1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chế tài trong thương mại – Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần than Hà Tu

64 600 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 347,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC TÓM LƯỢC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT LỜI MỞ ĐẦU 1 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu. 1 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan. 1 3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu. 3 4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4 4.1 Đối tượng nghiên cứu. 4 4.2 Mục tiêu nghiên cứu. 4 4.3 Phạm vi nghiên cứu. 4 5. Phương pháp nghiên cứu. 5 6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5 CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 7 1.1 Một số khái niệm cơ bản về chế tài trong thương mại 7 1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại 7 1.1.2 Đặc điểm của chế tài thương mại 9 1.1.3 Vai trò của các chế tài thương mại 11 1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 13 1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 13 1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 15 1.3 Yêu cầu về pháp luật điều chỉnh về chế tài trong thương mại 18 1.3.1 Căn cứ chung để áp dụng chế tài 18 1.3.2 Mối quan hệ giữa các chế tài theo Luật Thương mại. 20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU 22 2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại. 22 2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại. 22 2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 22 2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về chế tài thương mại. 26 2.2.1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng. 26 2.2.2.Phạt vi phạm. 28 2.2.3.Bồi thường thiệt hại. 28 2.2.4.Chế tài hủy hợp đồng. 31 2.3 Thực trang thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề chế tài thương mại tại công ty Cổ phần Than Hà Tu. 38 2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 51 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 54 3.1 Quan điểm hoản thiện pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại. 54 3.2 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh chế tài trong thương mại. 55 3.2.1 Về phía Nhà nước: 55 3.2.2 Phía doanh nghiệp: 59 3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 60 KẾT LUẬN 62 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 1

TÓM LƯỢC

Hiện nay, khi nền kinh tế của Việt Nam đang có bước chuyển mình mạnh mẽ,ngày càng gặt hái được nhiều thành công, vươn lên trong khu vực cũng như trên toànthế giới Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tếthị trường đồng thời với những chính sách mở cửa và hội nhập xuất hiện nhiều quan

hệ kinh tế đa dạng, phức tạp Những giao dịch, hợp tác mà chúng ta tham gia ký kếtngày càng nhiều Những hợp đồng trong nước và ngoài nước ngày càng được ký kếtmột cách đa dạng hơn Trong hoạt động thương mại, quan hệ giữa các thương nhânvới nhau được thể hiện dưới những hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa

và các hợp đồng dịch vụ thương mại như hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợpđồng môi giới, hợp đồng đại lý, Điều đó thể hiện sự đa dạng, phát triển của hoạtđộng thương mại nhưng mặt trái của nó là các vi phạm cũng diễn ra nhiều và ngàycàng phổ biến hơn Vì vậy để tránh những rủi ro không mong muốn, những sai phạm

có thể xảy ra nền cần phải có những chế tài áp dụng cho những sai phạm này để đảmbảo tính công bằng cho các bên tham gia

Luât Thương mại 2005 được ra đời trên cơ sở kế thừa ý chí của Luật Thươngmại 1997 và đúc kết từ những bài học thực tiễn thương mại của Việt Nam và thế giới

Hệ thống pháp luật về chế tài đã phát huy mạnh mẽ tác dụng, giải quyết được các vấn

đề phát sinh trong quan hệ thương mại Tuy nhiên trải qua nhiều năm thực thi các chếtài đã lộ ra một số điểm bất cập, các đơn vị còn gặp khó khăn trong việc áp dụng Nộidung cơ bản của khóa luận ngoài việc làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận và thựctiễn của pháp luật về vấn đề chế tài tỏng thương mại đồng thời nhằm khẳng định tầmquan trọng của những quy định này trong đời sống kinh tế xã hội Từ đó, đề xuất một

số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễn cũng như xu thế thờiđại, nâng cao hiệu quả thực hiện các chế tài trong thương mại trong các doanh nghiệphiện nay

Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về chế tài trong thương mại –Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần than Hà Tu” làm khóa luận tốt nghiệp đạihọc cho mình

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài “Pháp luật về chế tài trong thương mại – Thựctiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần than Hà Tu”, em đã đã nhận được rất nhiều sựgiúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các anh chị trong Công ty Cổ phần than

Hà cùng với các giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại họcThương mại Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Hoàng Thanh Giang – giảng viêntrực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này Emxin cảm ơn bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ emtrong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khoá luận này Với kiến thức và khảnăng còn hạn chế , bài viết của em không tránh khỏi gặp phải thiếu sót Em rất mongnhận được sự góp ý, đánh giá của thầy cô để nội dung bài khóa luận này được hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC TÓM LƯỢC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 1

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu 3

4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

4.3 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp 5

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản về chế tài trong thương mại 7

1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại 7

1.1.2 Đặc điểm của chế tài thương mại 9

1.1.3 Vai trò của các chế tài thương mại 11

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 13

1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 13

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 15

1.3 Yêu cầu về pháp luật điều chỉnh về chế tài trong thương mại 18

1.3.1 Căn cứ chung để áp dụng chế tài 18

1.3.2 Mối quan hệ giữa các chế tài theo Luật Thương mại 20

Trang 4

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI

THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU 22

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 22

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 22

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại 22

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về chế tài thương mại 26

2.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng 26

2.2.2.Phạt vi phạm 28

2.2.3.Bồi thường thiệt hại 28

2.2.4.Chế tài hủy hợp đồng 31

2.3 Thực trang thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề chế tài thương mại tại công ty Cổ phần Than Hà Tu 38

2.4 Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu 51

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 54

3.1 Quan điểm hoản thiện pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 54

3.2 Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh chế tài trong thương mại 55

3.2.1 Về phía Nhà nước: 55

3.2.2 Phía doanh nghiệp: 59

3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 60

KẾT LUẬN 62

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu.

Nền kinh tế của Việt Nam đang trên đà phát triển và hội nhập sâu rộng với nềnkinh tế thế giới Để đáp ứng kịp thời các quan hệ thương mại phức tạp và đa dạng, Năm 1997, Luật Thương mại Việt Nam ra đời đánh dấu một bước phát triển lớn trongchặng đường xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nước ta Kế thừa và pháthuy những điều tích cực đó, LTM năm 2005 ra đời hoàn chỉnh hơn, khắc phục đượcphần lớn những khuyết điểm của LTM năm 1997, trong đó đáng kể nhất là các quyđịnh về chế tài áp dụng trong hợp mại, đáp ứng nguyện vọng và mong muốn của cácchủ thể tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại

Chế tài thương mại đã được quy định trong các văn bản pháp luật như LTM

1997, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 2005 Chế tài trong thươngmại đã thực sự chế định quan trọng khi được quy định cụ thể trong LTM 2005, giúpbảo vệ quyền lợi các bên trong hợp đồng kinh tế, tăng cường trách nhiệm của mỗibên ngoài việc thực hiện tốt các điều kiện mà mỗi bên ký kết trong hợp Các chế tàitrong thương mại là những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồngthương mại, bởi thông qua đó, chúng ta có thể điều tiết hành vi của các thương nhântrong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo ra sự ổn định tương đối cho sự phát triển củanền kinh tế Tuy nhiên, thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm trong thời gian qua vẫncòn một số vấn đề gây tranh cãi, gây khó khăn cho các cơ quan giải quyết tranh chấp

và các bên trong việc xác định hình thức xử lý đối với bên có hành vi vi phạm hợpđồng Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất cập của các quy định về chế tàitrong thương mại Phân tích về một số bất cập của chế tài thương mại trong lý luậncũng như trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chế tài tại công ty than Hà Tu đểnghiên cứu, điều chỉnh các vấn đề hoạt động thương mại.Với mong muốn tìm hiểuvấn đề này, em đã lựa chọn đề tài : “Pháp luật về chế tài trong thương mại – Thựctiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Than Hà Tu” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp củamình

2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.

Hiện nay liên quan đến lĩnh vực chế tài trong thương mại đã có một số côngtrình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau, nổi bật là những công trình sau :

Trang 7

Luận án “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theoquy định của pháp luật Việt Nam”

Tác giả Nguyễn Thụy Phương, khoa Luật, trường đại học Quốc gia Hà Nội.Bài viết nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế theo quy định hiện hành của pháp luật để doanh nghiệp nắm bắt nhậnthức, giải quyết các tranh chấp do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Khóa luận: “Bàn về các hình thức chế tài trong Luật Thương mại 2005” củatác giả Nguyễn Thành Đức

Trong bài viết, tác giả đề cập đến các vấn đề liên quan đến hình thức chế tàitrong Luật Thương mại 2005, đưa ra thực tiễn trong quá trình thi hành đồng thời phântích những bất cập của mỗi chế tài.Từ đó tác giả đề xuất các kiến nghị giúp các chếtài hoàn thiện, phát huy hiệu quả cao hơn

Bài “Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định củapháp luật Việt Nam” của tác giả Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ đăng trên tạpchí Khoa học pháp lý, số 1 (26)/2005;

Bài viết “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vàothực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại” của tác giảNguyễn Thị Hằng Nga đã công bố trên Tạp chí Tòa án tháng 5/2006;

Bài “Một số ý kiến liên quan đến các quy định về chế tài trong thương mạitheo quy định của Luật thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Khế - Tạp chí Nhà nước

và pháp luật số 1 (237)/2008;

Bài “Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thươngmại 2005” của tác giả Nguyễn Thị Tình & Đỗ Phương Thảo, trường đại học ThươngMại

Bài “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luậtthương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980” của tác giả Phan Thị ThanhThủy trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 3 (2014) Vv

Các đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã chứng tỏ tầm quan trọng của chế tàitrong thương mại Tuy nhiên các quy định pháp luật về chế tài trong thương mại củaLuật Thương mại vẫn còn nhiều bất cấp, chưa thực sự hoàn thiện Do đó việc tiếp tục

Trang 8

nghiên cứu, so sánh, phân tích các chế tài trong lí luận cũng như thực tiễn thực hiệntại doanh nghiệp là điều cần thiết Vì vậy, trên cơ sở các công trình nghiên cứunóitrên là những tài liệu rất quý giá cho tác giả nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về chếtài trong thương mại – Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Than Hà Tu”.

3 Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu

Pháp luật Việt Nam cho phép sử dụng tới sáu loại trách nhiệm do vi phạm hợpđồng (chế tài thương mại) bao gồm thực hiện đúng hợp đồng, phạt vị phạm, bồithường thiệt hại, tạm những thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏhợp đồng và các bên pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc mà Việt nam là thành viên và các tậpquán quốc tế nên việc áp dụng vào thực tiễn, lựa chọn chế tài phù hợp còn gặp khókhăn Đồng thời qua một thời gian dài áp dụng, Luật Thương mại đã bộc lộ một sốđiểm còn hạn chế, thiếu sót Bên cạnh đó, trong xu thế phát triển và hội nhập hiệnnay, để theo kịp tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, đòi hỏi chúng ta phải cómột nền kinh tế thị trường tự do, năng động, sáng tạo và nhạy bén Trên cơ sở đó, vấn

đề nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật để có căn cứ chính xác để bảo vệ lợi ích của bên

bị vi phạm trong hợp đồng, chế tài đưa ra có đủ sức mạnh để mỗi bên có ý thức tựgiác thực hiện các nghĩa vụ là một điều hết sức cần thiết Nghiên cứu đề tài : “Phápluật về chế tài trong thương mại – Thực tiễn thực hiện tại Công ty Cổ phần Than HàTu” nhằm góp phần làm sáng tỏ những quy định của Luật Thương mại năm 2005 vềchế tài trong Luật thương mại và đưa ra một số phân tích, bình luận về vấn đề này.Đây là một đề tài khóa luận có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận cũngnhư thực tiễn Khóa luận nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơbản về chế tài hợp đồng trong thương mại Phân tích, đánh giá một cách khách quanthực trạng áp dụng Luật Thương mại năm 2005 về các quy định về chế tài trongthương mại tại công ty cổ phầnThan Hà Tu, từ đó chỉ ra những bất cập Khóa luận đã

đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện các quy địnhcủa Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 về chế tài trong thương mại, nhằm đápứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế cũng như yêu cầu của các doanh nghiệpkhi tham gia vào thì trường kinh tế đầy biến động, phức tạp và phát triển giai đoạnhiện nay, đặc biệt trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 9

4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của Luật Thương mại 2005

về chế tài được liệt kê tại điều 292 của Luật này, các ảnh hưởng của nó đến hoạt độngviệc thực hiện các hoạt động thương mại Nghiên cứu tình huống thực tế tại công ty

Cổ phần Than Hà Tu và một số công ty khác

4.2 Mục tiêu nghiên cứu.

Dựa trên việc phân tích cơ sở lý luận về chế tài trong thương mại, trên cơ sởtìm hiểu, đánh giá một cách khách quan thực trạng thực thi các quy định về chế tàitrong thương mại cùng với việc tìm ra những bất cập, hạn chế trong các quy định củaLuật Thương mại năm 2005, khóa luận đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoànthiện các quy định của luật liên quan tới các chế tài bối cảnh hội nhập nền kinh tế thếgiới Để đạt được mục tiêu trên, khóa luận tập trung giải quyết những nhiệm vụ cụthể sau đây:

Nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về chế tài trong thươngmại

Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiệ các quy định về chế tài trong thươngmại theo Luật Thương mại năm 2005 tại Công ty Cổ phần Than Hà Tu

Phân tích, đánh giá một cách sâu sắc những bất cập, hạn chế trong các quyđịnh của Luật Thương mại năm 2005 về các chế tài thương mại

Đề xuất, kiến nghị những giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện các quyđịnh của Luật Thương mại Việt Nam về chế tài thương mại

4.3 Phạm vi nghiên cứu.

Theo Luật thương mại 2005, chế tài trong thương mại bao gồm những chế tài

do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để xử lý vi phạm pháp luật vềthương mại của thương nhân được quy định tại chương VIII và những chế tài dothương nhân bị vi phạm áp dụng đối với thương nhân vi phạm hợp đồng thươngmại được quy định tại chương VII Mục 1 Luật thương mại Ở phạm vi hẹp trong bàikhóa luận này, em xin tập trung nghiên cứu các chế tài trong thương mại, tức là cácchế tài được áp dụng giữa các thương nhân với nhau trong việc ký kết và thực hiện

Trang 10

hợp đồng thương mại; thực trạng thực hiện các chế tài của công ty Cổ phần Than Hà

Tu và một số doanh nghiệp khác

5 Phương pháp nghiên cứu.

Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của ngành về pháp luậtnhững quy định, văn bản điều chỉnh mối quan hệ các chủ thể tham gia vào hoạt độngthương mại cụ thể ở đây là hợp đòng thương mại, đồng thời vận dụng những quanđiểm cơ bản của Đảng và nhà nước về quy định pháp luật điều chỉnh chế tài trongthương mại Với đề tài này tác giả xác định được rõ mục đích nghiên cứu tác giả đã

sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương phápthu thập dữ liệu, phương pháp so sánh ,phương pháp thống kê,phương pháp phân tích,phương pháp quy nạp diễn dịch ,tư duy logic … nhằm sáng tỏ vấn đề trong đề tàinghiên cứu Các phương pháp mà tác giả sử dụng chủ yếu trong bài như là :

Thứ nhất, phương pháp thu thập dữ liệu : phương pháp này chủ yếu được sửdụng trong chương 2 nhằm thu thập dữ liệu để làm rõ các vấn đề nêu trên phần lýluận

Thứ hai, phương pháp so sánh : phương pháp so sánh giúp bài nghiên cứuđược rõ ràng hơn, dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu các văn bản luật để tiến hành

so sánhvà phương pháp này được sử dụng tại chương 1 nhằm cho người đọc hiểu rõđược các hình thức chế tài, căn cứ áp dụng cũng như mối liên hệ giữa các hình thứcchế tài

Thứ ba, phương pháp phân tích tác giả sử dụng phương pháp này kết hợp vớinhiều phương pháp khác, phương pháp này giúp cho việc phân tích thực trạng ápdụng luật khi tham gia thực hiện các chế tài trong thương mại cũng như các doanhnghiệp để thấy rõ những ưu, nhược điểm của khi áp dụng luật đem lại cho công tynhững thuận lợi và khó khăn gì? Những bất cập của luật để từ đó có thể đưa ra nhữnggiải pháp để hoàn thiện Phương pháp này được sử dụng hầu hết các chương trong bàikhóa luận

6 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấucủa khóa luận gồm 3 chương:

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNHCHẾ TÀI THƯƠNG MẠI.

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀITRONG THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀUCHỈNH CHẾ TÀI TRONG THƯƠNG MẠI

Trang 12

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT

ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI 1.1 Một sổ khái niệm cơ bản về chế tài trong thương mại

1.1.1 Khái niệm chế tài trong thương mại

Theo nghĩa rộng:

Chế tài thương mại theo nghĩa rộng được hiểu là chế tài do cơ quan nhà nước ,bên bị vi phạm áp dụng đối với chủ thể vi phạm khi có hành vi vi phạm pháp luậtthương mại Hành vi vi phạm pháp luật thương mại ở đây bao gồm các hành vi viphạm trong quá trình các chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng; các hành vi vi phạmquy định pháp luât về trật tự quản lý kinh tế Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, hậu quả

mà chủ thể có hành vi vi phạm bị áp dụng chế tài hành chính, dân sự ( ví dụ: bồithường thiệt hại ) hay hình sự (ví dụ: các hình phạt đối với tội “Buôn lậu”) Các đặctrưng cơ bản của chế tài hiểu theo cách này là:

Về phạm vi dụng: Theo Luật thương mại 2005: mọi hành vi vi phạm phápluật thương mại đều bi phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh Tất cả các hành vi viphạm pháp luật trong thương mại đều thuộc phạm vi điều chỉnh của chế tài Các hành

vi vi phạm pháp luật thương mại không chỉ bao gồm những hành vi vi phạm chế độquản lí nhà nước trong lình vực thương mại mà còn các hành vi vi phạm xảy ra trongquá trình thương nhân thực hiện và ký kết hợp đồng

Đối tượng bị áp dụng chế tài trong thương mại: Đối tượng bị áp dụng chế tàitrong thương mại chủ yếu là thương nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong thươngmại Do việc thực hiện thường xuyên các hoạt động thương mại, là đối tượng áp dụngcủa luật thương mại nên khi có hành vi vi phạm pháp luật nên phải chịu các chế tàitrong thương mại Bên canh đó, chế tài trong thương mại cũng áp dụng với chủ thểkhông phải là thương nhân, ví dụ như chủ thể thực hiện hành vi kinh doanh trái phép

Chủ thể có quyền áp dụng chế tài: Chủ yếu là cơ quan nhà nước có thẩmquyền ( ví dụ Cơ quan quản lí thị trường, Tòa án ) hay chính bên bị vi phạm cam kếttrong hợp đồng

Hình thức chế tài: Dựa vào tính chất, mức độcác hành vi vi phạm mà có thể

áp dụng các chế tài hành chính, chế tài hình sự hay các chế tài mang tính chất dân sự

Trang 13

Mục đích của việc áp dụng chế tài: Căn cứ vào chế tài mà các chủ thể bị ápdụng nhằm các mục đích:

Đối với các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lí hoạt độngthương mại của nhà nước (ví dụ: buôn lậu, kinh doanh bất hợp pháp ) thì cơ quannhà nước có thẩm quyền áp dụng các chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự nhằmđảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hội và của chính người tiêu dùng

Đối với hành vi vi phạm chế độ hợp đồng, chế tài nhằm đảm các bên thực hiệnnghiêm túc hợp đồng, ngăn ngừa các hành vi vi phạm, bắt bên bị vi phạm chịu tráchnhiệm

Như vậy, theo các hiểu này chủ thể tham gia vào pháp luật thương mại cóhành vi vi phạm pháp LTM là có căn cứ áp dụng chế tài qua đó dễ dàng truy cứutrách nhiệm các nhân, tổ chức Để có thể tìm hiểu kỹ hơn chế tài theo phương diệnnày cần nghiên cứu kỹ càng, trên nhiều phương diện Vì vậy trong phạm vi đề tàikhóa luận chỉ phân tích chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm trong quan hệhợp đồng

Theo nghĩa hẹp:

Chế tài thương mại theo nghĩa hẹp được áp dụng cho bên vi phạm khi cónhững hành vi vi phạm xảy ra trong giao kết, thực hiện hợp đồng Chế tài này cònđược gọi là chế tài hợp đồng Khi một bên chủ thể vi phạm các quy định về thươngmại được quy định trong LTM 2005 và các quy định khác có liên quan, sẽ bị áp dụngcác chế tài được quy định tại Điều 292, LTM 2005, cụ thể:

"Điều 292 Các loại chế tài trong thương mại

Trang 14

7 Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên và tập quán thương mại quốc tế "

Như vậy, chế tài hiểu theo nghĩa hẹp là những chế tài mang bản chất dân sự,

có tác động bất lợi về tài sản đối với chủ thể vi phạm nhằm mục đích đảm bảo quyền

và lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm Chế tài này bao gồm những hình thức xử lí

và hậu quả pháp lí áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm trong quá tình ký kết, thựchiện hợp đồng trong thương mại Để phù hợp với khả năng cũng như tập trung vàomột số vấn đề của chế tài trong thương mại, em tập trung nghiên cứu chế tài trongthương mại theo nghĩa hẹp, các chế tài theo quy định tại Điều 292 LTM 2005 và cácvấn đề thực tiễn thực hiện tại công ty

1.1.2 Đặc điểm của chế tài thương mại

Chế tài trong thương mại theo nghĩa hẹp với bản chất là các biện pháp tácđộng đến tài sản của chủ thể có hành vi vi phạm cam kết trong hợp đồng thương mại

Do vậy chế tài trong thương mại có đặc điểm sau:

Thứ nhất: Chế tài trong thương mại là các chế tài phát sinh khi có hành vi vi

phạm hợp đồng thương mại Khác với các loại chế tài pháp lý nói chung được ápdụng với mọi hành vi vi phạm pháp luật, chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại chỉđược áp dụng đối với những hành vi vi phạm những điều khoản mà các bên đã thỏathuận trong hợp đồng Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận nên các bên được tựnguyện giao kết và thảo thuận những điều khoản trong hợp đồng để phù hợp với mụcđích kinh doanh của mình Chính vì vậy, khi hợp đồng phát sinh hiệu lực các bên sẽphải ràng buộc với nhau về các quyền và nghĩa vụ đã cam kết, mọi hành vi vi phạmnghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợihay những chế tài do vi phạm hợp đồng

Thứ hai: Chế tài trong thương mại là các chế tài mang tính chất tài sản Chế

tài được áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng và buộc bên vi phạm phải gánhchịu những hậu quả bất lợi về tài sản Yếu tố tài sản thể hiện ở cách thức bên vi phạmphải gánh chịu những hậu quả bất lợi, đó là:

Bên vi phạm phải dùng tiền (tài sản) thuộc quyền sở hữu của mình để thựchiện nghĩa vụ nộp phạt, nghĩ vụ bồi thường thiệt hại do đã không thực hiện hoặc thực

Trang 15

hiện không đúng, không đầy đủ cam kết trong hợp đồng Việc nộp tiền phạt hay bồithường thiệt hại được thực hiện theo sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng hoặctheo quy định của pháp luật.

Bên vi phạm buộc phải có những chi phí hợp lý cần thiết để thực hiện nghĩa vụhợp đồng khi bên bị vi phạm áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng Ví dụ như chiphí sủa chữa sai sót, loại trừ khuyết tật của hàng hóa…

Việc áp dụng các hình thức chế tài tạm ngừng, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồngcũng ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích vật chất của các bên

Thứ ba: Chủ thể có quyền lựa chọn và áp dụng các hình thức chế tài do vi

phạm hợp đồng trong thương mại là chủ thể có quyền và lợi ích bị vi phạm trong

quan hệ hợp đồng Khi có hành vi vi phạm, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi

phạm thực hiện một hay nhiều hình thức chế tài theo cam kết trong hợp đồng hoặctheo quy định của pháp luật Trường hợp yêu cầu thực hiện chế tài trong thương mạikhông được đáp ứng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình Điều này thể hiện được quyền lựa chọn và quyếtđịnh áp dụng chế tài của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm hợp đồng thương mại đã

ký kết Tòa án hay Trọng tài khi được yêu cầu giải quyết tranh chấp phải tôn trọngquyền tự định đoạt của nguyên đơn hoặc cũng có thể là yêu cầu phản tố của bị đơn.Việc Tòa án hay Trọng tài ban hành phán quyết buộc bị đơn phải nộp tiền phạt haybồi thường thiệt hại thể hiện cơ quan này đã chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầucủa nguyên đơn chứ không thể hiện được việc quyết định áp dụng hình thức chế tàinào hay có áp dụng chế tài hay không mà quyền quyết định này thuộc về bên bị viphạm

Thứ tư: Các hình thức chế tài trong thương mại sẽ được áp dụng trực tiếp đối

với bên có hành vi vi phạm Khi có hành vi vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm phải

trực tiếp chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm không phụ thuộc vào nguyên nhân

sự vi phạm là do tổ chức, cá nhân nào gây ra Việc bên vi phạm phải trực tiếp chịutrách nhiệm với bên bị vi phạm thể hiện ở các khía cạnh sau:

Bên vi phạm hợp đồng phải dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để nộptiền phạt hoặc bồi thường thiệt hại

Trang 16

Bên vi phạm phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phải trả các chi phíphát sinh khi sửa chữa, loại trừ khuyết tật hàng hóa khi áp dụng chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng.

Bên bị vi phạm sẽ phải chịu tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiệnhợp đồng thậm chí hủy hợp đồng khi có hành vi vi phạm và lúc này lợi ích của chínhbên vi phạm cũng sẽ bị ảnh hưởng

Thứ năm: Mục đích áp dụng chế tài thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi

ích của các bên trong quan hệ hợp đồng Xây dựng chế tài do vi phạm hợp đồngthương mại trước hết là ngăn ngừa và hạn chế những hành vi vi phạm hợp đồng; khixảy ra hành vi vi phạm hợp đồng nhằm khôi phục lại trạng thái ban đầu, bồi hoànnhững tổn thất đã xảy ra và trừng phạt bên vi phạm Tất cả những điều này suy chocùng là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợpđồng Bởi khi các bên tự do thỏa thuận giao kết hợp đồng thì bất cứ hành vi vi phạmhợp đồng nào cũng phải bị trừng phạt để bảo vệ lợi ích của chủ thể

1.1.3 Vai trò của các chế tài thương mại

Trong nền kinh tế thị trường khi mà các bên luôn cạnh tranh để tìm nhữngđiều kiện thuận lợi nhất cho bản thân thì việc đưa ra các chế tài trong thương mại làđiều cần thiết Thông qua hợp đồng các bên có điều kiện trao đổi sản xuất kinh doanhđồng thời cũng là căn cứ pháp lí để áp dụng các chế tài trong thương mại khi có bên

vi phạm

Thứ nhất, nâng cao ý thức kỉ luật trong việc thực hiện hợp đồng thương mại.Trong cơ chế thị trường, việc ký kết hợp đồng của các chủ thể, pháp luật tạo ra hànhlang pháp lí cho các bên tự do kinh doanh Khi các bên tự nguyện thỏa thuận ký kếttrong hợp đồng, đó lại là cơ sở để các bên ràng buộc với nhau Khi một bên có thểnhân ra việc tiếp tục hợp đồng có thể gây ra hậu quả bất lợi cho bản thân mình nhưngnếu không thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm có thể dùng các biện pháp chế tài màhai bên đã ký kết để bảo vệ quyền lợi cho mình, yêu cầu bên vi phạm phải gánh chịuhậu quả bất lợi do các hành vi vi phạm gây ra Qua đó, chế tài có vai trò trong việchình thành và củng cố thái độ tích cực của các bên đối với nghĩa vụ phát sinh từ quan

hệ hợp đồng

Trang 17

Thứ hai, chế tài giúp đảm bảo quyền tự do hợp đồng Tự do hợp đồng đượchiểu là thương nhận được tự do lựa chọn đối tác, tự do lựa chọn tự nguyện quyếtđịnh việc giao kết hợp đồng, tự do xác định nội dung cụ thể của hợp đồng trên cơ sởpháp luật quy định, tự do sửa đổi, bổ sung hay chấm dứt hợp đồng Song việc sửa đổi,

bổ sung hay chấm dứt việc thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng nếu khôngxuất phát từ ý chí thỏa thuận của các bên, lúc này nghĩa vụ được hình thành trong hợpđồng là điều kiện ràng buộc các bên trong quan hệ hợp đồng với nhau Mọi hành vikhông thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ cam kết đều có thể cónguy cơ bị áp dụng các chế tài hợp đồng Thông qua hoạt đông kinh doanh con ngườimuốn làm tăng thêm giá trị vật chất cho xã hội, mà trước hết là cho nhà kinh doanh.Nếu không có các biện pháp cần thiết thì quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồngluôn luôn có nguy cơ bị chèn ép hoặc cạnh tranh không lành mạnh Chính vì thế, việc

áp dụng các chế tài hợp đồng như: (a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng; (b) Phạt viphạm, (c) Bồi thường thiệt hại; (d) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng; (e) Đình chỉ hợpđồng; (f) Hủy bỏ hợp đồng; (g) Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không tráivới quy định của pháp luật là những biện pháp hữu hiệu đảm bảo tính khả thi choquyền tự do hợp đồng

Thứ ba, bảo vệ lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng Trong nền kinh tếthị trường có sự quản lí của nhà nước, lợi nhuận mà các thương nhân có được phải làlợi ích kinh tế hợp pháp, được nhận từ việc thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của hợpđồng Nhưng do mục đích này thương nhân có thể có nhiều hành vi vi phạm khácnhau dẫn đến việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa

vụ hợp đồng làm ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích hợp pháp của bên bị vi phạm, thậmchí có thể làm phát sinh nghĩa vụ về tài sản của bên bị vi phạm với bên thứ ba Hành

vi vi phạm hợp đồng luôn tiềm ẩn nguy cơ xâm hại lợi ích của bên bị vi phạm (làmmất mát, hư hỏng hàng hóa, giảm sút thu nhập, lợi nhuận…) Để bảo vệ lợi ích củabên bị vi phạm, bên bị vi phạm có thể tự mình hoặc yêu cầu các cơ quan có thẩmquyền áp dụng các hình thức chế tài đối với bên vi phạm (buộc thực hiện đúng hợpđồng, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉhợp đồng, hủy bỏ hợp đồng) Không chỉ như vậy, chế tài trong thương mại cũng bảo

vệ quyền lợi của bên vi phạm, việc quy định rõ trong luật các trường hợp miễn tráchnhiệm, các căn cứ, thủ tục áp dụng, mức phạt… cũng bảo đảm bên vi phạm chỉ phải

Trang 18

chịu trách nhiệm về hành vi của mình đúng theo mức độ vi phạm, bảo vệ bên vi phạmtrong các hiện tượng tiêu cực khi xử lí vi phạm, điều đó giúp các bên có thể thực hiệnhợp đồng yên tâm hơn.

Thứ tư, chế tài thương mại giúp phòng ngừa vi phạm pháp luật hợp đồng Luậtthương mại cho phép áp dụng chế tài hợp đồng đối với tất cả hành vi vi phạm hợpđồng trong thương mại, kể cả trường hợp các bên không thỏa thuận nhưng chế tàihợp đồng vẫn có thể được áp dụng theo quy định của pháp luật, ngoại trừ trường hợpbên bị vi phạm từ chối không áp dụng chế tài hợp đồng đối với bên bị vi phạm hayrơi vào trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật Như vậy, trongtrường hợp một bên vi phạm hợp đồng, thì họ đều có thể bị đe dọa gánh chịu nhữnghậu quả bất lợi về tài sản Nếu chưa có hành vi vi phạm hợp đồng, việc quy định cácchế tài trong thương mại mang tính “phòng ngừa” các biểu hiện vi phạm pháp luậthợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm và thái độ tích cực hợp tác của các bên trongquan hệ hợp đồng Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu phát sinh vi phạm hợpđồng, các chế tài hợp đồng được bên bị vi phạm áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích củamình Đó có thể là các chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, bồithường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng

để trừng phạt và bồi hoàn tổn thất do hợp đồng bị vi phạm Quy định về trách nhiệmhợp đồng có tác dụng rất mạnh mẽ vào ý thức các bên, nâng cao tinh thần tráchnhiệm hợp tác, thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng, khi nắm được các hành vi đó

là vi phạm và phải chịu chế tài thì sẽ không thực hiện, qua đó ngăn ngừa vi phạm xảy

ra Như vậy, việc quy định cụ thể các nguyên tắc và căn cứ áp dụng các chế tài hợpđồng trong thương mại, LTM 2005 đã khẳng định vai trò của mình là rất quan trọngtrong việc phòng ngừa mọi biểu hiện vi phạm pháp luật hợp đồng Ngoài ra góp phầngiáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện các điều khoản hợp đồng

mà các bên đã thiết lập

1.2 Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại 1.2.1 Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại

Nền kinh tế thị trường ở nước ta dựa trên sự thiết lập nền tảng pháp lí quyền tự

do kinh doanh trong quan hệ thương mại và phương thức hình thành chủ yếu là thôngqua các quan hệ hợp đồng Các quan hệ hợp đồng trong thương mại cũng vì thế mà

Trang 19

trở nên đa dạng và phức tạp hơn Hiện tượng vi phạm hợp đồng cũng diễn ra nhiềuhơn Để giúp đảm bảo cam kết giữa các bên được thực hiện, hoặc đền bù lại nhữngtổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt hại do hành vi của bên vi phạm hợp đồng pháp luật

về chế tài trong thương mại ra đời và ngày càng hoàn thiện hơn Vì thế để có thể xâydưng và đưa ra các chế tài phù hợp cần căn cứ vào các yếu tố cơ bản sau:

Thứ nhất, căn cứ dựa trên tính chất của hành vi vi phạm Không phải bất cứhành vi vi phạm nào cũng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, chịu các hình thứcchế tài, chẳng hạn như nghĩa vụ hợp đồng không thể thực hiện được do bất khả kháng– bên vi phạm hoàn toàn không có lỗi Hay như khi áp dụng chế tài bồi thường thiệthại cũng phải đảm bảo nguyên tắc bồi thường không vượt quá mức thiệt hại thực tế

để gây bất lợi cho bên vi phạm bởi trên thực tế hành vi vi phạm hợp đồng của họkhông gây ra mức thiệt hại quá lớn Như vậy, tính chất của hành vi vi phạm chính là

cơ sở xem xét, đánh giá những cam kết trong hợp đồng có hiệu lực và những quyđịnh của pháp luật về hợp đồng thương mại

Thứ hai, thông qua xem xét những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Bản chấtcủa pháp luật là mang tính giai cấp và tính xã hội Vào từng thời kỳ, từng giai đoạnvận động của kinh tế - xã hội mà những lợi ích pháp luật cần bảo vệ Ví dụ như, khiđất nước ta mới dành được độc lập, cả nước thực hiện nền kinh tế tập trung có kếhoạch để phát huy sức mạnh tập thể, các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồngkinh tế mang tính chất hành chính như một hình thức kỷ luật Khi bước vào giai đoạnđổi mới, Việt Nam chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa do vậy lợi ích mà pháp luật muốn bảo vệ không còn là những kế hoạch tậptrung của nhà nước mà là sự vận hành theo trật tự của nền kinh tế thị trường có sựđiều tiết của Nhà nước Các chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại giai đoạn nàymang tính chất tài sản rõ rệt Như vậy, lợi ích mà pháp luật bảo vệ có sự tác động đếnquá trình xây dựng pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại

Thứ ba, các yếu tố khác như điều kiện kinh tế - xã hội; yếu tố lịch sử; tư tưởnglập pháp; văn hóa pháp lý….Đây là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ không chỉvới quá trình xây dựng pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng mà còn ảnh hưởngđến cả quá trình lập pháp của nước ta Theo tiến trình phát triển của xã hội, trải quamỗi quá trình lịch sử cũng như những hình thái kinh tế khác nhau sẽ phải có những tưduy lập pháp tương thích để phù hợp với thực tiễn khách quan Các yếu tố kể trên

Trang 20

chính là tấm gương phản chiếu thực tiễn một cách sâu sắc và toàn diện nhất Vì vậy,trong quá trình xây dựng các quy định của pháp luật cần phải nghiên cứu chuyên sâunhằm rút ra những giá trị và chuẩn mực cốt lõi.

1.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh chế tài thương mại

Bộ luật Dân sự 2005 đã khái quát cơ bản về trách nhiệm dân sự đối với bênthực hiện không thực hiện đấy đủ các nghĩa vụ dân sự (từ điều 302 -308 BLDS2005) Khoản 1 điều 302 BLDS quy định: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên cóquyền.” Đối với trách nhiệm dân sự trong hợp đồng, khi hợp đồng được giao kết, cácbên có nghĩa vụ thực hiện đúng những cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng Nếumột bên không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ là vi phạm hợp đồng.Hai bên có thể dự liệu và thỏa thuận trước về những trường hợp thiệt hại do vi phạmhợp đồng và cách thức chịu trách nhiệm như bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm.Đối với LTM 2005 căn cứ pháp lý để áp dụng chế tài đó là LTM 2005 (Từ điều 292đến điều 316 LTM 2005) Khi các chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồngtrong thương mại, người bị vi phạm hoặc khi có yêu cầu của người bị vi phạm cơquan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các chế tài với họ Theo LTM 2005 các chếtài trong thương mại bao gồm:

Buộc thực hiện đúng hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó bên bị vi phạm

nghĩa vụ hợp đồng phải trực tiếp thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm.Theo khoản 1 điều 297 LTM 2005 quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việcbên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biệnpháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”.Chế tài được đưa ra nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng trên thực tế Ngoài trườnghợp có thỏa thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợpđồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm nhưngkhông được áp dụng các chế tài khác Việc áp dụng các chế tài khác chỉ được thựchiện sau thời hạn cho phép thực hiện đúng hợp đồng

Phạt vi phạm hợp đồng là hình thực chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó

bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm hợp đồng một khoán tiền nhấtđịnh do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận theo quy định hoặc do các bên

Trang 21

thỏa thuận trên cơ sở pháp luật Điều 300 LTM 2005 quy định: “Phạt vi phạm là việcbên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồngnếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tạiĐiều 294 của luật này” Chế tài bồi thường chủ yếu với mục đích bù đắp thiệt hại vậtchất cho người bị thiệt hại thì phạt vi phạm nhằm mục đích chính là răn đe, trườngphạt Căn cứ để yêu cầu bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là do hành

vi không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng Để có thể yêu cầuviệc trả tiền phạt thì bên bị vi phạm cần chứng minh có sự vi phảm xảy ra Mức phạtđối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do cácbên thảo thuận trong hợp đồng đều không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị

vi phạm Tuy nhiên, đối tới cùng một vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm chỉ đượcquyền lựa chọn áp dụng một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệthại, nếu như các bên không có thỏa thuận khác Vì thế nếu có thỏa thuận trước tronghợp đồng thì hai chế tài này mới cùng lúc được áp dụng

Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài nhằm khôi phục bù đắp những lợi

ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng trong kinh doanh Khoản 1 Điều 302Luật Thương mại 2005 quy định: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồithường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm” Việcbồi thường thiệt hại chỉ xảy ra khi có đầy đủ 4 yếu tố sau: (i) có hành vi vi phạm hợpđồng; (ii) có thiệt hại thực tế; (iii) hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếpgây ra thiệt hại; (iiii) có lỗi của bên vi phạm Do chức năng chủ yếu của chế tài này làbồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộnhững thiệt hại vật chất cho bên bị vi phạm Thiệt hại vật chất ở đây là giá trị tổn thất

do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽđược hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng Mặc dù vậy, việc tính chínhxác giá trị thiệt hại vật chất là việc rất khó có thể đạt được trong mọi trường hợp dođặc điểm cụ thể của từng loại hàng hóa dịch vụ Tuy nhiên, các khoản thiệt hại đòibồi thường không thể cao hơn giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi đáng lẽ đượchưởng

Tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong kinh doanh là hình thức chế tài, theo

đó một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh Điều 308Luật Thương mại 2005 quy định: “Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại

Trang 22

Điều 294 của Luật này, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thờikhông thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1 Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thảo thuận là điều kiện để tạm ngừngthực hiện hợp đồng;

2 Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”

Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn có hiệu lực Bên viphạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với những tổn thất đã xảy ra do hành

vi vi phạm của bên kia

Đình chỉ thực hiện hợp đồng là hình thức chế tài mà một bên chấm dứt thực

hiện nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh Điều 310 LTM 2005 quy định: “Trừ cáctrường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, đình chỉ thực hiệnhợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong cáctrường hợp sau đây:

1 Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉhợp đồng

2 Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”

Khi hơp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thờiđiểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ hợp đồng Bên thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặcthực hiện nghĩa vụ đối ứng

Hủy bỏ hợp đồng là hình thức chế tài, theo đó một bên chấm dứt thực hiện

nghĩa vụ hợp đồng và làm cho hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.Điều 312 Luật Thương mại quy định:

1 Hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phầnhợp đồng

2 Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả cácnghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng

3 Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợpđồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiều lực

Trang 23

4 Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 cảu Luật nàychế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏhợp đồng;

b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Khi một hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực

từ thời điểm giao kết Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏathuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng

và giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phầnnghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụcủa họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợiích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền

Bên cạnh đó còn có một số quy định có tính chất chế tài trong cách hoạt độngthương mại như điều 266: Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kếtquả giám định sai Đồng thời để đáp ứng với xu thế mở cửa hội nhập chung vào nềnkinh tế thế giới, LTM 2005 còn ghi nhận thêm hình thức chế tài do các bên thỏathuận.Tuy nhiên để các biện pháp được áp dụng yêu cầu các biện pháp này không tráivới các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam

là thành viên và tập quán thương mại quốc tế

1.3 Yêu cầu về pháp luật điều chỉnh về chế tài trong thương mại

1.3.1 Căn cứ chung để áp dụng chế tài

Để bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng được các biện pháp chế tài theo thỏathuận hay theo quy định của pháp luật đối với bên vi phạm cần có những căn cứ cụthể và chính xác Vì thể để có thể áp dụng các chế tài cần xem xét tới những yếu tốsau:

Có hành vi vi phạm: Bao gồm các hành vi thực hiện không đúng hoặc không

thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng Đây là căn cứ cần được đưa ra chứng minh trongviệc áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài Hành vi vi phạm có thể là hành vikhông thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ một phần hoặc toàn bộnhững cam kết mà các bên đã thỏa thuận Trong đó, các bên không chỉ phải thực hiện

Trang 24

những nghĩa vụ đã thỏa thuận mà còn phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định phápluật Trong thực tiễn hoạt động thương mại, các hành vi vi phạm thường gặp baogồm:

Hành vi thực hiện không đúng điều khoản về số lượng, thời hạn giao nhậnhàng hóa dịch vụ (giao hàng thiếu, giao hàng chậm )

Không thực hiện đúng điều khoản về chất lượng hàng hóa, dịch vụ, địa điểmgiao nhân hàng hóa, dịch vụ ;

Không thực hiện đúng điều khoản về giá cả, thanh toán

Trong một số trường hợp việc thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ cácnghĩa vụ mà hai bên đã cam kết nhưng chủ thể thực hiện hành vi đó không bị áp dụngcác chế tài trong thương mại Đó là do nghĩa vụ không được thực hiện không hoàntoàn do lỗi của bên có quyền hoặc do sự kiến bất khả kháng Vì vậy, để áp dụng chếtài trong thương mại, cũng như để bên vi phạm phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụbồi thường cần phải xem xét các yếu tố như lỗi, thiệt hại thực tế

Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra Căn cứ này bắt buộc phải được viện dẫn

khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại Còn đối với các hình thức chế tài thương mạikhác, thiệt hại thực tế có thể được coi là tình tiết xác định mức độ nặng nhẹ của chếtài được áp dụng Trong quan hệ thương mại các thiệt hại vật chất có thể xảy ra là:

Giá trị tài sản bị mất mát hư hỏng;

Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại Tuy

nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy

Trang 25

ra trong nhiều trường hợp còn gặp khó khăn Vì thế cần phải xem xét, đánh giá thậntrọng các dữ kiện một cách thận trọng, khách quan Từ đó mới có thể đưa ra kết luậnchính xác về nguyên nhân, xác định trách nhiệm của người gây thiệt hại.

Có lỗi của bên vi phạm Khi một bên chủ thể thực hiện các hành vi xâm

phạm đến quyền và lợi ích của các chủ thể khác thì việc xác định lỗi được đặt ra Đểxác định hành vi này được coi là có lỗi hay không còn tùy vào điều kiện, hoàn cảnhkhách quan cũng như của chủ thể thực hiện hành vi Do đó, hành vi có lỗi là khitrong hoàn cảnh khách quan và đủ điều kiện cần thiết, chủ thể thực hiện hành vi khácvới yêu cầu, quy đinh của luật pháp hay chủ thể khác Lỗi trong vi phạm nghĩa vụhợp đồng thương mại là thường là do hành vi trái pháp luật hoặc trái với cam kết giữahai bên LTM Việt Nam không quy định ai có lỗi mà lỗi được xác định theo nguyêntắc suy đoán Khi một bên vi phạm hợp đồng thì bên kia có quyền suy đoánbên viphạm có lỗi và vì vậy, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm Bên bị vi phạm cần phảichứng minh bên vi phạm có lỗi hay không để có thể áp dụng chế tài với bên vi phạm

1.3.2 Mối quan hệ giữa các chế tài theo Luật Thương mại.

Các hình thức trách nhiệm có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau, thậm chíkhông tách rời nhau Việc lựa chọn hình thức chế tài khi có hành vi vi phạm là do bên

bị vi phạm ấn định hoặc do các bên đã thoản thuận sẵn trong hợp đồng Các chế tàithương mại này được bên bị vi phạm trực tiếp áp dụng đối với bên kia hoặc thôngqua cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khi lựa chọn hình thức trách nhiệm, các bên cóliên quan cần tìm hiểu mối quan hệ giữa các chế tài và tính toán sao cho giảm thiểuthiệt hại phát sinh nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của mình Một chế tài thươngmại có thể áp dụng song song với một chế tài khác đối với cùng một vi phạm, songcũng có thể chỉ được phép lựa chọn giữa hai chế độ trách nhiệm

Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác.

Theo Luật thương mại thì nếu không có thỏa thuận trước, trong thời gian ápdụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, Khoản 1, Điều 299 LTM quy định: “Trừtrường hợp có thoả thuận khác, trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạmnhưng không được áp dụng các chế tài khác.”

Trang 26

Theo tinh thần của luật này thì vi phạm đó đã được áp dụng chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng thì các bên không thể viện một lý do nào khác để tiếp tục bắt bênkia phải bồi thường thiệt hại hay nộp phạt cho chính vi phạm đã được giải quyếtxong.

Còn trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng trong thời hạn ấn định, Khoản 2, Điều 299 của LTM quy định tiếp:

“bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng củamình.”

Điều này có nghĩa là chỉ khi bên kia tuyên bố hoặc thông báo rằng anh ta sẽkhông thực hiện yêu cầu mà bên bị vi phạm đề xuất, bên bị vi phạm mới được đemcác hình thức trách nhiệm khác ra áp dụng

Về quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm hợp đồng và chế tài đòi bồi thường thiệt hại

Điều 307, Luật thương mại quy định:

“1 Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạmchỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác

2.Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền

áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này

có quy định khác.”

Phạt vi phạm phải được thỏa thuận trong hợp đồng, còn trách nhiệm bồithường thiệt hại không cần có sự thỏa thuận Do bản chất của phạt vi phạm là phải cóthỏa thuận trong hợp đồng, nên khi có vi phạm xảy ra mà các bên không có thỏathuận phạt vi phạm thì các bên chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại mà thôi Trongtrường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng

cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại Quy định này của các nhà làmluật là một quy định hợp lý, phù hợp với quan hệ thương mại đang phát triển khôngngừng hiện nay Do vậy, các bên cần xem xét phân biệt hai chế tài để có thể bảo vệquyền lợi chính đáng một cách hợp pháp

Về chế tài hủy hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền áp dụng các hình

thức trách nhiệm khác để bảo vệ quyền lợi cho mình (Điều 237, Luật thương mại)

Trang 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THAN HÀ TU

2.1 Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh

về chế tài thương mại.

2.1.1 Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại.

Do còn nhiều hạn chế nên trải qua một thời gian các văn bản pháp luật kinh tếban hành thời kỳ đầu đổi mới đã bộc lộ nhiều bất cập, không đáp ứng được nhu cầucủa thực tiễn phát triển của kinh tế Việt Nam cũng như thực tiễn thương mại quốc tế.Năm 2005, hàng loạt các văn bản pháp luật trong lĩnh vực kinh tế được ban hành như:BLDS năm 2005; LTM năm 2005…

Các văn bản pháp luật này đã đánh dấu sự thay đổi căn bản trong việc điềuchỉnh các quan hệ kinh doanh nói chung và quan hệ trong hợp đồng kinh doanh nóiriêng Không còn sự phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự, phạm viđiều chỉnh của Luật thương mại được mở rộng rất nhiều

Theo Luật thương mại năm 2005 khái niệm hoạt động thương mại rất rộng,bao gồm tất các các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi; các hình thức chế tài được mởrộng hơn, quy định cụ thể hơn và đề cập đến cả mối quan hệ giữa các hình thức này

Các quan hệ thương mại luôn vận đông và biến đổi không ngừng, đặc biệttrong bối cảnh hội nhập kinh tế và Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thươngmại thế giới WTO nên Luật thương mại năm 2005 về cơ bản đã đáp ứng được yêucầu Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn còn nhiều bất cập nên cần được nghiên cứu toàndiện và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp

Pháp luật về chế tài trong thương mại tại Luật Thương Mại 2005 đóng vai tròquan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệhợp đồng cũng như đảm bảo sự vận hành và phát triển có định hướng của nền kinh tếthị trường

2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng pháp luật điều chỉnh về chế tài thương mại

Trang 28

Về nguyên tắc:

Chế tài do các bên lựa chọn và áp dụng

Xuất phát từ nguyên tắc tự do khế ước, các bên có quyền thoả thuận về mọithứ không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội nên các bên trong quan hệ hợp đồng cóquyền thoả thuận về mọi biện pháp trách nhiệm, chế tài áp dụng khi mà hợp đồng bị

vi phạm Những thoả thuận hợp pháp của các bên có hiệu lực, được pháp luật bảo vệ,

và người thứ ba cũng như các cơ quan tài phán toà án, trọng tài tôn trọng Trênnguyên tắc tự định đoạt của đương sự toà án hay trọng tài chỉ xem xét, giải quyết khi

có bên yêu cầu cho nên toà án, trọng tài không thể tự mình áp dụng chế tài đối vớibên vi phạm hợp đồng khi mà các bên không có yêu cầu Toà án hay trọng tài chỉ cóthể xem về tính hợp pháp của biện pháp chế tài được yêu cầu áp dụng, phạm vi thiệthại phải bồi thường hay số tiền phạt vi phạm hợp lý…Bên bị vi phạm áp dụng biệnpháp chế tài nào là do tự họ quýêt định để bảo vệ lấy quyền lợi của mình

Nhiều chế tài có thể cùng lúc áp dụng cho một vi phạm cụ thể

Hợp đồng bị vi phạm, để bảo vệ những quyền lợi chính đáng của mình người

bị vi phạm có yêu cầu áp dụng cùng lúc nhiều biện pháp chế tài khác nhau khi mà cácbiện pháp chế tài được áp dụng không mâu thuẫn với nhau về bản chất, không logic.Như biện pháp buộc thực hiện hợp đồng và huỷ hợp đồng, đình chỉ hợp đồng hoàntoàn trái ngược nhau về bản chất, hậu quả nên không thể cùng áp dụng Khi nhữngbiện pháp đã áp dụng không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình bên bị viphạm có thể áp dụng các chế tài khác mạnh hơn Việc áp dụng các biện pháp chế tàikhác không làm mất đi quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bên bị thiệt hại

Không áp dụng các biện pháp chế tài khi những vi phạm thuộc trường hợp miễn trách nhiệm

Điều 294, LTM 2005 quy định các trường hợp khi mà bên vi phạm nghĩa vụhợp đồng không phải chịu trách nhiệm đối với việc vi phạm nghĩa vụ Bên vi phạmnghĩa vụ chứng minh rằng mình thuộc một trong những trường hợp miễn trách nhiệmthì không thể áp dụng chế tài

Về các chế tài:

Trang 29

Không phải tất cả các biện pháp chế tài khi áp dụng đều cần đầy đủ cả bốn cơ

sở đó là có hành vi vi phạm, có thiệt hại xảy ra, có lỗi và có mối quan hệ nhân quảgiữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra Bởi vậy đối với mỗi chế tài có những điềukiện để áp dụng riêng

Điều kiện áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng

Như đã phân tích tại phần chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ở trên, buộcthực hiện đúng hợp đồng là sự cưỡng chế của nhà nước bắt buộc bên vi phạm phảithực hiện đúng những gì mà mình đã cam kết trong hợp đồng Như vậy chỉ cần cóviệc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng thì bên bị viphạm luôn có quyền yêu buộc bên bị vi phạm thực hiện đúng hợp đồng Ví dụ nhưbên cung ứng hàng hoá không đúng chủng loại, chất lượng không đúng như thoảthuận, giao thiếu hàng, hàng hoá có khuyết tật, không thanh toán đủ… Thì bên bị viphạm có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng, sửa chữa khuyết tật,

bổ sung hàng hoá còn thiếu, thanh toán số tiền còn thiếu…Luật Thương mại 2005không có sự những quy định về trường hợp buộc thực hiện hợp đồng bị loại trừ khi

áp dụng biện pháp phạt vi phạm hay bồi thường thiệt hại ( quyền giải thoát khỏi hợpđồng khi bên vi phạm đã trả một khoản phạt, bồi thường cho việc không thực hiệnhợp đồng ) và những loại nghĩa vụ hợp đồng mà ở đó biện pháp buộc thực hiện hợpđồng là không có ý nghĩa hoặc hậu quả, chi phí phải bỏ ra để thực hiện là quá bất hợp

lý, phương thức để thực hiện đúng nghĩa vụ là không hợp lý, chi phí quá cao so vớigiá trị của phần hợp đồng phải thực hiện

Điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm

Pháp luật hiện hành của Việt Nam coi phạt vi phạm là một điều khoản của hợpđồng, do các các bên thoả thuận Do vậy chế tài này chỉ áp dụng khi các bên có thoảthuận rõ ràng trong hợp đồng về nó Không giống như trước kia phạt vi phạm còn dopháp luật quy định, hiện nay chỉ còn duy nhất phạt vi phạm do thoả thuận Khi nghĩa

vụ bị vi phạm và có thoả thuận về việc trả một khoản tiền phạt khi vi phạm đã là đủcăn cứ để áp dụng mà không cần phải tính toán thiệt hại Cũng như áp dụng các chếtài khác, không áp dụng chế tài nếu thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm

Điều kiện áp dụng đối với chế tài bồi thường thiệt hại

Trang 30

Chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng khi mà không thuộc các trường hợpđược miễn trách nhiệm và có thiệt hại xảy ra có nguyên nhân trực tiếp từ hành vi viphạm nghĩa vụ được cam kết trong hợp đồng Yếu tố lỗi được bỏ qua vì bên vi phạmmuốn không phải bồi thường thì phải chứng minh được rằng mình thuộc trường hợpmiễn trách nhiệm do pháp luật quy định hoặc do thoả thuận Nghĩa vụ chứng minhtổn thất thuộc về bên bị vi phạm Trên nguyên tắc thiện chí, trung thực thì bên bị viphạm có nghĩa vụ hành động để hạn chế tổn thất, thiệt hại xảy ra như bán hàng hoácho người khác, mua hàng hoá thay thế, thực hiện các biện pháp khác thích hợp đểhạn chế tổn thất có thể xảy ra Nếu không, toà có thể xem xét giảm số tiền bồi thườngthiệt hại cho người vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm không có nghĩa vụ bồi thườngđối với những thiệt hại mà đáng lẽ ra có thể hạn chế hoặc không có nếu ngưòi bị viphạm hành động một cách tích cực để hạn chế nó Nghĩa vụ hạn chế tổn thất củangưòi bị vi phạm được đặt ra để tránh cho họ lạm dụng quyền yêu cầu bồi thườngthiệt hại của mình gây ra thiệt hại, lãng phí kinh tế không cần thiết cho xã hội vànghĩa vụ thiện chí, trung thực là nguyên tắc cơ bản được đặt ra Thiệt hại trên nguyêntắc phải được bồi thưòng toàn bộ nhưng việc áp dụng bồi thường thiệt hại khôngđược làm lợi cho người bị thiệt hại, người vi phạm chỉ bồi thường cho những thiệt hại

Vi phạm cơ bản theo giải thích tại khoản 13, Điều 3, LTM 2005 như sau: viphạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức

Trang 31

làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng hợp đồng Địnhnghĩa về vi phạm cơ bản trên của LTM không được chính xác, nếu phân tích ngônngữ của điều luật thì chỉ khi có thiệt hại xảy ra do việc vi phạm nghĩa vụ mới làmcho bên kia không đạt được mục đích của hợp đồng thì mới coi là vi phạm cơ bản,Đặt ngược lại, nếu không có thiệt hại xảy ra nhưng việc vi phạm nghĩa vụ được coi làchủ yếu, cơ bản làm cho mục đích của hợp đồng không đạt được thì có được coi là viphạm cơ bản hay không? Thiết nghĩ là hoàn toàn hợp lý khi chỉ cần một bên vi phạmnghĩa vụ chủ yếu và nghiêm trọng hợp đồng thì được xem là vi phạm cơ bản màkhông cần phải có thiệt hại xảy ra Các chế tài trên chỉ áp dụng khi không thuộctrường hợp được miễn trách nhiệm.

2.2 Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật về chế tài thương mại.

Theo pháp LTM Việt Nam, các chế tài thương mại được hiểu là những biệnpháp pháp lý mang tính tài sản do bên bị vi phạm lựa chọn để áp dụng đối với bên viphạm nhằm mục đích ngăn ngừa, trừng trị và giáo dục Như vậy, các chế tài thươngmại được áp dụng là để khôi phục về mặt vật chất cho bên bị vi phạm hoặc là để ngănngừa thiệt hại hay có ý nghĩa trừng phạt về mặt vật chất đối với bên vi phạm hợpđồng Do đó, các chế tài này được các bên áp dụng cho các vi phạm xuất hiện từ lúc

ký kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng

2.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

Điều 223, Khoản 1 LTM quy định: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việcbên có quyền lợi bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùngcác biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổnphát sinh.”

Vậy những trường hợp nào có thể áp dụng được chế tài buộc thực hiện đúnghợp đồng Theo Điều 223, Khoản 2, chế tài này được áp dụng trong các trường hợp:giao hàng thiếu; giao hàng kém chất lượng, cung ứng hàng hóa không đúng hợpđồng Trong trường hợp giao thiếu hàng, chế tài này quy định rằng bên vi phạm phảigiao đủ hàng theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng, tức là phải giao hàng đúng

về số lượng, chất lượng, chủng loại, xuất xứ, mẫu mã … Đối với việc giao hàng kémchất lượng, bên vi phạm phải tìm cách loại trừ các khuyết tật của hàng hóa Trongtrường hợp này, Luật thương mại còn quy định thêm rằng bên vi phạm có thể giao

Trang 32

hàng khác để thay thế hàng kém chất lượng, tuy nhiên “không được dùng tiền hoặchàng khác chủng loại để thay thế, nếu không được sự chấp nhận của bên có quyền lợi

bị vi phạm.”

Trên thực tế, khi một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, để bảo vệ quyền lợi chomình, bên bị vi phạm không phải lúc nào cũng cứng nhắc đòi bên kia thực hiện đúngnghĩa vụ như giao hàng thêm (nếu giao hàng thiếu), hay tìm biện pháp khắc phụckhuyết tật của hàng hóa hoặc thay thế bằng hàng hóa khác (nếu giao hàng kém chấtlượng), nhất là trong trường hợp bên vi phạm gặp nhiều khó khăn và chi phí để làmđược như vậy và thậm chí bên bị vi phạm cũng có thể bị thiệt hại hơn

Trong trường hợp này, tức là khi bên vi phạm không thực hiện theo các quyđịnh trên, tại Điều 223, Khoản 3 và 4 của Luật thương mại cũng thể hiện sự linh hoạtkhi quy định cụ thể rằng: Bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền mua hàng của ngườikhác để thay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng Khi đó, bên vi phạmphải bù chênh lệch nếu có Ví dụ khi bên vi phạm giao hàng thiếu, bên bị vi phạmkhông nhất thiết phải chờ bên vi pham giao hàng đủ mà có thể mua ngay hàng kháccùng chủng loại của người cung cấp khác để không mất thời cơ kinh doanh của mình.Tất nhiên, để đảm bảo cho quyền lợi của bên bị vi phạm, bên vi phạm phải có tráchnhiệm đền bù chi phí phát sinh Nếu bên có quyền lợi bị vi phạm tự sửa chữa khuyếttật, thiếu sót của hàng hóa thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý Rõ ràng

là giải pháp này vừa giúp các bên tiếp tục quan hệ hợp đồng, vừa hạn chế các thiệthại

Để cho bên vi phạm có thể thực hiện được các nghĩa vụ nói trên, Luật thươngmại còn cho phép bên có quyền lợi bị vi phạm phải gia hạn một thời gian hợp lý(Điều 224) Song việc gia hạn này không có nghĩa là thay đổi điều khoản về thời hạngiao hàng Thời hạn giao hàng nếu có sự thay đổi là do hai bên thỏa thuận, còn việcgia hạn chỉ là quyết định đơn phương của bên bị vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích củamình Nếu hết thời hạn ấn định mà bên vi phạm vẫn không thực hiện chế tài buộcthực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ lợiích chính đáng của mình (Khoản 2, Điều 225) Tuy nhiên, Khoản 1, Điều 225 củaLuật thương mại lại quy định rõ ràng: “Trong trường hợp không có thỏa thuận khácthì trong thời gian áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bến có quyền lợi bị

vi phạm không được áp dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, hủy hợp

Ngày đăng: 05/05/2016, 21:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Luật Thương mại 1997, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 11thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại 1997
3. Bộ luật Dân sự 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự 2005
4. Luật thương mại, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.II. Giáo trình và sách tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại", Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
1. Giáo trình "Luật Thương mại tập I và II" của trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương mại tập I và II
Nhà XB: NXB Giáo Dục
2. Giáo trình “Luật kinh tế và thương mại”, của tác giả Trịnh Thị Sâm chủ biên, trường Đại học Thương Mại, NXB Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Luật kinh tế và thương mại”
Nhà XB: NXB Thống Kê
3. Giáo trình “Luật Dân Sự”(2014), trường Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình “Luật Dân Sự”(2014)
Tác giả: Giáo trình “Luật Dân Sự”
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2014
4. Sách: "Giải quyết tranh chấp thương mại và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại" của Luật gia Phương Quỳnh.III. Báo và tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết tranh chấp thương mại và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại
1. Luận án “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam”.Tác giả Nguyễn Thụy Phương, khoa Luật, trường đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam
2. Bài “Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của tác giả Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý, số 1 (26)/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam
3. Bài viết “Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại” của tác giả Nguyễn Thị Hằng Nga đã công bố trên Tạp chí Tòa án tháng 5/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc áp dụng chế tài phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động thương mại
4. Bài “Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại 2005” của tác giả Nguyễn Thị Tình & Đỗ Phương Thảo, trường đại học Thương Mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định về chế tài trong thương mại theo Luật Thương mại 2005
5. Bài “So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980” của tác giả Phan Thị Thanh Thủy trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong Luật thương mại Việt Nam 2005 và Công ước Viên 1980
6.Bản án kinh doanh thương mại Phúc thẩm số 06/2010/KDTM-PT ngày 24/11/2010 của Tòa án nhân dân Tỉnh Kiên Giang về "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" giữa Công ty TNHH Song Thuận và Công ty Cổ phần Kinh doanh Nông sản Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w