1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội

117 315 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,21 MB
File đính kèm bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa.rar (182 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Phân tích thực trạng mối liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao trên địa bàn xã Hòa Chính – Huyện Chương Mỹ Hà Nội, từ đó đưa ra đề xuất giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết này. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể  Hệ thống hóa cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao.  Phân tích và đánh giá thực trạng mối liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao trên địa bàn xã Hóa Chính – Huyện Chương Mỹ Hà Nội.  Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới mối liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở địa phương.  Đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao trên địa bàn xã Hòa Chính Huyện Chương Mỹ Hà Nội.

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất lúa đóng vai trò ngày một quan trọng.Nhờ sản xuất lúa mà chúng ta từ một nước thiếu ăn triền miên tới đảm bảo an ninhlương thực, trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới Tuy vậy, gạo của chúng tachất lượng còn thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường chưa cao Chính vì vậy,Thủ tướng chính phủ ra quyết định: 122/2003/NĐ-TTg về xây dựng các mô hìnhứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ tiên tiến phù hợp vào các khâu sảnxuất, chế biến, bảo quản tại các địa bàn nông thôn nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá Và mới đây nghị quyết

TW 7 nêu rõ “tăng cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp, đội ngũ trí thức với nông dân trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi” trên tinh thần đó thúc đẩy, tăng cường

phát triển kinh tế nông nghiệp một cách hiệu quả, nâng cao đời sống nông dân Do

dó, nhiều chủ trương chính sách được đưa ra đáng chú ý nhất là quyết định số80/2002/QĐ-TTg, ngày 24 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng chính phủ ban hành vềviệc khuyến khích các doanh nghiệp và người sản xuất ký kết hợp đồng tiêu thụ nôngsản với sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi và sự tham gia củanhà khoa học trong nghiên cứu chuyển giao công nghệ (còn được gọi là chủ trươngliên kết bốn nhà: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông)

Sau hơn 7 năm thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóathông qua hợp đồng Nó đã tạo ra nhận thức cho cả doanh nghiệp và người sản xuất

về mối quan hệ có tính ràng buộc và trách nhiệm lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụnông sản Liên kết sản xuất theo hợp đồng làm nâng cao vai trò của hợp tác xã nôngnghiệp và các tổ kinh tế hợp tác ở nông thôn như là một trung gian giữa doanhnghiệp và người sản xuất Các hộ nông dân làm quen dần với tư duy sản xuất sảnphẩm thị trường cần, thay vì sản xuất cái ta có và tạo cho họ niềm tin về người bạnđồng hành, tạo cho doanh nghiệp yên tâm trong việc thu mua sản phẩm hàng hóa

Trang 2

của nông dân

Song trên thực tế, mối liên kết này còn chưa đồng bộ hay chưa có mối liênkết thực sự giữa các “nhà”, Nhà nước chưa giữ vai trò “nhạc trưởng”, doanh nghiệpmạnh ai nấy làm, nhiều nơi nông dân hiện đang còn bơ vơ chịu cảnh mua phải cácgiống lúa kém chất lượng, thiếu kiến thức về tiến bộ khoa học kỹ thuật, thiếu vốnsản xuất, lúa không có nơi tiêu thụ…

Hòa Chính là một xã thuần nông nhiều năm liền là lá cờ đầu của huyệnChương Mỹ - Hà Nội Hòa Chính cũng được đánh giá cao với nhiều ưu thế để sảnxuất lúa hàng hóa Đó là điều kiện thổ nhưỡng khá thuận lợi cho cây lúa phát triển,

bà con nông dân cần cù lao động, làm việc có trách nhiệm, tuân thủ đúng quy trình

kỹ thuật Vậy thực trạng mối liên kết này như thế nào? Tình hình sản xuất lúa chấtlượng cao ở địa phương ra sao? Những giải pháp gì để tăng cường mối liên kết 4nhà ở địa phương?

Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã Hòa Chính, huyện Chương Mỹ, Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 3

tiêu thụ lúa chất lượng cao trên địa bàn xã Hòa Chính - Huyện Chương Mỹ - Hà Nội.

1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu mối liên kết giữa nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp, Nhànước trong sản xuất, tiêu thụ lúa chất lượng cao tại xã Hòa Chính - Huyện Chương

Mỹ - Hà Nội Ngoài ra, chúng tôi còn tìm hiểu đối tượng nhà nông không tham gialiên kết để tìm hiểu lý do không tham gia liên kết của đối tượng này nhằm đưa racác giải pháp giúp họ liên kết một cách hiệu quả

 Thời gian số liệu thu thập:

+ Thu thập số liệu thứ cấp: Các số liệu sử dụng trong đề tài lấy trong 3 năm

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Lí luận về liên kết

2.1.1.1 Khái niệm cơ bản

Theo từ điển ngôn ngữ học (1992) thì liên kết là kết lại với nhau từ nhiềuthành phần hoặc tổ chức riêng rẽ

Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại (David.W.Pearce) thì “liên kết kinh tế chỉtình huống khi mà các khu vực khác nhau của nền kinh tế thường là khu vực côngnghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụthuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm

sự tăng trưởng bền vững.”

Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động

do các đơn vị tự nguyện tiến hành để cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biệnpháp có liên quan đến công việc sản xuất, kinh doanh của các bên tham gia nhằmthúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Được thực hiện trênnguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế kí kết giữacác bên tham gia và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu là tạo ra mốiquan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế hoạt động

để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốttiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết hoặc cùng nhau tạo ra thị trường chung,phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sảnphẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau Liên kết kinh tế có nhiều hình thức và qui mô tổchức khác nhau, tương ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viêntham gia liên kết Những hình thức liên kết phổ biến là hiệp hội sản xuất và tiêu thụ,nhóm sản xuất, nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng,liên đoàn xuất nhập khẩu…các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ, khôngphân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh tế

Trang 5

quyền tự chủ của mình, cũng như không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối vớiNhà nước theo pháp luật hay nghĩa vụ hợp đồng đã kí với các đơn vị khác.

Như vậy, liên kết kinh tế là sự kết hợp của hai hay nhiều bên, không kể quy

mô hay loại hình sở hữu Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sựthiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi íchcho các bên

2.1.1.2 Nội dung liên kết

Liên kết trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật: Đây là hình thức liên kết giữanhà khoa học (trường, viện, công ty) đối với hộ nông dân Thông qua liên kết nhàkhoa học sẽ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người nông dân nhằm nâng cao năngsuất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh củahàng hoá Mối liên kết này sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho cả nhà khoa học và cảngười nông dân Song để lợi ích đạt được cao nhất thì cũng rất cần sự hỗ trợ củaNhà nước trong việc triển khai các chương trình dự án, mô hình ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật tới người nông dân Ví dụ như: Mối liên kết giữa các nhà khoa học của chicục trồng trọt và bảo vệ thực vật Trà Vinh với người nông dân Thạch Phú, Cầu Kè,Trà Vinh trong chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về trồng lúa chất lượng cao tại nơi đây.Theo đó, các nhà khoa học sẽ đảm nhiệm khâu hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất từ: Chọn giống, lịch thời vụ, kỹ thuật sạ hàng, bón phân đúng

kỹ thuật,… cho người nông dân giúp nâng cao chất lượng lúa gạo

Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm: Mối liên kết được thực hiện giữa doanhnghiệp chế biến nông sản với nông dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông quathương lái, HTX, trạm trung chuyển… Mục đích của mối liên kết doanh nghiệp vớinông dân nhằm đảm bảo chủ động nguồn nguyên liệu và yên tâm đầu ra của sảnphẩm nông nghiệp Khi ký kết hợp hợp đồng bao tiêu nông sản không chỉ giúp nôngdân an tâm sản xuất, mà còn nâng cao nhận thức cho người nông dân xóa bỏ dần, lốisản xuất tự cung, tự cấp, lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún…

Liên kết trong cung ứng đầu vào: Liên kết trong mua bán nguyên liệu đầu vàocho quá trình sản xuất kinh doanh phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thức ăn

Trang 6

Người nông dân có lao động, vốn,… Trong quá trình sản xuất cần những nguyên liệuđầu vào khác như giống, phân bón, thức ăn, thuốc thú y… Mối liên kết này thườngđược tiến hành giữa người nông dân với các công ty chế biến, doanh nghiệp đầu vào,nhà khoa học, đại lý, các trạm thu mua sản phẩm Khi tham gia liên kết này ngườicung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất nông nghiệp có thể thu tiềnngay, hoặc trả ngay sau khi thu hoạch bằng cách trừ vào tiền bán sản phẩm cho họ.

Hộ nông dân mua đầu vào phải có trách nhiệm hoàn trả theo thỏa thuận từ trước

2.1.1.3 Vai trò của liên kết

Liên kết là hình thức hợp tác đảm bảo đem lại lợi ích chắc chắn cho các bênliên quan Liên kết giữa hộ nông dân với nhà khoa học giúp cho sản phẩm nôngnghiệp có chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, bảo đảm sức khoẻ chongười tiêu dùng, giảm chí phí sản xuất, tăng giá bán của hàng hóa nông sản Liênkết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân cho phép xoá bỏ độcquyền đối với các doanh nghiệp trong việc ép cấp, ép giá khi mua sản phẩm củangười nông dân Khác với mọi liên kết lỏng lẻo trước đây liên kết kinh tế thông quahợp đồng loại bỏ vai trò của các tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệđược người sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm Mặt khác, thực hiện liênkết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến có nguồn cungcấp nguyên liệu ổn định để phấn đấu giảm giá thành sản phẩm, nâng cao được khảnăng cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị trường trong nước và quốc tế

Thực hiện liên kết thông qua hợp đồng giúp cho các cơ sở chế biến, xuấtkhẩu có điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động do có sự đảm bảo ổn định về sốlượng, chất lượng và tiến độ của nguyên liệu nông sản cung cấp cho sản xuất

Việc tăng khả năng tiếp cận các công nghệ, kỹ thuật mới còn giúp ngườinông dân giải phóng sức lao động, cho phép giảm giá thành và tăng khả năng cạnhtranh của hàng nông sản Đây là hướng tích cực và có nhiều triển vọng cho hàngtriệu hộ nông dân sản xuất nhỏ chưa có điều kiện để tích luỹ đất đai, có điều kiện ápdụng công nghệ mới trong sản xuất, đồng thời cũng là chìa khoá mở lối thoát cho

Trang 7

Việc chuyển tổ chức sản xuất từ liên kết ngang (người sản xuất/người thugom/người chế biến/người kinh doanh xuất khẩu ) sang hình thức liên kết dọc theongành hàng (sản xuất – chế biến – tiêu thụ), đã đem lại tác dụng to lớn sau:

+ Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công tykinh doanh sang cho người sản xuất trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên liệu

+ Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được nhiều hộ sản xuất tiểu nông nhỏ lẻthành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với chất lượng đồng đều và ổn định

+ Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang các cơ sở chếbiến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nông nghiệp chỉ còn chịu rủi rotrong khâu sản xuất nguyên liệu, hạn chế tối đa rủi ro trong thị trường giá cả

+ Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sản xuất,nhờ đó sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toànthực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng cường khả năng cạnh tranh vànâng cao được giá trị sản phẩm

+ Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh dịch vụ vớiđịa bàn kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nôngnghiệp nông thôn theo hướng đa dạng hoá, công nghiệp hoá, thúc đẩy liên kết nôngnghiệp – công nghiệp phát triển

+ Thông qua liên kết các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗ trợ, giúp

đỡ cho các nhóm hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năng phát triển nănglực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh tế - xã hội cho kinh tếnông nghiệp, nông thôn phát triển

2.1.1.4 Phương thức liên kết

 Liên kết dọc: Đây là phương thức liên kết mà các thành viên khi tham gialiên kết sẽ làm chủ toàn bộ dây chuyền sản xuất, nó được thực hiện theo trật tự củacác khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như liên kết giữa sản xuất và chế biếnhoặc cả sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Hiện nay, phương thức liên kết nàyphát triển rất mạnh trong hầu hết các sơ sở sản xuất và đã mang lại hiệu quả tốt, vídụ: Cơ sở chế biến hạt điều của tỉnh Long An liên kết với nông dân trong sản xuất

Trang 8

hạt điều đã giúp cho nông dân tiêu thụ nhanh, không ứ đọng sản phẩm còn cơ sởchế biến thì có đủ nguyên liệu để hoạt động; Công ty cao su Đắc Lắc liên kết vớinông dân trong vùng để thu mua mủ cao su, giúp nông dân tiêu thụ tốt sản phẩm…

Đặc biệt, hiện nay chuỗi liên kết bốn nhà từ nông dân đến nhà khoa học, kinhdoanh bán lẻ đang được chú trọng, hình thức này đã được thực hiện qua việc kí kếthợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân và bước đầu đã có tác dụng tốt, cácdoanh nghiệp và nông dân đã tìm đến với nhau qua mô hình tiêu thụ nông sản hànghóa thông qua hợp đồng Đặc biệt mới đây có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ vềviệc tăng cường chỉ đạo tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng điều này đã thể hiện

sự quan tâm khuyến khích của chính phủ về vấn đề này

 Liên kết ngang: Là mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ở cùngmột cấp, cùng một giai đoạn hay cùng một mắt xích của ngành hàng nhằm mục đíchlàm chủ thị trường sản phẩm

Phối hợp dọc như là một quá trình giao dịch thị trường giữa nhà cung cấp vàkhách hàng Phối hợp dọc bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch trao đổi các yếu tốđầu vào, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa người sản xuất và người chế biến hoặc giữangười bán buôn với người bán lẻ hoặc giữa người bán lẻ và người tiêu dùng Phốihợp dọc còn được định nghĩa như là một cấu trúc quản trị được tồn tại dưới nhiềudạng khác nhau

2.1.1.5 Mục tiêu của liên kết kinh tế

Tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc cácquy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến hành phân công sản xuất chuyênmôn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của đơn vị tham gia liên kết,góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thunhập của các bên liên kết, cũng như tăng thu ngân sách Nhà nước

Liên kết để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân tích hạn mức cho từngđơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để đảm bảo lợi ích kinh tế củanhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất

Trang 9

2.1.1.6 Các hình thức liên kết kinh tế

Mỗi ngành hàng gồm nhiều công đoạn được thực hiện bởi những tác nhânnhất định Mỗi tác nhân có thể là các pháp nhân độc lập hoặc các bộ phận phụ thuộcnhau về mặt pháp lý nhưng đều thực hiện và hoàn thành một số chức năng và tạo ranhững sản phẩm nhất định

Mối liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các tác nhân

là những pháp nhân độc lập rất đa dạng và bao gồm cả liên kết dọc và liên kếtngang đan xen nhau

Theo Eaton and Shepherd (2001) để xác định mức độ liên kết, người ta dựatheo độ sâu của các thỏa thuận hoặc cấu trúc tổ chức của các thỏa thuận, hợp đồng

Độ sâu của thỏa thuận, hợp đồng liên quan đến mức độ và tính phức tạp của việccung cấp tiếp cận thị trường, cung cấp nguồn lực và công tác tổ chức quản lí sảnxuất - kinh doanh

Sơ đồ 1.1: Phân loại liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm

Nội dung của liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm bao gồm:

+ Cam kết phải có các điều kiện ưu đãi: Ưu đãi này phải được xây dựng trênquan hệ cung cầu, hay nói cách khác các bên đều được hưởng lợi từ cam kết

+ Trách nhiệm của các bên khi thực hiện cam kết: Các bên có trách nhiệmthực hiện đúng, đủ và nghiêm túc theo cam kết

Đánh giá mức độ liên kết hay độ sâu của liên kết - mức độ quan hệ chặt chẽgiữa các tác nhân trong việc tiếp nhận thị trường như cung ứng nguồn lực đầu vào, đầu

ra và đặc biệt là công tác quản lý từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm Các mối quan hệ

sở

A

Phương thức liên kết

- Liên kết theo chiều ngang

- Liên kết theo chiều dọc

Hình thức liên kết

- Hợp đồng ( Có đầu tư, không có đầu tư)

- Thỏa thuận miệng (Có đầu tư, không có đầu tư)

CơsởB

Trang 10

liên kết này được thể hiện thông qua các hình thức với các nội dung cơ bản như sau:

+ Hợp đồng miệng (Thỏa thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữacác tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợpđồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm,trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồngmiệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, bàn

bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất

- kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lựctài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên,hợp đồng miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về số lượng, giá cả,điều kiện giao nhận hàng hóa

+ Hợp đồng bằng văn bản (Hợp đồng)

Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữacác tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Theo Eaton andShepherd (2001) hợp đồng là “sự thỏa thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biếnhoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai vàthường với giá đặt trước” Đây là hình thức kinh tế hợp tác trực tiếp, quan hệ giữahai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do đó nó có tính ổn định hơn Quan hệ hợp táctrên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới hai hình thức:

- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân

Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất nông nghiệp (nông hộ, trang trại)với cơ sở chế biến được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với hai bên Các chủthể có trách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho

cơ sở chế biến Ngược lại cơ sở chế biến có trách nhiệm nhận nông sản và tranhtoán hợp đồng cho bên kia Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệthại theo thỏa thuận

Trang 11

Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội Hiệp hội là tập hợp các nhà sảnxuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp trên thịtrường Hiệp hội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sỏ chế biến

về thời gian giao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả cũng như phươngthức thanh toán

Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ Người sản xuất có quan

hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với hợp tác xã dịch vụ Hợp tác

xã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở chế biến, trực tiếp thanhtoán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho từng cơ sở sản xuất hoặctừng hộ nông dân

Đối với mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân thìchịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khác nhau Vềmặt kinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tức chế độ sởhữu và cơ chế vận hành nền kinh tế Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biếnvới nông dân còn bị chi phối bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên kếtkinh tế còn phụ thuộc vào đặc điểm nghành nghề, sản phẩm nguyên liệu cụ thể.Nhân tố chính trị - xã hội cũng có tác động nhất định đến liên kết kinh tế giữa doanhnghiệp chế biến nông sản với nông dân

Xét về hình thức liên kết cụ thể giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến cócác mô hình liên kết sau đây:

+ Mua bán thuần túy

+ Bán vật tư mua lại nông sản hàng hóa

+ Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng hóa.+ Liên kết sản xuất: Hộ nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất đểgóp vốn cổ phần, liên doanh liên kết với doanh nghiệp, hoặc cho doanh nghiệp thuêđất, sau đó nông dân được sản xuất trên đất đã góp cổ phần, liên doanh, liên kết,hoặc cho thuê và bán lại nông sản cho doanh nghiệp, tạo sự gắn kết bền vững giữanông dân và doanh nghiệp

+ Nông dân vừa cung ứng nguyên liệu, vừa tham gia cổ phần doanh nghiệpchế biến

Trang 12

+ Doanh nghiệp chế biến vừa tiêu thụ nguyên liệu, vừa tham gia cổ phần vàohợp tác xã cổ phần của nông dân.

Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệ kinh tế

- kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanh nghiệp chế biến vànông dân Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết và bảo vệ thì mới có cơ sở

để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên thamgia liên kết Vì vậy, quan hệ liên kết đó phải được thực hiện dưới một hình thứcpháp lý nhất định, làm cơ sở để ràng buộc trách nhiệm giữa hai bên liên kết và đượcpháp luật bảo vệ

 Thực hiện quan hệ hợp tác: Qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tác giữa cácbên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn

 Giải quyết quan hệ phân phối: Thông qua liên kết vấn đề phân phối, thunhập, trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn, sảnphẩm đến với người tiêu dùng mạnh hơn

 Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: Liên kết giúp cho việc vận dụng,

sử dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, chấtlượng sản phẩm làm ra tốt hơn

 Tạo sự gắn kết giữa bốn nhà (Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhànông): Khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn,

Trang 13

chéo về cơ chế chính sách sẽ được hạn chế tối đa và thay vào đó là một chính sáchđồng bộ trong sản xuất Với sự có mặt của các nhà khoa học, kỹ thuật tiến bộ sẽđược cập nhật và áp dụng thường xuyên trong sản xuất thay thế cho kỹ thuật lạchậu, không hiệu quả, giống cây, giống con cho hiệu quả, năng suất thấp Các doanhnghiệp và người dân thông qua liên kết giúp họ yên tâm hơn, mạnh dạn đầu tư, ổnđịnh yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra, giảm thiếu rủi ro cũng như chia sẽ rủi rotrong sản xuất, với sự liên kết như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trìnhsản xuất kinh doanh.

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, giúp chonền kinh tế nói chung và nền kinh tế nói riêng ngày một phát triển bền vững, phùhợp với quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế nước nhà theo định hướng

xã hội chủ nghĩa

2.1.1.8 Vai trò của các nhà trong mối liên kết bốn nhà

Ghi chú: : Quan hệ phối hợp

: Quan hệ phản hồi: Quan hệ chỉ đạo

Sơ đồ 1.2: Liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản

Vai trò của từng nhà trong mối liên kết 4 nhà thể hiện như sau:

+ Vai trò của nhà nông: Trước hết phải xác định đây là mắt xích quan trọng

Nhà nước

Nhà nông

Trang 14

trong việc tạo ra sản phẩm theo định hướng của doanh nghiệp , nhưng cũng cầnnói rõ là nhà nông là đối tượng được hưởng lợi nhất trong mối liên kết này Do đó,nhà nông cần liên kết với các nhà khác để mang lại lợi ích cao nhất Nhà nông liênkết với nhà khoa học để nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật, nhằm nâng cao chất lượngsản phẩm Nhà nông và doanh nghiệp đều rất cần liên kết với nhau một cách lâu bềntrong việc bán và mua nông sản Doanh nghiệp chế biến nông sản cần có nguồncung cấp hàng hóa ổn định, cung ứng nông sản nguyên liệu thường xuyên đạt chấtlượng, giá cả hợp lý với số lượng theo yêu cầu của công nghệ chế biến và thị trườngtiêu thụ Nhà nông cần phải biết chắc chắn nông phẩm do mình làm ra được tiêu thụhết với giá cả hợp lý để yên tâm sản xuất Mặt khác, 3 vấn đề lớn mà từng nhà nôngkhông thể giải quyết được đó là (1) thị trường tiêu thụ và thương hiệu (2), côngnghệ mới (3), vốn đầu tư Chỉ có doanh nghiệp chế biến - tiêu thụ nông sản mới cóthể giải quyết tốt 3 vấn đề này Giải quyết 3 vấn đề này không chỉ mang lại lợi íchcho nhà nông mà cho cả doanh nghiệp chế biến - tiêu thụ nông sản

+ Vai trò của doanh nghiệp: Để thành công các doanh nghiệp chế biến – tiêuthụ nông sản không chỉ giải quyết các vấn đề công nghệ chế biến, bảo quản nôngsản mà cả các vấn đề sản xuất nông phẩm của nông dân, để không ngừng nâng caochất lượng và hiệu quả sản xuất Nhờ đó, sự liên kết giữa doanh nghiệp, nhà nôngvới các nhà khoa học được thiết lập ngày càng vững chắc trên qui mô lớn Doanhnghiệp vì lợi ích của mình, không chỉ đầu tư áp dụng các công nghệ mới trong khâuchế biến - bảo quản - tiêu thụ nông sản, mà còn đầu tư giúp nhà nông áp dụng côngnghệ mới trong sản xuất

+ Vai trò của nhà khoa học: Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọngtrong quá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các công nghệ,

kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất, tăng giábán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá Ngoài ra, hoạt động khuyến nông làm cầunối giữa các nhà khoa học và nhà nông, đóng vai trò quyết định trong việc áp dụngtiến bộ kỹ thuật và góp phần phát triển vùng sản xuất hàng hóa tập trung qui mô lớntrong nông nghiệp

Trang 15

phải kể đến là Nhà nước Nhà nước cần có chính sách ưu đãi về vốn, miễn giảmthuế cho doanh nghiệp thu mua nông sản để đảm bảo tiêu thụ cho nông dân ngay cảkhi giá thị trường biến động xấu Hiện nay, Quyết định 80 đã có, nhiều nơi chưaquan tâm nên chỉ còn liên kết 3 nhà hoặc 2 nhà khiến doanh nghiệp không yên tâmđầu tư cho nông dân Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn điều tiết quá trình nhậpkhẩu nhằm đảm bảo lợi ích cho người sản xuất Nhà nước hỗ trợ xúc tiến thươngmại, việc này chỉ có Nhà nước mới làm được chứ bản thân các doanh nghiệp khôngthể làm Nhà nước có định hướng trên cơ sở thông tin về thương mại, khuyến cáongười sản xuất, như thế người sản xuất sẽ chủ động có giải pháp xử lý khi có khókhăn Nhà nước cần quy hoạch sản xuất nông nghiệp hợp lý hơn để tạo ra sản phẩmhàng hóa Nhiều ý kiến cho rằng việc quy hoạch cần gắn với nội dung liên kết 4nhà Còn nếu 4 nhà vẫn rời rạc như hiện nay, thì nông sản vẫn sẽ chỉ là sản phẩmthô và điệp khúc được mùa mất giá vẫn sẽ tiếp diễn.

2.1.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng tới mối liên kết 4 nhà.

 Các yếu tố từ doanh nghiệp

Các cơ sở chế biến thu mua sản phẩm nông sản ổn định nhưng vẫn còn tìnhtrạng cơ sở chế biến ngừng mua hoặc giảm giá lại không thông báo cho nông dân,trong khi mua còn gây khó dễ cho nông dân nhất là vào thời điểm chính vụ nông sản

Chế tài mà công ty đưa ra để xử phạt các hộ phá vỡ hợp đồng có hiệu lựcchưa cao, mới chỉ dừng lại phạt tiền nên tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra nhất

là khi thời vụ nguyên liệu khan hiếm mà giá hơn giá hơn thị trường

Sự chủ động phối hợp liên kết phục vụ cho sản xuất, quy hoạch vùng nguyên

Trang 16

liệu của các cơ sở chế biến với cấp chính quyền địa phương, các hộ nông dân chưa cao.

 Các yếu tố từ nhà khoa học

Sự tham gia của các nhà khoa học, nhà kỹ thuật còn hạn chế, ảnh hưởng đến

sự gắn liền đất sản xuất của hộ Tổ chức khoa học giữ vai trò rất quan trọng trongquá trình liên kết Họ chính là người giúp nông dân ứng dụng các công nghệ, kỹthuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán

và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Tuy nhiên cho đến nay, số đông các cơ quankhoa học vẫn lúng túng khi thực hiện liên kết 4 nhà

Vẫn còn thiều vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủ độngđưa định hướng liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai các chương trình, dự

án nghiên cứu Ngay cả những hợp đồng được ký kết thông qua hoạt động liên kếtthì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học hay các nhà khoa học cũng chưaxác định rõ ràng

 Các yếu tố khác

Tác động của chính quyến địa phương ít ảnh hưởng, do đó vấn đề sản xuất,thu mua tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọng tài để giảiquyết

Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của các cấp chính quyền còn hạnchế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp cơ sở) đãkhông phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết các vấn đề ảnhhưởng đến liên kết Chính quyền cơ sở gần như thả nổi để cơ sở chế biến và hộ sảnxuất thỏa thuận với nhau trong hợp đồng liên kết

Chưa xác định rõ về sự ràng buộc, trách nhiệm, lợi ích giữa các bên tham gialiên kết nên dẫn đến phá vỡ quá trình này, nhất là khi cơ sở chế biến vi phạm hợp đồng

2.1.2 Một số vấn đề về lúa chất lượng cao

2.1.2.1 Khái niệm

Lúa chất lượng cao là lúa đạt các tiêu chuẩn về hình thái, kích thước của hạtgạo và các chỉ tiêu dinh dưỡng theo qui định

Trang 17

 Tiêu chuẩn của IRRI (1981)

Hiện nay các chỉ tiêu đánh giá chất lượng gạo có khác nhau tùy theo tiêuchuẩn của từng nơi Tuy nhiên hệ thống tiêu chuẩn của viện lúa quốc tế IRRI làthông dụng hơn cả

+ Phương pháp xác định độ bạc trắng của IRRI tính theo phần trăm diện tíchtrắng bạc của hạt gạo, cụ thể:

 Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5644 – 1992)

+ Tham khảo tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam đã phân loại gạo theo tiêu chuẩnriêng (TCVN5644 – 1992)

Trang 18

2.1.2.3 Những chỉ tiêu nghiên cứu lúa chất lượng cao

+ Đánh giá về khả năng sinh trưởng và phát triển trên đồng ruộng

+ Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận

+ Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất

+ Các chỉ tiêu chất lượng: Kích thước, dạng hạt, tỷ lệ gạo lật, tỷ lệ gạonguyên, độ trắng bạc bụng, hàm lượng protein,

Khối lượng hạt trắng trong

Khối lượng hạt nguyên

Trang 19

2.2.1 Tình hình sản xuất lúa chất lượng cao ở Việt Nam

 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Từ sau khi Nghị quyết 10 của Bộ chính trị ra đời, giao ruộng đất cho nôngdân, coi hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, thì nền nông nghiệp nước ta đã cóbước phát triển vượt bậc Nước ta từ chỗ thiếu đói về lương thực cho đến nay đã trỡthành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới Hiện nay câylúa được đưa vào sản xuất ở khắp các tỉnh thành trong cả nước với 2 vùng lúa lớn làđồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2010)

Qua bảng trên ta thấy từ năm 1996 - 2000 diện tích gieo trồng lúa tăng lênmạnh mẽ, từ năm 2000 - 2007 lại có xu hướng giảm xuống và tăng trở lại vào năm

2008 Cụ thể, trong 5 năm từ 1996 - 2000 diện tích lúa tăng từ 7.003,8 nghìn ha lên7.666,3 nghìn ha tức là tăng 662.5 nghìn ha, trong năm từ 2000 - 2007 diện tích lúađạt từ 7.666,3 nghìn ha xuống còn 7.210,0 nghìn ha, giảm 465,3 nghìn ha, và lạităng lên trong năm 2008 với diện tích 7414,3 nghìn ha, trong 12 năm từ 1996 - 2008tăng lên 410.5 nghìn ha Diện tích đất trồng lúa của Việt Nam có sự biến động nhưvậy do tốc độ đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ, những cánh đồng trước

Trang 20

kia xanh màu giờ đây là các khu công nghiệp.

Diện tích lúa có xu hướng giảm nhưng năng suất lúa không ngừng tăng lên

từ 3.7 tấn/ha năm 1996 đến năm 2008 đạt là 5.2 tấn/ha, từ đó sản lượng lúa cũngtăng lên từ 27.396,7 nghìn tấn đến năm 2008 là 7414.3 nghìn tấn Một trong nhữngchiến lược của sản xuất nông nghiệp nước ta đến năm 2010 đạt sản lượng hàng năm

là 35 - 40 triệu tấn, với tốc độ tăng năng suất trung bình như thời gian qua thì chỉtiêu đó có thể đạt được

 Thực trạng và xu hướng phát triển các giống lúa CLC ở Việt Nam

Ở nước ta, công tác tạo và chọn giống đã được quan tâm và thực hiện từ lâu.Nhưng chỉ từ năm 1990 công tác chọn tạo giống mới được xây dựng thành chươngtrình quốc gia, tập hợp hầu hết các cơ quan nghiên cứu như Viện, Trường trong cảnước với đội ngũ đông đảo các cán bộ khoa học kỹ tham gia và tùy theo yêu cầu sảnxuất lương thực ở từng giai đoạn mà mục tiêu của các chương trình có khác nhau

Giai đoạn 1990 - 1995 có đề tài KN01 - chủ yếu chọn tạo giống cho vùngthâm canh, đã có 26 giống mới được công nhận đưa vào sản xuất, 40 giống khu vựchóa Nếu tính từ năm 1975 đã có 104 giống lúa cải tiến đã được công nhận và đưavào sản xuất Giai đoạn 1996 -2000 có đề tài KHCN08 - 01, không chỉ giới hạntrong việc chọn tạo giống có năng suất cao mà cả các giống có CLC để phục vụ nộitiêu và xuất khẩu

Trong công tác chọn tạo giống, các nhà khoa học Việt Nam đã tận dụngnguồn vật liệu sẵn có trong nước, nguồn nhập nội và kết hợp các phương pháp khácnhau như phương pháp truyền thống, các phương pháp hiện đại

Qua quá trình chọn lọc, phục tráng những giống cổ truyền đặc sản: Cácgiống Nếp, Tám thơm ở đồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa thơm như NàngHương, Nàng Loan, Nàng Thơm ở đồng bằng sông Cửu Long, các giống lúa chấtlượng cao nhập nội như IR42, IR1561, Bắc Thơm số 7…

Bằng các phương pháp lai tạo, chọn lọc phổ hệ, xử lý đột biến, nuôi cấy baophấn… các tác giả, các cơ quan nghiên cứu đã chọn lọc tạo ra hàng loạt giống dòng lúa

Trang 21

Việt Nam); các giống có hàm lượng dinh dưỡng cao: P4, P5, P1, (Viện cây lương thựcthực phẩm), giống lúa ĐH101, ĐH77, ĐH15 (Đại học Nông nghiệp Hà Nội),…

Vào thập kỹ 60 Đại học nông nghiệp Hà Nội đã thu nhập, theo dõi 1.800giống lúa địa phương và phân thành các nhóm sinh thái khác nhau: Lúa chiêm cócác nhóm Tép, Bầu, Cút… Lúa mùa có các nhóm Gié, Di,… Hàng loạt các giốnglúa cổ truyền địa phương có chất lượng cao được nông dân nhiều vùng gieo cấynhư: Nếp thơm, Dự (Dự hương, Dự Lùn)….các giống lúa Tám, Dự, Nếp thơm ởmiền núi phía bắc và một số giống có hàm lượng protein, vitamin cao nên đượcngười tiêu dùng ưu thích

Từ năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo, ĐBSCL là nơi sản xuất gạohàng hóa chính với các giống lúa chủ lực như IR64, IR42,… có năng suất khá, hạtthon dài, gạo trắng trong Những năm giữa của thập kỹ 90, miền bắc bắt đàu có gạo

dư thừa và có nhu cầu sản xuất gạo hàng hóa Hướng chọn tạo giống lúa có năngsuất cao, phẩm chất tốt hơn thử nghiệm và sản xuất ở phía bắc như QC1, Bắc thơm

2.2.2 Thực tiễn liên kết trên thế giới và Việt Nam

2.2.2.1 Thực tiễn liên kết trên thế giới

 Ở Thái Lan

Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói chủng loạirau của Thái Lan rất phong phú Hiện nay có trên một trăm loại rau được trồng ởThái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến

Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các kênhtiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:

Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - nhóm nông dân tự thành lập - ngườibán buôn (tại Băng Cốc)/ người chế biến/ xuất khẩu/ - người bán buôn - người bán

Trang 22

lẻ - người tiêu dùng.

Loại kênh thứ hai: Người sản xuất người thu gom trên địa bàn trồng rau thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - người bán lẻ - ngườitiêu dùng

-Thông thường, phần lớn các thương lái gom rau trực tiếp tại nông hộ và chởrau đi bằng xe bán tải Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp ra chợ bằng cáchchuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình Rau thường được vận chuyển vào buổichiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn rồi đưa đến các siêu thị vàkhuynh hướng này đang tăng dần trong cách tiêu thụ rau an toàn của Thái Lan

Đối với thị trường giao dịch theo hợp đồng: Cục nội thương trực thuộc Bộthương mại thiết lập thị trường để thiết lập các giao dịch theo hợp đồng giữa ngườinông dân hoặc tổ chức nông nghiệp với những người mua hàng Cục nội thương đề

ra tiêu chuẩn hàng hóa, đề ra, mẫu hợp đồng tiêu chuẩn, văn phòng thương mại củacục nội thương đặt tại các tỉnh để điều tiết các hoạt động ký kết giải quyết mâuthuẫn khi có tranh chấp Người bán (nông dân, nhóm nông dân, HTX) và ngườimua (nhà máy chế biến nông nghiệp, nhà xuất khẩu…) Mong muốn được ký kếthợp đồng để mua bán các nông dân sẽ phải thông báo ý định đó cho Cục nội thươnghoặc văn phòng thương mại làm cho hợp đồng theo sự quản lý và quy chế của vănphòng thay cho việc trước đây người mua tự thiết kế hợp đồng Do kiến thức củanông dân hạn chế nên bộ thương mại phải thường xuyên tuyên truyền, phổ biếnkiến thức liên quan đến việc ký kết hợp đồng, thỏa thuận, và phân loại chất lượngnông sản Để khuyến khích việc ký kết hợp đồng mua bán nông sản giữa nông dânvới các doanh nghiệp, Cục nội thương tổ chức hội nghị với sự tham gia của ngườimua, người bán và các đối tượng có liên quan đến việc ký kết hợp đồng Đồng thời,hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc chấp hành hợp đồng, hỗ trợ tài chính chongười mua đã ký hợp đồng thỏa thuận trong trường hợp đặc biệt Những loại nôngsản có khả năng ký kết hợp đồng được xác định là cà chua, gừng, ngũ cốc, ngũ cốcnon, măng tây, đu đủ…

Trang 23

Sản lượng chè của Trung Quốc chiếm 25% sản lượng chè của thế giới TạiTrung Quốc, liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà nông pháttriển rất nhanh chóng trong thời gian gần đây Điều này đã khuyến khích các thànhphần công, thương nghiệp tham gia nhiều hơn nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệpphát triển, tạo liên kết chặt chẽ giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản TrungQuốc gọi là “Kinh doanh sản nghiệp hoá nông nghiệp” Đây là phương thức kinhdoanh nông nghiệp kiểu mới, trong đó Nhà nước phối hợp với các xí nghiệp và cácnhà khoa học trong các khâu tác nghiệp trước sản xuất, trong sản xuất và sau sảnxuất của hàng triệu hộ nông dân, nhằm hướng vào thị trường nâng cao hiệu quảkinh tế sản xuất thực hiện nhất thể hoá sản xuất - chế biến- tiêu thụ, đưa sản xuấtnông nghiệp phát triển theo hướng quy mô hoá, chuyên môn hoá và thâm canh hoá.

Có 4 hình thức chính của sản nghiệp hoá:

Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp chế biến gia công là chủ thể: Tức là

doanh nghiệp tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước rồi thông qua hình thức kýhợp đồng, khế ước, rồi liên hệ với nhân dân và vùng sản xuất nguyên liệu Trong

đó doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ, thu mua nông sản định hướng sản xuất chonông dân Nông dân đảm bảo nguyên liệu ổn định cho doanh nghiệp sản xuất Nhànước tạo điều kiện cho doanh nghiệp và nông dân vay vốn, bảo vệ lợi ích của doanhnghiệp và nông dân trước các thay đổi của thị trường nhằm cho doanh nghiệp yêntâm đầu tư, người dân yên tâm sản xuất

Thứ hai, hình thức hợp tác xã nông nghiệp là chủ thể: Các tổ chức hợp tác

nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn vị kinhdoanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ đóng vai trò nhưchiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ với nông dân

Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức chia sẻ

thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ Giữa các hộ gia đìnhtrên cơ sở tự nguyện cùng có lợi

Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này hạt

nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản Tức là các

Trang 24

chợ công ty này tác động hướng dẫn nông dân sản xuất các mặt hàng riêng biệt, từ

đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho kinh doanh của mình

2.2.2.2 Thực tiễn liên kết ở Việt Nam

Với mục đích là để có được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, đủsức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàntrong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế thì việc liên kết bốn nhà là vô cùngquan trọng Chính vì vậy, đã có nhiều mô hình liên kết bốn nhà ở nhiều địa phương

đã đạt được những thành công nhất định

 Mô hình liên kết “4 nhà” trong sản xuất lúa chất lượng cao tại xã Thạnh

Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh

Thạnh Phú là một xã vùng sâu của huyện Cầu Kè, tỷ lệ hộ nghèo chiếm32,6%, kinh tế nông nghiệp chiếm hơn 63% Trong những năm qua, sản xuấtlúa nơi đây thường xuyên bị sâu bệnh, năng suất lúa thấp, chất lượng sản phẩmkém, sản phẩm lúa khó tiêu thụ dẫn tới thu nhập của người nông dân thấp

Để nâng cao chất lượng hạt lúa, khâu hỗ trợ chuyển giao tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất từ: Chọn giống, lịch thời vụ, kỹ thuật sạ hàng, bón phân đúng

kỹ thuật,… được xác định là yếu tố ban đầu, quyết định 50% hiệu quả kinh tế.Ngoài ra, đối với người nông dân, việc gắn kết doanh nghiệp, tìm thị trường tiêu thụsản phẩm (đầu ra) từ lâu cũng luôn là một trở ngại Hiểu được những khó khăn củanhà nông, dự án IMPP-TV đã xây dựng mô hình sản xuất “liên kết bốn nhà” theoQuyết định 80/2002/QĐ-TTg của Chính phủ Dự án hỗ trợ hình thành tổ chức liênkết “Cộng đồng trồng lúa” gồm 108 hộ với diện tích canh tác 91,7 ha, đồng thời hỗtrợ kinh phí cho các nhà khoa học Chi cục Trồng trọt Bảo vệ thực vật chuyển giao

kỹ thuật theo phương pháp 3 giảm 3 tăng, kết hợp phương pháp khử lẫn Trung tâmgiống nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

Sau khi thực hiện mô hình tại vụ lúa đông xuân, kết quả vượt xa sựmong đợi của nông dân và các nhà khoa học: Thời gian sinh trưởng rút ngắn5-10 ngày, năng suất thực tế bình quân 6,92 tấn/ha, cao hơn 0,5-1,5 tấn/ha

Trang 25

30-42% so với vụ trước và chất lượng sản phẩm tăng trên 30% Với diện tíchcanh tác 91,7 ha, vụ lúa đông xuân 2008-2009, nông dân thu nhập gần 3,3 tỉđồng, lợi nhuận hơn 2 tỉ đồng Bình quân 1 ha canh tác nông dân thu lãi hơn

20 triệu đồng Đây là năm đầu tiên hiệu quả kinh tế từ trồng lúa đạt cao nhất

từ trước đến nay

Thành công của chương trình liên kết “bốn nhà” trong sản xuất lúa CLC tạiThạnh Phú, Cầu kè, Trà Vinh đó là nhờ thực hiện tốt từ khâu tư vấn kỹ thuật đếnviệc tìm thị trường tiêu thụ lúa thương phẩm nên lợi nhuận của nông dân tăng thêm

Sự thành công của mô hình mở ra cung cách làm ăn mới, tư duy mới cho nông dântrong canh tác lúa hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ Một khâu hạn chế cố hữucủa nông dân từ trước đến nay…

(Nguồn: dung-mo.html)

http://ifad-un-vn.blogspot.com/2009/11/thanh-phu-cau-ke-tra-vinh-xay- Mô hình liên kết kinh tế “Hiệp hội mía đường Lam Sơn Thanh Hóa”

“Hiệp hội mía đường Lam Sơn” tỉnh Thanh Hóa là một trong những mô hìnhliên kết kinh tế tiêu biểu giữa doanh nghiệp công nghiệp Nhà nước với các hộ nôngdân góp phần tích cực thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng sảnxuất hàng hóa lớn trên địa bàn khá rộng Trung tâm của mô hình liên kết kinh tế này

là Công ty đường Lam Sơn, một doanh nghiệp công nghiệp nhà nước Tiền thân củaCông ty là Nhà máy đường Lam Sơn thành lập năm 1986, công suất thiết kế 200nghìn tấn mía cây/năm, sản xuất 2 vạn tấn đường thô Nhà máy được xây dựng trênmột vùng đất phía tây tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên khá rộng tới trên 7 vạn

ha đất canh tác có khả năng thích hợp cho cây mía, nhưng nhiều năm trước đây hoạtđộng không hết công suất vì thiếu nguyên liệu Từ năm 1992, với quyết tâm đổimới, Công ty đường Lam Sơn đã chủ động thiết lập quan hệ thân thiết với 3 nôngtrường trồng mía, Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam, các hộ nông dân trồng míathông qua đại diện là các hợp tác xã nông nghiệp và có sự bảo lãnh ủng hộ củachính quyền địa phương Mô hình liên kết bởi doanh nghiệp công nghiệp chế biếnvới nông trường – hộ sản xuất nông nghiệp – ngân hàng đầu tư – tổ chức kinh

Trang 26

doanh dịch vụ thương mại đã ra đời và hoạt động tích cực đem lại hiệu quả đáng kể.Tháng 3 năm 1995 Chính phủ ra quyết định thành lập Hiệp hội mía đường Lam Sơnvới các chức năng chủ yếu:

- Hỗ trợ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả của từng thành viên trong hiệp hội(người trồng mía, chế biến, người cung cấp và tiêu thụ sản phẩm)

- Bảo vệ và điều hòa lợi ích cộng đồng cũng như của từng thành viên

- Cùng nhau tìm biện pháp đề phòng hạn chế rủi ro thiên tai, diễn biến bấtlợi của thị trường

Với chức năng nhiệm vụ rõ ràng, lợi ích của mỗi thành viên cả người nôngdân, nhà máy đường được đảm bảo, sự gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụchặt chẽ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ và chính quyền địa phương, nhờ đóhiểu quả và tác dụng của Hiệp hội ngày càng tăng Hiệp hội thông qua công ty đườngLam Sơn đã đầu tư tới 50 tỷ đồng cho vay vốn hỗ trợ nông dân trồng mía Xây dựng

6 trạm chuyển giao kỹ thuật ở các khu vực để huấn luyện kỹ thuật trồng mía chonông dân Công ty đã cho 40 kỹ sư xuống tận địa bàn các hợp tác xã, hộ nông dântrồng mía để trực tiếp hướng dẫn nông dân xử lý các vấn đề kỹ thuật phát sinh

Nhờ duy trì phát triển các mối quan hệ tác động đó, sau 10 năm đổi mới,diện tích, năng suất, sản lượng và chất lượng mía đều tăng, đáp ứng được nhu cầunguyên liệu cho nhà máy chế biến đường

2.2.3 Các bài học được rút ra từ liên kết “ 4 nhà” trong sản xuất và chế biến

Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân và các doanh nghiệp muốn có hiệu quảtốt cần có thêm sự tham gia của Nhà nước và nhà khoa học Cần liên kết chặt chẽbốn nhà trên trong từng khâu trong quá trình sản xuất Cần phải nhân rộng mô hìnhliên kết trong sản xuất nông nghiệp, để đảm bảo cho người dân yên tâm sản xuất,doanh nghiệp yên tâm đầu tư

Trong quá trình liên kết phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra, nhưvậy mới tạo nên mối liên kết lâu dài, đảm bảo lợi ích giữa các bên

Xử lý đúng đắn, kết hợp hài hòa lợi ích giữa các bên trong quá trình liên kết

Trang 27

dân và doanh nghiệp cùng chia sẽ rủi ro đó.

Để quá trình liên kết có sức lan tỏa và đi sâu vào cuộc sống cần đẩy mạnhcông tác tuyên truyền Tuyên truyền phải là bước đi đầu tiên trong quá trình liênkết, phải đảm bảo cho họ hiểu được lợi ích của liên kết

Trang 28

PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU

3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

+ Phía Bắc giáp xã Đồng Phú, Thượng Vực, Văn Võ

+ Phía Nam giáp huyện Ứng Hòa+ Phía Đông giáp xã Phú Nam An+ Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức

Xã Hòa Chính cách trung tâm huyện lỵ khoảng 15 km về phía Đông nam, hệthống cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, đó là yếu tố hạn chế khả năng giao lưu pháttriển kinh tế xã hội của xã trong thời gian qua

3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Xã Hòa Chính là một xã thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng nên có địahình tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho việc đi lại và xây dựng các công trìnhcủa địa phương

Phía Bắc có địa hình tương đối bằng phẳng rất thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp Phía Nam là nơi tập trung các khu dân cư dọc theo đê sông Đáy

Sông Đáy chảy qua xã thuận lợi trong tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp song cũng hạn chế trong việc giao lưu đi lại giữa nhân dân trong xã vớihuyện Thanh Oai và Ứng Hòa

3.1.3 Khí hậu, thời tiết

Hòa Chính nằm trong vùng đồng bằng Bắc bộ nên khí hậu ở đây mang nét

Trang 29

thường lạnh, khô hanh, cuối mùa có mưa phùn, ẩm độ không cao trung bình 60 –70% Nhiệt độ trung bình từ: 25 – 30oC.

Nhìn chung thời tiết thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng

và vật nuôi Tuy nhiên, vào những ngày rét đậm, nhiệt độ không khí thấp hơn 15oC sẽkìm hãm tốc độ sinh trưởng của cây trồng vào thời kỳ mưa nhiều nước lớn dễ gâyngập úng, ngập gây hại cho sản xuất nông nghiệp Khí hậu này đồng thời cũng rấtthuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại sâu bệnh hại tới năng suất, sảnlượng cây trồng

3.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.1.4.1 Đất đai

Số liệu bảng trên cho thấy, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày cànggiảm, trong khi đó đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên đặc biệt là đất ở tăng lên27,15% Điều này phản ánh đúng xu thế phát triển hiện nay với việc tăng dân số vànền kinh tế phát triển Tổng diện tích đất canh tác, vườn tạp, đều giảm nhường chỗcho sự gia tăng diện tích ao hồ Trong đó, diện tích đất canh tác bình quân qua 3 nămgiảm 2,99 %, nguyên nhân do diện tích gieo trồng lúa ở xã hàng năm đều giảm cụ thểnăm 2008/ 2007 giảm 1,95%, năm 2009/2008 giảm 2,38%, và bình quân 3 năm giảm2,17% tương đương với lượng tuyệt đối là 13,56 ha Đây là kết quả của quá trìnhchuyển đổi ruộng đất và khai thác diện tích mặt nước bỏ hoang cho xây dựng các môhình trang trại, hướng trang trại chăn nuôi tập trung cách ly với khu dân cư được thựchiện trên địa bàn xã bắt đầu từ cuối năm 2005 đầu năm 2006 Tuy nhiên, điều đángnói nhất trong diện tích đất nông nghiệp là diện tích mặt nước tăng Cụ thể, năm 2008tăng thêm 1,01 ha tương đương với 8,02%, năm 2009 tăng 5,61 ha tức tăng 40,85%.Điều này phản ánh quá trình hình thành và phát triển các trạng trại chăn nuôi gia cầmkết hợp với nuôi cá

Trang 30

Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Hòa Chính (2007 - 2009)

Chỉ tiêu

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ A- Tổng diện tích đất tự nhiên 495,51 100 493,591 100 488,84 100 100 100 100

Nguồn: Ban thống kê xã Hòa Chính

Trang 31

II Tổng số nhân khẩu Người 6397 6458 6694 100,95 103,65 102,30

III Tổng số lao động Người 3217 3120 3027 96,98 97,02 97,00

(Nguồn: Ban Thống kê xã Hòa Chính)

Theo số liệu thống kê, năm 2009 toàn xã Hòa Chính có 1396 hộ, trong đó có

1135 hộ nông nghiệp So với năm 2008, số hộ của toàn xã tăng lên 18 hộ tức tăng1,31% Bình quân 3 năm tổng số hộ tăng 1,95% và tổng số hộ nông nghiêp tăng1,76% Nguyên nhân số hộ nông nghiệp gia tăng chủ yếu là do quá trình tách hộ từcác gia đình 2, 3 thế hệ thành gia đình một thế hệ

Mặc dù số hộ nông nghiệp có xu hướng gia tăng qua 3 năm nhưng số laođộng nông nghiệp lại có xu hướng giảm (bình quân qua 3 năm giảm 3,15%).Nguyên nhân chủ yếu là do tổng số lao động của toàn xã qua 3 năm giảm 183người Đây là kết quả của quá trình di cư lao động của xã ra các thành phố, thị xã,thị trấn Mặt khác, một bộ phận không nhỏ lao động của xã đi xuất khẩu lao độngnước ngoài đã làm cho số nhân khẩu tăng nhưng số lao động lại giảm Kết quả phântích một số chỉ tiêu cho thấy diện tích đất bình quân/nhân khẩu của xã năm 2009 là490,95 m2 Diện tích này không lớn nên khó để mở rộng quy mô để phát triển môhình trang trại Bình quân nhân khẩu qua 3 năm tăng 0,33%, tỉ lệ tăng không caonhưng đây là lực lượng chính để sản xuất nông nghiệp và làm nghề mây tre đan ởđịa phương vào những lúc mùa vụ nông nhàn

3.1.4.3 Cơ sở hạ tầng của xã

Trang 32

Hệ thống đường giao thông: Đường bộ có tổng chiều dài 14km, đường sông3,5 km Trên địa bàn xã có trục đường tỉnh lộ 419 chạy qua, đây là con đường giaolưu với các địa phương khác về kinh tế, văn hoá, chính trị Hệ thống đường giaothông nông thôn mấy năm gần đây được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa, mở rộng.

Hệ thống thủy lợi: Hiện nay xã có 4 trạm bơm tưới với 7 máy, công suất là7.000m3/ giờ và 1 trạm bơm tiêu 5 máy tổng công suất 20.000m3/ giờ đảm bảo tướitiêu chủ động cho 100% diện tích canh tác Toàn xã có 20 km kênh mương tưới tiêu(15 km kênh tưới, 5 km kênh tiêu), phong trào kiên cố hóa kênh mương đang được

xã triển khai thực hiện đảm bảo tưới tiêu chủ động cho cây trồng, xã đầu tư và nhândân đóng góp xây dựng đựơc 12,5 km kênh mương tưới trị giá 3 tỷ 750 triệu đồng.Điện dùng sinh hoạt và sản xuất: Toàn xã có 4 trạm biến áp với tổng công suất là

1240 KVA với trên 10 km đường dây hạ thế Đến nay có 100% số hộ dùng điện, sốđiện sử dụng bình quân/người/năm là 160 kw

Về giáo dục toàn xã có 3 trường học, trong đó có 1 trường mầm non, 1trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở Các trường đều được xây dựng kiên cố.Hiện nay, công tác giáo dục đang được chú trọng phát triển, vấn đề phát triển giáodục đào tào luôn là quốc sách hàng đầu, đào tạo đội ngũ giáo viên có năng lực, cóđạo đức nghề nghiệp luôn được các trường quan tâm đề cao công việc đó là sự đầu

tư phát triển cơ sở vật chất cho quá trình dạy và học

Về văn hóa: 4/4 thôn trong xã đều có nhà văn hóa là nơi sinh hoạt hội họpcủa nhân dân trong thôn Hệ thống truyền thanh được xây dựng để mọi người trong

xã được nghe đài

Về y tế: Có 1 trạm y tế xã với 8 giường bệnh và 6 cán bộ (1bác sỹ, 5 y sỹ)đảm bảo chăm sóc sức khỏe nhân dân

3.1.4.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Hòa Chính qua 3 năm 2007 – 2009

Trang 33

Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007-2009)

Chỉ tiêu

Số lượng (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Số lượng (tr.đ)

Cơ cấu (%)

Số lượng (tr.đ)

Cơ cấu (%) 08/07 09/08

Bình quân

Trang 34

Qua bảng 3.3 ta nhận thấy các nghành đều tăng lên qua các năm, bình quân 3năm tăng 19,99% điều đó cho thấy sự phát triển kinh tế đồng đều ở tất cả các ngànhkinh tế Cụ thể, riêng ngành nông lâm, ngư nghiệp qua 3 năm tăng 11,8% trong đóngành nuôi trồng thủy sản tăng 22,47% Điều đó cho thấy xu hướng phát triển kinh tếcủa xã theo hướng tăng giá trị ngành nuôi trổng thủy sản Sự gia tăng là do lợi nhuậncao từ việc chăn nuôi cá, lợn và đặc biệt là chăn nuôi thủy cầm nên sản lượng thu từcác ngành này tăng cao Mặt khác, diện tích trồng trọt giảm do khu vực này là đồngđất trũng, trồng lúa cho năng suất không cao… Theo đó diện tích trồng lúa giảm do

sự mở rộng của các khu trang trại với việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất thànhkhu nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn Cụ thể qua bảng 3.3 ta thấy: Giá trị sản xuấtlúa của xã qua 3 năm đều chiếm tỷ trọng lớn trong ngành trồng trọt của địa phương,bình quân 3 năm tăng 7,42% nguyên nhân do lúa là cây trồng chủ lực ở địa phương,giá trị sản xuất của các cây trồng khác vào vụ đông chỉ chiếm giá trị thấp do gặp thờitiết bất thuận nên cây vụ đông hầu như mất trắng, hoặc năng suất thấp

Ngành TTCN – XDCB đều tăng qua các năm, tăng 18,24% năm 2008 vànăm 2009 tăng 25,71%, bình quân tăng 21,92% trong 3 năm Và cơ cấu ngànhnày trong tổng giá trị sản xuất lại tăng nhẹ do giá trị sản xuất của ngành caotrong năm 2009 là 22000 triệu đồng

Thương mại dich vụ cũng tăng theo do yêu cầu bức thiết của sự phát triểnkinh tế Theo đó, năm 2008 tăng 50% so với năm 2007, và năm 2009 tăng 33,33%

so với năm 2008, bình quân chung tăng 41,42% Sỡ dĩ có sự tăng cao như vậy là dogiá trị sản xuất của ngành trong mấy năm trước thấp, và năm 2009 tăng vọt lên 12

tỷ đồng, dẫn tới tăng cơ cấu ngành Tuy vậy, đó cũng là dấu hiệu cho thấy sự pháttriển của ngành TTCN – XDCB, thương mại dich vụ trong tương lai gần ở xã

Qua đây có thể thấy được rằng, mặc dầu các ngành TTCN - XDCB, vàthương mại dịch vụ có tăng cơ cấu ngành song Hòa Chính vẫn là một xã đang pháttriển lớn mạnh đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp Trong đó ngành trồng trọtchiếm một vị trí quan trọng

Trang 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Hòa Chính là xã thuần nông, nhiều năm liền là lá cờ đầu trong sản xuất nôngnghiệp của huyện Chương Mỹ - Hà Nội Hòa Chính cũng được đánh giá cao vớinhiều ưu thế để sản xuất lúa hàng hóa Đó là điều kiện thổ nhưỡng khá thuận lợi chocây lúa phát triển, bà con nông dân cần cù lao động, làm việc có trách nhiệm, tuânthủ đúng quy trình kỹ thuật Do đó với mục đích chuyển đổi cơ cấu giống cây trồngcho năng suất và hiệu quả kinh tế cao thì Hòa Chính đã phối hợp cùng Trung tâmkhuyến nông huyện Chương Mỹ đưa lúa chất lượng cao vào trồng thử nghiệm thànhcông tại vụ xuân năm 2009 và tiến hành sản xuất đại trà vào các mùa vụ tiếp theo,hướng tới vùng chuyên canh sản xuất lúa hàng hóa Chính vì vậy, chúng tôi quyếtđịnh chọn Hòa Chính là điểm nghiên cứu

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

3.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp bao gồm các vấn đề lý luận về liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, các chủ trương, chính sách liên quan, kinh nghiệm về liên kết của các quốc gia khác và các địa phương khác, các báo cáo tổng kết kinh tế của xã qua các năm để tìm hiểu các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, các số liệu về diện tích, năng suất sản lượng các giống lúa…, truy cập thông tin trên internet, sách, báo,tạp chí, các báo cáo tốt nghiệp đại học, niên giám thống kê để lấy các thông tin về tình hình liên kết và tiêu thụ nông sản sau đó tổng hợp lại

3.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

 Thu thập số liệu bằng phiếu điều tra: Để phục vụ cho nghiên cứu chúng tôitiến hành điều tra 90 hộ thuộc xã Hòa Chính và chia thành 2 nhóm: Nhóm hộ thamgia liên kết và nhóm hộ không tham gia liên kết Trong đó có 45 hộ tham gia liênkết và 45 hộ không tham gia liên kết trên bốn thôn của xã Nhằm thu thập các sốliệu về thông tin chung của hộ, tình hình sản xuất, năng suất, sản lượng, tình hìnhđầu tư của hộ, tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, tác động và nhu cầu liênkết… Dựa trên tiêu chí đó là: Các hộ tham gia liên kết trong chuyển giao tiến bộ

Trang 36

khoa học kỹ thuật, mua yếu tố đầu vào một cách thường xuyên từ các nhà cung ứng,nhóm hộ tiêu thụ sản phẩm với các đối tượng thu mua là thương lái, người thu gom,doanh nghiệp… ở mức độ thường xuyên Còn đối với các hộ không tham gia liênkết đó là các hộ nông dân tự do, họ tự bỏ vốn đầu tư sản xuất, và bán cho bất kỳ ainếu được giá.

 Phương pháp phỏng vấn cá nhân: Chúng tôi sử dụng phiếu hỏi được xâydựng sẵn để tiến hành phỏng vấn các đối tượng nhằm thu thập các thông tin cầnthiết cho nghiên cứu Đối với cán bộ khuyến nông phỏng vấn nhằm tìm hiểu vềcông tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật với các câu hỏi về thông tin hoạt động củađơn vị, đánh giá về tình hình liên kết, những lợi ích khi tham gia liên kết… Các cán

bộ cơ quan Nhà nước ở cấp xã được phỏng vấn nhằm tìm hiểu về mối liên kết củatừng nhà ở địa phương, các chủ trương chính sách nhằm tăng cường mối liên kết vàvai trò của từng nhà…Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp phỏng vấnkhông chính thức (không sử dụng phiếu hỏi) các đối tượng khác như thương lái,người thu gom, trại giống để ghi lại và sau đó tổng hợp lại theo ý kiến của họ

 Quan sát trực tiếp: Chúng tôi tiến hành quan sát thực tế đặc điểm địa bàn, thựctrạng sản xuất của hộ khi có sự tham gia của các đối tượng liên kết, xem xét tình hìnhtham gia tập huấn của bà con và tình hình triển khai các lớp tập huấn có đúng kế hoạchkhông? Có đáp ứng được nhu cầu của người dân không?

3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin

3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Chúng tôi thu thập các thông tin về tình hình đất đai, dân số, lao động, tìnhhình sản xuất, tiêu thụ lúa…sau đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả vào việcdùng các thông tin thu thập được để tiến hành phân tích mô tả toàn diện tình hình sửdụng đất đai, dân số, lao động, kết quả sản xuất kinh doanh của địa phương, đặcđiểm, vai trò của các tác nhân trong mối liên kết bốn nhà trên địa bàn xã, phân tíchtình hình sản xuất, tiêu thụ của hộ trong mối liên kết, để từ đó đưa ra những đánhgiá cho thực trạng liên kết trên

Trang 37

3.2.3.2 Phương pháp phân tích so sánh

Chúng tôi thu thập các số liệu của hộ liên kết và hộ không liên kết về tìnhhình chung của hộ, đặc điểm sản xuất của hộ, chi phí đầu tư cho một đơn vị diệntích sản xuất lúa, năng suất, sản lượng…trên cơ sở các số liệu điều tra giữa các hộtham gia liên kết và các hộ không tham gia liên kết sẽ được phân tổ và so sánh vớinhau để đưa ra các nhận xét về đặc điểm sản xuất của hộ, tình hình đầu tư trên 1 sàotheo nhóm hộ, so sánh kết quả và hiệu quả kinh tế và lợi ích trong sản xuất củanhóm hộ nào cao hơn

3.2.3.3 Phương pháp phân tích kinh tế

Phân tích kinh tế với mục đích là đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế sảnxuất với các chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp (MI), giá trị sản xuất (GO)/đồng chi phí, giátrị gia tăng (VA)/đồng chi phí Thông qua các chỉ tiêu này sẽ được dùng để tính thunhập hỗn hợp/ đồng chi phí Đây là một tiêu chí quan trọng đánh giá, mức thu nhậpcủa hộ trên một đồng chi phí là cao hay thấp

3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Thông tin, số liệu sau khi thu thập được từ các phiếu điều tra, chúng tôi sẽnhập vào phần mềm excell với khung nhập số liệu đã được thiết kế sẵn, rồi tiếnhành mã hóa, thực hiện tính toán, tổng hợp và phân tổ theo hai nhóm hộ liên kết vàkhông liên kết thông qua đó tính tỷ lệ, so sánh, vẽ biểu đồ… Và các loại số liệukhác nhau để từ đó có được những chỉ tiêu phù hợp với các mục tiêu nghiên cứucủa đề tài

3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng sản xuất lúa: Diện tích lúa CLC; DT lúathường; Tổng DT lúa CLC; Tổng DT lúa thường; Cơ cấu diện tích CLC; Cơ cấu DTlúa thường;

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng tiêu thụ lúa:

- Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tiêu thụ lúa: Loại khách hàng (doanhnghiệp, thương lái/ người thu gom, người tiêu dùng, siêu thị/ nhà hàng/ khách sạn);Địa điểm bán (tại nhà, tại chợ); Số lượng BQ (kg); Cơ cấu (%)

Trang 38

- Các chỉ tiêu phản ánh chênh lệch giá bán lúa CLC và lúa khác: Giá bán;Giá bán BQ; Lúa CLC (SH2, HT9); Lúa thường (khang dân, Q5);

+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của các tác nhân tham gia liên kết:

- Các chỉ tiêu thể hiện kết quả thực hiện mô hình trình diễn lúa CLC: Diệntích (ha); Số người tham gia; Số người tham gia tập huấn; Tổng kinh phí thực hiện;Kinh phí được hỗ trợ; Kết quả thực hiện

- Các chỉ tiêu về nội dung tập huấn cho các hộ tham gia mô hình trình diễn:Nội dung; Số lượng

- Các chỉ tiêu về tình hình chung của các hộ điều tra: Tổng số hộ điều tra;Tuổi BQ của chủ hộ; Trình độ văn hóa của chủ hộ; BQ nhân khẩu/ hộ; BQ lao độngchính/ hộ;

- Các chỉ tiêu về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra: Chỉ tiêu đất đai; Đấtlúa (BQ đất được chia, BQ đất thuê); Đất ở; Vốn cho sản xuất; Vốn tự có (dùng chosản xuất nông nghiệp, dùng cho các họat động khác); Vốn đi vay (dùng cho sảnxuất nông nghiệp, dùng cho các họat động khác)

- Chỉ tiêu về tình hình đầu tư cho một sào sản xuất lúa CLC: Chi phí vật chất(giống, phân bón hóa học, phân chuồng, bảo vệ thực vật, dịch vụ làm đất, chi phíkhác); Tỉ lệ hộ không liên kết/ hộ liên kết

- Chỉ tiêu về tình hình tham gia liên kết của các hộ điều tra: Giống; Vốn; Kỹthuật; Tiêu thụ; Số lượng (hộ); Cơ cấu (%)

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả kinh tế

o Giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ tạo ra trongmột đơn vị thời gian (thường trong một năm), GO = VA + IC Chỉ tiêu này là một

cơ sở để tính các chỉ tiêu khác như GO/ khẩu,GO/ đất nông nghiệp, GO/công laođộng…

o Chí phí trung gian (IC): Là gồm toàn bộ các khoản chi phí vật chấtthường xuyên như: Nguyên liệu, nhiên liệu, dịch vụ… được sử dụng trong quá trìnhsản xuất

Trang 39

đơn vị diện tích và phần chi phí vật chất thường xuyên sử dụng trong quá trình sản xuất

VA = GO - IC

o Thu nhập hỗn hợp (MI) :

MI = VA – (A+T+LT )Trong đó: A: khấu hao tài sản cố định

T: Thuế sản xuất

LT: Lao động thuê (nếu có)

o Giá trị sản xuất (GO)/IC: Là tỷ số giá trị sản xuất của sản phẩm thu được tínhbình quân trên một đơn vị diện tích với chi phí trung gian của một đơn vị diện tích

o Giá trị gia tăng (VA)/ IC: Tính bằng phần giá trị gia tăng thêm tính bình quântrên một đơn vị diện tích với chi phí bỏ ra trong sản xuất

o Thu nhập hỗn hợp (MI)/ IC: Bằng tỷ số thu nhập hỗn hợp thu được tínhbình quân trên một đơn vị diện tích trên tổng chi phí trung gian

- Các chỉ tiêu phản ánh thông tin chung của các hộ thu gom trên địa bàn: Sốnăm hoạt động; Lượng vốn bình quân; Khối lượng thu gom bình quân; Thời gian quan

hệ với hộ nông dân; Phương tiện vận chuyển; Giá mua bình quân; Giá bán bình quân

- Các chỉ tiêu về tình hình tham gia liên kết tiêu thụ của các hộ điều tra: Ngườithu gom; Người buôn đường dài; người tiêu dùng; Doanh nghiệp chế biến; Hộ liên kết(thỏa thuận, hợp đồng) ; Hộ không liên kết (thỏa thuận, hợp đồng, tự do)

- Các chỉ tiêu về phương thức thanh toán của các hộ điều tra: Nhận toàn bộ saukhi bán, nhận một phần, nhận sau nhiều lần bán, ứng trước tiền toàn bộ; Cơ cấu (%)

+ Chỉ tiêu đánh giá thực trạng liên kết:

- Các chỉ tiêu đánh giá lợi ích của nhà nông: Lợi ích trong liên kết sản xuất; Lợiích trong liên kết tiêu thụ;

- Các chỉ tiêu đánh giá lợi ích của các tác nhân khác: Nhà nước, nhà khoa học,thương lái/ doanh nghiệp; Mâu thuẫn

- Các chỉ tiêu thể hiện mức độ hiểu biết, ý kiến đánh giá của các tác nhân liênkết: Mức độ hiểu biết (hoàn toàn không biết, có biết nhưng không hiểu rõ, hiểu rất rõ);

Trang 40

Mức độ cần thiết liên kết (rất cần thiết, bình thường, không cần thiết); Đối tượng (Nhànước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nông); Số ý kiến, Tỷ lệ (%).

- Các chỉ tiêu đánh giá ý kiến của hộ điều tra về hiệu quả trước và sau liên kết:Chất lượng sản phẩm, năng suất, giá bán, doanh thu, lợi nhuận; Cơ cấu (%)

- Các chỉ tiêu thể hiện lý do hộ không tham gia liên kết: Lý do hộ không liên kết(không rõ lợi ích của liên kết mang lại, ), quyết định liên kết của hộ trong thời gian tới( có, không, còn xem xét); Số hộ, tỷ lệ (%)

+ Các chỉ tiêu phản ánh nhu cầu của hộ tham gia liên kết:

- Các chỉ tiêu phản ánh mong muốn của hộ về đối tượng, hình thức liên kết

- Các chỉ tiêu phản ánh mong muốn của hộ không tham gia liên kết: Lợi ích,phương thức thanh toán; số ý kiến; Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 06/05/2016, 13:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đỗ Kim Chung (2005), Chính sách và phương thức chuyển giao tiến bộ trong nông nghiệp ở miền núi và trung du phía bắc, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và phương thức chuyển giao tiến bộtrong nông nghiệp ở miền núi và trung du phía bắc
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nôngnghiệp Hà Nội
Năm: 2005
7. Dương Hồng Diệp (2009), “Thanh Phú, Cầu Kè, Trà Vinh: Xây dựng mô hình liên kết bốn nhà”http://ifad-un-vn.blogspot.com/2009/11/thanh-phu-cau-ke-tra-vinh-xay-dung-mo.html) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Phú, Cầu Kè, Trà Vinh: Xây dựng môhình liên kết bốn nhà”
Tác giả: Dương Hồng Diệp
Năm: 2009
11. Hoàng Thị Mơ (2009), “Mối liên kết kinh tế sản xuất và tiêu thụ cà chua hàng hóa trên địa bàn huyện Hải Hậu – Nam Định”, luận văn tốt nghiệp đại học, đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối liên kết kinh tế sản xuất và tiêu thụ cà chuahàng hóa trên địa bàn huyện Hải Hậu – Nam Định”
Tác giả: Hoàng Thị Mơ
Năm: 2009
15. KS. Đặng Thanh Phong (2006), “ Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao và hiệu quả tại An Giang”, Chi Cục BVTV An Giang. Có thể Dowload tạihttp://sonongnghiep.angiang.gov.vn/webpage_1/3giam3tang_files/mohinhmoi.htm, ngày cập nhật 18/02/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao vàhiệu quả tại An Giang
Tác giả: KS. Đặng Thanh Phong
Năm: 2006
1. Lê Xuân Bá (2003), Về vấn đề liên kết kinh tế ở Việt Nam hiện nay http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/nghiencuutraodoi/2005/5/12897.ttvn Link
8. Hồ Quế Hậu (2008), Xây dựng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân, Báo nghiên cứu trao đổi, số tháng 3/2008, trang 30http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/nghiencuutraodoi/2008 Link
2. Hội đồng Bộ trưởng, Quyết định 38/1989/QĐ-HĐBT ngày 10 tháng 04 năm 1989 về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch vụ Khác
4. Đỗ Kim Chung (2008), Chính sách phát triển nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
5. David. W. Peacrce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
9. Lê Thị Thu Hương (2009), Vai trò của liên kết 4 nhà trong mô hình trồng tre măng bát độ tại huyện Trấn yên, tỉnh Yên Bái, luận văn tốt nghiệp đại học, đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
10. UBND xã Hòa Chính, Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội an ninh quốc phòng qua các năm 2007, 2008, 2009 Khác
12. Phạm Thị Minh Nguyệt (2006), Kinh tế hợp tác nông nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
13. TS. Nguyễn Hữu Ngoan (2005), Giáo trình thống kê nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
14. Lã Hồng Phúc (2009), Nghiên cứu các mối liên kết trong nuôi, chế biến và tiêu thụ tôm ở huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, luận án thạc sỹ kinh tế, trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
16. Lê Thị Thương, (2006), “Tác động của mô hình liên kết giữa xí nghiệp Nông công nghiệp Chè Anh Sơn với hộ trồng chè ở huyện Anh Sơn – tỉnh Nghệ An, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Khác
17. Lê Vĩnh Thảo (2004), Các giống lúa đặc sản, giống lúa chất lượng cao và kỹ thuật canh tác, NXB Nông nghiệp Khác
18. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 06 năm 2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Phân loại liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Sơ đồ 1.1 Phân loại liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm (Trang 9)
Sơ đồ 1.2: Liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Sơ đồ 1.2 Liên kết bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông sản (Trang 13)
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam (Trang 19)
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Hòa Chính (2007 - 2009) - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Hòa Chính (2007 - 2009) (Trang 30)
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động của xã qua 3 năm (2007-2009) - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động của xã qua 3 năm (2007-2009) (Trang 31)
Bảng 3.3  Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007-2009) - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm (2007-2009) (Trang 33)
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu lúa CLC theo mùa vụ xã Hòa Chính qua 3 năm - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.1 Diện tích và cơ cấu lúa CLC theo mùa vụ xã Hòa Chính qua 3 năm (Trang 42)
Sơ đồ 4.1: Kênh tiêu thụ lúa ở xã Hòa Chính - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ lúa ở xã Hòa Chính (Trang 45)
Bảng 4.2 Tình hình tiêu thụ lúa của các hộ điều tra năm 2010 - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.2 Tình hình tiêu thụ lúa của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 46)
Bảng 4.3 Giá bán các loại lúa tại xã Hòa Chính năm 2010 - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.3 Giá bán các loại lúa tại xã Hòa Chính năm 2010 (Trang 46)
Sơ đồ 4.2: Tác nhân tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Sơ đồ 4.2 Tác nhân tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu (Trang 48)
Hình 4.1: Cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Hình 4.1 Cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân (Trang 54)
Bảng   4.6   Tình   hình   tập   huấn   hỗ   trợ   kỹ   thuật   trong   3   năm   2007   -   2009  của xã Hòa Chính - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
ng 4.6 Tình hình tập huấn hỗ trợ kỹ thuật trong 3 năm 2007 - 2009 của xã Hòa Chính (Trang 55)
Bảng 4.7 Tình hình chung của các hộ điều tra năm 2010 - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.7 Tình hình chung của các hộ điều tra năm 2010 (Trang 57)
Bảng 4.8 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra - Thực trạng mối liên kết “bốn nhà” trong sản xuất và tiêu thụ lúa chất lượng cao ở xã hòa chính, huyện chương mỹ, hà nội
Bảng 4.8 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w