- Trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu còn có đặc điểm được che phủ trên 80% của thảm cỏ cỏ rác, cỏ lông, cỏ tranh và lau sậy vì vậy đây là một trong những yếu tố dẫn đến khả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU, THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHỤC HỒI SINH CẢNH RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH
CẢNH VƯỢN CAO VÍT, TRÙNG KHÁNH CAO BẰNG
Mã số: ĐH 2012-TN03-09
Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN, NĂM 2014
Trang 2ĐẠ I HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU, THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHỤC HỒI SINH CẢNH RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT, TRÙNG KHÁNH CAO BẰNG
Mã số: ĐH 2012-TN03-09
Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Quốc Hưng
Người tham gia thực hiện:
1 Th.S La Quang Độ
2 Th.S La Thu Phương
3 Th.S Nguyễn Đăng Cường
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài
(ký, họ tên, đóng dấu)
THÁI NGUYÊN NĂM 2014
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… ……… vii
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS ……… … x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích 2
3 Mục tiêu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Giới hạn nghiên cứu 2
6 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Trên thế giới 4
1.2 Ở Trong nước 6
1.3 Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu 11
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 11
1.3.1.1 Vị trí địa lí 11
1.3.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng 12
1.3.1.3 Khí hậu thuỷ văn 13
1.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội 14
1.3.2.1 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội xã Ngọc Khê 14
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Nội dung nghiên cứu 20
2.1.1 Đánh giá về đối tượng tác động 20
2.1.1.1 Đặc điểm chung khu vực lựa chọn nghiên cứu 20
2.1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm cây tầng cao (cây non) và khả năng tái sinh tự nhiên của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn 20
2.1.2 Nghiên cứu vai trò của vách rừng tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng khu vực sau canh tác 20
Trang 42.1.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp lâm sinh nhằm tăng khả năng phục hồi
rừng tại khu vực bỏ hóa sau canh tác ở khu bảo tồn 20
2.1.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm phục hồi rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít được tốt hơn 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Cách tiếp cận 20
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
2.2.2.1 Xác định khu vực nghiên cứu 21
2.2.2.2 Phương pháp lập ô nghiên cứu và thử nghiệm kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng22 2.2.2.3 Phương pháp lập Vườn ươm đánh giá khả năng nhân giống của một số loài cây làm thức ăn cho Vượn 23
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.2.3.1 Cây tầng cao (cây non chưa trưởng thành) 23
2.2.3.2 Cây tái sinh 23
2.2.3.3 Tính chất đất và độ che phủ: 24
2.2.3.4 Ảnh hưởng của vách rừng tới khả năng phục hồi rừng 24
2.2.4 Phương pháp tính toán xử lí số liệu 25
2.2.4.1 Cây tái sinh và cây tầng cao (cây non) 25
2.2.4.2 Vách rừng 27
2.2.4.3 Tính chất đất khu vực nghiên cứu 27
2.2.5 Phương pháp thu hái xử lý mẫu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Đánh giá về đối tượng tác động 29
3.3.1 Đặc điểm chung khu vực lựa chọn nghiên cứu 29
3.1.2 Đặc điểm cây tầng cao (cây non) và khả năng tái sinh tự nhiên của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn 30
3.1.2.1 Tổ thành cây tầng cao (cây non) tại khu vực nghiên cứu 31
3.1.2.2 Tổ thành cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu 32
3.1.2.3 Nguồn gốc và chất lượng tái sinh 34
3.1.2.4 Đánh giá về phân bố cây tái sinh của các ô nghiên cứu 36
3.1.2.5 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến tái sinh rừng tại khu vực nghiên cứu 37
3.1.2.5.1 Ảnh hưởng của tính chất đất đến tái sinh 37
3.1.2.5.2 Ảnh hưởng của cây bụi thảm tươi đến tái sinh 38
Trang 53.2 Vai trò của vách rừng tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng khu vực sau canh
tác 40
3.2.1 Xác định thành phần loài cây chính (cây mẹ) trong khu vực rừng (vách rừng) xung quanh khu vực bỏ hóa sau canh tác 40
3.2.1.1 Thành phần các loài cây mẹ có trong các khu vực 40
3.2.1.2 So sánh thành phần loài cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu với thành phần loài cây mẹ trong vách rừng xung quanh 44
3.2.1.3 Đánh giá khả năng phát tán hạt giống của một số loài chính xuất hiện tại khu vực nghiên cứu 45
3.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp lâm sinh nhằm tăng khả năng phục hồi rừng sau canh tác tại Khu bảo tồn 48
3.3.1 Đánh giá khả năng nhân giống trong vườn ươm tại chỗ của một số loài cây bản địa làm thức ăn cho vượn 48
3.3.1.1 Vườn ươm tại tại xóm Nà Thông xã Phong Nậm 48
3.3.1.2 Vườn ươm tại Lũng Nặm……… ……… … 49
3.3.2 Xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung 51
3.2.2.1 Xúc tiến tái sinh 51
3.2.2.1 Ảnh hưởng của làm cỏ tới khả năng tái sinh 52
3.2.2.2 Sinh trưởng phát triển cây tầng cao (cây non) giữa các điều kiện tác động 54
3.2.2.3 Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây trồng dặm 57
3.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm phục hồi rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít 59
3.4.1 Giải pháp quản lý 59
3.4.2 Giải pháp chính sách 60
3.4.3 Giải pháp kỹ thuật 60
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 62
Kết luận 62
Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Phụ lục 67
Trang 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Dân số xã Ngọc Khê năm 2012 14
Bảng 1.2 Dân số xã Ngọc Côn năm 2012 16
Bảng 1.3: Dân số xã Phong Nậm năm 2012 ………17
Bảng 3.1 Diện tích phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái khu bảo tồn ……… 29
Bảng 3.2: Tổ thành và mật độ cây tầng cao khu vực nghiên cứu ………31
Bảng 3.3: Tổ thành và mật độ cây tái sinh khu vực nghiên cứu ……….33
Bảng 3.4 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh ở khu vực nghiên cứu ………….35
Bảng 3.5 Bảng phân bố cây tái sinh trong 2 ô nghiên cứu ……….36
Bảng 3.6 Thành phần tính chất đất tại 2 OTC ……… 37
Bảng 3.7 Thành phần và độ che phủ thảm tươi TB trong 2 OTC ……… 38
Bảng 3.8 Thành phần các loài cây trong khu vực nghiên cứu………41
Bảng 3.9 Công thức tổ thành vách rừng theo từng khu vực ……… 42
Bảng 3.10 Các chỉ số trung bình về đường kính và chiều cao cây mẹ ở các khu vực vách rừng ……… 43
Bảng: 3.11 So sánh tổ thành cây tái sinh tại khu vực điều tra gần vách rừng và 2 OTC 2013 với cây mẹ điều tra 2 tuyến vách rừng năm 2013 ……… 44
Bảng 3.12 Đặc điểm sinh thái học của cây tái sinh chính năm 2012 -2013 … 45
Bảng 3.13 So sánh các ô nghiên cứu làm cỏ và ô không làm cỏ giữa 2 OTC…511 Bảng 5.14 Đánh giá khả năng sinh trưởng của các cây tái sinh trong ô được làm cỏ 53
Bảng 3.15 So sánh tăng trưởng chiều cao và đường kính gốc bình quân của các cây tái sinh giữa ô làm cỏ và ô không làm cỏ trong 2OTC ……….54
Bảng 3.16 Tăng trưởng chiều cao, đường kính tầng cây cao giữa các điều kiện tác động (OTC 1) 55
Bảng 3.17 Tăng trưởng chiều cao, đường kính tầng cây cao giữa các điều kiện tác động (OTC 2) 56
Bảng 3.18 Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng dặm 58
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Vị trí khu vực nghiên cứu huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng 11
Hình:2.2 Sơ đồ Khu bảo tồn Vượn Cao Vít 12
Hình 2.3: Sơ đồ thiết lập ô tiêu chuẩn và các ô dạng bản nghiên cứu 22
Hình: 3.1 Biểu đồ so sánh nguồn gốc tái sinh giữa 2 OTC 35
Hình: 3.2 Biểu đồ so sánh chất lượng tái sinh của 2 OTC 35
Hình: 3.3 Sơ đồ khu vực nghiên cứu vách rừng tại lũng Đảy năm 2012 40
Hình: 3.4 Sơ đồ khu vực nghiên cứu vách rừng tại lũng Đảy năm 2013 40
Hình 3.5 : Vườn ươm tại thôn xóm Nà Thông 49
Hình 3.6: Vườn ươm tại Lũng Nặm 50
Hình: 3.7 Hiệu quả của việc phát hiện cây tái sinh mới bằng bằng việc phát trắng ô nghiên cứu 52
Hình 3.8 biểu đồ tăng trưởng chiều cao trung bình của cây tầng cao giữa các điều kiện tác động (OTC 1) 55
Hình 3.9 biểu đồ tăng trưởng đường kính trung bình của cây tầng cao giữa các điều kiện tác động (OTC 1) 55
Hình 3.10 biểu đồ tăng trưởng chiều cao trung bình của cây tầng cao giữa các điều kiện tác động (OTC 2) 56
Hình 3.11: biểu đồ tăng trưởng đường kính trung bình của cây tầng cao giữa các điều kiện tác động (OTC 2) 56
Hình: 3.12 Hiệu quả của việc giảm cạnh tranh cỏ dại tại chỗ 57
Hinh 3.13: Cây Nhội và Xoan nhừ được trồng dặm trong ô nghiên cứu từ năm 2012 .59
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KBT : Khu bảo tồn
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
KHLNVN : Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
ODB : Ô dạng bản
OTC : Ô tiêu chuẩn
PRCF : People Resources and Conservation Foundation - Tổ chức con
người, tài nguyên và bảo tồn QLBVR : Quản lí bảo vệ rừng
TSTN Tái sinh tự nhiên
THCS : Trung học cơ sở
TB : Trung bình
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trường Đại học Nông Lâm
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Nghiên cứu, thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật phục hồi sinh cảnh rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Cao vít, Trùng Khánh Cao Bằng”
- Mã số: Mã đề tài: ĐH 2012-TN03-09
- Chủ nhiệm: TS Trần Quốc Hưng
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Nông Lâm
- Thời gian thực hiện: 1/2012 – 12/2013
2 Mục tiêu:
Thử nghiệm áp dụng một số biện pháp kỹ thuật, quy trình và cách tiếp cận mới nhằm phục hồi môi truờng tự nhiên cho loài linh truởng đang bị đe dọa tuyệt chủng tại khu vực rừng trên núi đá vôi Trùng Khánh giúp khôi phục và mở rộng môi trường sống của chúng Đồng thời đề xuất được các phương án phục hồi rừng trên núi đá vôi
3 Kết quả nghiên cứu:
3.1 Kết quả nghiên cứu, đánh giá về đối tượng tác động
- Đề tài đã đánh giá được đặc điểm chung của khu vực nghiên cứu, trên cơ sở các đặc điểm của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại khu bảo tồn, đề tài đã lựa chọn
được địa điểm đặt vị trí nghiên cứu đại diện
- Tại địa điểm nghiên cứu đại diện khu vực bỏ hóa sau nương rẫy tại vùng lõi khu bảo tồn, đề tài đã tiến hành đánh giá về đặc điểm thực vật (lớp che phủ) tại khu vực nghiên cứu Đề tài tập trung đánh giá vào đặc điểm cấu trúc tầng cây cao (tầng cây non thuộc lớp tái sinh đầu tiên), kết quả cho thấy thành phần loài cây trong trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt tại khu vực nghiên cứu đơn giản Chủ yếu là những cây gỗ tạp, cây ưa sáng, mọc nhanh cụ thể: Dướng, Móc, Lá nến, Thích Đối với cây tầng cây tái sinh kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng cây tái sinh phần lớn có nguồn gốc từ hạt Các loài tái sinh hạt trong cả 2 OTC
chủ yếu là Thích (Acer tonkinensis), Thôi chanh (Euodia bodiniera), Móc (Caryota
Trang 10bacsonensis), Dướng (Broussonetia papyrifera), Lát trắng (Acrocarpus fracinioides)
- Trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu còn có đặc điểm được che phủ trên 80% của thảm cỏ (cỏ rác, cỏ lông, cỏ tranh và lau sậy) vì vậy đây là một trong những yếu tố dẫn đến khả năng tái sinh phục hồi rừng ở đây rất hạn chế
- Đề tài đã đánh giá được vai trò của các bìa rừng xung quanh tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng tại khu vực đất sau canh tác Nhìn chung các loài tái sinh đều có nguồn gốc từ các vách rừng xung quanh Trong đó có những loài làm thức ăn cho vượn rất tốt vì vậy cần có những biện pháp để xúc tiến tái sinh và nhân thêm số loài này
- Các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng bước đầu cho thấy đều có tác dụng tới khả năng phục hồi rừng tại khu vực nghiên cứu, từ đánh tỉa cây tái sinh trồng dặm, tới làm cỏ trắng để xúc tiến tái sinh cụ thể:
+ đánh giá được vai trò của kỹ thuật làm cỏ, phủ gốc hạn chế cỏ dại đến
sự sinh trưởng phát triển của cây non (cây tầng cao)
+ Đánh giá được ảnh hưởng của kỹ thuật làm cỏ trắng tới phát lộ tái sinh mới và khả năng sinh trưởng phát triển cây tái sinh trong điều kiện này hơn hẳn
so với việc không làm cỏ
+ Đề tài đã đánh giá được khả năng gây dựng và tạo cây con bản địa tại chỗ của người dân địa phương trong việc nhân giống cây phục vụ cho công tác trồng dặm và phục hồi rừng
+ Đề tài cũng đã thử nghiệm việc đánh tỉa cây tái sinh tại chỗ và trồng bổ sung, kết quả khả quan, các cây trồng bổ sung đều sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện hỗ trợ giảm cạnh tranh của cỏ dại
- Đề tài đã đề xuất một số giải pháp để giúp tăng khả năng phục hồi rừng tại
đây
4 Sản phẩm:
- 2 bài báo đăng tạp chí (đạt)
- 4 đề tài nghiên cứu của sinh viên đại học K40 – k41 ngành lâm nghiệp (vượt
2 so với đăng kí)
- 01 Cao học (vượt so với đăng kí)
Trang 11- Giải pháp phục hồi diện tích rừng sau nương bãi khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít
5 Hiệu quả:
Nhìn chung việc nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp với trồng bổ sung, đã giúp nâng cao
được công tác bảo vệ và phục hồi rừng trên núi đá vôi nói chung và khu bảo tồn
vượn nói riêng Góp phần nâng cao sự tham gia và hiểu biết của người dân địa phương trong việc tạo cây con phục vụ công tác phục hồi rừng, chăm sóc và giám sát rừng từ đó làm cơ sở cho việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ phục vụ công tác bảo tồn và phát triển loài cho địa phương về lâu dài Đây là chiến lược phù hợp với các mục đích chung của các dự án bảo tồn loài đang hoạt động tại Khu bảo tồn loài
và sinh cảnh Cao Vít huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
6 Khả năng áp dụng và phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu:
Đã kết hợp áp dụng kết quả nghiên cứu với khu bảo tồn, kết quả này cũng là sản
phẩm của đề tài kết hợp với dự án PRCF trong việc phục hồi khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít Các kết quả đều được đem ra áp dụng và đã chuyển giao
về kỹ thuật và phương pháp cho khu bảo tồn cũng như dự án PRCF
Trang 12THAI NGUYEN UNIVERSITY
College of Agriculture and Forestry
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title:"Research and testing some technical measures to restore forest
habitat in Cao Vit Gibbon Protected Area Trung Khanh, Cao Bang"
Code number: ĐH 2012-TN03-09
Coordinator: Dr Tran Quoc Hung
Implementing institution: Thai Nguyen Uni of Agriculture and Forestry Duration: from 1/2012 to 12/2013
2 Objective(s):
Testing some technical measures, processes and new approaches to restore natural habitat for primates are threatened with extinction in limestone forest area of Trung Khanh helping for restoration and open their habitat Also research will be proposed the rehabilitation plan on limestone
3 Research results:
- Research has evaluated general characteristics of the study area, based on the characteristics of the fallow area after cultivation in protected area, the research chose the location of the study sites represent
- The study sites represent fallow area in the core conservation area, research has evaluated and conducted on plant characteristic (vegetation cover) in the study area The research focuses on assessing structure of tree (sapling floor reborn first class), the results showed that species composition in state forests after shifting cultivation and exploited in the area are simple Mostly not valuable timber,light-demand and fast growing species For the seedling regeneration research results
show that the number of seedling largely derived from seed, such as ( Acer
tonkinensis ), ( Euodia bodiniera ),(Caryota bacsonensis) ,( Broussonetia papyrifera ) and ( Acrocarpus fracinioides )
Trang 13- The vegetation in the study area also covers over 80 % of the grass (Microstegium
vagans, Polytrias indica, Imperata cylindrica, Narenga porphyrocoma) so this is
one of the factors leading to the possibility regeneration and restoration of forest here is very limited
- The research evaluated the role of forest wall cover around with the possibility of seeding and restoration in land area after cultivation In general, regeneration species are derived from forests wall around Of these species as food for Gibbon are good growing, therefore should take measures to promote regeneration of this species
- The silvicultural measures applied initially to have the effect that the resilience of forest in the study area, such as adding planting, cleaning weeding to promote regeneration :
+ Evaluated the role of technical weeding, cardboard mulch mats reduced weed impact to the growth and development of young trees
+ Evaluated the impact of clean weeding techniques to reveal new regeneration and growth potential regeneration seedling with no weeding condition
+ Evaluated the ability to build and create nursery of native seedlings of the local people in seedling production service for restoration and forest planting
+ Research also tested the wildling and additional plantation and get positive results The additional seedling growth and development are well in terms of reduced weed competition
- The Research has proposed some solutions to help forest restoration in this area
Trang 14restoration of forests on limestone in general and particular Gibbon Protected Area Enhancing the participation and understanding of the local people in the seedling production to serve the rehabilitation, care and monitoring of forest from which the basis for the training of human resources in place to serve conservation and development of Gibbon for the long term This strategy is consistent with the general purposes of conservation projects are active at this area
6 Transfer alternatives of reserach results andapplic ability:
Combined application of research findings to the protected areas, the results are also products of topics associated with project PRCF The results are brought out and delivered the application of techniques and methods for protected areas as
well as PRCF project
Trang 15
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus) là một trong những loài linh trưởng hiếm
nhất trên thế giới và đang trong tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng cao trên phạm vi toàn cầu, danh lục đỏ IUCN (2010) [ 22 ] xếp Vượn Cao Vit vào mức cực kỳ nguy cấp – CR Năm 2002, một quần thể nhỏ Vượn đen đông bắc khoảng 26 cá thể được phát hiện gần biên giới Trung Quốc thuộc các xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đây cũng là nơi duy nhất tại Việt Nam cũng như trên thế giới còn tồn tại một quần thể Vượn này Tháng 5/2007 UBND tỉnh Cao Bằng và Chi cục Kiểm lâm Cao Bằng với sự hỗ trợ về kỹ thuật của tổ chức FFI chính thức thành lập Khu bảo tồn (KBT) Vượn Cao Vít nằm trên địa phận ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Trần Văn Phùng và cs (2006) [18 ]
Kể từ khi tái phát hiện quần thể còn sót lại của loài linh trưởng đang bị đe doạ này vào năm 2002, đến nay số lượng cá thể Vượn ở Cao Bằng vào khoảng 110 con, nhiều chương trình dự án được thực hiên tại đây Tổ chức FFI triển khai thực hiện một số hoạt động; Nhóm tuần rừng dựa vào cộng đồng đã được thành lập và có nhiệm vụ tuần tra rừng, triển khai việc tuyên truyền nâng cao nhận thức tại các làng xung quanh Khu bảo tồn, các hoạt động làm giảm thiểu các đe doạ bằng việc xây bếp lò cải tiến và hầm Biogas để giảm nhu cầu về củi đun, cùng với sự hỗ trợ của các chương trình dự án, năm 2010 Quỹ bảo tồn Việt Nam (VCF) đã vận động được người dân, không canh tác nương bãi tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt ( khu vực Lũng
Đẩy 3,5ha Kha Mỉn 0,4ha, trung tâm KBT, việc chăn thả gia súc tự do và làm
nương bãi đã có từ nhiều năm nay của người dân xung quanh khu bảo tồn, và ngay tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt đã được hạn chế
Tuy nhiên cũng như ở bất cứ KBT nào trên thế giới khi cuộc sống người dân chưa ổn định, áp lực lên KBT và nguy cơ xâm hại giá trị ĐDSH, khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên vẫn còn phổ biến Hệ sinh thái rừng của KBT Vượn Cao Vít hàng ngày vẫn phải chịu sức ép của cộng đồng người dân sống xung quanh Các nhu cầu
cơ bản hàng ngày về gỗ làm mới nhà cửa, phai nước, sử dụng củi để đun nấu, thu hái các LSNG , vẫn được người dân khai thác sử dụng phục vụ cho đời sống hàng ngày, kết hợp với quá trình canh tác, chăn thả gia súc không hợp lí của người dân , Tất cả
đã góp phần làm cho diện tích các khu rừng trong KBT bị suy giảm cả về số lượng
lẫn chất lượng, điều quan trọng nhất là diện tích rừng suy giảm cùng với các hoạt
Trang 16động săn bắt, khai thác tài nguyên rừng đã là những nguyên nhân chính gây chia cắt
sinh cảnh sống làm giảm nguồn thức ăn, khu vực cư trú và di chuyển của Vượn cao vít (VCV)
Một chiến lược dài hạn cho bảo tồn các loài thực vật để mở rộng sinh cảnh Vượn là rất cần thiết, đặc biệt trong vùng bảo tồn nơi mà bị tác động mạnh Các nghiên cứu đã được tiến hành về cấu trúc rừng cũng như tái sinh tự nhiên tại các khu vực bị tác động này
Việc nghiên cứu, tìm hiểu về khả năng tái sinh và đề xuất biện pháp kỹ thuật cho công tác quản lý, bảo vệ, phục hồi và sử dụng hợp lý rừng tự nhiên là rất cần thiết
để góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi thực
hiện đề tài "Nghiên cứu, thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật phục hồi sinh cảnh
rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao vít, Trùng Khánh Cao Bằng"
Kết quả đề tài sẽ là nền tảng để phục hồi rừng không chỉ cho khu bảo tồn
Vượn Cao Vít mà còn cho các khu vực khác có địa hình tương tự
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chọn đối tượng là trạng thái thảm thực vật rừng thứ sinh nghèo phục hồi
sau canh tác tại khu vực bảo tồn Vượn Cao Vít, đây là các khu vực lũng được bỏ hóa canh tác trong vài năm trở lại đây và là điểm nối giữa các khu vực di chuyển và sinh sống của vượn Cao Vít
5 Giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi về khả năng tái sinh, ảnh hưởng của vách
rừng tới khả năng tái sinh và một số biện pháp lâm sinh cần thiết nhằm phục hồi rừng tại vùng bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít, huyện trùng Khánh tỉnh Cao Bằng
Trang 176 Ý nghĩa của đề tài
Bước đầu nghiên cứu được các biện pháp kỹ thuật phục hồi sinh cảnh và đề xuất được các ý kiến cá nhân trong việc bảo tồn và phát triển
Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong phục hồi rừng trên khu vực vùng núi đá vôi
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trong nhất của ngành lâm nghiệp Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắm bắt
được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh rừng Vì vậy, tái
sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới rất nhiều, một số nghiên cứu và được tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự hồi sinh
từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Tái sinh rừng (Forestry regeneration) cũng
để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng
Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956) [25], đối với rừng nhiệt đới có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống) Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân
bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa lớp cây con và tầng cây gỗ được nhiều nhà khoa học quan tâm như Mibbre-ad (1930), Richards (1952), Baur G.N (1964) và Rollet (1969)
Theo Van Stennit (1956) [25] thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán, liên tục”, vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên thời kỳ tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm
- Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả của các
Trang 19phương thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ kết quả nghiên cứu kiểu tái sinh các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh như: Công trình của Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức kinh doanh rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones (1960) phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann; Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức
đồng nhất hóa tầng trên ở Java,…
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích đã bị mất rừng Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán Trần Đình Lý (1995) [11]
Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ sung Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh (ii)- Tác động rừng theo hướng đều tuổi, có một hoặc một số loài cây bằng phương thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên, tạo lập rừng đều tuổi bằng tái sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng nhiệt đới ; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại; phương thức trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya)
- Thành tựu nghiên cứu phục hồi rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi ở ngoài
nước
Viện khoa học Quảng Tây và Quảng Đông - Trung Quốc đã nghiên cứu đặc
điểm sinh trưởng của một số loài cây trên núi đá vôi như: Toona sinensis, Delavaya
toxocarpa, Chukrasia tabularis, Excentrodendron tonkinensis trong thời kỳ (1985
-1998) Những nghiên cứu đó đã được tổng kết sơ bộ sau nhiều hội thảo khoa học ở Học viện Lâm nghiệp Bắc Kinh với sự tham gia của nhiều nhà khoa học lâm nghiệp
đầu ngành của nước này và những hướng dẫn tạm thời về kỹ thuật phục hồi rừng
trên núi đá vôi đã được xây dựng Tuy nhiên, những nguyên lý về phục hồi và phát triển rừng trên núi đá vôi chưa được tổng kết một cách có hệ thống nên việc áp
Trang 20dụng những hướng dẫn này cho nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam còn khiêm tốn và đang trong giai đoạn thử nghiệm
- Nghiên cứu khả năng gieo giống từ vách rừng
Đã có một số ít tài liệu đề cập tới ảnh hưởng của tầng cây mẹ đến tái sinh
rừng, nhưng chủ yếu tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng tái sinh cho một loài cây nhất định Nghiên cứu ảnh hưởng cho cả một hệ sinh tái rừng cho một khu vực hay một sinh cảnh còn rất ít Joshua B Plotkin 2006 [23] trong sự phân tán hạt giống và mẫu không gian cây nhiệt đới (Sự phân tán hạt giống và mô thức không gian trong cây nhiệt đới) khi nghiên cứu 561 loài cây nhiệt đới chính trên 50 ha rừng tại bán
đảo Malaysia chứng minh rằng mức độ và quy mô của sự kết hợp không gian là có
tương quan với chế độ phát tán hạt giống, mối quan hệ này giữ cho cây con cũng như đối với cây trưởng thành Căn cứ để Joshua B Plotkin phân chia sự ảnh hưởng của khả năng phát tán của cây rừng dựa trên 5 yếu tố chính đó là: Khả năng tự phát tán của quả (đạn đạo); Trọng lực quả (lực hấp dẫn); hồi chuyển; Nhờ gió và động vật, trong động vật căn cứ vào cấu tạo của quả (Tinh bột, vị) kích thước quả (đường kính) để định lượng mức độ tổng thể của không gian tập hợp cho mỗi loài và sử dụng quá trình Poission cho phát tán của các loài
1.2 Ở Trong nước
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã quan tâm nghiên cứu từ những thập kỷ 60 của
thế kỷ trước Kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau:
- Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh rừng
Các kết quả nghiên cứu được Nguyễn Vạn Thường (1991) [16] tổng kết về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng ở miền Bắc Việt Nam; hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của một số loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chu kỳ, sự phân bố số cây tái sinh không đều tuổi, số cây mạ có chiều cao < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở cấp kích thước khác nhau Những loại cây gỗ mềm, ưa sáng mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loại cây gỗ cứng, sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mản
Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư (1998) [9] Nghiên cứu thảm thực vật tái sinh trên
đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I (tuổi từ 4 đến 5),
giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và nhận xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có số lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển Sau 3 giai đoạn phát triển thảm thực vật tái sinh trên
đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng
Trang 21trưởng của thảm thực vật không cao
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự nhiên Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [8], biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn cảnh rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) [14] cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh giống như thành phần cây
đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây khác
Đỗ Thị Ngọc Lệ (2009) [ 10 ], thử nghiệm một số phương pháp điều tra tái
sinh rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy, các phương pháp điều tra tái sinh khác nhau sẽ thu được những số liệu biểu thị tái sinh khác nhau về tổ thành, mật độ, nguồn gốc, chất lượng và hình thái phân bố cây tái sinh Căn cứ vào sai số giữa các chỉ tiêu biểu thị tái sinh ở các phương pháp điều tra với phương pháp điều tra toàn diện trên 6 ô tiêu chuấn có diện tích 1000m2, tác giả đã lựa chọn được hai phương pháp phù hợp là phương pháp điều tra 5 ô dạng bản với diện tích mỗi ô là 25m2 (5x5m) và phương pháp điều tra theo dải để điều tra tái sinh rừng tự nhiên
Như vây, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn gốc
từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo
- Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh
Theo Thái Văn Trừng (1978) [17] đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Theo tác giả một công trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là một công trình hình thức, không
có lợi ích thực tiễn Trong các nhân tố sinh thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình TSTN cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán, Phạm Xuân Hoàn (1994) nghiên cứu mật độ cá thể và số lượng loài cây phục hồi sau nương rẫy bỏ hóa tại Con Cuông - Nghệ An; Lâm Phúc Cố (1996) nghiên cứu ở Púng Luông -
Trang 22Yên Bái; Phùng Tửu Bôi - Trần Xuân Thiệp (1997) nghiên cứu ở vùng Bắc Trung
Bộ
Mặt khác, cũng theo Thái Văn Trừng [17] một kiểu thảm thực vật có xuất hiện hay không trước hết phụ thuộc vào khu hệ thực vật ở đó và điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thích hợp Việc tái sinh phục hồi lại rừng trên đất chưa có rừng ngoài việc
bị chi phối bởi khu hệ thực vật thì nó còn chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách từ nơi đó
đến các khu rừng lân cận Thực vật có khả năng tự phát tán để gieo giống hoặc gieo
giống nhờ gió, nhờ nước, nhờ động vật Tuy vậy, phạm vi phát tán để gieo giống của bất kỳ cách thức nào cũng không phải là vô hạn, nên khoảng cách càng xa thì khả năng tái sinh của thực vật càng kém vì càng xa thì mật độ hạt giống đưa đến càng thấp Phạm Ngọc Thường (2001) [15] đã nghiên cứu mối liên quan giữa khoảng cách từ nguồn giống tự nhiên đến khu vực tái sinh trên đất sau canh tác nương rẫy và kết luận: “khoảng cách từ nơi tái sinh đến nguồn cung cấp giống càng
xa thì mật độ và số loài cây tái sinh càng thấp”
- Nghiên cứu về giải pháp về tái sinh phục hồi rừng
Các nghiên cứu liên quan đến phục hồi rừng tự nhiên ở Việt Nam đã được bắt đầu
từ những năm 1960, các đề tài nghiên cứu về phân loại rừng, nghiên cứu cấu trúc, động thái, các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam Trong giai đoạn 1991 - 2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên hầu như bị gián đoạn để tập trung cho nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự nhiên mới được khởi động trở lại
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Từ đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu Tiếp theo, sự ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” những năm 1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt khoa học trong phục hồi rừng
- Nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật rừng trên núi đá vôi
Bùi Thế Đồi (2001) [1] đưa ra một số giải pháp phục hồi rừng trên núi đá vôi: + Đối với kiểu phục thổ nhưỡng kiệt nước trên đất đá vôi xương sẩu ít bị tác
động: khoanh nuôi bảo vệ và cải tạo rừng
+ Kiểu phụ thứ sinh nhân tác trên đá vôi xương sẩu sau khai thác: khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung bằng gieo hạt thẳng
Trang 23+ Kiểu phụ tái sinh nhân tạo phục hồi sau khai thác: khoanh nuôi xúc tiến tái
sinh có trồng bổ sung và trồng rừng bằng cây con có bầu, không bầu và gieo hạt thẳng
- Nghiên cứu khả năng gieo giống từ vách rừng
Đã có nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của cây mẹ tới tái sinh cây loài cây có giá
trị và ý nghĩa sinh thái như các nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng tái sinh tự nhiên
rừng Dẻ Anh - Castanopsis piriformis Hickel & A Camus Ngô Văn Cầm Trung
tâm Lâm nghiệp Nhiệt đới - Viện KHLNVN, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Bá Văn
đã đưa ra kết quả lượng cây tái sinh không những phụ thuộc vào tuổi và chất lượng
cây mẹ mà còn phụ thuộc độ cao phân bố Nghiên cứu đặc điểm phân bố và nguy cơ
tuyệt chủng loài cây Pơ mu ( Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thomas) tại
khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên - Thồng Xuân - Thanh Hoá, Bùi Thị Huyền đã
có kết luận Pơ mu ( Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thomas) chỉ tái sinh bằng hạt không có khả năng tái sinh chồi, khả năng tái sinh của loài phụ thuộc rất
lớn vào sức ra hoa quả của cây mẹ Pơ mu ( Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thomas) chỉ tái sinh mạnh dưới và xung quanh gốc cây mẹ đã gieo hạt Nghiên cứu
đặc điểm sinh học của loài Thông hai lá dẹt (Pinus krempfii) tại lâm phần thuộc
quyền quản lý của VQG Bidoup – Núi Bà Phòng Kỹ thuật & NCKH – VQG Bidoup – Núi Bà đã đưa ra kết quả sự phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng hình thành rừng trong tương lai,
nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện lập địa, đặc tính sinh vât học, phân bố các cây mẹ gieo giống của loài cây tức là loài cây mẹ cần có hệ số tổ thành lớn hơn
5 trở lên
Về nghiên cứu quần thể có liên quan tới tái sinh trong nghiên cứu đặc điểm tái
sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) ở các trạng thái rừng tự
nhiên phục hồi tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang,
Võ Đại Hải và cộng sự [ 3] đã chỉ ra rằng kết quả nghiên cứu cho thấy Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) là loài có khả năng tái sinh rất mạnh với hệ số tổ thành có nơi lên tới 5,3 đối với trường hợp Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) tái
sinh dưới tán rừng trạng thái IIa và biến động từ 2,1-3,0 đối với trạng thái rừng IIb;
Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng trung bình đạt 56%; Tỷ lệ cây Vối thuốc (Schima
wallichii Choisy) tái sinh có chất lượng trung bình và tốt chiếm tỷ lệ rất cao từ 86 -
100%; Cây tái sinh có chiều cao dưới 1m chiếm tỷ lệ 48 - 53%; Mạng hình cây tái sinh có phân bố đều Sở dĩ có kết qủa trên là do tại các trạng thái IIb tỷ lệ cây mẹ gieo giống đã vựợt trội các trạng thái rừng khác
Trang 24- Nghiên cứu về sinh cảnh Vượn Cao Vít
VCV cũng như các loài vượn mào khác sống trong nhiều sinh cảnh rừng, phụ thuộc vào độ cao có thể là sở thích hoặc sự thích nghi đặc thù của loài Theo nghiên cứu trước đây, vượn mào thường sống tại các khu rừng thứ sinh còn có khả năng
đáp ứng được điều kiện sống cho chúng và những khu rừng nguyên sinh, chúng hầu
như không có mặt ở những khu rừng bị tàn phá mạnh Theo Đào Văn Tiến, 1985 [12] thì VCV sống tại trung tâm của khu vực miền Bắc, trong các khu rừng trên núi
đá vôi và rừng núi thấp, trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm ướt, ở độ cao 50-900m
Chúng kiếm ăn ban ngày và sống ở trên cây và rất hiếm khi xuống đất, thức ăn chứa trong dạ dày chủ yếu là các loại quả (Geissmann, 2000) [21]
Hiện trạng rừng khu vực VCV đang sinh sống là rừng trên núi đá vôi, bị tác
động mạnh của con người từ rất nhiều năm trước, nên rừng có chất lượng kém Các
loài cây gỗ lớn đặc trưng như Nghiến (Burretiodendron hsienmu) bị khai thác
mạnh, chỉ còn ít cây tái sinh Độ che phủ của rừng ở Trùng Khánh là 33%, tuy nhiên trữ lượng rừng lại rất thấp, rừng chỉ có hai tầng đó là tầng cây cao và tầng cây bụi xen lẫn cây tái sinh Ở tầng cây cao không có cây lớn, chỉ còn cây nhỡ và nhỏ phân bố rải rác, độ tàn che thấp Đây là điều không thuận lợi cho mọi hoạt động sống của vượn Theo Nguyễn Thị Hiền, 2009 [4] các kết quả quan sát ghi nhận vị trí xuất hiện, kiếm ăn, vị trí ngủ của VCV nhận thấy VCV thường xuyên xuất hiện và kiếm ăn ở các kiểu rừng như sau: kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở thung lũng núi đá vôi, kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh cây lá rộng ở sườn núi đá vôi; kiểu rừng á nhiệt đới thường xanh hỗn giao cây lá rộng và hạt trần ở đỉnh và phụ cận đỉnh núi đá vôi; kiểu trảng bụi nhiệt đới thường xanh thứ sinh Theo nghiên cứu của Pengfei, 2010 [24] khi thực hiện nghiên cứu cấu trúc sinh cảnh của VCV bằng việc đo đếm các chỉ tiêu về chiều cao cây, chiều cao thân cây cho 911 cây có
đường kính từ 10cm trở lên đã xác định được 114 loài của 79 chi và 40 họ tham gia
vào cấu trúc của rừng, cây có chiều cao từ 9 – 32m Cũng trong nghiên cứu này, Pengfei xác định được vùng sống của VCV dao động từ 1,024 – 1,191km2/đàn sau khi theo dõi 3 đàn vượn bên Trung Quốc
Theo quan điểm của tác giả, sinh cảnh sống của VCV phải bao gồm tất cả các mối quan hệ về mặt cấu trúc lâm phần bởi sự tham gia của tất cả các loài thực vật và
động vật khác mà giúp chúng có thể di chuyển, kiếm ăn và duy trì được cuộc sống
tại nơi đó, các nghiên cứu trên chưa phản ảnh hết được các mối quan hệ này
Tóm lại: Các công trình nghiên cứu về tái sinh rừng, biện pháp phục hồi rừng và nghiên cứu về sinh cảnh sống của Vượn Cao Vít trên đây đã làm sáng tỏ
Trang 25phần nào cho chúng ta để hiểu biết về đặc điểm tái sinh rừng, các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng, các phương pháp phục hồi rừng chủ yếu hiện nay Tuy nhiên các nghiên cứu về phục hồi rừng ở khu vực miền núi phía Bắc còn ít ỏi và tản mạn nhất là các khu vực rừng trên núi đá vôi, hạn chế này gây khó khăn cho việc phục hồi và phát triển tài nguyên rừng Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, việc
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu, thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật phục hồi
sinh cảnh rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao vít, Trùng Khánh Cao Bằng” là hướng đi đúng đắn và thiết thực trong công tác phục hồi và phát triển rừng
1.3 Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lí
Khu bảo tồn Vượn Cao Vít tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (KBTVCV) được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ – UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của tỉnh Cao Bằng, nằm hoàn toàn trong địa phận 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê – 3 xã phía Bắc của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Khu bảo tồn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Tây Bắc Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít có tọa độ
địa lý trong phạm vi:
Trang 26(Nguồn: BQL Khu bảo tồn Vượn Cao Vít)
Hình 2.2: Bản đồ Khu bảo tồn Vượn đen Cao Vít Trùng Khánh
Hình:1.2 Sơ đồ Khu bảo tồn Vượn Cao Vít
( Nguồn: FFI)
Tổng diện tích của Khu bảo tồn Vượn Cao Vít là 1656,8 ha, nằm hoàn toàn trên địa bàn 3 xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nậm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Vùng đệm xung quanh KBT với diện tích 5723 ha, là toàn bộ phần diện tích còn lại của ba xã Phong Nậm, Ngọc Khê, Ngọc Côn
1.3.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Địa hình gồm các dãy núi đá vôi xen lẫn các thung lũng Các dãy núi đá vôi bị
chia cắt hình thành các dốc đứng và tháp nhọn riêng biệt, nằm rải rác ở một số nơi tại các thung lũng bằng và nhỏ Độ cao so với mặt nước biển trung bình của khu vực từ 500 đến 800m, cao nhất là 921m Ở độ cao 500m so với mực nước biển nằm dọc bên sông Quây Sơn và lấp bằng bởi phù sa và một phần bởi lớp đá vôi xốp mỏng Phần đất thấp nhất này của khu vực được sử dụng để canh tác nông nghiệp Còn ở độ cao từ 600- 800m so với mặt nước biển chủ yếu là các đồi núi đá vôi Các
đồi núi đá vôi này có sườn rất dốc và nhiều vách dựng đứng Đá ở phần dưới và
giữa sườn thường có lớp đất đá nhưng ở phần trên, đường đỉnh và đỉnh có kết cấu cứng với dạng bào mòn thẳng đứng đặc trưng Song đó lại là môi trường sống độc
Trang 27đáo cho một số loài thực vật bám đá khác biệt, đặc hữu và hiếm và cũng là nơi sinh
sống của Vượn Cao Vít - một trong những loài vượn quí hiếm nhất và có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ
Đông và Đông Nam chủ yếu là đồi trọc đã được giao khoán, khoanh nuôi và trồng rừng
cho các hộ gia đình Núi đá vôi chủ yếu nằm ở phía Tây và Tây Bắc dọc theo biên giới Việt - Trung Trong rừng còn có các thung lũng nằm trong các khe của các dãy núi, nhân dân thường khai phá để trồng màu
1.3.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Khu vực Ba xã Ngọc Khê, Ngọc Côn và Phong Nậm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng như: Nhiệt độ không khí bình quân trong năm là 19,80C Mùa lạnh thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Trong đó từ tháng 12 đến tháng 2, nhiệt độ trung bình thấp hơn 150C Trong đó tháng 1 nhiệt độ trung bình la 11.60 C nhiệt độ thấp nhất trong năm qua là - 30C Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 nhiệt độ trung bình 26.20C Lượng mưa trung bình năm là 1.665,5 mm Mưa tập trung vào các tháng 6, 7, 8 hàng năm và thường gây lũ dọc hai bờ sông Quây Sơn làm ngập lúa và sạt lở hai bên bờ sông Độ ẩm 81 % Gió: Mùa hè có gió Nam và Đông Nam Mùa Đông có gió mùa Đông Bắc thường bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 3 năm sau là loại gió lạnh thường kèm theo mưa nên có nhiều đợt rét đậm, rét hại Ngoài ra còn xảy ra băng giá, sương muối, mưa đá
Trang 28Hệ thống thủy văn gồm hai nhánh sông chính của sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hai hướng từ Ngọc Côn qua Ngọc Khê và qua Phong Nậm Bắt
đầu từ Đông Si - Nà Dào - Tẩu Bản - Pác Ngà - Bó Hay (xã Ngọc Côn) với chiều dai
18km rộng trung bình 9m Nhánh thứ hai chảy qua Đà Bè - Nà Hau - Nà Chang - Giộc Rùng (xã Phong Nậm) rồi chảy về xã Ngọc Khê qua Giộc Sung - Pác Thay - Đỏng Dọa với chiều dài 14m rộng trung bình 8m Hai nhánh này chảy qua ba xã và bao quanh KBT rồi gặp nhau tại Giàng Nốc Ngoài ra khu vực các xã còn có nhiều ao, hồ đặc biệt
xã Ngọc Côn còn có hồ Bó Yươi (Bản Mài) rộng khoảng 2ha cung cấp một lượng lớn tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp của 2 xóm Mìa và Nhom (xã Ngọc Khê)
1.3.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội
1.3.2.1 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội xã Ngọc Khê
Tổng diện tích của xã là 2.810,37 ha đất tự nhiên Xã có 10 xóm gồm: Giộc Sung, Nà Lỏng - Nà Gạch, Pác Phiao - Pác Thay - Đỏng Dọa, Ta Nay, Đỏng Ỏi,
Giộc Sâu, Lũng Hoài, Nhom, Nà Bai - Kha Muông
* Dân số và dân tộc
Theo số liệu điều tra năm 2012 xã Ngọc Khê có 602 hộ với 2443 khẩu Gồm các
dân tộc cùng chung sống đó là Tày, Nùng, Kinh
Bảng 1.1 Dân số xã Ngọc Khê năm 2012
TT Dân tộc
Số hộ Số nhân khẩu
Ghi chú
Số lượng (hộ)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Khê)
Bảng 1.1 Thành phần dân tộc xã Ngọc Khê chủ yếu là dân tộc Tày 495 hộ chiếm 82.2% với 2014 khẩu chiếm 82.44%, dân tộc Nùng có 107 hộ chiếm 17.8% với 428 khẩu chiếm 17.52%, dân tộc Kinh có 1 người chiếm 0.04%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy vợ (chồng) người Tày con cái của họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục Tày
* Văn hóa xã hội
Giáo dục: Xã Ngọc Khê có 02 trường tiểu học là Trường tiểu học An Hỷ và Tiểu học Ngọc Khê và 01 trường THCS Ngọc Khê Trong năm học 2010-2012, xã
Trang 29có 09 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp huyện, 35 giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp trường, 2 giáo viên chưa đạt chỉ tiêu, có 23 học sinh giỏi, 118 học sinh khá,
278 học sinh trung bình, 50 học sinh yếu Qua đánh giá việc thực hiện, công tác giáo dục đã đạt được nhiều kết quả tích cực Luôn duy trì nâng cao chất lượng dạy
và học kiểm tra thường xuyên hệ thống thành tích đảm bảo sĩ số học sinh trong các
trường
Về y tế: Trạm xã có 3 cán bộ trong đó 1 y sỹ; 1 y học cổ truyền và 2 nữ hộ sinh, 1 nữ hộ sinh kiên dược tá Có 10 y tế thôn bản trong đó đã qua đào tạo 9 tháng là: 7, qua đào tạo 3 tháng là 2, chưa qua đào tạo 1 Chăm sóc khám chữa bệnh cho nhân dân duy trì được thường xuyên 4033 lượt người Nhìn chung đội ngũ cán bộ làm công tác Y tế dân số KHHGD hoạt động đều đã tuyên truyền trực tiếp được 33 lần, 1615 lượt người nghe, thăm hộ 2314 lần, tạp san 298 quyển, mặc dù gặp không
ít khó khăn nhưng với sự cố gắng của tập thể cán bộ từ xóm đến xã làm tốt công tác tuyên truyền vận động
Hệ thống điện lưới: Trên địa bàn toàn xã Ngọc Khê đã có điện, nhờ có điện mà mọi sinh hoạt của người dân được thuận lợi hơn
Về hệ thống đường giao thông: Các xóm được hỗ trợ làm đường bê tông nông thôn, hiện nay hoàn thành và nghiệm thu đưa vào sử dụng tại các xóm như: Xóm Pác Phiao, Nà Bai - Khả Mong, Ta Nay, Pác Thay, Đỏng Ỏi, Lũng Hoài Đường giao thông liên xóm tuyến Pác Thay - Giộc sung- Nà lỏng khởi công từ tháng 8 năm
2009 đến 30 tháng 11 năm 2012 hiện nay đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng Tuyến đường giao thông Giộc Sâu - Hang Ngườm Hoài, Bản Nhom đã giải phóng mặt bằng và hiện nay đang thi công
Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa
xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu kỹ thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ
có điện thoại Đặc biệt là có thể hiểu được những chính sách của Đảng và nhà nước
trong phát triển kinh tế xã hội
Hệ thống thủy lợi: Xã có hệ thống kênh mương Bắc Trùng Khánh chạy dọc hai bên bờ sông Quây Sơn, hiện nay đang thi công xây dựng tuyến mương nội đồng, xã hỗ trợ 8 giếng khoan tại 5 xóm cung cấp nước sạch cho người dân
1.3.2.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội xã Ngọc Côn
Trang 30Theo Nghị định số:183/2007/NĐ- CP của Chính phủ, xã Ngọc Côn được thành lập với 2.367,63 ha diện tích đất tự nhiên, đến năm 2011 cả xã có 535 hộ với 2.523 nhân khẩu Xã Ngọc Côn gồm có 09 đơn vị hành chính trong đó có 07 xóm giáp biên giới quốc gia, đường biên giới dài 13,5km đó là Đông Si - Nà Dào, Pác Ngà -
Bó Hay, Phia Muông, Pò Peo, Phia Mạ, Khưa hoi, Keo giáo, Bản mài, Phia Siểm
Số lượng (khẩu) Tỉ lệ (%)
Tổng 535 100.00 2523 100.00
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của ban dân số KHHGĐ xã Ngọc Côn)
Thành phần dân tộc Tày có 533 hộ, chiếm 99.63% với 2509 khẩu chiếm 99.45%; dân tộc Nùng có 2 hộ chiếm 0.37 % với 10 khẩu chiếm 0.4 %; dân tộc Kinh có 4 người chiếm 0.15%, dân tộc Kinh là người từ dưới xuôi lên lấy vợ (chồng) người Tày con cái của họ khai sinh lấy dân tộc Tày và sinh hoạt theo phong tục Tày
* Văn hóa xã hội:
Về giáo dục: Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, tỉ lệ con em đến trường đạt 100%, phát động phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, nói không với tiêu cực trong thi cử Xã có 01 trường mầm non, 02 trường tiểu học Trong đó có 163 học sinh tiểu học với 20 giáo viên giảng dạy, số trẻ mẫu giáo 119 em với 08 giáo viên Theo kết quả kiểm tra của phòng Giáo dục các trường đều đạt loại khá Cơ sơ vật chất trường học được nhà nước quan tâm đầu tư, nhà trường đã chăm lo bán trú
được cả lớp 1, 2 Bên cạnh đó xã còn nhiều khó khăn như thiếu trang thiết bị dạy và
học, nơi vui chơi cho các cháu mầm non…
Về y tế: Hàng tháng có tổ chức tiêm phòng thực hiện đầy đủ chương trình mục tiêu quốc gia như chăm sóc sức khoẻ cho bà mẹ mang thai, cân trẻ hàng tháng phòng chống suy dinh dưỡng, tổ chức tuyên truyền vận động bà mẹ trẻ em khám
Trang 31sức khoẻ định kỳ, cấp thuốc bảo hiểm cho nhân dân theo đúng quy định Tuy nhiên, hiện nay Trạm y tế xã Ngọc Côn chưa được xây dựng nên công tác khám chữa bệnh còn phụ thuộc vào trạm y tế xã Ngọc Khê do đó vẫn còn nhiều khó khăn trong việc chăm sóc sức khoẻ của người dân
Giao thông: Các xóm đã có đường bê tông nông thôn với chiều dài 3030m
Công trình đường cầu ngầm Phia Siểm - Keo Giáo đang được tiếp tục thi công Trụ
sở UBND, mở rộng trụ sở Trạm y tế xã với diện tích 659.2m2 đang được khởi công
Thông tin liên lạc: Việc liên lạc của người dân phụ thuộc vào bưu điện văn hóa
xã, đồng thời là thư viện để bà con trong xã đến đọc và tìm hiểu kỹ thuật phục vụ sản xuất, cuộc sống Hiện nay khoảng 95% số hộ được xem truyền hình, 80% số hộ
Bảng 1.3: Dân số xã Phong Nậm năm 2012
TT Dân tộc
Số hộ Số nhân khẩu Ghi chú
Số lượng (hộ)
Tỷ lệ (%)
Số lượng (khẩu) Tỷ lệ(%)
Tổng 308 100 1358 100
(Nguồn: UBND xã Phong Nậm năm 2012)
* Văn hóa xã hội:
Trang 32Về giáo dục: Xã Phong Nậm có hệ thống giáo dục từ mầm non đến trung học
cơ sở Hiện nay, trường lớp đã hoàn thành đáp ứng đủ nhu cầu của con em trong xã,
cơ sở vật chất của trường tương đối đầy đủ có tủ sách phòng đọc trong xã 100% trẻ đều đi học
Về y tế: Trạm y tế xã có 3 người trong đó có 2 y sĩ và 1 hộ sinh Ngoài ra còn
có 9 y tế thôn bản, cả xã có 5 tủ thuốc y tế thôn bản tại các xóm Về công tác y tế đã quan tâm chăm sóc sức khoẻ nhân dân thường xuyên, trạm luôn đẩy mạnh triển khai các hoạt động tuyên truyền vận động các chiến dịch chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả tốt
Giao thông: Xã có đường giao thông trục chính chạy dọc xã từ Bắc xuống Nam qua xã Khâm Thành tới trung tâm huyện Với sự quan tâm của nhà nước, hệ thống này được nâng cấp tương đối tốt xe ôtô có thể đi vào đến trung tâm xã và một
số nơi của xã, nhưng vẫn có một số xóm ở sâu giao thông chưa được thuận lợi như
Đà Bè, Lũng Điêng
Hệ thống điện lưới: Được đầu tư của nhà nước, phần lớn số hộ trong xã đều có
điện lưới quốc gia phục vụ nhu cầu sinh hoạt của nhân dân cải thiện rõ bộ mặt nông
thôn miền núi
Hệ thống thuỷ lợi: Cả xã có hệ thống kênh mương tự chảy (kênh Cò Pao) chạy dọc theo 2 bên sông Quây Sơn từ đầu xã đến cuối xã, đây là công trình thuỷ lợi chủ yếu cung cấp nước cho toàn xã
* Nhận xét chung
- Thuận lợi
Địa bàn ba xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, và Phong Nậm được thiên nhiên ưu đãi với
khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều và hệ thống sông Quây Sơn chạy xung quanh
địa bàn hai xã rất thuận lợi cho việc gây trồng các loại cây nông nghiệp, địa hình bị
chia cắt bởi các dãy núi và thung lũng thảm thực vật phong phú có nhiều loài đặc hữu,
đây cũng là tiềm năng cho phát triển ngành lâm nghiệp và sinh kế cho người dân vùng đệm KBT
Là các xã vùng sâu, vùng xa, giáp biên giới nhưng nhân dân ba xã luôn nhận
được sự quan tâm, ưu ái của nhà nước Cơ sở hạ tầng đang dần hoàn thiện, công tác
giáo dục, y tế luôn được quan tâm phát triển, 100% các xóm có điện, phần lớn các xóm đã có đường bê tông thôn bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu
Trang 33buôn bán của người dân, đồng thời là các xã giáp biên giới nên có nhiều thuận lợi trong việc giao lưu, buôn bán trao đổi hàng hóa với nước bạn
Thông tin liên lạc phát triển, người dân được tiếp thu với nhiều nền văn hóa mới qua các phương tiện báo chí, truyền hình, điện thoại
- Khó khăn và tồn tại
Địa hình chủ yếu là đồi núi, bị chia cắt bởi các dãy núi và thung lũng người
dân thiếu đất canh tác sản xuất nông nghiệp
Người dân ở đây là đồng bào các dân tộc Tày và Nùng Sản xuất chính phụ thuộc vào ngành nông, lâm nghiệp truyền thống, chủ yếu là làm nương rẫy và phụ thuộc vào Tài nguyên rừng
Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn và thiếu thốn đặc biệt là về y tế và trường học, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân
Trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế việc tiếp thu với nền văn hóa mới, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng còn gặp nhiều khó khăn
Các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm về tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho người dân còn ít và không đồng đều
Trang 34CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đánh giá về đối tượng tác động
2.1.1.1 Đặc điểm chung khu vực lựa chọn nghiên cứu
2.1.1.2 Nghiên cứu đặc điểm cây tầng cao (cây non) và khả năng tái sinh tự nhiên của khu vực bỏ hóa sau canh tác tại vùng lõi khu bảo tồn
2.1.2 Nghiên cứu vai trò của vách rừng tới khả năng gieo giống và phục hồi rừng khu vực sau canh tác
+ Xác định thành phần loài cây chính (cây mẹ) trong khu vực rừng (vách rừng) xung quanh khu vực bỏ hóa sau canh tác
+ So sánh thành phần loài cây tái sinh với thành phần loài cây mẹ trong vách rừng xung quanh
+ Đánh giá khả năng phát tán hạt giống của một số loài chính xuất hiện tại khu vực nghiên cứu
2.1.3 Nghiên cứu thử nghiệm một số biện pháp lâm sinh nhằm tăng khả năng phục hồi rừng tại khu vực bỏ hóa sau canh tác ở khu bảo tồn
+ Khả năng nhân giống trong vườn ươm tại chỗ của một số loài cây bản địa làm thức ăn cho Vượn tại khu vực nghiên cứu: thử nghiệm 2 hình thức nhân giống bằng hạt và giâm hom
+ Xúc tiến tái sinh kết hợp với trồng bổ sung:
Xúc tiến tái sinh: Thử nghiệm các biện pháp xúc tiến tái sinh tự nhiên có tác
động từ đó đánh giá khả năng sinh trưởng cây tái sinh, khả năng tái sinh
Trồng bổ sung: sử dụng các loài cây bản địa mọc tự nhiên trong vùng và từ vườn ươm tại chỗ, các loài này được lựa chọn trong việc trồng để mở rộng khả năng cung cấp thức ăn cho vượn và tăng khả năng di chuyển của đàn vượn qua các khoảng trống do canh tác nương rẫy gây ra
2.1.4 Đề xuất một số biện pháp nhằm phục hồi rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn Cao Vít được tốt hơn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Để phân chia các đối tượng cần phục hồi cần tiến hành đánh giá đúng các đối
tượng cần tác động Trên cơ sở đó sẽ đưa ra được các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
2.2.1 Cách tiếp cận
Trang 35Thu thập thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội của
địa bàn nghiên cứu từ các báo cáo, số liệu thống kê, những văn bản liên quan của
các địa phương và các ban ngành có liên quan
Tiếp cận cơ quan, cán bộ ngành, người dân trong các khu vực nghiên cứu; nghiên cứu về thực trạng phân bố, đặc điểm đối tượng nghiên cứu được xác định thông qua việc điều tra thu thập thông tin từ ban quản lý khu bảo tồn, hạt kiểm lâm Trùng Khánh Tại xã Ngọc Côn, Ngọc Khê và Phong Nậm đã điều tra thu thập thông tin từ Uỷ ban nhân dân xã, địa chính xã, hộ gia đình, kết hợp tổ chức các cuộc thảo luận tại mỗi điểm nghiên cứu
Thu thập các tài liệu nghiên cứu liên quan tới nghiên cứu tái sinh của các tác giả trong và ngoài nước qua thư viện, thư viện điện tử và cơ quan nghiên cứu
Đề tài thực hiện một số thử nghiệm biện pháp lâm sinh nhằm phục hồi rừng
sau canh tác nương rẫy tại khu bảo tồn theo chương trình của khu bảo tồn loài và sinh cảnh Vượn Cao Vít
Chuẩn bị các trang thiết bị cho công tác ngoại nghiệp: Các loại bảng biểu, Máy
ảnh, La bàn, GPS cầm tay, các loại thước đo, bản đồ địa hình, ống nhòm
2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.2.2.1 Xác định khu vực nghiên cứu
- Lựa chọn khu vực nghiên cứu tái sinh và đánh giá ảnh hưởng của vách rừng
Là khu vực các lũng có sự tác động của con người trong nhiều năm tại vùng lõi, đây là khu vực đất có tầng đất dầy hơn cả trong khu vực núi đá vôi Tuy nhiên thực vật sau phục hồi canh tác nương rẫy chủ yếu là lau, sậy, cỏ tranh, cỏ lông và dây leo trên đó các cây gỗ mọc rải rác và bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của cỏ dại rất nhiều, mặc dù đã bỏ hóa 5 – 7 năm
Tiến hành điều tra thu thập các thông tin đầy đủ trên địa điểm nghiên cứu Chọn các nơi sinh cảnh rừng trước đây đã bị tác động mạnh của con người như khai thác chọn các loài cây gỗ và canh tác nương bãi Đề tài lập 2 OTC trên 2 địa điểm phục hồi sau canh tác khác nhau 1 OTC trên khu vực sau canh tác 4 năm 1 OTC trên khu vực sau canh tác 6 năm
- Lựa chọn khu vực xây dựng Vườn ươm
Mục đích thành lập Vườn ươm tại chỗ là để có các cây con phục vụ cho việc phục hồi sinh cảnh cho loài Vượn Cao Vít Vườn ươm được kết hợp với người dân
để thực hiện Việc lựa chọn, xây dựng vườn ươm là những khu vực được bố trí tại
khu vực chủ động nước để tiện cho việc tưới tiêu, mặt khác là tận dụng được các loài cây bản địa để gieo trồng và đây cũng là những loài cây làm thức ăn cho Vượn
Trang 36Qua thực tế khảo sát Vườn ươm được thực hiên tại 2 khu vực: Vườn Ươm đặt tại xóm Nà Thông để có các cây con phục vụ cho khu vực Lũng Eng và lũng Kha
Mỉn và Vườn ươm tại Lũng Nặm là chuẩn bị cây con để phục vụ cho việc trồng cây
phục hồi sinh cảnh tại Lũng Nặm và các khu vực xung quanh khu vực Lũng Nặm,
do có địa hình bằng phẳng và đặc biệt hơn là trong Lũng Nặm có 1 mỏ nước nhỏ
đảm bảo cho việc tưới, chăm sóc cây trong giai đoạn cây còn non Diện tích các
vườn ươm được xây dựng là 50m2
2.2.2.2 Phương pháp lập ô nghiên cứu và thử nghiệm kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng
` + Lập OTC
OTC được thành lập với kích thước tương tự với OTC đã nghiên cứu trước tại khu bảo tồn, 10m rộng x 50m dài (500m2) Trong đó chia thành 20 ô dạng bản kích thước 5 x 5 = 25m2 để nghiên cứu tái sinh và khả năng sinh trưởng của chúng; Các tiểu
ô được bố trí phân đều về 2 phía của đường chính giữa
OTC được lập tại địa hình đồng nhất về độ dốc, tính chất đất và thời gian bỏ hóa sau canh tác
Hình 2.1: Sơ đồ thiết lập ô tiêu chuẩn và các ô dạng bản nghiên cứu
- Nghiên cứu đo đếm tái sinh và khả năng sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên
(không có sự tác động của con người):
Ô dạng bản này để nghiên cứu tái sinh và khả năng sinh trưởng tự nhiên (không có sự can thiệp)
- Nghiên cứu khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và trồng bổ sung:
Ô dạng bản này để nghiên cứu tái sinh và khả năng sinh trưởng dưới điều kiện hỗ trợ giảm sự cạnh tranh của cỏ dại (sử dụng tấm bìa che phủ gốc cây hạn chế cỏ dại): Tấm bìa có dạng hình vuông với chiều dài cạnh là 50cm x 50cm
Toàn bộ diện tích các ô dạng bản này có thể cắt bớt cỏ để xác định cây tái sinh trước (mỗi một cây tái sinh sẽ được đánh dấu bằng cọc và gán nhãn để theo dõi) Sau
đó để nguyên và theo dõi định kì theo các chỉ tiêu trong phụ biểu
Trang 37Ô dạng bản này cũng được làm cỏ trắng để nghiên cứu tái sinh mới đồng
thời kết hợp thử nghiệm trồng bổ sung các loài mục đích (làm thức ăn cho vượn) tại khu vực này
Ô dạng bản này sẽ được làm cỏ trắng để nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh trong điều kiện không bị cạnh tranh của cỏ dại cũng như để phát hiện tái sinh mới hàng tháng
2.2.2.3 Phương pháp lập Vườn ươm đánh giá khả năng nhân giống của một số loài cây làm thức ăn cho Vượn
Lựa chọn từ 3 – 5 loài cây bản địa làm thức ăn cho vượn tại Khu Bảo Tồn,
các loài cây gồm: Cây Dướng (Broussonetia papyrifera), Cây Xoan nhừ - Mạy mừu (Choerospondias axillaries), Dâu da xoan (Spondias lakonensis), Đa lá to (Ficus
hookeriana) và Cây Nhội (Bischofia javanica Blume)
Phương pháp gieo ươm: Sử dụng phương pháp gieo ươm bằng hạt (Cây Nhội
và cây Xoan nhừ); và phương pháp giâm hom (Cây Dướng và Cây Đa lá to); Ngoài
ra cây con dùng cho trồng dặm tại lũng Đảy còn được dùng từ phương pháp đánh tỉa ở khu vực tái sinh nhiều về trồng dặm
Kích cỡ luống gieo ươm, túi bầu được tiến hành theo đúng quy trình lâm sinh
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1 Cây tầng cao (cây non chưa trưởng thành)
Do đây là khu vực canh tác nương rẫy nhiều năm các cây tầng cao đã bị chặt
hạ, sau thời gian bỏ hóa cây tái sinh đã có và sinh trưởng thành cây non chưa trưởng Đo đếm toàn bộ cây non chưa trưởng thành trên OTC (các cây có đường kính D1.3 ≥ 5cm), các chỉ tiêu thu thập: tên loài, chiều cao, đường kính ( biểu mẫu
thu thập phần phụ lục)
Đo chiều cao: Đo chiều cao vút ngọn tất cả các cây đã đo đường kính Đơn vị
đo đếm là cm, đo chính xác đến 1cm
Đo đường kính tán: Đo đường kính tán (Tính trung bình cho đường kính theo
hai hướng: Đông – Tây và Nam – Bắc) cho mỗi cây đã đo đường kính
2.2.3.2 Cây tái sinh
Sau khi lập OTC tiến hành xác định cây tái sinh trên toàn diện tích OTC (các cây có D1.3 ≤ 5cm được coi là cây tái sinh), các chỉ tiêu thu thập:
Trang 38Tên loài cây, chiều cao vút ngọn, tình trạng sinh trưởng, nguồn gốc tái sinh (theo hạt hay theo chồi) Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào,
Chất lượng cây tái sinh: Cây tốt: là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh, còn lại là những cây có chất lượng trung bình ( biểu mẫu thu thập phần phụ lục)
2.2.3.3 Tính chất đất và độ che phủ:
Mẫu đất được lấy ở các vị trí, trên, giữa và cuối ô ở các độ sâu từ 0 – 10 cm; và
từ 10 – 30cm (nơi chủ yếu hạt giống, cây tái sinh có khả năng sinh trưởng phát triển)
Độ tàn che của rừng: dùng máy
Độ che phủ của cây bụi, thảm tươi:
Cây bụi là cây thân gỗ thuộc tầng thấp Chỉ tiêu xác định là: Tên loài cây, số lượng, Phẩm chất, Hvn được đo bằng thước mét, độ che phủ bình quân chúng các loài
được tính theo tỷ lệ phần trăm bằng phương pháp ước lượng
Thảm tươi là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng Chỉ tiêu điều tra: Tên loài cây, chiều cao trung bình, độ che phủ của loài, độ che phủ chúng được xác định bằng phương pháp ước lượng
2.2.3.4 Ảnh hưởng của vách rừng tới khả năng phục hồi rừng
Sau khi xác định được khu vực cần điều tra tiến hành đánh dấu các khu vực có liên quan tới phát tán hạt giống xung quanh khu vực nghiên cứu Các khu vực đánh giá ảnh hưởng vách rừng được lập xung quanh OTC nghiên cứu về khả năng tái sinh rừng
Xác định khoảng cách từ OTC tới các khu vực đo đếm Lập tuyến đo đếm Tiến hành đo chiều cao một số cây điển hình đại diện cho khu vực cần điều tra trên cơ sở
đó tính ra trị số bình quân để suy ra được khoảng cách tối thiểu
Các loài cây được đo đếm gồm những cây đã có khả năng ra hoa ra quả, lấy
đường kính trung bình các cây này từ D1.3 từ 20cm trở lên, vì đây là các cây đã có khả năng ra hoa quả Nguyễn Văn Thêm (2006) [13]
Khi tiến hành đo đếm các loài cây tiến hành theo trình tự:
Trang 39Xác định tên loài cây gồm tên Việt Nam, tên Địa phương (dựa vào cung cấp của người dân đi cùng)
Đo đường kính từng cây bằng thước kẹp kính, chiều cao của cây bằng thước
sào, khoảng cách sử dụng thước dây có chiều dài 50m
Đo toạ độ, đai cao bằng GPS 60CSx, để tránh đo nhiều lần và những cây quá
gần nhau, cứ khoảng cách 30m mới đo toạ độ 1 lần, đối với những loài cây đặc biệt (cây có giá trị làm thức ăn cho vượn cao vít, cây có khả năng phát tán mạnh, cây ở chân vách đá, đỉnh giông ) vẫn đo toa độ
Đặc điểm vật hậu ghi theo diễn biến của các pha vật hậu thể hiện trong thời điểm đo đếm
Các cây sau khi đo đếm đầy đủ các thông số (tên loài, D1.3, Hvn, toạ độ nếu phải đo, khoảng cách, vật hậu), dựa vào khoảng cách, vị trí tiến hành vẽ sơ đồ khu vực điều tra, đo đếm được của từng cây
Các số liệu đo đếm được của từng cây được ghi vào mẫu bảng (Phần phụ lục)
2.2.4 Phương pháp tính toán xử lí số liệu
2.2.4.1 Cây tái sinh và cây tầng cao (cây non)
- Tổ thành cây tái sinh và cây tầng cao (cây non)
Xác định tỷ lệ tổ thành và hệ số tổ thành của từng loài được tính theo công thức:
n%j
.100 n
n
m
1 i
- n%j≥ 5% thì loài j được tham gia vào công thức tổ thành
- n%j < 5% thì loài j không được tham gia vào công thức tổ thành
Trang 40ni: Số lượng cá thể loài i,
N: Tổng số cá thể điều tra
10: hệ số phần mười
Mật độ cây tầng cao và tái sinh
Mật độ cây tái sinh và cây cao:
dt
S
n ha
N = 10 000 ×
Trong đó:
Sdt là tổng diện tích các ÔTC hoặc các ô dạng bản điều tra tái sinh (m2)
n là số lượng cây tầng cao hoặc cây tái sinh của các loài mục đích điều tra
được
Số lượng của loài
Mật độ tái sinh của loài =
Tổng diện tích OTC
Mật độ của một loài
Tỷ lệ % mật độ = x 100
Mật độ các loài
Xác định phẩm chất cây tái sinh
+ Cây tốt (A): là những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh
+ Cây trung bình (B): Là những cây có thân thẳng, tán lá không đều, ít khuyết tật, không bị sâu bệnh
+ Cây xấu (C) : Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều và bị sâu bệnh
Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức:
N% = n/N x 100
Trong đó: N% là tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu
n là tổng số cây tốt, trung bình, xấu
N là tổng số cây tái sinh
Đo đếm định kỳ và xác định cây tái sinh mới trên khu nghiên cứu ( tiến hành
đo đếm định kì mỗi tháng 1 lần)