1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Phân tich công nghệ lò nung của công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai-Xuan phong

41 743 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tich công nghệ lò nung của công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai

Trang 1

VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC

QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC CÔNG NGHỆ

PHÂN TÍCH CÔNG NGHỆ LÒ NUNG CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG

HOÀNG MAI

Nghệ An, tháng 12/2013

Trang 2

Bài tập lớn môn học: Quản trị chiến lược công nghệ

Trang 3

I Tổng quan về công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai tiền thân là Công ty xi măng Nghệ An (trựcthuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An) được thành lập theo Quyết định số2629/QĐ.UBND-CN ngày 07 thang 10 năm 1995 của Ủy bán nhân dân tỉnh Nghệ

An Công ty được hình thành để làm chủ đầu tư dự án xi măng Hoàng Mai đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 216/TTg ngày 15/4/1996 Nhàmáy xi măng có công suất 1,4 triệu tấn xi măng/năm với tổng mức đầu tư 238 triệuUSD từ nguồn vốn vay trong và ngoài nước

Ngày 09/6/1999 dự án xi măng Hoàng Mai tiến hành khởi công đồng loạt cáchạng mục công trình chính thuộc dây chuyền sản xuất và sau 32 tháng khởi côngxây dựng, ngày 06/3/2002, Nhà máy đã cho ra đời những tấn clinker đầu tiên đạtchất lượng tốt

Trước những đòi hỏi về nhu cầu nhân lực nhằm đáp ứng quá trình vận hành nhàmáy và công tác sản xuất kinh doanh lâu dài, được sự chấp thuận của Chính phủ,ngày 30/12/2000, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An và Tổng công ty xi măng ViệtNam đã ký Biên bản bàn giao Công ty xi măng Nghệ An thuộc Ủy ban nhân dântỉnh Nghệ An trở thành thành viên hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty Ximăng Việt Nam và đổi tên là Công ty xi măng Hoàng Mai

Ngày 09/3/2007 Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 367/QĐ-BXD về việcthực hiện cổ phần hóa các công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty

xi măng Việt Nam

Ngày 30/11/2007 Công ty xi măng Hoàng Mai đã tổ chức bán đấu giá cổ phầnlần đầu ra công chúng tại trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội

Ngày 27/02/2008 Hội đồng quản trị Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Namban hành Quyết định số 219/QĐ-XMVN về việc điều chỉnh phương án cổ phần hóa

và chuyển Công ty xi măng Hoàng Mai thành Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai.Ngày 01/4/2008 Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai đã chính thức đi vào hoạtđộng với số vốn điều lệ 720 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước chiếm 510,918 tỷ đồngtương đương 70,96%

Ngày 09/7/2009 Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai chính thức niêm yết72.000.000 cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán của Sở giao dịch chứng khoán

Hà Nội với mã chứng khoán HOM

Ngày 18/8/2011, Đại hội cổ đông Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai đã raQuyết định số 02/QĐ.ĐHCĐ về việc đổi tên Công ty thành Công ty cổ phần ximăng Vincem Hoàng Mai (Vicem Hoang Mai Cenment join stock company)

Tên công ty: Công ty cổ phần xi măng Vicem Hoàng Mai

Trang 4

Tên giao dịch quốc tế: Vincem Hoang Mai Cenment Join Stock Company.

Địa chỉ: Thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Website: http://www.ximanghoangmai.com.vn

1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh

Là một công ty cổ phần khá non trẻ trong hoạt động sản xuất, cung ứng vật liệuxây dựng trên thị trường, Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai đã xác định hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình trong các lĩnh vực sau:

- Sản xuất xi măng và clinker;

- Xuất nhập khẩu xi măng, clinker, thiết bị, phụ tùng, vật tư công nghiệp;

- Khai thác, chế biến khoáng sản;

- Sản xuất, kinh doanh các loại vật liệu xây dựng;

- Xây lắp công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi;

- Kinh doanh đầu tư bất động sản, nhà hàng, khách sạn, du lịch, thể thao;

- Vận tải hàng hóa;

- Đầu tư tài chính;

- Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật

Là đơn vị đầu tiên trong Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam áp dụng

mô hình tiêu thụ sản phẩm qua Nhà phân phối chính, Xi măng Hoàng Mai đã tậndụng được năng lực của xã hội trong tiêu thụ sản phẩm và xác lập lợi ích hài hòagiữa nhà sản xuất và nhà phân phối Hiện nay, công ty có 33 nhà phân phối chínhtrên toàn quốc, trong đó có 3 nhà phân phối dự án

Sản phẩm của Công ty không những tham gia xây dựng công trình của các tầnglớp dân cư mà còn tham gia các dự án lớn như: cầu Vĩnh Tuy (Hà Nội), thủy điệnBản Vẽ (Nghệ An), thủy điện Hương Sơn (Hà Tĩnh), Trung tâm hội nghị Quốc gia(Hà Nội), dự án thủy lợi - thủy điện Cửa Đạt (Thanh Hóa), thủy điện Hố Hô (QuảngBình), thủy điện Buôn Kơup (Đắc Lắc)

Từ tháng 8 năm 2004, Công ty đã được Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêuchuẩn thuộc Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp Giấy chứng nhận phùhợp tiêu chuẩn ISO 9001 và ISO 14001 Sản phẩm của công ty đã đạt nhiều huychương vàng tại các Hội chợ, Triển lãm tổ chức tại Hà Nội, Thành phố Vinh, NhaTrang, thành Phố Hồ Chí Minh; Giải thưởng Sao vàng đất Việt năm 2004; giảithưởng chất lượng Việt Nam năm 2004; giải thưởng hàng Việt Nam chất lượng cao

do người tiêu dùng bình chọn năm 2005; giải thưởng vàng chất lượng năm 2005 vàBằng khen của Thủ tướng Chính phủ

Quan điểm phát triển của Công ty:

- Về đầu tư: Các dự án đầu tư ới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế- xã hội, sảnphẩm có sức cạnh tranh cao trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; sử

Trang 5

dụng tài nguyên hợp lý, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử, cảnh quan môitrường, an ninh quốc phòng và thuận lợi giao thông.

- Về công nghệ: Sử dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, tự động hóa ở mứccao, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm tối đa nhiên liệu, nguyên liệu, điệnnăng; tận dụng tối đa năng lực của ngành cơ khí trong nước để phát triển nội lực,giảm nhập khẩu, đa dạng hóa sản phẩm xi măng, đảm bảo các tiêu chuẩn về chấtlượng sản phẩm và bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế

- Về nguồn vốn: Huy động tối đa các nguồn vốn trong nước để đầu tư Đa dạnghóa các phương thức huy động vốn, kể cả hình thức đầu tư để các thành phần kinh

tế tham gia đầu tư sản xuất xi măng

1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý công ty

Bộ máy quản trị của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng, cấpdưới thực hiện nhiệm vụ từ cấp trên trực tiếp, các cấp quản lý khác nhau, cácphòng ban khác nhau đều có mối quan hệ tương hỗ nhau để hoạt động sản xuấtkinh doanh luôn được vận hành thông suốt Đồng thời các cấp quản lý dưới, ngoàichức năng và nhiệm vụ chuyên môn thì cũng phải có nhiệm vụ cung cấp thông tin

về công việc và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cho cấp trên

để làm cơ sở cho việc ra quyết định quản trị

Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty:

- Ban quản trị: gồm Hội đồng quản trị

- Ban điều hành: gồm Giám đốc và các Phó Giám đốc

- Ban kiểm soát: gồm Trưởng Ban và các Ủy viên

- Hệ thống phòng, ban: phòng Tổ chức; phòng Tài chính- Kế toán;phòng Thí nghiệp KCS, phòng Kỹ thuật sản xuất, phòng Vật tư, phòng Đầu

tư xây dựng, phòng Cơ điện, phòng Bảo vệ; Văn phòng

- Các xưởng, xí nghiệp: xưởng Khai thác mỏ; xưởng Clinker; xưởng

Xi măng; xưởng Xây dựng dịch vụ; xưởng Điện tự động hóa; xưởng Cơkhí

- Trung tâm tiêu thụ sản phẩm

1.4 Sản phẩm chính của công ty:

a) Xi măng Pooclăng, Pooclăng hỗn hợp (PCB, PC)

- Xi măng PC40

Sản phẩm PC 40 có ưu điểm đáp ứng được cho xây dựng mọi công trình như: cầuđường, nhà dân dụng, nhà cao tầng, xây dựng thủy điện, và các công trình đặcbiệt, chống xâm thực trong các môi trường, có cường độ nén cao, cường độ uốn,

độ bền hóa học cao, phù hợp với khí hậu Việt Nam

- Xi măng PCB 40

Trang 6

Sản phẩm PCB 40 có ưu điểm đáp ứng được cho xây dựng mọi công trình như:cầu đường, dân dụng, nhà cao tầng, xây dựng thủy điện, và các công trình đặcbiệt, chống xâm thực trong các môi trường, có cường độ nén cao, cường độ uốnuốn, độ bền hóa học cao, phù hợp với khí hậu Việt Nam.

- Xi măng PCB 30

Sản phẩm PCB 30 có ưu điểm đáp ứng được cho xây dựng mọi công trình như:nhà dân dụng, nhà cao tầng, cầu đường, xây dựng thủy điện, với giá thành sảnphẩm thấp, chống xâm thực trong các môi trường, độ bền cao, có hệ số dư mác cao,

độ dẻo lớn, phù hợp với khí hậu Việt Nam

b) Xi măng chịu mặn

Xi măng Pooclăng hỗn hợp chịu mặn là xi măng có khả năng chịu tác động ănmòn của môi trường xâm thực Được sản xuất phù hợp theo tiêu chuẩn Việt NamTCVN 7711-2007, xi măng được sản xuất bằng cách nghiền mịn hỗn hợp clinkerPortland, thạch cao với các loại phụ gia xi măng có tác dụng tăng cường khả năngchống xâm thực bởi sulfat cho xi măng Xi măng Portland hỗn hợp bền sulfat được

sử dụng cho những công trình chịu tác động của nước biển, vùng đất nhiễm mặn,…giúp tăng cường khả năng chống ăn mòn của các ion sulfat, clo cho bê tông, bảo vệ,tăng độ bền của công trình

II Phân tích thực trạng công nghệ của công ty trước khi đổi mới.

2.1 Mô tả công nghệ sản xuất xi măng lò đứng

Xi măng là một trong những loại vật liệu được con người sử dụng từ rấtlâu.Ngành xi măng thế giới liên tục phát triển và hoàn thiện.Xi măng được

sử dụng rất nhiều trong xây dựng và trở lên rất phổ biến

 Thành phần xi măng chủ yếu gồm oxit: CaO :59-67%; SiO2 26% ; Al2O3 :4-9% ,Fe2O3 :2-6% ; MgO :0.3-3%

:16- Xi măng được cấu tạo bởi 4 thành phần chính1) C3S = 61,53 (3 CaO.SiO2 )

1) C2S =14,86 (2 CaO.SiO2 )2) C4AF =11.,43 ( 4CaO.Al2O3 Fe2O3 )3) C3A =8,41 ( 3 CaO.Al2O3 )

 Bụi xi măng chứa bụi silicat  độc  bệnh hô hấp

Công nghệ sản xuất

 Đá vôi : một trong những nguyên liệu chính để cung cấp CaO cho sản xuất xi măng.Gồm 3 loại:

Trang 7

 Đá vôi Dvon Trung D2: hạt rất nhỏ ,mịn,đồng nhất Thành phần hỗn hợp CaO >= 50% ; MgO< 1,5%

 Đá vôi Carbon Trung Pecni :hạt rất nhỏ mịn màu xám

sáng,hạt nhỏ Thành phần hỗn hợp :CaO > 48,8-54% ;MgO 2,83%

=0,4- Đất sét (dễ khai thác ) : cung cấp Al2O3 ,Fe2O3 ,SiO2

 Phụ gia điều chỉnh :cung cấp đủ các thành phần oxit mà trong đất sét chưa đủ Nếu thiếu Al2O3  dùng quặng Boxit ; nếu thiếu Fe2O3  dùng xir quặng đốt lò cao ; nếu thiếu SiO2  dùng các loại quặng bị phong hóa;

 Phụ gia khoáng hóa :dùng chủ yếu trong xi măng lò đứng ,sử dụng các chất có chứa Flo Ví dụ :Cà2 ; Na2SiF6

 Thạch cao :nhằm điều chỉnh thời gian đông kết của xi măng

 Phụ gia xi măng : trộn thêm nhằm sản xuất các loại xi măng có máckhác nhau

 Nhiên liệu : phụ thuộc lò nung,có thể sử dụng nhiên liệu ở các dạngrắn ( than đá ),lỏng (dầu FO ), khí ( khí thiên nhiên )

Trang 8

b) Quy trình công nghệ xi măng lò đứng

Bụiồn

Đập,nghiền

Đóng bao

Trộn Ủ clinke Đập ,cán

Trang 9

Nung clinke : quyết định chất lượng sản phẩm ,quyết định chất lượng môi trường.

Ủ clinke : nhằm tạo sản phẩm cơ bản ,có độ xốp ,tăng độ kết dính

Nhiệt độ cao  tăng độ đông kết  đập,nghiền  sản phẩm mịn

 Gia công nguyên liệu :đá vôi,đất sét,thạch cao,phụ gia xi măng được dập,cán,sấy,đạt tiêu chuẩn yêu cầu (150-300 mm) vào xilo hoặc khochứa

 Nghiền phối liệu : nguyên liệu được trộn theo đơn phối liệu ,sau đó được nghiền mịn ,đạt đến kích thước 0,06 -0,07 mm Nếu sản xuất theo phương pháp ướt ,bột liệu sẽ được trộn với nước và nghiền trong máy nghiền bi ướt

 Nung clinke: phối liệu sau khi được nghiền mịn ,được đưa vào nung trong lò nung

 Phối liệu vào nung trong lò quay theo phương pháp ướt là dạng bùn

 Phối liệu vào nung trong lò quay theo phương pháp khô là dạng bột khô

 Phối liệu vào nung trong lò đứng là dạng cầu viên  bột liệu phải qua máy vê viên tạo viên 8-12mm

Trong quá trình nung ,dưới tác dụng của nhiệt độ cao,các cấu tử trong phối liệu phản ứng với nhau tạo thành các phần oxit của xi măng

 Ở nhiệt độ khác nhau ,các quá trình hóa học thuận nghịch xảy ra khác nhau ( nhiệt độ cao nhất :1450 0 C )

 Các quá trình hóa lý xảy ra khi nung :

 Ở 200 0C ,tách nước liên kết,sự tách nước nay kết thúc ở 950

Trang 10

S+ O2 SO2

Nếu sử dụng các hợp chất hoạt hóa có chưa Flo  tạo khí HF rất độc hiện nay đã hạn chế sử dụng

Xảy ra quá trình đốt than  khói lò

Ủ clinke : sau khi qua giai đoạn làm lạnh ,clinke được ủ trong kho hoặc trong xilo trong khoảng 10- 15 ngày để các CaO tự do còn lại trong clinke phản ứng với nước trong không khí tạo Ca(OH)2 nở thể tích làm cho clinke dễ nghiền và làm cho xi măng không nở nữa  tăng chất lượng xi măng

Nghiền xi măng :clinke được phối trộn với các hạt phụ gia xi măng và thạch cao theo công thức phối liệu của xi măng và được nghiền để đạt độ mịn nhất định

 Bột được nghiền đạt độ mịn yêu cầu sẽ cho qua thiết bị phân ly.Bột được nghiền không đạt độ mịn yêu cầu cho quay trở lại máy nghiền

 Bột đạt độ mịn được gầu tải đưa vào các xilo chứa Trong các xilo, xi măng được đảo trộn để đồng nhất ,tránh hiện tượng vón cục

Đóng bao xi măng : cho xi măng vào các túi 50Kg,hạt xi măng

mịn,nhỏ,dễ phát tán trong không khí  bụi

2.2 Nguyên nhân dẫn đến đổi mới

a) Vấn đề ô nhiễm bụi và kiểm soát xử lý ô nhiễm bụi trong sản xuất xi măng lòđứng

Bụi là một tập hợp nhiều hạt vật chất vô cơ hoặc hữu cơ có kích thước nhỏbé.Tồn tại trong không khí dưới dạng bụi bay, bụi lắng,và các hệ khí dung gồmhơi ,khói mù

Tuỳ theo kích thước mà bụi được chia thành: Bụi lắng và bụi lơ lửng

Bụi có kích thước từ:0.1 đến 10µm gây ảnh hưởng tới phổi.Bụi có nhiều tác hạitới sức khoẻ con người:Gây các bệnh về đường hô hấp,ung thư,các bệnh ngoàida,bệnh về mắt…

Bụi xi măng mang tính chất cộng hợp : chứa nhiều bụi silicat (trơ,tác động kiểu

cơ học ) và chất kiềm tan(tác động kiểu hoá học)

Kích thước của bụi xi măng (4 – 100µm)

Từ quy trình công nghệ sản xuất xi măng lò đứng.Có thể nhận thấy bụi phát sinh

từ hầu hết các công đoạn : đập cán.trộn, nghiền ,nung clinke, đóng bao quá trìnhvận chuyển,…Do tiêu tôn nhiều nhiên liệu hơn xi măng lò quay nên lượng bụi củacác nhà máy xi măng lò đứng thải ra là lớn hơn.Bụi từ các nhà máy xi măng không

Trang 11

chỉ làm ô nhiễm nhà máy mà con phát tán gây ảnh hưởng lớn tới các khu vực dân

cư xung quanh.Với đặc tính của bụi xi măng chứa nhiều bụi silicat, đây là loại bụirất độc,có ảnh hưởng rất lớn đến phổi.Trên thực tế có nhiều người lao động tại cácnhà máy xi măng bị các bệnh về đường hô hấp.Không chỉ có các người làm việctrong các nhà máy mà cả người dân xung quanh cũng đang là những nạn nhận của ônhiễm bụi xi măng.Ngoài ra bụi xi măng con ảnh hưởng tới các công trình ,câycối,mùa màng.Trong nhiều hội thảo gần đây về ô nhiễm không khí đã có rất nhiềubáo cáo nói về ô nhiễm bụi xi măng lò đứng ví dụ như tại hội thảo “ô nhiễm khôngkhí ,biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng sức khẻo tại Việt Nam” tiến sĩ DươngHoàng Tùng giám đốc trung tâm quan trắc thuộc tổng cục môi trường cho biết tạimột số nhà máy xi măng lò đứng tại Hải Dương tình trạng ô nhiễm do bụi xi măngđang ở mức trầm trọng ,bụi mù mịt,làm cho nhiều người cảm thấy khó thở.Nồng độchì đo được tại một số nơi cao hơn 10 lần tiêu chuẩn cho phép và đã xuất hiệnnhững bệnh về đường hô hấp và ngoài da.Tại nhiều tỉnh thành cũng xuất hiện tìnhtrạng ô nhiễm tương tự ,gây bức xúc lớn trong nhân dân như ở huyện Kiên Lương –Kiên Giang, Hải Phòng,thành phố Hồ Chí Minh…

Hiện tại ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều các máy sản xuất xi măng lòđứng,phần lớn các máy này có công suất nhỏ,công nghệ lạc hậu

III Phân tích công nghệ mới - Phương pháp lò quay khô:

3.1 Giới thiệu chung:

Sự khác biệt nung clinker theo phương pháp khô ở trong thiết bị lò quay làkhông có vùng bay hơi ẩm phối liệu, bởi vì phối liệu đưa vào lò ở dạng bột khôhoặc có độ ẩm rất thấp Vì vậy mà chi phí nhiệt cho khâu nung clinker giảm tới40%

Lò quay theo phương pháp khô khác nhau về kích thước, dạng hệ thống traođổi nhiệt ngoài lò Vật liệu được đưa vào hệ thống dạng bột khô

Hệ thống trao đổi nhiệt kiểu treo đóng vai trò quyết định trong việc tiết kiệmnăng lượng nhiệt của lò nung clinker XMP phương pháp khô

3.2 Hệ thống trao đổi nhiệt:

Hệ thống tháp trao đổi nhiệt kiểu treo gồm hệ thống xyclon nhiều tầng(hoặc bậc) mắc nối tiếp Mỗi tầng có một hoặc nhiều xyclon (ban đầu chỉ một hoặchai tầng, nay thường bốn hoặc năm, sáu tầng) phía trong các xyclon thường đượclắp gạch chịu lửa cao nhôm Bột phối liệu đã nghiền mịn đi vào các xyclon ở trạngthái lơ lửng có khả năng trao đổi nhiệt rất mạnh với khí nóng do hầu như toàn bộ bềmặt hạt tham gia trao đổi nhiệt Hạt phối liệu rắn theo dòng khí nóng đi vào xyclon

Trang 12

theo hướng tiếp tuyến, chuyển động xoáy vòng theo hướng từ trên xuống dưới, đi từxyclon này vào xyclon khác có nhiệt độ cao hơn.

Chuyển vận phối liệu và khí nóng trong hệ thống trao đổi nhiệt kiểu treoSP

Sau đây chúng ta sẽ phân tích chuyển vận hệ phối liệu _ khí nóng vànhững biến đổi hoá lý cơ bản trong các xyclon hệ bốn bậc

Xyclon bậc I:

Phối liệu (nhiệt độ khoảng 500C_ 600 C) chuyển tới đổ vào ống giữaxyclon bậc I và xyclon bậc II Khí nóng từ xyclon

bậc II ( nhiệt độ khoảng 500 C ) thổi từ dưới lên

cuốn bột phối liệu vào theo phương tiếp tuyến với

các xyclon bậc I Bột phối liệu ở trạng thái lơ lửng

nhận nhiệt từ khí nóng tăng nhiệt độ rất nhanh, các

phản ứng hoá lý (sấy, mất nước hoá học của đất sét)

xảy ra tương ứng với nhiệt độ của bột phối liệu làm

khối lượng riêng hạt bột phối liệu thay đổi Đồng

thời, hạt bột phối liệu chuyển động xoáy trong

xyclon, liên tục va chạm với thành xyclon, va chạm

với nhau mất dần động năng, rơi xuống đáy xyclon,

theo ống dẫn rơi xuống xyclon tầng dưới (xyclon bậc

II), lúc này nhiệt độ phối liệu khoảng 2500C, nhiệt độ

giảm dần, theo ống dẫn khí thoát ra ngoài (nhiệt độ

khí thải ra khỏi xyclon khoảng 3000C )

Quá trình chủ yếu trong xyclon bậc I là sấy

( bay hơi ẩm ), bắt đầu đốt nóng bột phối liệu Khí

thải nhiều hơi ẩm H2O đi vào các hệ thống lọc bụi và

thoát ra ngoài

Xyclon bậc II:

Bột phối liệu từ xyclon bậc I (nhiệt độ 2500C)

rơi xuống ống nối giữa xyclon bậc II và xyclon bậc

II Gặp dòng khí nóng từ xyclon bậc III (nhiệt độ khoảng 6500C) thổi từ dưới lên,phối liệu bị cuốn theo vào xyclon bậc II theo phương tiếp tuyến Tương tự nhưtrên, hạt phối liệu có nhiệt độ tăng từ 2500C lên tới 5000C và rơi xuống ống dẫnkhí thải giữa xyclon bậc III và xyclon bậc IV Khí nóng giảm nhiệt độ tự 650oCxuống còn 5000C đi vào xyclon bậc I

Trang 13

Quá trình hoá lý chủ yếu trong xyclon bậc II là mất nước hoá học của đấtsét, cháy các tạp chất hữu cơ lẫn trong phối liệu, phân hủy MgCO3 và bắt đầuphân hủy CaCO3.

Xyclon bậc III:

Bột phối liệu từ xyclon bậc II rơi xuống ống nôí giữa hai xyclon bậc III và

IV, gặp khí nóng từ xyclon bậc IV thoát ra (nhiệt độ khoảng 8000C), bị cuốn theokhí nóng đi vào xyclon bậc III theo phương tiếp tuyến Trong xyclon bậc III,nhiệt độ bột phối liệu tăng từ 5000C lên tới 6500C và rơi vào ống nối giữa xyclonbậc IV và lò quay nung clinker, gặp khí thải từ lò nung hoặc từ máy làm nguộiclinker (nhiệt độ khoảng 11000C) cuốn vào xyclon bậc IV theo phương tiếptuyến

Quá trình chính trong xyclon bậc III là đất sét mất nước hoá học, phân hủyhầu hết MgCO3 và tăng cường sự phân huỷ CaCO3 Xyclon bậc IV:

Bột phối liệu từ xyclon bậc III rơi vào ống nối giữa xyclon bậc IV và khíthải từ lò quay Nhiệt độ khí đầu vào của xyclon bậc IV khoảng 11000C (là nhiệt

độ khí thải từ lò quay, hoặc nhiệt độ khí làm nguội clinker từ thiết bị làm nguội(còn gọi là gió ba); và ra khoảng 8000C đi vào xyclon bậc III Nhiệt độ bột phốiliệu tương ứng đầu vào 6500C và đầu ra khoảng 8000C đi vào lò quay nungclinker

Quá trình chủ yếu trong các xyclon này là tận dụng nhiệt khí thải từ lònung đốt nóng bột phối liệu Mặc dù nhiệt độ khí thải cao:1000 – 11000C, nhưngquá trình cácbônát hoá trong xyclon bậc IV rất nhỏ (khoảng 10 – 15%) Như vậy,

để tăng hiệu quả quá trình phân hủy cácbônát phải thiết kế thiết bị riêng (calciner)

Phân bố nhiệt trong hệ thống xyclon

Trang 14

Các hệ thống trao đỗi nhiệt:

ILC - Dạng buồng calciner tận dụng gió 3

SLC - D Dạng buồng calciner lắp độc lập có dòng gió 3 từ trên xuống:

Trang 15

SLC – Dạng buồng calciner lắp độc lập

Trang 16

SLC – I Dạng buồng calciner kết hợp:

Trang 17

Lò nung:

Thân lò quay :

Trang 18

Lò quay sẽ được giới thiệu là loại lò quay của Polysius, là loại lò quay tựchỉnh gồm các cơ cấu chính như bệ tự chỉnh, hệ thống dẫn động trực tiếp, đồ gávành lăn răng.

Để bảo vệ lò nung giảm bớt tác động của các yếu tố như nhiệt,ăn mòn hóahọc thì lò cần có lớp gạch chịu lửa

Lò nung có thiết bị trao đổi nhiệt thường được thiết kế quy ước với tỉ lệ L/D

là 14:1 đến 17:1.Những lò này chịu áp lực của quá trình kết khối lớn hơn so với lònung có tỉ lệ L/D từ 15:1 đến 19:1.Lò nung ngắn có tỉ lệ L/D từ 10:1 đến 13:1thường dùng 2 bệ đỡ

Phần liệu vào:

Đầu bịt đầu lò được trang bị vòng

cung ngăn bụi thoát ra ngoài

Đầu bịt đầu lò sẽ bị hỏng trong điều

kiện chịu áp lực trong thời gian dài, khí

nóng và bụi có thể vào, gây ảnh hưởng xấu

đến đầu bịt của lò Vì vậy, đầu bịt cần tăng

cường để duy trì áp suất âm bên trong hệ

thống

Phần liệu ra:

Phía trước bộ phận làm lạnh, đầu bịt lò

nung được lắp giữa ống chụp và lò quay.Bảo

đảm áp suất âm bên trong lò nung vẫn được

giữ ổn định, không tiêu hao nhiều

 Thiết bị làm lạnh dạng ghi được nối

với đầu bịt bằng ống chụp, có thể chịu được

sự chênh lệch giữa áp suất dương ở thiết bị

làm nguội, và áp suất âm ở trong lò nung

 Đầu bịt và ống chụp được làm nguội

bằng quạt

Đồ gá vành lăn răng

Đồ gá vành lăn răng bao bọc xung quanh vỏ lò có tác dụng truyền momentxoay từ bộ truyền động con lăn tới vỏ lò, dưới tác dụng của lực ma sát, làm cho lò

có thể quay Đồ gá vành lăn răng này bao gồm các then bên trong kết nối với vỏ lò

và bao bọc toàn bộ thân lò Khi con lăn quay, nhờ ma sát, vành lăn răng sẽ quay

Trang 19

theo, kéo theo các then bên trong tác dụng lực theo phương tiếp tuyến với lò, làmcho lò chuyển động cùng chiều với vành lăn răng.

Để tránh mài mòn vỏ lò và xảy ra tình trạng trượt giữa vành lăn răng và vỏ

lò, các vành lăn này được lắp đặt sao cho có lớp đệm và khoảng trống, giữa nó vớilò

 Do lực ma sát thấp nên gần như không phải bão dưỡng

Trang 20

 Khoảng trống lớn của vành lăn làm cho có thể đốt nóng lò nhanh.

 Hao mòn vật liệu chịu lửa ít

Vòng răng:

Bộ phận truyền động của lò nung

là bánh răng truyền và vòng răng

Để lò chuyển động hiệu quả và an toàn cần có những yếu tố cơ bản sau:

 Kích thước chính xác

 Phân bố tải trọng đồng đều trên sườn răng,không tập trong ở đỉnh

 Vòng răng và bánh răng truyền được bọc kín tránh bụi,được bôi trơn bằng dầu

Đối với lò 2 bệ đỡ,tải trọng phân bố đều 2 bệ đỡ này.Do đó có thể không sửdụng truyền động bằng vòng răng thay vào đó là bệ đỡ con lăn để truyền momenquay đến vòng đai

Ngày đăng: 05/05/2016, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w