Cùng với tác động lãi suất thì tỷ giá hối đoái cũng là 1 biến số quantrọng ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây.Qua phân tích và đánh giá những nguyên nhân và bài h
Trang 1MỤC LỤC
Chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái của Việt Nam 1
1 Lời mở đầu 1
2 Mục đích nghiên cứu vấn đề: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu: 2
5.Kết cấu đề tài: 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM 3
1 Khái niệm: 3
1.1 Lãi suất: 3
1.1.1 Khái niệm chung: 3
1.1.2 Các loại lãi suất: 3
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng: 3
1.1.2.2 Căn cứ vào loại hình tín dụng: 3
1.1.2.3 Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất: 4
1.1.2.4 Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất: 4
1.2 Tỉ giá hối đoái: 4
1.2.1 Khái niệm chung: 4
1.2.2 Các loại tỷ giá: 5
1.2.2.1 Phân theo đối tượng xác định: 5
1.2.2.2 Phân theo kỹ thuật giao dịch: 5
1.2.2.3 Phân theo hoạt động xuất nhập khẩu: 5
1.2.2.4 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá: 5
1.2.2.5 Căn cứ vào thời điểm giao dịch: 5
2 Quá trình hình thành và phát triển: 6
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của lãi suất ở Việt Nam: 6
2.2 Quá trình hình thành và phát triển của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam: 7
3 Vai trò của lãi suất và tỷ giá hối đoái: 9
3.1 Vai trò của lãi suất: 9
3.1.1 Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư: 9
3.1.2 Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: 9
3.1.3 Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô: 9
3.1.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế: 10
3.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái: 10
Trang 24.Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái: 10
4.1 Lý thuyết ngang giá lãi suất: 10
4.2 Công cụ điều chỉnh tỷ giá: 11
4.3 Những hạn chế: 12
4.4 Quan hệ biện chứng: 13
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM 14
1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái: 14
1.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam: 14
1.1.1 Ưu điểm của chính sách: 14
1.1.2 Hạn chế của chính sách: 15
1.2 Tác động của chính sách tỷ giá đến ổn định thị trường tiền tệ và lạm phát: 17
1.2.1 Khủng hoảng tài chính của khu vực Đông Nam Á: 17
1.2.2 Giai đoạn năm 2007- đầu năm 2008: 17
1.2.3 Tác động của tỷ giá đến lạm phát: 17
2 Tác động của chính sách lãi suất: 18
2.1 Tác động của chính sách lãi suất đến sản lượng và giá cả: 18
2.1.1 Tác động của lãi suất thực đến chi tiêu dùng và đầu tư: 18
2.1.2 Tác động của lãi suất thực đến phân phối lại thu nhập: 18
2.2 Tác động của chính sách lãi suất đến tăng trưởng và lạm phát: 19
2.2.1 Đối với cá nhân: 19
2.2.2 Đối với doanh nghiệp: 19
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ TỶ GIẢ HỐI ĐỔI CỦA VIỆT NAM: 21
1 Điều chỉnh chính sách lãi suất: 21
2 Điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái: 25
3 Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: 26
3.1 Đối với cơ chế điều hành tỷ giá: 26
3.2 Những kiến nghị chính về lãi suất: 27
KẾT LUẬN 28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 3Chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái
của Việt Nam
1 Lời mở đầu
Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên,nền kinh tế thế giới đang bước vào thời kì khủng hoảng tài chính toàncầu Vì vậy, Việt Nam khó tránh khỏi những tác động của khủng hoảngđến nền kinh tế Cho nên, việc có những chính sách kinh tế phù hợp là rấtquan trọng trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay
Lãi suất - một biến số quan trọng rất được quan tâm trong nền kinh
tế Và lãi suất còn trực tiếp tác động đến các mối quan hệ trong nền kinh
tế liên quan trực tiếp đến các lợi ích vật chất trong xã hội Do đó, nó cũngđồng thời tác động đến đời sống của mỗi chúng ta Trong nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung, vai trò của lãi suất đã bị xem nhẹ Còn trong nềnkinh tế thị trường thì vai trò của lãi suất đã có sự thay đổi, lãi suất trongnền kinh tế thị trường đã được khẳng định là giá cả để vay mượn hoặcthuê những dịch vụ tiền có liên quan đến việc tạo ra tín dụng, do đó người
ta có thể coi lãi suất là giá cả của thị trường
Đối với nền kinh tế Việt Nam, sau năm 1986 đánh dấu sự chuyểnđổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý củanhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lãi suất trở thành công cụquản lý vĩ mô quan trọng của nhà nước Lãi suất đã góp phần kiềm chếlạm phát cũng như kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế trong côngcuộc đổi mới của đất nước Thực tiễn đã chứng minh với chính sách đúngđắn về lãi suất đã giải quyết được vấn đề về lạm phát từ những năm cuốithập niên 1980 lạm phát từ 3 con số giảm xuống còn 2 số ; riêng năm
1993 tỉ lệ lạm phát chỉ còn một chữ số mức thấp nhất trong lịch sử điềutiết lãi suất ở Việt Nam
Cùng với tác động lãi suất thì tỷ giá hối đoái cũng là 1 biến số quantrọng ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây.Qua phân tích và đánh giá những nguyên nhân và bài học từ cuộc khủnghoảng tài chính – tiền tệ khu vực cho thấy, mặc dù thị trường tài chính –tiền tệ của Việt Nam chưa phát triển đầy đủ và mở cửa nên không bị tácđộng của cuộc khủng hoảng Nhưng Việt Nam đã nhận thấy tính chấtnghiêm trọng của việc ổn định chế độ tỷ giá danh nghĩa kéo dài – mộtnguyên nhân quan trọng tạo ra cuộc khủng hoảng Cho nên, chính sách tỷgiá phải được điều chỉnh linh hoạt, phản ánh đúng tình hình kinh tế thực
tế nhằm chống đỡ lại các cú sốc của nền kinh tế
Thiết nghĩ, nghiên cứu tác động của chính sách lãi suất và tỷ giá hốiđoái đến nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh nước đã trở thành thànhviên của tổ chức thương mại thế giới WTO là một vấn đề cần thiết và cầnđược quan tâm đúng mực
Trang 42 Mục đích nghiên cứu vấn đề:
Đề tài nghiên cứu hướng đến 2 mục tiêu chính đó là: Đầu tiên làThực trạng của chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái của Việt Nam trongnhững năm gần đây và thứ 2 là Các giải pháp để điều chỉnh chính sáchnày cho phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong những năm tiếp theo
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu các ảnh hưởng của lãi suất
và tỷ giá đến kinh tế Việt Nam qua các giai đoạn Xét về phương diệntổng quát, nền kinh tế của quốc gia chịu tác động của rất nhiều các nhân
tố Tuy nhiên, các chính sách này tác động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu,tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam Vì vậy đề tài của chúng tôitập trung nghiên cứu về các vấn đề trên
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu mang tính ứng dụng giải quyết vấn đề kinh tế xãhội của quốc gia,vì vậy để đạt được hiệu quả cao và tận dụng được tính
ưu việt của các phương pháp nghiên cứu đề tài kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau
Phương pháp sử dụng chủ yếu là điều tra, quan sát để thu thậpthông tin liên quan đến lãi suất, lạm phát, tỷ giá,… các chỉ số liên quanđến thực trạng nền kinh tế Việt Nam
Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá nhằm tìm hiểu cáctác động của chính sách lãi suất và tỷ giá tác động đến kinh tế Việt Namnhư thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quảcủa các chính sách này
2.1 Tác động của chính sách lãi suất đến sản lượng và giá cả:
2.2 Tác động của chính sách lãi suất đến tăng trưởng và lạm phát:
Chương 3: Giải pháp của chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái:
1 Điều chính chính sách lãi suất
2 Điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái
Kết Luận và Danh mục lục tham khảo:
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
1 Khái niệm:
1.1 Lãi suất:
1.1.1 Khái niệm chung:
Lãi suất là một biến số rất quan trọng của kinh tế học Chúng ta hiểulãi suất theo nghĩa "giá cả" giống như mọi loại giá cả hàng hóa khác trênthị trường Điều khác biệt duy nhất của lãi suất so với các loại giá cả khác
đó là nó chính là giá của một loại hàng hóa rất trừu tượng Chúng ta cầnđịnh nghĩa chính xác cái hàng hóa và trên đó lãi suất trở thành giá cả Đó
là cái giá phải trả cho "sự trì hoãn thanh toán." Bản thân cách gọi này tuychính xác, nhưng lại cũng rất trừu tượng Một cách nhìn cụ thể hơn là chiphí cơ hội do việc không có sẵn tiền mặt gây ra, chẳng hạn bất tiện khicần thanh toán mà không có tiền hoặc có nhu cầu sử dụng bây giờ nhưngkhông thể thỏa mãn được ngay lập tức, v.v Như thế cách hiểu rõ vàchính xác nhất của lãi suất là "cái giá phải trả cho hi sinh tiêu dùng tươngứng với khoản tiền cho vay đi." Bản chất của nó chính là chi phí cơ hộicho việc nhận tiền lại muộn hơn và trì hoãn tiêu dùng trước mắt Ta cóthể định nghĩa: lãi suất là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiềnvay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá mà người vayphải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tứcngười cho vay có được đối với việc trì hoãn chi tiêu
Đơn giản hơn trong cuộc sống, theo nghĩa rộng thì như trên còntheo nghĩa hẹp là "giá của một khoản tiền vay." Từ năm 1500 TrướcCông Nguyên, tín dụng đã ra đời và kèm theo nó là lãi suất trong tộcngười Assyrians Thời Trung Cổ ở Châu Âu, lãi suất vẫn tồn tại, nhưng vì
lý do nhà thờ khi đó nắm quyền hành lớn và thực tế là kỳ thị việc họ cho
là tranh chấp quyền của Chúa, quyền quyết định một khoản tiền trongtương lai Lãi suất khi này được xem là công cụ "hạn chế" bản chất hợpđồng của tín dụng và lòng tin tài chính Đối với Việt Nam, lãi suất đượchiểu là phần (suất) lãi trả tính trên đơn vị nào đó, ví dụ % trong một năm
1.1.2 Các loại lãi suất:
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
Lãi suất được chia thành 3 loại:
- Lãi suất ngắn hạn: áp dụng với các khoản tín dụng ngắn hạn
- Lãi suất trung hạn: áp dụng với các khoản tín dụng trung hạn
- Lãi suất dài hạn: áp dụng với các khoản tín dụng dài hạn
1.1.2.2 Căn cứ vào loại hình tín dụng:
Lãi suất được chia thành các loại:
- Lãi suất tín dụng thương mại: áp dụng khi các doanh nghiệp cho
Trang 6nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá.
- Lãi suất tiền gửi: là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi, áp dụng đểtính tiền lãi phải trả cho người giữ tiền
- Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho ngân hàng doviệc sử dụng vốn vay của ngân hàng, áp dụng để tính lãi mà khách hàngphải trả cho ngân hàng
- Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vaydưới hình thức chiết khấu thường phiếu hoặc giấy tờ có giá trị khác chưađến hạn thanh toán của ngân hàng
- Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà ngân hàng áp dụng khi chonhau vay trên thị trường liên ngân hàng
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở
để ổn định mức lãi suất kinh doanh của mình
- Lãi suất tín dụng Nhà nước: áp dụng khi nhà nước đi vay các chủthể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc tráiphiếu
- Lãi suất tín dụng tiêu dùng: áp dụng khi doanh nghiệp cho ngườitiêu dùng vay phục vụ cho nhu cầu cá nhân
1.1.2.3 Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất:
Lãi suất được chia làm 2 loại:
- Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền
tệ vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa trừ đi
tỷ lệ lạm phát
- Lãi suất thực tế: là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theonhững thay đổi về lạm phát hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ
lệ lạm phát
1.1.2.4 Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất:
Lãi suất được chia làm 2 loại:
- Lãi suất ổn định: là lãi suất áp dụng cố định trong suốt thời gian vay
- Lãi suất thả nổi: là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báotrước hoặc không báo trước.Nó có lợi cho cả 2 bên khi nhận và trả tiềnđều tính theo 1 lãi suất chung là lãi suất hiện tại
1.2 Tỉ giá hối đoái:
1.2.1 Khái niệm chung:
- Samuelson, nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng: “Tỷ giá hối đoái là
tỷ giá để đổi tiền 1 nước lấy tiền của 1 nước khác”
- Statyer, nhà kinh tế học người Úc lại cho rằng: “Một đồng tiền của
1 nước nào đó thì bằng giá trị của 1 số lượng đồng tiền nước khác”
- Christopher Pass và Bryan Lowes, người Anh cho rằng: “Tỷ giáhối đoái là giá của 1 loại tiền tệ được biểu hiện giá của tiền tệ khác” Các khái niệm trên phản ánh 1 số khía cạnh khác nhau của tỷ giáhối đoái Để thống nhất, ta có khái niệm tổng quát là: Tỷ giá hối đoái là tỷgiá so sánh đồng tiền giữa các nước, xét về mặt giá trị
Trang 71.2.2 Các loại tỷ giá:
1.2.2.1 Phân theo đối tượng xác định:
Chia ra làm 2 loại tỷ giá:
- Tỷ giá chính thức: là 1 loại tỷ giá do Ngân hàng trung ương củanước đó xác định
- Tỷ giá thị trường: là tỷ giá hình thành theo quan hệ cung cầu trênthị trường hối đoái
1.2.2.2 Phân theo kỹ thuật giao dịch:
Bao gồm các loại tỷ giá sau:
- Tỷ giá giao ngay(Spot): là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết giá tại thờiđiểm giao dịch hoặc do 2 bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo theo biểu
độ do Ngân hàng Nhà nước qui định Việc thanh toán giữa các bên phảiđược thực hiện trong vòng 2 ngày làm việc tiếp theo, sau ngày cam kếtmua hoặc bán
- Tỷ giá giao dịch kỳ hạn(Forwards): là tỷ giá giao dịch do tổ chứctín dụng yết giá hoặc do 2 bên tham gia giao dịch tự tính toán và thoảthuận với nhau nhưng phải đảm bảo trong biên độ qui định về tỷ giá kỳhạn hiện hành của ngành Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm ký hợp đồng
1.2.2.3 Phân theo hoạt động xuất nhập khẩu:
Người ta phân ra là 2 loại:
- Tỷ giá xuất khẩu: là tỷ giá so sánh giữa tổng giá vốn hàng xuấtkhẩu tính tiền sàn tàu bằng tiền nội địa so với số ngoại tệ thu được theo
giá FOB tại cảng xuất khẩu Nếu tỷ giá xuất khẩu nhỏ hơn tỷ giá thị
trường (giá mua của ngân hàng) là nhà xuất khẩu có lời
- Tỷ giá nhập khẩu: là tổng giá bán hàng nhập khẩu tại cảng nhậpkhẩu tính theo nội tệ so với ngoại tệ phải trả theo giá CIF tại cảng nhậpkhẩu Nếu tỷ giá nhập khẩu lớn hơn tỷ giá thị trường (giá bán ngoại tệ củangân hàng) là nhà nhập khẩu có lời
1.2.2.4 Căn cứ vào giá trị của tỷ giá:
Người ta chia ra làm 2 loại tỷ giá:
- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa: là tỷ giá của 1 loại tiền tệ được biểuhiện theo giá hiện tại, không tính đến bất kì ảnh hưởng nào của lạm phát
- Tỷ giá hối đoái thực: là tỷ giá có tác động của lạm phát và sức muatrong 1 cặp tiền tệ phản ánh giá cả hàng hoá tương quan có thể bán ranước ngoài và hàng tiêu thụ trong nước
Đặc tính quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái thực là nó đại diện chokhả năng cạnh quốc tế của nước đó
1.2.2.5 Căn cứ vào thời điểm giao dịch:
Tỷ giá hối đoái được chia làm 2 loại:
- Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá được công bố vào đầu giờ của ngày giaodịch
- Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá được công bố vào cuối giờ của ngày giaodịch
Trang 82 Quá trình hình thành và phát triển:
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của lãi suất ở Việt Nam:
* Giai đoạn từ 1986 – 1993: Giai đoạn Việt Nam chuyển từ lãi suất
âm sang lãi suất dương
Lãi suất thời kỳ này là lãi suất âm và thấp hơn nhiều so với lạmphát.Lạm phát năm 1986 là 774% trong khi lãi suất chỉ là 12% Tháng10/1990, pháp lênh ngân hàng công bố tách hệ thống Ngân hàng thành 2cấp Ngân hàng nhà nước và các tài chính tín dụng, qui định rõ lãi suấttiền gửi và lãi suất tiền vay
Sang năm 1992, lạm phát mới được đẩy lùi và ở mức thấp, đây làđiều kiện để chuyển sang lãi suất dương
* Giai đoạn 1994 – 2000:
NHNN cho phép các tổ chức tín dụng cho vay theo mức lãi suấtthoả thuận mà Ngân hàng thương mại thoả thuận với khách hàng Ở giaiđoạn này vẫn có sự phân biệt giữa lãi suất cho vay đối với doanh nghiệpquốc doanh và doanh nghiệp tư nhân.Bên cạnh đó với cơ chế cho vaytheo lãi suất thoả thuận Ngân hàng thương mại có nơi cho vay cao hơnmức lãi suất 22%/năm và có nơi cho vay đến 30 – 35%/năm, điều nàyđem lại cho các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng lợi nhuận rấtcao trong khi đó các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khókhăn về tài chính.Vì vậy tháng 10/1995 sau kỳ họp VIII khoá IX thôngqua bỏ thuế doanh thu của các Ngân hàng thương mại, các tổ chức tíndụng, yêu cầu các đơn vị kinh doanh tiền tệ phải giảm chi phí hoạt động
để giảm lãi suất cho vay của mình.Ngân hàng trung ương khống chế mứccho vay và tiền gửi là 0,35%/tháng, là tiền đề để hình thành chính sách lãisuất mới, thực hiện khống chế trần lãi suất cho vay với các Ngân hàngthương mại và các tổ chức tín dụng khác
Trong năm 1999, NHNN đã 5 lần hạ trần lãi suất cho vay với đốivới các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác Đây là biệnpháp thiết yếu để khắc phục những dư âm của cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ Châu Á năm 1998
* Giai đoạn 2001 – nay:
Thực hiện lãi suất trần với các doanh nghiệp tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp vay vốn để hoạt động
NHNN tăng lãi suất cơ bản, phát tín hiệu tăng lãi suất trên thịtrường tiền tệ.NHNN hạn chế cung ứng tiền cho các Ngân hàng thươngmại để mở tín dụng thông qua việc tăng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất.Đồng thời để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng các Ngân hàngthương mại phải đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường, để huy độngvốn các Ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất huy động vốn.Có nhiềuhình thức huy động vốn: lãi suất tiền gửi luỹ tuyến theo thời gian và theo
cả số tiền gửi nhiều hay ít…Các Ngân hàng thương mại nhiều lần thựchiện tăng lãi suất tiền gửi
Trang 92.2 Quá trình hình thành và phát triển của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam:
* Trong những năm 1988-1991, tỷ giá hối đoái của Việt Nam từ
chế độ đa tỷ giá chuyển sang chế độ tỷ giá thống nhất được xác định theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Tỷ giá hối đoái danhnghĩa đã được điều chỉnh theo sát những diễn biến của lạm phát đã làmcho tỷ giá hối đoái thực tế ổn định, nên đã có những tác động tích cực đếnviệc khôi phục cả cân đối bên trong và bên ngoài nền kinh tế, từng bướcnâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa, thúc đẩy xuất khẩu pháttriển, do đó làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ, giảm dần thâm hụt cán cânthương mại và cán cân thanh toán qua các năm Sự điều chỉnh hợp lý tỷgiá hối đoái danh nghĩa phối hợp với việc thắt chặt cung tiền, cắt giảm chitiêu Chính phủ, hạn chế tín dụng, tăng lãi suất… và những chính sáchkinh tế khác đã chặn đứng được lạm phát, đưa nền kinh tế Việt Nam rakhỏi suy thoái và bước vào thời kỳ phát triển
*Từ năm 1992 đến năm 1997, chính sách tỷ giá hối đoái được điều
chỉnh để chống lạm phát và thu hút đầu tư nước ngoài Để thực hiện mụctiêu chống lạm phát, chính sách tỷ giá được điều hành cố gắng duy trì sự
ổn định của tỷ giá hối đoái danh nghĩa Vì vậy, nếu so sánh chỉ số CPIcủa Mỹ và CPI của Việt Nam, các nhà kinh tế tính toán cho rằng, tỷ giáhối đoái thực tế đã bị giảm tới hơn 20%
Sự ổn định tỷ giá hối đoái danh nghĩa những năm này đã tạm thờigóp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư nước ngoài,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao trên 8% năm Nhưng việc duytrì tỷ giá hối đoái danh nghĩa gần như cố định trong điều kiện lạm phát đãđược kiềm chế song vẫn cao hơn lạm phát của Mỹ và các nước có quan
hệ thương mại chủ yếu của Việt Nam, đồng thời đồng USD có xu hướngtăng giá từ năm 1995 đã làm cho VNĐ có xu hướng ngày càng bị đánhgiá cao hơn thực tế Điều này đã tạo ra và tích luỹ những nhân tố gây mất
ổn định và kìm hãm sự phát triển kinh tế
Do tỷ giá hối đoái thực tế giảm xuống, VND được đánh giá cao đãlàm suy giảm sức cạnh tranh quốc tế của hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam,làm cán cân thương mại và cán cân thanh toán chuyển trạng thái từ thặng
dư năm 1991-1992 sang trạng thái thâm hụt, bắt đầu tích luỹ sự mất cânđối bên ngoài và dần chuyển sang gây mất ổn định và mất cân đối bêntrong nền kinh tế Bởi vì, về bản chất, tỷ giá hối đoái không chỉ tác độngđến những vấn đề kinh tế đối ngoạ mà nó còn tác động đến các vấn đềkinh tế đối nội thông qua sự tác động của tỷ giá đến thị trường tiền tệ vàthị trường vốn
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa ổn định đã có tác dụng tích cực trongviệc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng do ngoại tệ được đánh giá
rẻ nên đã khuyến khích các nhà đầu tư vay ngoại tệ để đầu tư vào cácngành sử dụng nhiều vốn và nguyên liệu nhập khẩu – một nguồn lực
Trang 10được coi là khan hiếm ở Việt Nam Điều này đã đi ngược với chiến lượcphát triển kinh tế dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực sẵn
có và những lợi thế so sánh của đất nước, đó là nguồn lực lao động Một yếu tố khác càng làm trầm trọng hơn tác động tiêu cực của tỷ giá hốiđoái giai đoạn này là việc phá giá đồng NDT 50% vào năm 1994 củaTrung Quốc Việc phá giá NDT đã làm cho hàng hóa, dịch vụ của TrungQuốc quá rẻ đã tràn ngập thị trường Việt Nam qua con đường buôn bánmậu dịch và buôn lậu, gây khó khăn cho sản xuất trong nước và tăngnhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc
* Từ năm 1997 đến nay, chính sách tỷ giá hối đoái được điều hành
nhằm chống đỡ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khuvực và khắc phục tình trạng đánh giá cao VND thời gian trước đó Tháng 7 năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực ĐôngNam á đã làm cho một loạt đồng tiền của các nước trong khu vực giảmgiá mạnh so với đồng USD và VND Điều đó cũng có nghĩa là, VND đã
bị đánh giá cao hơn nữa, trong bối cảnh các nước trong khu vực là bạnhàng chủ yếu và quan trọng của Việt Nam, đã làm cho xuất khẩu của ViệtNam giảm sút nhanh chóng
Phân tích những nguyên nhân và bài học từ cuộc khủng hoảng tàichính – tiền tệ khu vực cho thấy, mặc dù thị trường tài chính – tiền tệ củaViệt Nam chưa phát triển đầu đủ và mở cửa nên không bị kéo ngay vàolàn sóng của cuộc khủng hoảng, nhưng Chính phủ và NHNN Việt Nam
đã nhận thấy tính chất nghiêm trọng của ổn định chế độ tỷ giá danh nghĩakéo dài – một nguyên nhân quan trọng tạo ra cuộc khủng hoảng nên đã cónhững biện pháp xử lý tương đối hợp lý, ngăn chặn được những cú sốckhông cần thiết đối với nền kinh tế Vì vậy tháng 10 năm 1997, NHNN đãquyết định mở rộng biên độ giao dịch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giágiao dịch tại các thị trường liên ngân hàng từ (+) (-) 5% lên (+) (-)10%.Nới rộng biên độ giao dịch đã làm cho tỷ giá thị trường tăng mạnh Mặc
dù tỷ giá tăng, nhưng giá cả trên thị trường không có những biến độngđáng kể
Việc điều chỉnh tỷ giá của NHNN trên đây đã có tác động tích cựcđối với xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu của Việt Nam, giảm nhập siêutrong các năm 1997-1999, cán cân tài khoản vãng lai và cán cân thanhtoán cũng giảm dần thâm hụt, mặc dù đầu tư nước ngoài suy giảm mạnhtrong các năm này Nhưng điều chỉnh tỷ giá như trên cũng có những tácđộng tiêu cực đến nền kinh tế, bởi vì khi VND giảm giá đã làm tăng thêmgánh nặng nợ nước ngoài của cả chính phủ và các doanh nghiệp có vốnvay nước ngoài, giảm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vì vậy có thể thấy rằng, đó cũng chính là cái giá phải trả khi lựachọn chính sách tỷ giá thiên về cố định bằng cách duy trì sự ổn định của
tỷ giá danh nghĩa quá lâu Và một khi duy trì tỷ giá cố định càng dài thìcái giá phải trả càng lớn
Trang 11Để tránh những hậu quả tương tự, chính sách tỷ giá phải được điềuchỉnh linh hoạt, phản ánh đúng với quan hệ cung cấp về ngoại hối, sởthích của người tiêu dùng, lạm phát, lợi tức của tài sản nội, ngoại tệ… đểchống đỡ được các cú sốc của nền kinh tế
Vì vậy, từ năm 1999, NHNN chấm dứt công bố tỷ giá chính thức,
mà chỉ công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng,đồng thời biên độ giao dịch dao động cũng giảm xuống chỉ còn (+) (-)0,1% Việc can thiệp của Nhà nước đối với tỷ giá được thực hiện chủ yếuthông qua hoạt động mua bán ngoại tệ của NHNN trên thị trường ngoạihối, xoá bỏ phương thức quản lý mang nặng tính chất hành chính chủquan trước đây Từ đó cho đến nay, tỷ giá hối đoái đã được hình thànhtheo cơ chế thị trường, bám sát sự biến động của thị trường thế giới, phảnánh tương đối sát quan hệ kinh tế quốc tế giữa đồng nội tệ và ngoại tệ,nên đã cải thiện cơ bản cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tếcủa Việt Nam
3 Vai trò của lãi suất và tỷ giá hối đoái:
3.1 Vai trò của lãi suất:
3.1.1 Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư:
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút cáckhoản tiết kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên các quỹ cho vay đáp ứngnhu cầu của nền kinh tế
Phương trình về thu nhập:
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm
Để tăng tỷ lệ tiết kiệm cho nền kinh tế quốc dân thì biện pháp hiệuquả là tăng lãi suất huy động vốn.Khi đó hộ gia đình sẽ giảm chi để tăngtiết kiệm, khoản tiết kiệm này họ sẽ gửi vào Ngân hàng, vào quỹ bảohiểm…
Như vậy, lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân chia tỷ lệgiữa tiêu dùng và tiết kiệm
Ở Việt Nam, huy động vốn là vấn đề hết sức then chốt, vấn đề là cầnduy trì mức lãi suất như thế nào để huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong xãhội
3.1.2 Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
- Lãi suất khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triểnsản xuất kinh doanh.Ngược lãi, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đầu tư củacác doanh nghiệp
- Lãi suất là công cụ của Nhà nước khuến khích các doanh nghiệp đầu
tư vào các ngành sản xuất cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
3.1.3 Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô:
- Lãi suất thấp => kích thích đầu tư,kích thích tiêu dùng => tăngtổng cầu => sản lượng tăng, giá tăng, thất ngiệp giảm => nội tệ có xuhướng giảm giá so với ngoại tê
Trang 12- Lãi suất cao => hạn chế đầu tư, hạn chế tiêu dùng => giảm tổngcầu => sản lượng giảm, giá giảm, thất nghiệp tăng => nội tệ có xu hướngtăng giá so với ngoại tệ.
3.1.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng của nền kinh tế:
Trong giai đoạn đang phát triển của nền kinh tế lãi suất có xu hướngtăng do cung cầu quỹ cho vay tăng trong đó tốc độ tăng của cầu lớn hơntốc độ tăng của cung.Ngược lại trong giai đoạn suy thoái của nền kinh tếlãi suất có xu hướng giảm
Do vậy, thông thường nhìn vào xu hướng biến động của lãi suất tathấy được tình trạng của nền kinh tế
3.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá là quan trọng vì nó tác động đến giá cả tương đối của hànghóa trong nước và hàng hóa nước ngoài Tuy nhiên, cùng một sự việctăng giá như vậy lại làm cho giá hàng ngoại tại nước đó rẻ hơn Cách lậpluận như vậy đưa đến kết luận: Khi đồng tiền của một nước tăng giá (tăngtrị giá so với các đồng tiền khác) thì hàng hóa của nước đó tại nước ngoàitrở thành đắt hơn và hàng hóa nước ngoài tại nước đó trở thành rẻ hơn(giá nội địa tại hai nước giữ nguyên) Ngược lại, khi đồng tiền của mộtnước sụt giá, hàng hóa của nước đó tại nước ngoài trở thành rẻ hơn trongkhi hàng hóa nước ngoài tại nước đó trở thành đắt hơn
Một việc tăng giá của một đồng tiền có thể làm cho những nhà sảnxuất nước đó khó khăn trong việc bán hàng của họ ở nước ngoài và có thểtăng sự cạnh tranh của hàng nước ngoài tại nước mình bởi vì giá nó giảm
đi Từ năm 1980 đến đầu năm 1985, việc tăng giá đồng đôla làm thiệt hạicác ngành công nghiệp Mỹ Ví dụ, công nghiệp thép của Mỹ bị thiệt hạikhông phải là chỉ do việc bán ở nước ngoài thép Mỹ với giá đắt hơn bịgiảm xuống, mà còn do việc bán thép giá tương đối rẻ hơn của nướcngoài tại Mỹ tăng lên Mặc dù việc nâng giá đôla Mỹ làm thiệt hại một sốnhà kinh doanh trong nước, những người tiêu dùng Mỹ được lợi, bởi vìhàng ngoại rẻ đi hơn Máy video cassette và máy ảnh của Nhật và giá đinghỉ châu Âu giảm giá là kết quả của đồng đôla vững mạnh
4.Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái:
4.1 Lý thuyết ngang giá lãi suất:
Mối quan hệ giữa lãi suất trên thị trường tiền tệ với tỷ giá trên thịtrường hối đoái sẽ được hiểu rõ thông qua việc nghiên cứu hiệu ứngFisher quốc tế (International Fisher Effect) và lý thuyết ngang giá lãisuất Hai lý thuyết này khác nhau ở các hàm ý
Lý thuyết ngang giá lãi suất giải thích vì sao tỷ giá kỳ hạn khác với
tỷ giá giao ngay và mức độ chênh lệch sẽ có Tại một thời điểm nhấtđịnh (tỷ giá kỳ hạn), khẳng định tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng sự saibiệt trong lãi suất Theo lý thuyết ngang giá về lãi suất, đồng tiền củamột quốc gia nào đó có lãi suất thấp hơn thì nhất định sẽ là bù kỳ hạncho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một quốc gia nọ có lãi suất
Trang 13cao hơn Ngược lại, hiệu ứng Fisher quốc tế chú trọng đến việc tỷ giágiao ngay của một đồng tiền sẽ thay đổi theo thời gian, khẳng định rằng
tỷ giá giao ngay sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất giữa hai nước
Từ phân tích theo lý thuyết ngang giá lãi suất và hiệu ứng Fisher quốc
tế, có thể thấy rằng lãi suất là công cụ giúp các nhà quản trị tài chính dựđoán và xác định tỷ giá trong tương lai để hoạch định chiến lược phòngchống rủi ro và chiến lược kinh doanh hiệu quả
4.2 Công cụ điều chỉnh tỷ giá:
Lãi suất là công cụ được các ngân hàng trung ương sử dụng để điềuchỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường, điều chỉnh giá trị đối ngoại của nôi
tệ Chính sách lãi suất cao có xu hướng hỗ trợ sự lên giá của nội tệ, bởi
vì nó hấp dẫn các luồng vốn nước ngoài chảy vào trong nước, nếu lãisuất trong nước cao hơn so với lãi suất nước ngoài hay lãi suất ngoại tệ
sẽ dẫn đến những dòng vốn chảy vào hay sẽ làm chuyển lượng hóa ngoại
tệ trong nền kinh tế sang đồng nội tệ để hưởng lãi suất cao hơn Điều nàylàm cho tăng cung ngoại tệ trên thị trường từ đó đồng ngoại tệ sẽ có xuhướng giảm giá trên thị trường, hay đồng nội tệ sẽ tăng giá
Về cơ bản, những trình bày trên đây chỉ đúng với các nền kinh tế mở(open economy), nơi có đồng tiền chuyển đổi và tự do lưu chuyển vốn
Về mặt lý thuyết, nếu lãi suất nước ngoài cao hơn, thì dẫn đến xuất khẩutiền tệ, và trong trường hợp ngược lại, là nhập khẩu tiền tệ Thực chất,những khác biệt về lãi suất chỉ dẫn tới sự chuyển đổi vốn, và kết quả làdẫn tới sự thay đổi về tỷ giá, nếu dự đoán về lợi nhuận, lãi suất thu được
do đầu tư tiền tệ không được đảm bảo hay do việc nhân tín dụng bằngngoại tệ không cân bằng, bởi những mất mát về tỷ giá Một khi còn tồntại những mối lo ngại như vậy, thì ngay cả khi có sự khác biệt lớn về lãisuất cũng không thể dẫn tới sự chuyển đổi vốn đến mức giảm lãi suất
Dự đoán về một quá trình phát triển tỷ giá đảo ngược để dẫn tới chênhlệch về lãi suất thường xuất hiện khi xem xét lãi suất danh nghĩa của mộtđồng tiền chứ không phải là lãi suất thực, tức là khi chiết trừ tỷ lệ lạmphát thì đồng tiền với lãi suất danh nghĩa thấp lại có lãi suất thực cao hơn
và ngược lại Thí dụ, đồng tiền A có lãi suất 10%/năm và tỷ lệ tăng giá là9%/năm; đồng tiền B có lãi suất là 8%/năm và tỷ lệ lạm phát là 5%/năm,như vậy lãi suất danh nghĩa của đồng tiền A cao hơn của đồng tiền B là2%/năm, nhưng lãi suất thực thì ngược lại, lãi suất của đồng tiền B lạicao hơn so với đồng tiền A là 2%/năm Theo cách phân tích này, chỉ cólãi suất thực mới tạo ra được sự nhập vốn; ngược lại, khi đồng tiền có lãisuất thực thấp thì sẽ dẫn tới hiện tượng nhận tín dụng, bởi vì người ta hyvọng rằng, khi thanh toán tín dụng người ta chỉ cần phải chi phí ít đơn vịnội tệ để mua lại số ngoại tệ đã vay, thậm chí còn ít hơn cả khi chưa traođổi giá trị tín dụng
Ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, mức lãi suất cao làcông cụ để chống lạm phát và nó thường được sử dụng để đáp ứng yêu
Trang 14cầu can thiệp vào nền kinh tế Ngoài ra, chính sách lãi suất còn được sửdụng vào mục đích điều chỉnh giá trị đối ngoại của nội tệ Phương phápdùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể nó làphương pháp thường được sử dụng với mong muốn có những thay đổicấp thời về tỷ giá Cơ chế tác động của công cụ này đến tỷ giá hối đoáinhư sau: Trong thế cân bằng ban đầu của cung cầu ngoại tệ trên thịtrường, khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi cùngchiều của lãi suất trên thị trường Từ đó, tác động đến xu hướng dịchchuyển của các dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn (trong cáncân thanh toán quốc tế) hoặc ít nhất cũng làm những người sở hữu vốntrong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất caohơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái Cụ thể, nếu lãi suất tăng sẽdẫn đến xu hướng là một đồng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới
sẽ đổ vào trong nước và những người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ
có khuynh hướng chuyển đổi đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thulãi cao hơn Kết quả là tỷ giá giảm (đồng nội tệ tăng) Trong trường hợpngược lại, nếu muốn tỷ giá tăng thì sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu
4.3 Những hạn chế:
Lãi suất và tỷ giá chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau mộtcách gián tiếp, chứ không phải là mối quan hệ trực tiếp và nhân quả Cácyếu tố để hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau Lãi suất biếnđộng do tác động của quan hệ cung cầu của vốn cho vay Còn tỷ giá hốiđoái thì do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định, mà quan hệ này lại
do tình hình của cán cân thanh toán dư thừa hay thiếu hụt quyết định.Như vậy là nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đóbiến động của lãi suất (lên cao chẳng hạn) không nhất thiết đưa đến tỷgiá hối đoái biến động theo ( hạ xuống chẳng hạn) Lãi suất lên cao cóthể thu hút vốn ngắn hạn của nước ngoài chạy vào, nhưng khi tình hìnhchính trị, kinh tế và tiền tệ trong nước không ổn định, thì không nhấtthiết thực hiện được, bởi vì với vốn nước ngoài, vấn đề lúc đó lại đặt ratrước tiên là sự đảm bảo an toàn cho số vốn chứ không phải là vấn đề thuhút được lãi nhiều Để minh hoạ vấn đề này, có thể sử dụng hai ví dụđiển hình trong lịch sử:
- Một là, trước thế chiến 2, Anh là một trong những nước điển hình
về việc sử dụng lãi suất chiết khấu để can thiệp vào thị trường hối đoái và
đã thu được nhiều kết quả đáng kể, do nền kinh tế và tiền tệ nước Anh lúc
đó khá ổn định
- Hai là, có thể lấy cuộc khủng hoảng USD thời kỳ 1971-1973 làm
ví dụ Tổng thống Mỹ Nixon, đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp
để cứu nguy cho USD bằng cách tăng lãi suất chiết khấu lên rất cao đểthu hút vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ quốc tế Vào lúc này, mặc dùlãi suất trên thị trường New York cao gấp rưỡi thị trường London, gấp 3lần thị trường Frankfurk, nhưng vốn ngắn hạn cũng không được chuyển
Trang 15vào Mỹ mà lại đưa đến Tây Đức và Nhật Bản, dù rằng các nước này thựchiện chính sách lãi suất thấp, vì lúc đó USD đang đứng bên bờ của nguy
cơ mất giá
Như vậy, chính sách lãi suất chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhấtđịnh và có giới hạn đối với tỷ giá hối đoái, bởi vì giữa tỷ giá và lãi suấtchỉ có quan hệ lôgic chứ không phải quan hệ nhân quả, lãi suất khôngphải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động vốn giữa các nước Tuynhiên, không nên hoàn toàn coi thường chính sách chiết khấu Nếu tìnhhình tiền tệ của các nước đều đại thể như nhau, thì phương hướng đầu tưngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao Do vậy, hiện naychính sách lãi suất chiết khấu vẫn có ý nghĩa của nó Đồng thời, can thiệpvào tỷ giá là phải có một thị trường vốn (nhất là thị trường vốn ngắn hạn)
đủ mạnh, tự do và linh hoạt: tài khoản vốn đã được mở cửa
4.4 Quan hệ biện chứng:
Lãi suất và tỷ giá là hai yếu tố nhạy cảm trong nền kinh tế và là cáccông cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ Lãi suất và tỷ giá luôn có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động lên cáchoạch định của nền kinh tế Sự khập khểnh giữa chính sách lãi suất và tỷgiá có thể gây ra những hậu quả bất lợi như: nội tệ bị mất giá gây nguy cơlạm phát “chảy máu” ngoại tệ, đầu cơ tiền tệ, hạn chế nguồn vốn đầu tưnước ngoài…Vì vậy, trong quản lý vĩ mô chính sách lãi suất và tỷ giáphải được xử lý một cách đồng bộ và phù hợp với thực trạng của nền kinh
tế trong từng thời kỳ nhất định
Điều hành và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá là một kỹthuật vi diệu, vì rằng hai biến số này bị tác động bởi nhiều yếu tố như tìnhhình xuất, nhập khẩu, lạm phát, đầu tư nước ngoài, chính sách, kinh tế, tàichính của chính phủ, các yếu tố tâm lý… Trong quá trình vận hành haibiến số này tác động ngược lại nhằm thúc đẩy hoặc kiềm chế sự phát triểncủa các yếu tố trên các yếu tố tác động đến quá trình hình thành và lãisuất và tỷ giá là kết quả hàng loạt quá trình tương tác khác nhau Vai trò,phương thức, cường độ của từng yếu tố lại phụ thuộc vào môi trường,hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển.Như vậy, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá tùy thuộc rất nhiều yếu tố, cácyếu tố lại thường đan xen vào nhau và tùy thuộc lẫn nhau ở một thời điểm
cụ thể, tình hình cụ thể, sẽ có yếu tố nổi bật là nguyên nhân làm thay đổilãi suất và tỷ giá và cũng có yếu tố trở thành hệ quả của sự thay đổi lãisuất và tỷ giá Chính mối quan hệ biện chứng này làm cho việc điều hành
và xử lý mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá trở nên khó khăn, phức tạp.Vai trò của lãi suất và tỷ giá như là những công cụ tích cực trong pháttriển kinh tế, đồng thời là những công cụ kềm hãm của chính sự phát triển
ấy, tùy thuộc vào sự khôn ngoan hay vụng về trong việc sử dụng chúng
Trang 16CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT
VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA VIỆT NAM
1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái:
1.1 Tác động của chính sách tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam:
Mỗi quốc gia đều căn cứ theo tình hình kinh tế và hoàn cảnh xã hộicủa đất nước trong 1 thời gian nhất định để đưa ra những chính sách về tỷgiá thích hợp với nền kinh tế của quốc gia đó Đối với các nước đang pháttriển trong đó có Việt Nam hầu hết đều theo đuổi chính sách tỷ giá hốiđoái cố định Do tỷ lệ lạm phát của những nước này đều cao hơn so vớicác nước phát triển Vì vậy việc duy trì 1 hệ thống tỷ giá cố định sẽ làmcho đồng tiền của các nước này lên giá và có tác động rất lớn đến khảnăng cạnh tranh về xuất nhập khẩu trong trung và dài hạn Tuy nhiên, bất
kỳ 1 chính sách nào cũng có 2 mặt những mặt tích cực và tiêu cực ảnhhưởng đến nền kinh tế vì vậy mà cần có những biện pháp cụ thể để có thểgiảm thiểu được tối đa những hạn chế đó của các chính sách Từ đó làmcho chính sách khi áp dụng vào nền kinh tế sẽ giúp cho nền kinh tế pháttriển hơn
1.1.1 Ưu điểm của chính sách:
Để nghiên cứu tác động của tỷ giá hối đoái lên hoạt động xuất nhậpkhẩu của nước ta chúng ta cần nghiên cứu mối quan hệ giữa giá trị đồngViệt Nam và các đồng tiền khác của Asean Trong giai đoạn từ năm2001-2006, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ tăngđột biến so với các nước ASEAN Trong giai đoạn này, giá trị của cácđồng tiền ASEAN sau khủng hoảng có khuynh hướng phục hồi và lên giánhanh hơn so với VND nên hoạt động thương mại và đầu tư của ViệtNam có sự cạnh tranh tốt hơn tương đối so với các đối thủ cạnh tranhtrong khu vực Tuy nhiên, có thể nói nhân tố có ý nghĩa quyết định tạonên sự thành công này đó chính là việc Việt Nam ký kết với Mỹ được
“Hiệp định Thương mại song phương Việt Mỹ” và triển khai thực hiện.Nếu lấy chỉ số xuất khẩu vào Mỹ của Việt Nam và các nước Asean +Trung Quốc trong giai đoạn từ 1997-2006 với thời điểm 1997 được lấymốc là 100 Có thể nói Việt Nam và Campuchia là 2 nước đạt đượcnhững kết quả xuất khẩu ấn tượng nhất và Việt Nam là nước có mức tăngtrưởng xuất khẩu sang Mỹ cao nhất Trong giai đoạn này, xuất khẩu vào
Mỹ của Việt Nam đã tăng 22,5 lần, Campuchia tăng 21 lần, Trung Quốctăng 4,6 lần, trung bình các nước Asean tăng 1,5 lần
Năm 1997, Việt Nam chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 0,56% trong tổngxuất khẩu của Asean vào thị trường Mỹ thì đến năm 2006, Việt Nam đãchiếm 7,99% tổng lượng xuất khẩu vào thị trường Mỹ của Asean Lượng