn đang ở mức thấp Thống kê cho thấy: "năm 2005, tỷ lệ
đô thị hóa trung bình của thế giới đạt 48,8%, đối với các nước phát triển, tỷ lệnày đã vượt trên 75%, ngoài một số nước kém phát triển ở châu Á và châuPhi, tỷ lệ đô thị hóa trung bình ở các quốc gia đang phát triển khác cũng caohơn Trung Quốc gần 20%" Tốc độ đô thị hóa chậm đang trở thành nhân tốkìm hãm sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội khágiả toàn diện của Trung Quốc Công nghiệp hóa, đô thị hóa là quá trình tấtyếu để phát triển kinh tế - xã hội, nhưng công nghiệp hóa, đô thị hóa sẽ khiếnnhiều nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyên đất bị thu hẹp lại Tiến trình
đô thị hóa được đẩy mạnh đồng nghĩa với việc nảy sinh mâu thuẫn gay gắtgiữa vấn đề lợi dụng diện tích đất phục vụ cho công tác xây dựng thành phố
và vấn đề bảo vệ diện tích đất canh tác Đô thị hóa có nghĩa là địa giới hànhchính của thành phố được mở rộng, song ngày càng có nhiều diện tích đấtnông nghiệp bị thu hồi và đưa vào phục vụ cho hoạt động xây dựng, phát triểncủa thành phố Thống kê cho thấy, khi tỷ lệ đô thị hóa nâng lên 1,5% thì nhucầu sử dụng đất của thành phố sẽ tăng 1% Từ năm 1979 đến năm 1997,Trung Quốc đã thu hồi 18 triệu ha đất nông nghiệp để mở rộng thành phố,làm đường, xây dựng nhà máy và các khu công nghiệp Nhưng chỉ từ năm
2000 đến tháng 6-2005, diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị thu hồi đãlên tới 7,3 triệu ha, con số này đã đi ngược lại với nguyên tắc bảo vệ đất canhtác "lấy đi bao nhiêu, khai hoang bấy nhiêu" mà Chính phủ Trung Quốc đề ra.(Nguyễn Thành Lợi, 2008)
Trang 182.2.2 Tình hình chuyển đổi đất nông nghiệp ở Việt Nam
Diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng:
Theo tác giả Mai Thành (2009), thì ở Việt Nam, đến ngày 1-1-2008(hiện trạng năm 2007), diện tích đất nông nghiệp của cả nước là 24.997.000
ha, trong đó diện tích đất đã giao cho các đối tượng sử dụng là 21.455.931 ha.Đối tượng đang sử dụng phần lớn diện tích đất nông nghiệp là các hộ giađình, cá nhân (khoảng 58,88%); tiếp đến là tổ chức trong nước (40,26%); tổchức, cá nhân nước ngoài chỉ sử dụng 0,1% diện tích đất nông nghiệp đã giaocho các đối tượng sử dụng Tổng số diện tích đất trên chia làm 3 loại chính:đất sản xuất nông nghiệp (khoảng 9,4 triệu ha), đất lâm nghiệp (14,8 triệu ha)
và đất nuôi trồng thủy sản (728.577 ha)
Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nênviệc chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất phi nôngnghiệp diễn ra rất mạnh mẽ Theo báo cáo không đầy đủ của 49 tỉnh, thànhphố, từ ngày 1-7-2004 đến nay, đã thu hồi gần 750.000 ha đất để thực hiệnhơn 29.000 dự án đầu tư Trong tổng số đất thu hồi trên có hơn 80% là đấtnông nghiệp Hiện có khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằmtrong các vùng kinh tế trọng điểm, nơi đất đai màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm
Các vùng kinh tế trọng điểm là khu vực có diện tích đất nông nghiệp thuhồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Nhữngđịa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai(19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau(13.242 ha), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha).(Mai Thành, 2009)
Theo số liệu điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại
16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếmkhoảng 89% và diện tích đất thổ cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là
Trang 19vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nôngnghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác: dưới 0,5%.
Ở các tỉnh thì diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi đất chỉ chiếm chiếm
tỷ lệ nhỏ trong tổng số đất nông nghiệp của tỉnh nhưng lại tập trung vào một
số huyện, xã ở đồng bằng có mật độ dân số cao và gần các tuyến giao thôngquan trọng Có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70- 80% diện tích đấtcanh tác Các tỉnh không nằm trong những vùng trọng điểm về phát triển kinh
tế thì diện tích đất bị thu hồi còn tương đối nhỏ
Đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất:
Đồng bằng sông Hồng có số hộ bị ảnh hưởng do thu hồi đất lớn nhất:khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ: khoảng 108 nghìn hộ Số hộ bị thu hồiđất ở các vùng khác thấp hơn: Tây Nguyên chỉ có trên 138.291 hộ, Thành phố
Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách giúp thựchiện quá trình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồiđất như: Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồidưỡng, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điềuhành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004
Những quy định về giá đất bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đàotạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư đã được tích cực triển khai tới từng
hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp, đất ở Việc thu hồi đất sản xuất nôngnghiệp để chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất chuyên dùng đã tạo điều
Trang 20kiện thuận lợi cho các địa phương phát triển công nghiệp, dịch vụ cũng nhưxây dựng các khu đô thị mới cho người dân địa phương; tạo điều kiện thuậnlợi thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Số lượng lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chuyển sang làmviệc ở các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đã góp phần đẩymạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với địnhhướng phát triển của đất nước
Việc bố trí, sắp xếp nơi ở mới cho các hộ dân bị thu hồi đất đến nơi ởmới có quy hoạch tổng thể với hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội hiện đại đã gópphần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng:
Quá trình thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị vàcác công trình công cộng bước đầu đã mang lại những tác động tích cực đếnviệc phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế hộ nông dân nói riêng,
nó hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của toàn cầu Tuy nhiên, một sốnhững khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất hiện nay đã gây cản trởđến sự phát triển kinh tế cũng như gây ra sự bất ổn về xã hội ở những địaphương có đất bị thu hồi Những hạn chế đó bao gồm:
Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết là vùng đất tốt, có điềukiện thuận lợi cho canh tác, trong khi các diện tích đất đền bù lại là đất xấu,cách xa khu dân cư và điều kiện hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều khó khăn.Như vậy, sau khi thu hồi đất nông nghiệp thì quá trình sản xuất của hộ lạikhông được thuận lợi như trước kia
Việc thực hiện định giá đền bù đất cũng như tài sản trên đất chưa phùhợp với giá thị trường và khu tái định cư Như vậy, sau khi mất đất nôngnghiệp người dân không những không có việc làm mà số tiền nhận được lạikhông nhiều, không đủ để chuyển đổi ngành nghề từ đó gây ra bất ổn trong
Trang 21kinh tế cũng như các hiện tượng xã hội nảy sinh
Một số địa phương chạy theo phong trào phát triển các khu côngnghiệp, khu đô thị mà chưa cân nhắc đến hiệu quả, hoặc phát triển côngnghiệp, dịch vụ bằng mọi cách mà chưa chú ý đúng mức đến tác động đối vớingười dân
Hiện tượng quy hoạch treo, quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệptràn lan là khá phổ biến Quá trình quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụngcũng như thẩm định các phương án sử dụng đất và xây dựng phương án bồithường chưa thực sự khoa học, thiếu sự tham gia đầy đủ của các ngành, các tổchức có liên quan hoặc đại diện cho quyền lợi của người dân Điều này đã gây
ra sự lãng phí về quỹ đất sản xuất, làm cản trở quá trình phát triển kinh tế củacác địa phương
Thời gian triển khai công tác thu hồi đất kéo dài nhiều năm gây bất lợiđến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằmtrong diện bị thu hồi đất Các yếu tố trượt giá hầu như chưa được tính đếntrong định giá đền bù cho người dân
Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưathực sự hiệu quả Do vậy, lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứngđược yêu cầu của doanh nghiệp Hầu hết các lao động nông nghiệp vẫn giữnguyên nghề cũ sau khi đất sản xuất bị thu hồi, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏchuyển sang nghề mới và tìm được việc làm ổn định Theo thống kê có tới67% số lao động nông nghiệp bị thu hồi đất vẫn giữ nguyên nghề sản xuấtnông nghiệp, 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làmhoặc có việc làm nhưng không ổn định Đối với các lao động thuộc ngành phinông nghiệp, lao động làm thuê và công nhân thì cơ hội chuyển sang nghềmới lớn hơn nhiều Việc làm và thu nhập của các hộ sống chủ yếu dựa vàosản xuất nông nghiệp (chiếm tới 60%) là đối tượng bị tác động lớn nhất saukhi thu hồi đất và gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm mới Có tới
Trang 2253% số hộ có thu nhập giảm so với trước khi bị thu hồi đất, chỉ có 13% số hộ
có thu nhập tăng hơn trước Ngoài ra, quá trình tuyển dụng lao động tại cácđịa phương nếu không mang lại hiệu quả sẽ tạo ra một lượng lao động dưthừa lớn khi nông dân bị thu hồi đất Lượng lao động này sẽ đổ ra các thànhphố lớn để kiếm sống đã tạo ra vô số các vấn đề như lao động, việc làm, tệnạn xã hội (Dũng Hiếu, 2007)
Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi dưỡng giải phóng mặt bằng tại các địaphương vừa thiếu, vừa yếu, dẫn đến hiện tượng không giải đáp rõ những thắcmắc của người dân hoặc áp dụng không đúng chính sách, chế độ đền bù, hỗtrợ làm ảnh hưởng đến quyền lợi và gây ra những phản ứng mạnh mẽ từ phíangười dân có đất bị thu hồi
Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên vềbảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bịthu hồi đất
Từ những khó khăn, hạn chế trong quá trình thu hồi đất đã nêu trên thìNhà nước cũng như các cơ quan có thẩm quyền cần chú trọng quan tâm hơnnữa tới vấn đề thu hồi đất nông nghiệp để quá trình này thật sự mang lại sựphồn thịnh trong phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế hộ nôngdân nói riêng
Trang 23PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình
Vị trí địa lý: Dương Quang có đường Quốc lộ 5A, trung tâm xã cách
thủ đô Hà Nội 28 km về phía tây, cách Hải Dương 28 km về phía đông, cáchthị xã Hưng Yên 34 km về phía nam Vị trí địa lý của xã Dương Quang đã tạonhiều thuận lợi về giao lưu kinh tế - văn hóa, xã hội với các huyện trong tỉnh
và các tỉnh, thành phố trong cả nước Có nhiều cơ hội để thu hút vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Đặc điểm địa hình: Xã nằm về phía bắc tỉnh Hưng Yên, địa hình tương
đối bằng phẳng, đất đai xu thế thoải dần từ tây bắc xuống đông nam, thuận lợitrong việc cơ giới hóa, thuỷ lợi hóa phát triển nông nghiệp
3.1.1.2 Đặc điểm thời tiết, khí hậu và thuỷ văn
Nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Dương Quang chịu ảnh hưởng củakhí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết được chia thành hai mua rõ rệt, mùa hènóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông hanh Nhiệt độ trung bình là 23,2oC, lượngmưa trung bình hàng năm từ 1.500 - 1.600mm Độ ẩm không khí trung bình là85%
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Xã Dương Quang với tổng diện tích đất tự nhiên là 774,71 ha được sử dụngvào ba mục đích khác nhau là: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sửdụng
Trang 24Bảng 3.1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã qua 3 năm
Đơn vị tính: Ha
Chỉ tiêu
SL (ha)
CC (%)
SL (ha)
CC (%)
SL (ha)
CC (%)
Nguồn: Ban địa chính xã Dương Quang
Trang 25Từ bảng 3.1 ta thấy rằng: diện tích đất nông nghiệp năm 2007 là 493,31
ha chiếm 63,68% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 là 491,50 ha, năm
2009 giảm xuống còn 464,60 ha chiếm 59,95% tổng diện tích đất tự nhiên.Bình quân qua 3 năm đất nông nghiệp giảm 2,97% Nguyên nhân làm diệntích đất nông nghiệp giảm đi một phần là do chuyển sang xây dựng khu côngnghiệp, một phần được chuyển sang đất chuyên dùng và chuyển sang đất thổ
cư do quá trình di dân và tách hộ của xã
Trong diện tích đất nông nghiệp còn lại là 464,40 ha thì có tới 419,22
ha đất trồng cây hàng năm chiếm 54,11% tổng diện tích đất tự nhiên Trong
đó chỉ là diện tích đất trồng lúa, không có diện tích đất trồng cây hàng nămkhác Bình quân qua 3 năm diện tích đất trồng lúa giảm 3,28% Diện tích đấttrồng cây lâu năm không đổi qua 3 năm với số lượng là 1,68 ha chiếm 0,22%tổng diện tích đất tự nhiên Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản cũng không tănglên và chỉ chiếm 5,61% tương đương 43,50 ha
Đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp giảm là sự tăng lên diệntích đất phi nông nghiệp Năm 2007 diện tích đất phi nông nghiệp là 274,42
ha chiếm 35,42% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 tăng 1,14% tức làtăng lên 1,81 ha, năm 2009 tăng 21,94% tương ứng với 27,1 ha Bình quânqua 3 năm đất phi nông nghiệp tăng 11,05% Diện tích đất phi nông nghiệptăng lên chủ yếu là do xây dựng khu công nghiệp và tăng lên về đất ở, ngoài
ra các loại đất khác như đất nghĩa trang nghĩa địa, tôn giáo tín ngưỡng… có
sự thay đổi không đáng kể Diện tích đất chuyên dùng năm 2007 là 140,99 hachiếm 18,20% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2008 là 142,68 ha và năm
2009 tăng lên 167,76 ha Mức độ tăng bình quân 3 năm là 9,73% Đất chưa sửdụng của xã qua 3 năm không có sự thay đổi với diện tích là 6,98 ha chiếm0,90% tổng diện tích đất tự nhiên
Nhìn chung sự chuyển dịch cơ cấu đất đai là phù hợp với sự phát triểnkinh tế của vùng nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung Song do
Trang 26quá trình công nghiệp hoá diễn ra với tốc độ nhanh dẫn đến diện tích đất nôngnghiệp của các hộ nông dân giảm mạnh Mặt khác xã Dương Quang là xãthuần nông nên đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của địaphương và tạo ra áp lực lên vấn đề tạo việc làm cho các hộ bị thu hồi đất
3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động
Là một xã thuần nông có dân số tương đối đông sống ở 8 thôn là: thôn
Lê Xá, thôn Dương Xá, thôn Vinh Xá, thôn Bùi Bồng, thôn Mão Chinh, thônHiển Dương, thôn Phú Hữu, thôn Vũ Xá Tình hình biến động dân số và laođộng của xã được thể hiện trong bảng 3.2
Qua bảng 3.2 chúng ta thấy được rằng tổng số hộ trong toàn xã luôntăng qua các năm Cụ thể, năm 2007 cả xã có 1810 hộ gia đình, đến năm 2008
là 1814 hộ, năm 2009 là 1820 hộ Bình quân qua 3 năm tổng số hộ tăng0,27% Sở dĩ số hộ tăng lên trong xã là do các cặp vợ chồng trẻ đã tách thành
hộ mới Số hộ làm nông nghiệp trong xã là rất cao Cụ thể năm 2007 toàn xã
có 1568 hộ nông nghiệp chiếm 86,63% tổng số hộ trong toàn xã, năm 2007tăng lên thành 1569 hộ nông nghiệp chiếm 86,49% tổng số hộ trong toàn xã,đến năm 2009 còn 1517 hộ nông nghiệp chiếm 83,35% tổng số hộ cả xã Bìnhquân qua 3 năm giảm đi 1,64% Nguyên nhân của hiện tượng này là do năm
2009 người dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, một số hộ đã bị thu hồihết, số ít các hộ còn đất sản xuất nhưng với số lượng rất ít nên họ đã chuyểnsang nghề khác Chính vì vậy mà số hộ phi nông nghiệp đã tăng lên qua cácnăm Cụ thể, năm 2007 số hộ phi nông nghiệp là 242 hộ chiếm 13,37% tổng
số hộ toàn xã, năm 2008 số hộ phi nông nghiệp là 245 hộ, năm 2009 là 303 hộchiếm 16,65% tổng số hộ Bình quân qua 3 năm số hộ phi nông nghiệp tăng11,95%
Trang 27Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của xã
Trang 28Cũng qua bảng 3.2 ta nhận thấy rằng nếu chia hộ theo thu nhập thì số
hộ khá, giàu và hộ trung bình tăng lên, hộ nghèo giảm xuống Năm 2007 số
hộ khá, giàu là 431 hộ, năm 2008 là 438 hộ và năm 2009 là 430 hộ Bình quânqua 3 năm số hộ khá giàu tăng lên 2,18% Số hộ trung bình tăng không đáng
kể, 1201 hộ trung bình năm 2007 tăng lên thành 1211 hộ năm 2008 và năm
2009 là 1224 hộ Bình quân qua 3 năm tăng 0,95% Số hộ nghèo giảm từ 178
hộ năm 2007 xuống còn 165 hộ năm 2008 và 146 hộ năm 2009, bình quân 3năm số hộ nghèo giảm 9,43%
Là một xã đồng bằng nên dân số của Dương Quang là tương đối đông.Tổng nhân khẩu của xã năm 2007 là 6981 người, năm 2008 có tổng số nhânkhẩu là 7079 người và có 7109 người năm 2009 Bình quân qua 3 năm dân sốtăng lên 0,91% Tỉ lệ nam - nữ là tương đối xấp xỉ nhau Năm 2007 là 3522 -
3459, năm 2008 là 3542 - 3547, và năm 2009 là 3548 - 3561 Qua bảng 3.2chúng ta cũng thấy rằng số lao động nông nghiệp trước năm bắt đầu thu hồiđất thì tăng còn sau khi thu hồi đất thì giảm Năm 2007 là 2862 lao động nôngnghiệp, tăng lên thành 2886 lao động năm 2008 và còn 2755 lao động năm
2009 năm mà tiến hành thu hồi đất Bình quân qua 3 năm lao động nôngnghiệp giảm 1,89% Ngược lại thì lao động phi nông nghiệp lại có xu hướngtăng lên Năm 2007 là 831 lao động, tăng lên thành 845 lao động năm 2007
và năm 2009 thì tăng vọt lên thành 1013 lao động Qua 3 năm bình quân laođộng phi nông nghiệp tăng lên 10,41%
Nhìn chung dân số của xã là tương đối đông, số người trong độ tuổi laođộng là nhiều và có sự di chuyển giữa các ngành nghề qua các năm Lao độngtrẻ chiếm tỉ lệ cao và số lượng được đào tạo đang tăng dần Đây sẽ là lợi thếkhi xây dựng khu công nghiệp trong xã
3.1.2.3 Tình hình trang bị cơ sở hạ tầng
Với bất kì địa phương nào muốn kinh tế phát triển thì vấn đề điện,đường, trường, trạm phải đi trước một bước Chỉ có như vậy mới tạo điều
Trang 29trọng của vấn đề này xã Dương Quang đã tập trung cho giao thông, hệ thốngthuỷ lợi cũng như trang bị cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo từ nhiều nămtrước Tính đến năm 2009 về cơ bản xã đã có trạm y tế, trường học đạt chuẩnquốc gia Vì vậy mà quá trình xây mới không diễn ra, xã chỉ tập trung tu sửa vàphát triển nguồn nhân lực cũng như chăm sóc sức khoẻ cho bà con trong xã.
Về giao thông: Xã có đường quốc lộ 5 chạy qua cùng hệ thống đườngliên thôn, liên xã Hiện xã có 8/8 thôn cơ bản đã cứng hoá bê tông đường giaothông nông thôn Tuy nhiên trong tương lai vẫn cần phải đầu tư, nâng cấp thìmới đáp ứng được nhu cầu phát triển và lưu thông hàng hoá như hiện nay
Về thuỷ lợi: Xã có các kênh mương tưới tiêu nội đồng, các trạm bơmđược phân bố khá hợp lý Mặc dù vậy trong giai đoạn tới để đáp ứng kịp thờinhu cầu tưới tiêu cần làm thêm một số tuyến kênh mương nữa đồng thời nạovét và cứng hoá các công trình hiện có
Hệ thống điện: toàn xã có 9 trạm biến thế với số hộ dùng điện là 100%.Như vậy xã đã có hệ thống điện tương đối tốt và tỉ lệ hộ dùng điện là rất cao
so với nhiều xã trong toàn tỉnh
Giáo dục đào tạo: trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ,
sự nghiệp giáo dục trong toàn xã luôn được giữ vững và phát triển cả về quy
mô, chất lượng 3 ngành học Tuy không xây mới cơ sở vật chất nhưng chấtlượng đào tạo là rất cao Công tác văn hóa thể dục thể thao được phát triểnđồng thời chú trọng đến giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng đại trà, đầu
tư cho chất lượng mũi nhọn, thực hiện tốt công tác khuyến học và xây dựngquỹ khuyến học Thành tích có được của các trường là rất nhiều Cùng với sựphát triển và đòi hỏi của thời đại, cộng với việc mất đất sản xuất thì sự nghiệpgiáo dục của xã cần được quan tâm hơn nữa Củng cố và hoàn thiện hệ thống
cơ sở vật chất, trang thiết bị để đảm bảo việc dạy và học ngày một tốt hơn
Về y tế: xã luôn chú trọng nâng cao chất lượng, tăng cường công táckhám chữa bệnh cho nhân dân Mạng lưới y tế từ xã đến thôn, xóm được quantâm hơn cả về con người và phương tiện Xã có một trạm y tế phối hợp tốt với
Trang 30mạng lưới thôn xã, vì vậy mà dịch bệnh đã không xảy ra trong toàn xã trongnhiều năm qua.
Bưu chính viễn thông: kinh tế phát triển, đời sống vật chất, thu nhậpdân cư tăng, giao dịch làm ăn kinh tế ngày càng nhiều nên nhu cầu thông tinliên lạc trong sản xuất kinh doanh và dời sống tăng mạnh Xã có một điểmbưu điện văn hoá để phục vụ nhu cầu đọc sách báo, tìm hiểu tiến bộ khoa học
kỹ thuật, pháp luật, trao đổi thông tin kinh tế - xã hội
3.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh
Là xã có diện tích đất nông nghiệp tương đối lớn, với phần lớn số hộthuần nông và một số ít đa ngành nghề dịch vụ thì tổng giá trị sản xuất củatoàn xã trong những năm trước là chưa được cao Sau khi thu hồi đất nôngnghiệp thu nhập của một số hộ tăng lên làm cho giá trị sản xuất toàn xã có sựbiến động Tổng giá trị sản xuất của toàn xã được thể hiện trong bảng 3.3.Qua bảng 3.3 chúng ta thấy tổng giá trị sản xuất của xã qua 3 năm tăng tươngđối nhanh, từ 63500 triệu đồng năm 2007 tăng lên 72200 triệu đồng năm
2008, đến năm 2009 thì con số này là 81600 triệu đồng Qua 3 năm trung bìnhtăng 13,36% Giá trị sản xuất nông nghiệp của xã chiếm tỉ trọng không caotrong tổng giá trị sản xuất và có hiện tượng giảm xuống Cụ thể năm 2007 giátrị sản xuất nông nghiệp là 23200 triệu đồng chiếm 36,54% tổng giá trị sảnxuất, đến năm 2008 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp là 26800 triệu đồngchiếm 37,12% tổng giá trị sản xuất, năm 2009 giá trị sản xuất nông nghiệp là
27700 triệu đồng chiếm 33,95% tổng giá trị sản xuất Bình quân qua 3 nămgiá trị sản xuất nông nghiệp chỉ tăng 9,27% Mặc dù diện tích đất nông nghiệpnăm 2009 có giảm nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn không giảm nhiều
là do giá trị ngành chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản tăng cao Năm 2007 giátrị ngành chăn nuôi và thuỷ sản là 8800 triệu đồng chiếm 37,93% tổng giá trịsản xuất ngành nông nghiệp, đến năm 2008 tăng lên 18,18% so với năm 2007tức là tăng 1600 triệu đồng
Trang 31Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua các năm (2007 - 2009)
14400 62,07 16400 61,19 15300 55,23 113,89 93,29 103,08 Chăn nuôi, NTTS
Trang 32Năm 2009 giá trị ngành chăn nuôi và thuỷ sản đạt 12400 triệu đồngchiếm tới 44,77% tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, tăng 19,23% sovới năm 2008 Bình quân qua 3 năm giá trị ngành chăn nuôi và thuỷ sảntăng 18,70% Diện tích đất nông nghiệp năm 2009 giảm đi khiến cho giá trịngành trồng trọt giảm Năm 2007 giá trị ngành trồng trọt là 14400 triệuđồng, năm 2008 là 16400 triệu đồng chiếm 61,19% tổng giá trị sản xuấtnông nghiệp, đến năm 2009 giá trị ngành trồng trọt là 15300 triệu đồngchiếm 55,23% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Qua 3 năm bình quân giátrị sản xuất ngành trồng trọt chỉ tăng 3,08%
Do mất đất sản xuất, cơ cấu ngành nghề có sự thay đổi Nhiều hộchuyển sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Vì vậy, trong 3năm qua giá trị sản xuất các ngành này tăng lên mạnh Cụ thể, năm 2007 giátrị ngành công nghiệp là 26000 triệu đồng chiếm 40,94% tổng giá trị sảnxuất, đến năm 2008 là 29600 triệu đồng chiếm 41,00% tổng giá trị sản xuất,năm 2009 giá trị ngành công nghiệp là 35100 triệu đồng chiếm 43,01% tổnggiá trị sản xuất Bình quân qua 3 năm giá trị sản xuất ngành công nghiệptăng 16,19% Ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ lệ ít nhất trong tổng giátrị sản xuất của toàn xã Năm 2007 là 14300 triệu đồng chiếm 22,52% trongtổng giá trị sản xuất, đến năm 2008 là 15800 triệu đồng Năm 2009 ngànhthương mại dịch vụ đã chiếm được 23,04% trong tổng giá trị sản xuất vớigiá trị là 18800 triệu đồng Bình quân 3 năm giá trị ngành thương mại dịch
vụ tăng 14,66%
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Xã Dương Quang được chọn làm điểm nghiên cứu đề tài với những lý
do sau:
- Dương Quang là xã có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế xã hội
- Là xã thuần nông, không có ngành nghề truyền thống, và với chủ
Trang 33trương thu hồi đất nông nghiệp cho việc xây dựng khu công nghiệp vẫn làđiều khá mới mẻ đối với hộ nông dân nơi đây Vì vậy mà tác động của vấn
đề này đến lao động và việc làm của địa phương thể hiện khá rõ cả mặt tíchcực cũng như mặt tiêu cực
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Chọn 60 hộ điều tra với tiêu chí là mức độ diện tích đất nông nghiệp
bị thu hồi của các hộ ở mức mất dưới 30% đất nông nghiệp, mất từ 30% 70% đất nông nghiệp và hộ mất trên 70% đất nông nghiệp
-Hộ mất ít: là nhóm hộ có diện tích mất dưới 30% đất nông nghiệp
Hộ mất trung bình: là nhóm hộ mất từ 30% - 70% đất sản xuất nông nghiệp
Hộ mất nhiều: là nhóm hộ mất trên 70% đất nông nghiệp Đây đượccoi là nhóm hộ gần như mất hoàn toàn đất nông nghiệp
Bảng 3.4 Thông tin chung về các hộ điều tra
Để tiện cho việc nghiên cứu chúng tôi quy định: nhóm hộ mất ít lànhóm hộ I, nhóm hộ mất trung bình là nhóm hộ II, nhóm hộ mất nhiều lànhóm hộ III Những hộ điều tra đều là những hộ được chọn tiêu biểu để đảmbảo tính đại diện cho từng nhóm hộ
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
Đây là loại số liệu đã được tổng hợp và xử lý theo một tiêu chí nào
đó Số liệu này được thu thập chủ yếu qua sách báo, các phòng ban ở cơ sở,các báo cáo, các công trình nghiên cứu đã được công bố… Đây là những sốliệu phong phú và đa dạng Chúng đã được chọn lọc và sử dụng đúng mục
Trang 34đích trong nghiên cứu đề tài.
3.2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp
Đây là loại số liệu có được do tổ chức phỏng vấn điều tra Là số liệuhoàn toàn thô và được tiến hành điều tra ngẫu nhiên theo tiêu thức đã chọn
3.2.5.1 Phương pháp phân tổ thống kê
- Tiến hành phân tổ thống kê theo nghề nghiệp: hộ thuần nông, hộcông nghiệp xây dựng, hộ kinh doanh dịch vụ… để thấy được sự thay đổinghành nghề của hộ khi bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp
- Phân tổ theo số lượng diện tích đất canh tác hộ bị mất để thấy đượcmức độ ảnh hưởng đến kinh tế xã hội
- Phân tổ theo tiêu thức thu nhập, việc làm…
3.2.5.2 Phương pháp so sánh
Chúng tôi tiến hành so sánh các tiêu thức như thu nhập, việc làm, diệntích đất canh tác trước và sau thu hồi… để đánh giá đúng mức độ tác độngcủa quá trình thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống kinh tế - xã hội củangười dân địa phương Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tạo điều kiệncho phát triển kinh tế xã hội một cách đúng hướng phù hợp với chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 35- Tỉ lệ lao động chuyển sang làm việc khác (T):
Số LĐNN chuyển sang làm việc khác sau khi bị thu hồi đất
T (%) = x 100
Tổng số LĐNN trước khi thu hồi đất
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số chỉ tiêu phân tích khác để đánh giá tình hình an ninh, trật tự xã hội, các tệ nạn xã hội cũng như sự nghiệp GD -
ĐT, y tế, văn hoá
Trang 36PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp tại xã Dương Quang trong những năm qua
Hưng Yên là một tỉnh có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi để phục
vụ xây dựng khu công nghiệp thuộc diện nhiều so với cả nước Xã DươngQuang huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên cũng là một trong rất nhiều xã thuộctỉnh Hưng Yên bị thu hồi đất nông nghiệp Năm 2009 diện tích đất bị thu hồi
ở xã là 27,1 ha và chủ yếu là đất nông nghiệp trên tổng số 4951,50 ha đấtnông nghiệp trên toàn xã Trong tổng số 27,1 ha đất nông nghiệp bị thu hồithì 100% là đất trồng lúa, không có diện tích đất trồng cây hàng năm
Qua biểu đồ 4.1 thì ta thấy tuy diện tích đất nông nghiệp thu hồi của
xã so với tổng diện tích đất nông nghiệp thì chiếm tỷ lệ không đáng kểnhưng nó gây ảnh hưởng to lớn đến đời sống và thu nhập cũng như lao độngviệc làm của các hộ bị thu hồi đất vì dân cư trong xã chủ yếu là thuần nông
và lao động nông nghiệp là chủ yếu
Biểu đồ 4.1 Diện tích đất nông nghiệp của xã sau khi bị thu hồi cho phát
triển khu công nghiệp
27.1 ha
4924.4 ha
Diện tích bị thu hồi Diện tích còn lại
Trang 37Mất đi TLSX đặc biệt của mình những hộ bị thu hồi đất nơi đây sẽ gặpkhông ít khó khăn trong cuộc sống Vấn đề kinh tế xã hội trong xã có nhữngthay đổi như thế nào? cụ thể hơn nữa là vấn đề lao động, việc làm của ngườidân sẽ ra sao khi mất đất? đây là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết Tình hình thu hồi đất của các hộ trong xã được thể hiện cụ thể trongbảng 4.1 Nhìn vào bảng 4.1 ta thấy rằng toàn xã có 322 hộ bị thu hồi đấtvới tổng diện tích đất thu hồi là 271053 m2 tương đương với 752,93 sào(Bắc Bộ) Như vậy, trong tổng số 1820 thì có 322/1820 hộ bị thu hồi đất sảnxuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ 17,69% với diện tích thu hồi bình quân là 841,78
m2/hộ tương đương với 2,34 sào/hộ Diện tích của hộ bị thu hồi ít nhất là 144
m2 tương đương với 6 thước hay 0,4 sào Diện tích của hộ bị thu hồi nhiều nhất
là 2400 m2 tương đương với 6,67 sào
Bảng 4.1: Diện tích đất thu hồi của các hộ nông dân
3 Bình quân diện tích đất thu hồi/hộ m2/hộ 841,78
Nguồn: Phòng địa chính xã Dương Quang
Do diện tích đất thu hồi phục vụ cho việc xây dựng khu công nghiệpnằm trong xã là không lớn lắm nên công tác giải phóng mặt bằng và việc bồithường diễn ra một cách nhanh chóng Tính đến thời điểm cuối năm 2009thì về cơ bản đất nông nghiệp của các hộ nông dân đã giao hết cho doanhnghiệp và công tác đền bù thiệt hại đã hoàn thành, khu công nghiệp đangtrong quá trình xây dựng cơ bản Như vậy, đời sống của người dân tại địaphương bước đầu có những xáo trộn như thế nào? tình hình kinh tế xã hộibiến động ra sao sau khi người dân mất đất sản xuất? Tất cả những vấn đề
Trang 38đó sẽ được chúng ta phân tích cụ thể trong phần dưới đây.
4.2 Đặc điểm chung của nhóm hộ bị thu hồi đất nông nghiệp tại xã
Để điều tra thu thập số liệu xem xét ảnh hưởng của vấn đề thu hồi đấtnông nghiệp tới thu nhập và việc làm của người dân xã Dương Quang chúngtôi đã chọn nghiên cứu với tổng số hộ điều tra là 60 hộ được chia làm 3nhóm mỗi nhóm 20 hộ Trong đó nhóm I là nhóm hộ mất dưới 30% đấtnông nghiệp, nhóm hộ II là nhóm hộ mất từ 30-70% đất nông nghiệp, nhóm
hộ III là nhóm hộ mất trên 70% đất sản xuất nông nghiệp
Bảng 4.2: Một số thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra năm 2009
3 Tổng số lao động trong tuổi 41 100 43 100 40 100
II Chỉ tiêu phân tích
Trang 39Thông tin chung về nhóm hộ điều tra được thể hiện trong bảng 4.2Tổng số thành viên trong 60 hộ điều tra là 259 người trong đó nhóm I có 91khẩu, nhóm II có 88 khẩu và nhóm III có 80 khẩu Bình quân có 3,32 người/
hộ Đây không phải là con số quá cao, nó là kết quả của công tác kế hoạchhoá gia đình được tiến hành tốt trong địa phương những năm qua Nhận thứcđược ảnh hưởng của vấn đề “con đàn cháu đống” mà những năm qua tỉ lệsinh con thứ 3 trong toàn xã giảm một cách đáng kể Nhìn chung các giađình trong xã đều có từ 2 đến 3 thế hệ cùng chung sống: ông, bà, bố mẹ vàcác con Sự khác biệt về nhân khẩu giữa các nhóm hộ qua điều tra là khônglớn vì vậy mà cơ cấu thu nhập sẽ không chịu ảnh hưởng nhiều bởi tổng sốnhân khẩu, nó chỉ phụ thuộc vào cơ cấu ngành nghề cũng như sự nhanhnhạy của các hộ trong quá trình sản xuất kinh doanh Độ tuổi bình quân củachủ hộ là trung bình: nhóm I là 34 tuổi, nhóm II là 34,7 tuổi và nhóm III là35,95 tuổi Với độ tuổi trung bình, chủ hộ có thể thích ứng nhanh với điềukiện chuyển đổi các ngành nghề kinh doanh khác khi đất nông nghiệp bị thuhồi
Tổng lao động thuần nông trong các nhóm hộ điều tra là 25 lao động.Trong đó nhóm I có 8 lao động, nhóm II có 10 lao động và nhóm III có 7 laođộng Nhìn chung số lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang laođộng kiêm và phi nông nghiệp ngày càng nhiều Đây là quá trình tất yếu khilấy đất nông nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và đô thị hoá Họphải lao động để nuôi sống gia đình, nuôi sống bản thân, họ phải tự tìm kiếmcho mình một công việc thích hợp và có thu nhập ổn định Đa số những laođộng trẻ trong nhóm hộ điều tra là những người có trình độ cấp III hoặc trêncấp III nên họ có cơ hội học tập và cơ hội việc làm lớn, số còn lại hoặc dichuyển vào trong các thành phố lớn tìm việc hoặc chuyển sang nghề khácnhư: dịch vụ, mở cửa hàng, đi làm thuê Vì vậy mà lao động kiêm trong cácnhóm hộ điều tra là tương đối lớn Nhóm hộ I có 22 lao động kiêm chiếm
Trang 4053,66% tổng lao động trong nhóm, nhóm hộ II có 17 lao động kiêm chiếm39,53% và nhóm hộ III có 12 lao động kiêm chiếm 30% Số lao động phinông nghiệp trong các nhóm hộ cũng vì đó mà tăng lên Cụ thể: nhóm hộ I có
11 lao động phi nông nghiệp chiếm 26,83%, nhóm hộ II có 16 lao độngchiếm 37,21% và nhóm hộ III có 21 lao động chiếm 52,50%
Quá trình chuyển đổi ngành nghề của các hộ diễn ra theo xu hướnggiảm số hộ nông nghiệp tăng số hộ kiêm và hộ phi nông nghiệp.Quá trìnhnày là hoàn toàn phù hợp, một mặt do hộ nông dân còn ít hoặc mất toàn bộđất sản xuất nông nghiệp, mặt khác họ đã nhận được tiền bồi thường củaNhà nước làm vốn để chuyển đổi và đầu tư vào ngành nghề mới Nhóm I: có
11 hộ làm nông nghiệp chiếm 55%, 6 hộ kiêm ngành nghề chiếm 6% và hộphi nông nghiệp là 3 hộ chiếm 15% Nhóm II: số hộ làm nông nghiệp là 4
hộ, hộ kiêm ngành nghề là 11 hộ chiếm 55% và có 5 hộ phi nông nghiệpchiếm 25% Nhóm hộ III có 4 hộ làm nông nghiệp chiếm 20%, 6 hộ kiêmngành nghề chiếm 30% và 10 hộ phi nông nghiệp chiếm 50% Qua quá trìnhđiều tra thấy rằng quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của các hộ nôngdân chủ yếu còn mang tính tự phát vì vậy mà qui mô, tính hiệu quả và sự ổnđịnh của công việc là chưa cao Để quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cóhiệu quả hơn nữa cần sự hỗ trợ và định hướng từ phía chính quyền địaphương nhằm phát triển ngành nghề cho hộ nông dân một cách hợp lý
Qua bảng 4.2 ta thấy rằng trình độ học vấn của các lao động trongnhóm hộ điều tra có sự khác biệt giữa các cấp và phần lớn là những lao động
đã qua cấp II Trong tổng 124 lao động của 60 hộ điều tra thì số lao độngmới học hết cấp II là 49 chiếm 39,52% Số lao động chỉ học hết cấp I là 30chiếm 24,19% Số lao động học đến cấp III là 35 chiếm 28,23% và số laođộng trên cấp III là 10 chiếm 8,06% Chúng ta biết rằng trình độ văn hoá sẽảnh hưởng nhiều đến phương hướng và kết quả sản xuất kinh doanh Nhữnglao động có trình độ văn hoá cao hơn sẽ có cách nhìn, cách tiếp cận tốt hơn