nỗ lực cải cách đáng kể theo hướng thị trường và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trước yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.Quỹ tín dụng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
Trang 2Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Phan Tố Uyên
Học viên thực hiện : Lê Mạnh Thắng
HÀ NỘI – Năm 2013
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài :
Hoàn cảnh kinh tế Việt Nam trong những năm qua đang trải qua nhiều biến động phức tạp với những thách thức từ môi trường nội tại cũng như dưới tác động của cơ chế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế thế giới Những khó khăn về vốn, nhân lực, khả năng quản lý … ngày càng được bộc lộ rõ rệt khiến cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế gặp nhiều bất lợi khi tham gia vào thị trường Việc gia nhập tổ chức thương mại WTO cũng khiến cho áp lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh thêm mạnh
mẽ Lĩnh vực kinh doanh tiền tệ là lĩnh vực hoàn toàn mở khi gia nhập WTO, các tổ chức tín dụng hiện tại không chỉ phải chống chọi với áp lực cạnh tranh trong nước mà còn phải cạnh tranh với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ chức tín dụng nước ngoài, các tổ chức tín dụng liên doanh Thực tế cho thấy, ngành Ngân hàng đã có nhiều
Trang 3nỗ lực cải cách đáng kể theo hướng thị trường và mở cửa khu vực dịch vụ tài chính – ngân hàng trước yêu cầu phát triển kinh tế trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương là một loại hình tổ chức tín dụng đặc biệt hoạt động theo luật các Tổ chức tín dụng, luật Hợp tác
xã với hai mục đích chính, một là quản lý, hỗ trợ các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, hai là thực hiện các nghiệp vụ tín dụng đối với các tổ chức, cá nhân nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Quy mô của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân ngày càng lớn mạnh, số lượng khách hàng là
tổ chức, cá nhân tìm đến quan hệ tín dụng ngày càng nhiều; dư nợ trong và ngoài hệ thống ngày càng tăng tuy nhiên khả năng phục vụ khách hàng với các dịch vụ tín dụng theo mô hình Quỹ tín dụng còn nhiều hạn chế, bị gò bó trong một phạm vị hẹp , khó có khả năng cạnh tranh sòng phẳng với các Ngân hàng thương mại trong nước và hầu như không có cơ hội cạnh tranh khi có sự xâm nhập của ngân hàng liên doanh,ngân hàng nước ngoài
Vì vậy nhu cầu cần phải nâng cấp, hoàn thiện tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương theo mô hình Ngân hàng thương mại nhằm tiến lên Ngân hàng Hợp tác ngày càng trở nên cấp thiết
Chính từ những nhận thức trên, qua thời gian làm việc tại Quỹ tín dụng nhân dân trung ương – CN Thanh Hoá tác giả đã chọn đề
tài “ Hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng Hợp tác xã của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương – CN Thanh
Trang 4Hóa “ làm luận văn cho mình với mong muốn đóng góp một phần
công sức cho việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh trong giai đoạn chuyển giao của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương qua đó tăng cường khả năng phát triển bền vững của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, nâng cao vị thế cạnh tranh của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương trên thị trường tài chính
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu chính của đề tài là tổng hợp những vấn đề cơ bản và phân tích các yếu tố về hoàn thiện tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân nhằm đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện ,khắc phục những điểm chưa hợp lý trong quá trình chuyển đổi từ mô hình Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương lên mô hình ngân hàng Thương mại
Luận văn sẽ đề cập giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương bao gồm các vấn đề về lý luận,
tổ chức bộ máy, nghiệp vụ kinh doanh
Thứ hai, nhận biết, phân tích thực trạng việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh đang được tiến hành của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – CN Thanh Hoá trong quá trình chuyển đổi
Thứ ba, qua phân tích thực trạng hoàn thiện tổ chức kinh doanh, các kết quả đạt được, các hạn chế cần khắc phục trong quá trình chuyển đổi, tác giả đã đề xuất một số Giải pháp và kiến nghị
Trang 5chủ yếu nhằm hoàn thiện hoạt động, tổ chức của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – CN Thanh Hoá Các giải pháp này có thể áp dụng được ngay cho công tác tổ chức kinh doanh trong giai đoạn chuyển giao mô hình từ năm 2013.
3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương CN Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu: phạm vị nghiên cứu của đề tài nghiên cứu là hoạt động hoàn thiện tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương CN Thanh Hóa trong quá trình chuyển đổi lên
mô hình Ngân hàng Thương mại
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học như: Phương pháp tư duy biện chứng, Phương pháp quy nạp – diễn dịch , phương pháp tổng hợp - phân tích , cùng với các phương pháp so sánh, thống kê… nhằm làm sáng tỏ hơn thực trạng các yếu
tố của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương Trong đó phương pháp tổng hợp – phân tích được sử dụng nhiều nhất Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các bảng, biểu đồ, sơ đồ và đồ thị để minh họa
- Nguồn dữ liệu thứ cấp:
Luận văn sử dụng nguồn dữ liệu được thu thập từ các tài liệu nội bộ của phòng kế toán, phòng kiểm tra nội bộ, phòng kinh doanh của chi nhánh …Các nguồn dữ liệu so sánh từ hội sở của ngân hàng Hợp tác Các nguồn dữ liệu này được trích dẫn trực tiếp trong luận văn và được ghi chú chi tiết trong phần tài liệu tham khảo
Trang 6- Nguồn dữ liệu sơ cấp:
Luận văn tiến hành lấy ý kiến từ các cá nhân thông qua phỏng vấn Đối tượng được phỏng vấn là các cán bộ quản lý từ cấp trưởng phòng trở lên tại CN ( 09 trưởng phòng và 3 giám đốc, phó giám đốc ) tham gia trực tiếp vào công tác xây dựng chiến lược kinh doanh Các dữ liệu định tính sẽ được thu thập từ các cuộc phỏng vấn
cá nhân Nội dung phỏng vấn sẽ được chuyển thể sang dạng văn bản dựa vào hỗ trợ của phần mềm microsoft word
5 Dự kiến đóng góp của đề tài
Đã có một số các nghiên cứu về việc hoàn thiện bộ máy tổ chức, hoàn thiện một số nghiệp vụ kế toán, tín dụng của các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này đều là các nghiên tổng thể trải mà chưa đi sâu nghiên cứu , tập trung khai thác việc hoàn chỉnh tổ chức kinh doanh
Với mong muốn có được một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng trung ương Cn Thanh Hoá khi chuyển đổi tên thành Ngân hàng Hợp tác, tác giả đã nghiên cứu hoạt động của một
số ngân hàng thương mại,một số chi nhánh Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương khác nghiên cứu các văn bàn, luật tổ chức tín dụng liên quan Từ kết quả nghiên cứu trên, tác giả đề xuất có chọn lọc những giải pháp thực hiện có thể áp dụng tại Quỹ tín dụng nhân dân trung ương CN Thanh Hoá
Trang 7Do vậy, tác giả mong muốn với đề tài “ Hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng
ND Trung ương – CN Thanh Hoá “ sẽ:
− Giúp các nhà quản lý nắm được tình hình các yếu tố tác động tới quá trình hoàn thiện tổ chức kinh doanh của mình, từ đó đề
ra định hướng phát triển đúng đắn
− Giúp Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương CN Thanh Hoá tập trung nguồn lực tốt hơn trong việc định hướng phát triển có trọng điểm hoạt động kinh doanh của mình
− Giúp Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương CN Thanh Hoá đáp ứng được sự mong muốn của Ngân hàng nhà nước, thủ tường chính phủ về hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân; cải thiện được năng lực cạnh tranh, nâng cao vị thế của Ngân hàng trên thị trường, bắt kịp xu thế phát triển trong ngành ngân hàng
6 Kết cấu của luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận đề tài được chia thành ba nội dung lớn ứng với 3 phần cụ thể như sau:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản của việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
Phần 2: Thực trạng hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mo hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương - CN Thanh Hoá
Trang 8Phần 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương – CN Thanh Hoá
Trang 91.1 Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Quỹ tín dụng Nhân dân
Trung ương
1.1.1.2 Mô hình tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân
Trung ương
1.1.1.3 Những hạn chế, bất lợi của mô hình tổ chức kinh doanh
của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.1.2 Sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện tổ chức kih doanh theo mô hình Ngân hàng Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.2 Nội dung hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
Trang 101.2.1 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa của việc hoàn thiện tổ chức kinh
doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.2.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng
thương mại của các Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.2.3 Hoàn thiện các nghiệp vụ kinh doanh theo mô hình Ngân hàng
Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
1.3.1 Các nhân tố khách quan
1.3.2 Các nhân tố chủ quan
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG CN THANH HOÁ 2.1 ĐẶC ĐIỂM KINH DOANH CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG – CHI NHÁNH THANH HOÁ
2.1.1 Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân trung ương Chi nhánh Thanh Hoá
2.1.2 Kết quả kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương CN Thanh Hoá
2.1.3 Những vấn đề đặt ra từ mô hình Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – Chi nhánh Thanh Hoá
Trang 112.2 NỘI DUNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG
2.2.1 Nâng cao nhận thức về sự cần thiết khách quan của việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – CN Thanh Hoá
2.2.2 Thực trạng hoàn thiện bộ máy tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương CN Thanh Hoá
2.2.3 Thực trạng hoàn thiện các nghiệp vụ kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương CN Thanh Hoá
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG – CN THANH HOÁ
2.3.1 Kết quả đạt được
2.3.2 Hạn chế và nguên nhân
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG – CN THANH HOÁ
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH THEO
MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN
Trang 12DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG – CN THANH HOÁ ĐỀN 2020
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRUNG ƯƠNG CN THANH HOÁ
3.2.1 Nhóm giải pháp về tổ chức kinh doanh trong hệ thống
3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức kinh doanh ngoài hệ thống
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
KẾT LUẬN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 13CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KINH DOANH THEO MÔ HÌNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
TRUNG ƯƠNG
1.1Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và sự cần thiết khách quan phải hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại
1.1.1Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương :
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương :
Khái niệm về Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương : Quỹ tín dụng Trung ương là một tổ chức tín dụng hợp tác, do các QTDND
Cơ sở, các tổ chức tín dụng và các đối tượng khác tham gia góp vốn thành lập, được Nhà nước hỗ trợ vốn để hoạt động trong lĩnh vực
tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng, nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống QTDND Quỹ tín
dụng Trung ương hoạt động không vì mục đích lợi nhuận
Quỹ tín dụng Trung ương được thành lập theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc
“triển khai đề án thí điểm thành lập QTDND” Theo công văn công văn số 6901/KTTH của Chính phủ ngày 09/12/1994 V/v thành lập Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương nêu rõ :
- “Việc thành lập một tổ chức cổ phần kinh doanh về tiền tệ, thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và
Trang 14Công ty tài chính Tên gọi của tổ chức này là Quỹ tín dụng Trung ương hay Ngân hàng Hợp tác xã…”.
- “ Cho phép Ngân hàng Nhà nước sử dụng nguồn vốn cung ứng tín dụng đã được phê duyệt năm 1994 để góp vốn bằng 40% vốn điều lệ, 80 tỷ đồng vào Quỹ tín dụng Trung ương hoặc Ngân hàng Hợp tác xã
Căn cứ vào 2 văn bản trên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quyết định số 162/QĐ-NH5 ngày 8/6/1995 về việc cho phép thành lập Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và Quyết định số 200/QĐ-NH5 về việc cấp giấy phép hoạt động cho Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương :
* Tên tiếng Việt : Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
* Tên giao dịch bằng tiếng anh: CENTRAL PEOPLE’S CREDIT FUND
3 chữ QTD, hình tượng bông lúa
* QTDTW đặt trụ chính tại Hà Nội và các chi nhánh tại các tỉnh, thành phố
* Thời hạn hoạt động của QTDTW là 99 năm kể từ ngày quyết định thành
lập
Trang 15Một số đặc điểm của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương :
- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là một tổ chức tín dụng Hợp tác, vừa mang tính chất của một tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ theo luật các tổ chức tín dụng – thực hiện một số hoạt động tín dụng dưới giới hạn cho phép của Ngân hàng nhà nước giống như Ngân hàng thương mại , vừa hoạt động theo luật Hợp tác xã
- Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương được thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống QTDND Quỹ tín dụng Trung ương hoạt động không vì mục đích lợi nhuận
mà vì sự phát triển bền vững của các thành viên
- Chức năng chính của Quỹ tín dụng TW là điều hoà vốn trong
hệ thống; cung ứng dịch vụ, chăm sóc, tư vấn cho Quỹ tín dụng thành viên; Kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng; thực hiện một số nhiệm vụ của tổ chức liên kết hệ thống QTDND do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định
- Tính đến 31/12/2012, Quỹ tín dụng Trung ương gồm Hội sở chính tại Hà Nội và 26 Chi nhánh, gần 70 Phòng giao dịch Năm
2001 chỉ có 110 tỷ đồng vốn điều lệ, đến nay vốn điều lệ của Quỹ là 2.034 tỷ đồng Tổng dư nợ cho vay của Qũy này là 11.132,9 tỷ đồng, tăng hơn 15 lần so với năm 2001 Lợi nhuận trước thuế là 190,5 tỷ đồng
- Đối với Quỹ tín dụng nhân dân, tính đến 31/12/2012 có 1.132 Quỹ cơ sở, chỉ tăng 18% so với năm 2000 (là thời điểm bắt đầu triển khai Chỉ thị 57) nhưng tổng nguồn vốn hoạt động vẫn tăng trưởng
Trang 16mạnh mẽ liên tục qua các năm và hiện đạt 44.776 tỷ đồng, tăng gần
17 lần so với năm 2000; trong đó vốn điều lệ là 1.728 tỷ đồng, tăng
10 lần so với năm 2000; vốn huy động là 35.499 tỷ đồng, tăng 20,7 lần so với năm 2000; vốn đi vay là 4.522 tỷ đồng, tăng 8,5 lần so với năm 2000
1.1.1.2 Mô hình tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân
Trung ương
Hội sở QTDND TW có 150 cán bộ làm việc ở các phòng, ban chuyên môn, phòng giao dịch vừa triển khai nhiệm vụ chuyên môn vừa thực hiện chức năng quản lý, điều hành hoạt động 24 Chi nhánh với 10 Phòng Giao dịch, 7 Quỹ tiết kiệm trực thuộc và gần
500 cán bộ trong cả nước Đội ngũ cán bộ luôn được bố trí, sắp xếp công việc phù hợp với khả năng, thế mạnh của từng người và luôn được khuyến khích nâng cao trình độ nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả công việc
Sơ đồ tổ chức của Quỹ tín dụng nhân dân Trung Ương.
Trang 17HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
Các phòng chức năng Chi nhánh Chi nhánh Chi nhánh
Tài chính &
Quản lý TS Thanh toán
Văn phòng
Giám đốc
Kinh doanh
Kế toán ngân quỹ
Kiểm tra nội bộ
Phòng Giao Hành chính
ĐẠI HỘI THÀNH VIÊN
Trang 18Tổng hợp, theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và quyết toánvới các chi nhánh trên địa bàn
Trang 19Cân đối nguồn vốn, sử dụng vốn và điều hoà vốn kinh doanh đối ới các chi nhánh trên địa bàn.
Tổng hợp, phân tích hoạt động kinh doanh quý, năm Dự thảo các báocáo sơ kết, tổng kết
Đầu mối thực hiện thông tin phòng ngừa rủi ro và xử lý RRTD
Đầu mối trình Ban giám đốc chỉ đạo hoạt động tiếp thị, thông tin và trực tiếp triển khai các phương án tiếp thị, thông tin, tuyên truyền Làm đu mối tiếp cận với các cơ quan tiếp thị, báo chí, truyền thông
Thực hiện lưu trữ, khai thác, sử dụng các ấn phẩm, vật phẩm như phim tư liệu, hình ảnh, băng đĩa ghi âm, ghi hình…của Chi nhánh
Đề xuất định mức lao động, giao khoán quỹ tiền lương đến các nhánh trực thuộc theo quy chế khoán tài chính của QTDTW
Tổng hợp, báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định
Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao
Trang 20Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch toán, kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định.
Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo quy định Thực hiện nghiệp vụ thanh toán
Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp
vụ kinh doanh theo quy định của QTDTW
Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và kiểm tra chuyên đề
Phòng ngân quỹ.
Quản lý và sử dụng các quỹ theo quy định của QTDTW
Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ theo quy định
Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, điện toán phục vụ nghiệp
vụ kinh doanh theo quy định
Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và kiểm tra chuyên đề
Phòng tín dụng.
Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, chế biến tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưu thông và tiêu dùng
Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao
Tiếp nhận và thực hiện các chương trình dự án thuộc nguồn vốn trong nước, nước ngoài Trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn
Trang 21vốn thuộc Chính phủ, Bộ, ngành khác và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước.
Xây dựng và thực hiện các mô hinh tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địa bàn đồng thời theo dõi, đánh giá, sơ kết, tổng kết,
Tổng hợp báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định
Phòng quản lý và giám sát các chỉ tiêu an toàn.
Kiểm tra giám sát các chỉ tiêu tín dụng
Đảm bảo các chỉ tiêu ở mức an toàn
Hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, phương án, tiếp nhận
và thẩm định hồ sơ xin vay của khách hàng
Tổ chức giải ngân, thu nợ, thu lãi theo họp đồng tín dụng đã được phê duyệt
Theo dõi chặt chẽ các khoản dư nợ, phân tích nợ quá hạn để chủ động thu và đề xuất phương án xử lý nợ quá hạn
Trang 22Mở tài khoản tiền gửi làm dịch vụ chuyển tiền.
Thực hiện thu chi tiền mặt
Đảm bảo an toàn quỹ tiền mặt, các loại chứng từ có giá, thẻ phiếu trắng các hồ sơ lưu về khách hàng và quản lý tốt tài sản trang thiết bị làm việc
Tuyên truyền giải thích các quy định về huy động vốn và thủ tục cho vay của QTDTW
Tổng hợp báo cáo thống kê theo quy định
Các bàn huy ðộng vốn.
Trực tiếp tiếp nhận vốn của khách hàng
Tiến hành nhập số liệu về các hoạt động huy động vốn
Phòng quan hệ quốc tế và quản lý dự án.
Phụ trách công tác đối ngoại
Tìm kiếm nguồn vốn nước ngoài để không ngừng tìm kiếm nguồn vốn nước ngoài bổ sung vốn trung dài hạn cho hệ thống
Quản lý các dự án trong và ngoài nước
Phòng thanh toán.
Cung ứng các phương tiện thanh toán;
Các dịch vụ thanh toán trong nước;
Trang 23Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Phòng tài chính và quản lý tài sản
Quản lý nguồn tài chính của Hội sở và các chi nhánh
Tiến hành xây dựng các báo cáo về tài sản hiện có theo quy định và yêu cầu chỉ đạo của Ban giám đốc
Xây dựng các dự án mua sắm sửa chữa tài sản theo quy định theo yêu cầu
Phòng kiểm tra nội bộ.
Kiểm tra công tác điểu hành của các chi nhánh trực thuộc theo quyết định của Hội đồng quản trị , chỉ đạo của Ban tổng giám đốc QTDTW
Kiểm tra giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanh theo quy định của pháp luật, Ngân hàng nhà nước
Giám sát việc chấp hành các quy định của khách hàng Nhà nước về đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch
vụ Ngân hàng
Kiểm tra độ chính xác của các báo cáo tài chính, báo cáo cân đối kế toán việc tuân thủ các quy tắc chế độ chính sách kế toán theo quy định của Nhà nước, ngành Ngân hàng
Vãn phòng.
Thực hiện các công việc hành chính
Tổ chức các hội nghị và các chức năng khác có liên quan
Các chi nhánh.
Nhận tiền gửi của các QTD thành viên
Trang 24Cho vay các QTDND thành viên.
Huy động vốn của các cá nhân, tổ chức kinh tế trên địa bàn Cho vay và thực hiện một số dịch vụ ngân hàng đối với các doanh nghiệp, cá nhân ngoài thành viên trên địa bàn khi được Tổng Giám đốc QTDTW cho phép nhưng trên nguyên tắc ưu tiên đối với thành viên là QTDND
Tăng cường và phát triển liên kết hệ thống thông qua việc thực hiện vai trò đầu mối về vốn, thanh toán, cung ứng dịch vụ, tư vấn cho các QTDND thành viên
Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ Ngân hàng thuộc chức năng, nhiệm vụ của QTDTW trên địa bàn cho phép theo sự chỉ đạo của Tổng giám đốc
Tổng hợp thông tin báo cáo cho Hội sở QTDTW
1.1.1.3 Những hạn chế, bất lợi của mô hình tổ chức kinh doanh của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
- Thứ nhất : QTDND là loại hình Tổ chức tín dụng thường xuyên phải đối mặt với nhiều rủi ro nhất và cũng dễ xảy ra đổ vỡ nhất so với các loại hình tổ chức tín dụng khác
Nguyên nhân chủ yếu do QTDND là loại hình TCTD hợp tác hoạt động chủ yếu là huy động vốn để cho vay đối với các thành viên ở khu vực nông nghiệp, nông thôn là nơi mặt bằng kinh tế c̣òn thấp, sản xuất và kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro (do phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan từ thời vụ, thiên tai, giá cả…) Trong khi
đó, quy mô hoạt động và năng lực tài chính của các QTDND thường nhỏ bé, trình độ của đội ngũ cán bộ và nhân viên còn hạn chế Bên
Trang 25cạnh đó, tuy các QTDND là các pháp nhân độc lập về kinh tế, hoạt động trên địa bàn ở nhiều vùng địa phương khác nhau nhưng lại có cùng một tên gọi, chung một biểu tượng, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động kinh doanh, đồng thời khả năng “miễn dịch”, tự bảo vệ của mỗi QTDND còn rất hạn chế Vì vậy, khi một QTDND gặp khó khăn thì xảy ra khả năng phản ứng dây chuyền lây lan cho các QTDND khác trong hệ thống là rất cao, nếu không có giải pháp xử lý kịp thời thì đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống là khó tránh khỏi
Mặt khác, tuy thị phần của các QTDND chỉ chiếm một tỷ
trọng không lớn lắm so với toàn bộ hệ thống các TCTD nhưng về mặt số lượng khách hàng, thành viên thì lại rất đông đảo và đa số thuộc tầng lớp dân nghèo, sản xuất kinh doanh nhỏ, rất dễ bị tổn thương bởi hậu quả do sự đổ vỡ QTDND gây ra Do đó, việc xảy ra
đổ vỡ (nếu có) trong hoạt động của các QTDND có ảnh hưởng rất lớn đối với ổn định, an ninh, chính trị xã hội và kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào
QTDND là một loại hình TCTD được phép huy động tiền gửi
để cho vay các thành viên nên việc bảo đảm an toàn cho hoạt động của QTDND cũng phải tuân theo nguyên tắc chung về bảo đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng Tuy nhiên do có sự khác biệt về quy
mô, phạm vi và nhất là mục tiêu hoạt động so với các loại hình ngân hàng khác hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nên việc bảo đảm an toàn cho hoạt động của QTDND có những đòi hỏi khách quan khác, đồng thời cũng có những yếu tố đặc thù so với việc bảo
Trang 26đảm an toàn cho hoạt động ngân hàng nói chung, việc luôn tồn tại hình thức hoạt động là QTDTW ngày càng tỏ ra không phù hợp và mang lại nhiều rủi ro trong quá trình phát triển.
- Thứ hai : Đối với mô hình Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương khả năng phục vụ khách hàng trong cũng như ngoài hệ thống quỹ tín dụng nhân dân còn nhiều hạn hẹp, các dịch vụ ngân hàng được cung cấp chưa đầy đủ, mức độ thỏa mãn khách hàng còn chưa cao Năng lực tài chính và thị phần tín dụng còn bị giới hạn
Hiện tại, đối với khách hàng trong hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân, QTDTW phục vụ chủ yếu với các dịch vụ như nhận tiền gửi điều hòa vốn, cho vay tài trợ, cho vay ủy thác Việc thực hiện hoạt động hỗ trợ một cách đầy đủ các dịch vụ mà khách hàng quan tâm, việc giáo dục đào tạo, tư vấn cho hệ thống QTDND nhằm hoàn thiện, nâng cao trình độ quản lý cho các Quỹ cơ sở chưa được quan tâm nhiều , dẫn tới khả năng quản lý yếu kém, hồ sơ không chặt chẽ, chất lượng tín dụng không đồng đều Yêu cầu cần thiết phải dành một phần nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ này chưa được đáp ứng do nguồn lực huy động chưa đủ đối với mô hình QTDTW – hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận
Đối với khách hàng ngoài hệ thống, là các tổ chức, cá nhân khác ngoài hệ thống QTDTW, hoạt động tín dụng được phép từ Ngân hàng nhà nước là : huy động vốn, cho vay, bảo lãnh là còn nhiều hạn hẹp, các dịch vụ ngân hàng cá nhân, thanh toán thẻ, thanh toán quốc tế, các dịch vụ liên quan đến ngoại tệ, vàng vẫn còn chưa được phép cung cấp , các dịch vụ bảo lãnh, cho vay còn nhiều thủ
Trang 27tục và hạn chế, giá trị tài sản đảm bảo ở mức hạn hẹp so với ngưỡng cho vay của Ngân hàng Thương mại càng khiến cho mức độ thỏa mãn khách hàng sụt giảm, nhất là trong bối cảnh mức độ cạnh tranh ngày càng tàn khốc trên thị trường tài chính.
Năng lực tài chính của QTDTW còn thực sự yếu kém, vốn điều lệ của QTDTW còn thấp, việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn cho Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở khi có nhu cầu tăng trưởng là khó khăn Vì vậy, việc huy động nguồn lực nhằm phục vụ cho việc phục
vụ khách hàng ngoài hệ thống lại càng trở nên thiếu thốn dẫn tới thị phần tín dụng lại càng hạn chế trong phạm vi trong hệ thống nhằm phục vụ các đường lỗi chính sách của chính phủ Mục tiêu lợi nhuận cũng vì thế mà khó có thể đạt được
- Thứ ba :Việc tổ chức bộ máy hoạt động kinh doanh cũng như con người, hệ thống thông tin phần mềm chưa đạt được sự tối ưu và cần thiết cho phù hợp với đà phát triển tăng trưởng tín dụng Quá trình phát triển mạng lưới theo chiều rộng và chiều sâu chưa thực sự phù hợp với nhau
Tuy đến nay hầu hết QTDND đã có máy vi tính để phục vụ công tác kế toán, quản lý nợ vay nhưng giao dịch chưa liên thông giữa QTDTW với các QTDND cơ sở, nên chu chuyển vốn trong hệ thống chưa kịp thời, chưa phát triển được dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong hệ thống, mọi giao dịch phải trực tiếp thực hiện tại các chi nhánh đóng ở tỉnh, thành phố, trình độ vận hành và quản
lý công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu, một phần mạng thông
Trang 28tin liên lạc cấp quốc gia chưa phủ rộng khắp nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa
Trong khí đó, khi thực hiện hoạt động cho vay ngoài hệ thống, việc sử dụng hệ thống phần mềm BMS đã cũ, lạc hậu với tuổi đời hơn 15 năm lại càng khiến cho độ trễ thanh khoản trở nên trầm trọng, việc tổ chức đào tạo cán bộ giao dịch tại QTDTW cũng chưa được chuyên nghiệp, gây mất thời gian và gây ra sự khó chịu cho khách hàng
Đối với một số chi nhánh có sự phát triển tín dụng mạnh, mức
độ phục vụ khách hàng không thể bắt kịp với mức độ tăng trưởng của dư nợ, và đang bị tụt lại khá xa so với hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung
- Thứ tư : Tín dụng trong điều kiện trong nền kinh tế mở, cạnh tranh
và hội nhập vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng và đang đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Việc duy trì mô hình Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương khiến cho khả năng cạnh tranh đối với các tổ chức tín dụng khác trong, ngoài nước trở nên ngày càng khó khăn
Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các ngân hàng nước ngoài
đã không ngừng tìm cách xâm nhập vào thị trường Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau như mở văn phòng giao dịch, mở chi nhánh, mua lại cổ phần Cho đến nay, đã có nhiều ngân hàng thương mại
cổ phần có vốn đầu tư của nước ngoài chiếm tỷ lệ khá cao như VIB, Martime Banks , một số ngân hàng nhà nước như ViettinBanks,
Trang 29Vietcombanks, BIDV cũng đã chấp nhận có sự tham gia cổ phần của một số tổ chức tài chính Nhật Bản, Singapore
Việc tham gia vốn của các tổ chức nước ngoài khiến cho năng lực tài chính của chủ thể ngày càng mạnh thêm, ngoài ra, những đóng góp về đường lối , chiến lược kinh doanh cũng khiến hệ thống ngân hàng thương mại càng ngày càng trở nên chuyên nghiệp Cũng
vì thế mà mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng cao Việc duy trì cơ chế, chính sách theo mô hình QTDTW hoạt động “ không vì mục tiêu lợi nhuận “ ngày càng trở nên không bất lợi trước
áp lực chuyên nghiệp hóa hoạt động ngân hàng trước sức ép ngày càng lớn
1.2 Nội dung hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
1.3.3 Nâng cao nhận thức về ý nghĩa của việc hoàn thiện tổ chức
kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín
dụng nhân dân Trung ương
Việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương là một tất yếu khách quan trong tiến hình hình lịch sử phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
- Việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân trung ương phù hợp với quy luật phát triển quy mô của một tổ chức tín dụng, bắt đấu tư quy mô nhỏ, theo quá trình phát triển dư nợ trong và ngoài hệ thống đòi hỏi
sự tăng lên của nguồn vốn ngày càng cấp thiết dẫn tới sự tất yếu
Trang 30phải tăng trưởng vốn điều lệ, mở rộng quy mô tổ chức, nâng cao nghiệp vụ để có thể phục vụ tốt khách hàng Đấy chính là tiến trình giải quyết mâu thuẫn giữa dư nợ và vốn điều lệ , quy mô sản xuất – kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng; để phát triển đến một tổ chức mới nâng cao hơn cả về chất và lượng
- Tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là biện pháp duy nhất có thể giúp hạn chế rủi ro trong hoạt động, nâng cao vị thế, nâng cao mức độ an toàn vốn trong hoạt động tín dụng Việc phát triển QTDTW theo mô hình ngân hang thương mại là phù hợp với đường lối chính sách của thủ tướng chính phủ về một “ Ngân hàng đủ mạnh, đủ khả năng tài chính để hỗ trợ hệ thống quỹ tín dụng nhân dân “
- Lợi ích giữa việc Tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương và lợi ích của khách hàng trong cũng như ngoài hệ thống mang lại mang tính biện chứng Chỉ có việc phát triển theo mô hình ngân hàng thương mại một cách chuyên nghiệp với hệ thống chỉ tiêu, chất lượng rõ ràng mới có thể khiến cho lợi ích của Quỹ tín dụng trung ương phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, đồng thời, chỉ khi được khách hàng tin cậy và tìm đến thì kết quả hoạt động kinh doanh mới có thể đạt được hiệu quả
1.3.4 Hoàn thiện bộ máy tổ chức kinh doanh theo mô hình Ngân
hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
Quỹ tín dụng Trung ương hiện tại có bộ máy đang được tổ chức tương đối tốt và đảm nhiệm khá đầy đủ các nhiệm vụ đặt ra
Trang 31cho hoạt động của mô hình quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Tuy nhiên, để có thể hoạt động phù hợp với tiến trình phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động cả về chất và lượng khi trở thành Ngân hàng thương mại, Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương cần phải tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức kinh doanh của mình với hình mẫu đầu tiên là mô hình của một ngân hàng thương mại có quy mô nhỏ, ngoài ra cần có những điều chỉnh thích hợp với thực tiễn hoạt động khách quan trong quá trình chuyển đổi.
- Về cơ bản, tổ chức bộ máy kinh doanh của QTDTW vẫn được giữ lại giống như bộ máy kinh doanh cũ với Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị , ban tổng giám đốc, ban kiểm soát, các chi nhánh tại tỉnh và các phòng chức năng mang nhiệm vụ tương đương giống như trong tổ chức bộ máy kinh doanh cũ : phòng Kế hoạch nguồn vốn, phòng kế toán, phòng ngân quỹ, phòng tín dụng, phòng quản lý & giám sát các chỉ tiêu an toàn , phòng giao dịch, phòng tin học, phòng quan hệ quốc tế và quản lý dự án, phòng thanh toán, phòng tài chính và Quản lý tài sản, phòng kiểm tra nội bộ, văn phòng
- Để tương thích với nhiệm vụ mới cần sự chuyên môn hóa công việc cao để phục vụ khách hàng được tốt hơn, nhu cầu cần tách nhiệm vụ hoạt động tín dụng trong và ngoài hệ thống là cần thiết, vì vậy phòng tín dụng được tách làm 2 phòng : phòng tín dụng thành viên – chuyên phục vụ đối tượng là các quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở, giữ vững chức năng nhiệm vụ là đầu mối, đầu tàu trong hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, và phòng tín dụng doanh nghiệp và
Trang 32cá nhân, chuyển phục vụ khách hàng là các tổ chức cá nhân ngoài
hệ thống, đảm nhiệm chức năng giống như một phòng tín dụng của ngân hàng thương mại quy mô nhỏ, đủ để phục vụ được khách hàng ngoài hệ thống như một ngân hàng thương mại
- Trong hoàn cảnh môi trường ngành ngân hàng Việt Nam năm 2013 vẫn còn nhiều thách thức, ngân hàng là một trong những lĩnh vực đối mặt với nhiều rủi ro nhất Các loại rủi ro có mối quan
hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau và đều có thể gây tổn thất lớn cho hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Trong bối cảnh
đó, không một tổ chức tín dụng nào có thể tồn tại và phát triển lâu dài mà không xây dựng cho mình hệ thống quản trị rủi ro (QTRR) hiệu quả
Thực tế cũng cho thấy, trong quá trình hoạt động của các chi nhánh Quỹ tín dụng nhân dân, việc nới lỏng quản lý rủi ro, kiểm soát mang tính chất hỗ trợ, xem nhẹ mà không coi đó là một hoạt động bắt buộc đã gây ra nhiều tiền lệ xấu, nhiếu hiện tượng tiêu cực, nổi bật trong đó có thể kể đến rủi ro trong hoạt động cấp bảo lãnh vừa xảy ra ở Chi nhánh Quảng Bình khi giám đốc chi nhánh đã lợi dụng chức quyền ký tắt bảo lãnh gây hậu quả nghiêm trọng, hay chi nhánh Kon tum cho thế chấp tải sản đảm bảo là ao cá hoàn toàn mơ
hồ, sai nguyên tắc
Trước kia, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương không có một phòng quản lý rủi ro tách biệt Mọi công việc liên quan theo đúng nghĩa của nghiệp vụ quản lý rủi ro ngân hàng được phân tán trong nhiệm vụ chung của phòng kiểm tra nội bộ và các phòng ban khác
Trang 33nhau Tổ chức hoạt động kinh doanh đối với nghiệp vụ quản lý rủi
ro như vậy về cơ bản mang tính chất tạm bợ, đối phó và thiếu chuyên nghiệp, không phù hợp với quy mô phát triển và những yêu cầu quản lý, yêu cầu an toàn vốn, hạn chế rủi ro ngân hàng Nắm bắt được những yêu cầu chiến lược đó, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương trong quá trình hoàn thiện tổ chức bộ máy kinh doanh của mình cần phải thành lập một phòng quản lý rủi ro riêng biệt tách ra khỏi phòng kiểm tra nội bộ và các phòng ban khác , quản lý những công việc chuyên biệt để tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi
ro (rủi ro tín dụng, lãi suất, hối đoái, thanh khoản trong đó rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản cần đặt lên hàng đầu với 70-80% hoạt động của ngân hàng là hoạt động tín dụng ) Phòng quản lý rủi ro tín dụng ra đời với hi vọng sẽ hạn chế và giảm thiểu tối đa những rủi ro
có thể
- Bộ phận Ngân quỹ trước kia trực thuộc phòng Kế toán – Ngân quỹ, thực tế cho thấy các nghiệp vụ về ngân quỹ luôn rất quan trọng , rất nhiều thời điểm, các cán bộ và lãnh đạo của Quỹ tín dụng Trung ương đã gặp rất nhiều căng thẳng trong việc quản lý kho quỹ
và điều hành tiền tệ Do sự mở rộng của quy mô hoạt động cũng như dịch vụ ngân hàng khiến cho khối lượng hạch toán các bút toán trong ngày rất lớn , việc duyệt hồ sơ, chứng từ kế toán trở nên mất thời gian hơn nên nhu cầu cần tách phòng trở nên cực kỳ cấp thiết Ban lãnh đạo Quỹ tín dụng Trung ương đã đi tới Quyết định thành
Trang 34lập phòng Ngân quỹ hội sở và phòng này sẽ ngay lập tức hoạt động trong thời gian sớm nhất
- Việc được cấp phép chức năng kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối từ giấy phép của Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng là một khác biệt so với việc kinh doanh tiền tệ bằng Việt Nam đồng theo mô hình Quỹ tín dụng Trung ương Chức năng này mở ra tuy mới mẻ và sẽ phải mất một thời gian phát triển và chứng minh năng lực hoạt động, tuy nhiên điều này cho phép sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng của Quỹ tín dụng Nhân dân Trung ương được đầy đủ hơn và mang lại nhiều tiện lợi hơn cho khách hàng Để hoàn thiện công tác kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, đòi hỏi sự chuyên nghiệp cao hơn, tính trách nhiệm lớn hơn, trên lộ trình tiến lên Ngân hàng thương mại, Quỹ tín dung trung ương cũng sẽ tiến tới thành lập thêm phòng Kinh doanh ngoại tệ
1.3.5 Hoàn thiện các nghiệp vụ kinh doanh theo mô hình Ngân hàng
Thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
Ngày 04/6/2013, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã ký Giấy phép số 166/GP-NHNN cho phép thành lập Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam theo đề nghị của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Giấy phép này có hiệu lực kể từ ngày ký
Theo Giấy phép, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam có trụ sở chính tại Tòa nhà 15T đường Nguyễn Thị Định, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Ngân hàng này có vốn điều lệ là 3.000 tỷ đồng, bao gồm vốn hỗ trợ của Nhà nước, vốn góp của quỹ
Trang 35tín dụng nhân dân thành viên và các pháp nhân khác Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam là 99 năm.
Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam có phạm vi hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam, được thành lập các đơn vị mạng lưới trong nước và nước ngoài khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam
Về nội dung, phạm vi hoạt động, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam được thực hiện các hoạt động nghiệp vụ tương đương với Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương đồng thời có thêm một số dịch vụ được cấp phép thêm Quỹ tín dụng Trung ương cần hoàn thiện các nghiệp vụ kinh doanh được cho phép của mình :
Đối với các quỹ tín dụng nhân dân thành viên: Mở tài khoản tiền gửi cho các thành viên là quỹ tín dụng nhân dân; Nhận tiền gửi, cho vay điều hòa vốn đối với quỹ tín dụng nhân dân thành viên theo Quy chế điều hòa vốn được Hội đồng quản trị Ngân hàng Hợp tác
xã thông qua và được công khai đến tất cả các quỹ tín dụng nhân dân thành viên; Xây dựng, phát triển và ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ mới trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân thành viên đáp ứng nhu cầu của các thành viên quỹ tín dụng nhân dân và phục
vụ phát triển lợi ích cộng đồng trên địa bàn sau khi được NHNN cho phép Như vậy, để hoàn thiện được các nghiệp vụ chức năng đối với Quỹ tín dụng nhân dân thành viên, phòng tín dụng thành viên cần tiếp tục duy trì tốt những hoạt động tín dụng với quỹ tín dụng nhân dân thành viên, thực hiện việc làm thủ tục nhận tiền gửi nhanh
Trang 36gọn tránh gây phiền hà mất thời gian chờ đợi , cân đối loại hình nguồn vốn cho vay, phân bổ lượng vốn vay, nhận diện các đối tượng ưu tiên để thực hiện việc điều hóa vốn vay, luân chuyển nguồn lực trong hệ thống quỹ thành viên được hiệu quả cao nhất, đảm bảo tính thanh khoản, sự phát triển bền vững cho các quỹ tín dụng cơ sở tránh hiện tượng đã từng xảy ra vào một số thời điểm không cân đối được nguồn vốn, không phân bổ kịp thời nguồn vốn khiến cho dư nợ của Quỹ thành viên bị hạn chế, cơ hội phát triển dư
nợ bị bó buộc, thanh khoản bị đe dọa rủi ro, làm mất đi hình ảnh về Quỹ tín dụng Trung ương – tổ chức đầu mối của các Quỹ Ngoài ra, Phòng tín dụng thành viên cũng cần mở rộng thêm quy mô, nâng cấp các loại hình nghiệp vụ, dịch vụ chuyên dụng cho Quỹ tín dụng thành viên đáp ứng yêu cầu về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kiểm soát các thành viên, tăng cường quản lý sâu sắc với khách hàng trong hệ thống
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương cần phải kiện toàn bộ máy, thành lập thêm một đơn vị chuyên trách đào tạo về nghiệp vụ cho cán bộ Quỹ tín dụng cơ sở, bởi lực lượng hình thành nên Quỹ tín dụng cơ sở chính là các thành viên góp vốn trên địa bàn xã, phường, do đó trình độ hiểu biết về tài chính ngân hàng là hạn hẹp, nhiều cán bộ còn chưa có trình độ đến Trung cấp ngân hàng, nên hoạt động ngân hàng chưa có hiểu biết đủ sâu, đủ rộng để điều hành Quỹ, quản lý nguồn vốn , quản lý dư nợ, lập báo cáo tài chính, báo cáo dư nợ cần thiết cho Quỹ trung ương
Trang 37Đối với khách hàng không phải là quỹ tín dụng nhân dân thành viên: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác của tổ chức
và cá nhân; Cho vay đối với khách hàng không phải là quỹ tín dụng nhân dân thành viên khi đã ưu tiên đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn của quỹ tín dụng nhân dân thành viên, duy trì tỷ lệ dư nợ cho vay khách hàng không phải là quỹ tín dụng nhân dân thành viên theo đúng quy định của NHNN
* Về nghiệp vụ huy động vốn : Nghiệp vụ chính yếu của một
tổ chức tín dụng phải kể đến đầu tiên là nghiệp vụ huy động vốn Vốn được ngân hàng huy động từ nhiều hình thức khác nhau như: nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoặc của ngân hàng nhà nước Nguồn vốn huy động được ngân hàng sử dụng nhằm tạo ra lợi nhuận với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi Trong những hình thức huy động nêu trên, hình thức phổ biến thường thấy nhất của Quỹ tín dụng Trung ương chính
là việc nhận tiền gửi từ các tầng lớp dân cư và doanh nghiệp, vốn gửi điều hòa của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Công việc này được thực hiện tại Bộ phận dịch vụ khách hàng thông qua các giao dịch viên Ngoài việc nhận tiền gửi, bộ phận này còn thực hiện các nghiệp vụ khác như mở tài khoản, chuyển tiền trong nước, phát hành thẻ,…
So với các ngân hàng khác, Quỹ tín dụng trung ương có một lợi thế không nhỏ về nguồn vốn khi các Quỹ tín dụng thành viên theo điều lệ và quy định của ngân hàng nhà nước khi thừa vốn bắt
Trang 38buộc phải gửi điều hòa tại Quỹ tín dụng trung ương với lãi suất ưu đãi thường cao hơn lãi suất cho vay thông thường 0.5% /năm, vì vậy, nguồn tiền gửi của Quỹ tín dụng Trung ương được tập trung lại
là khá lớn, tuy nhiên hạn chế về lãi suất ưu tiên và hạn chế về quy chế bắt buộc cho vay ưu đãi vốn trong hẹ thống khiến cho nguồn tiền này không thực sự mang lại sự chủ động trong hoạt động
Trước tình hình lãi suất hầu như bằng nhau giữa các ngân hàng, để cạnh tranh với nhau trong việc thu hút vốn của các cá nhân, doanh nghiệp, các ngân hàng cho ra đời nhiều loại sản phẩm huy động đa dạng như: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm với các kỳ hạn từ 1 ngày đến 60 tháng; tiết kiệm tích lũy; tiết kiệm cho con yêu, tiền gửi với lãi suất tự điều chỉnh,…
Đi liền với các sản phẩm huy động là chương trình khuyến mãi hấp dẫn như tặng quà liền tay, quay số trúng thưởng ngay, quay số cuối chương trình, miễn phí sử dụng các dịch vụ như thẻ, internet banking, mobile banking,…Trong những thời điểm lãi suất huy động bị giới hạn bởi ngân hàng nhà nước thì các hình thức khuyến mãi lại phát huy hết tác dụng của nó trong việc thu hút khách hàng Ngân hàng có thể tặng tiền hay những món quà có giá trị nhỏ nhằm làm cho việc huy động thêm sinh động, hoặc tung ra các giải thưởng quay số giá trị lớn nhằm đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng Quỹ tín dụng Trung ương cũng đã sử dụng các hình thức trên để hấp dẫn nguồn vốn từ các khách hàng ngoài hệ thống và mang lại hiệu quả tương đối tốt
Trang 39Các chương trình sản phẩm huy động về bản chất tương đối giống nhau, chỉ khác nhau chút ít nhằm tạo nên sự đa dạng và phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng hơn Do đó, để thực hiện tốt nghiệp vụ này, giao dịch viên cần nắm về bản chất và cách tính lãi, sau đó tùy từng đối tượng khách hàng và tính cách của họ để tư vấn sản phẩm cùng các chương trình khuyến mãi kèm theo một cách chính xác và phù hợp.
Các hoạt động khác: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá khác để huy động vốn trong nước và nước ngoài theo quy định của NHNN; Vay vốn trên thị trường tiền tệ trong nước và vay vốn của tổ chức tài chính, tín dụng, các tổ chức khác và cá nhân trong, ngoài nước theo quy định của pháp luật; Ủy thác và nhận ủy thác theo quy định của NHNN và các quy định của pháp luật liên quan; Vay vốn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn và các hình thức vay vốn khác theo quy định của NHNN;
Thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng theo quy định của NHNN; Phát hành thẻ tín dụng theo quy định của NHNN; Cung ứng các phương tiện, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ cho các quỹ tín dụng nhân dân thành viên và các khách hàng không phải là quỹ tín dụng nhân dân thành viên; Tổ chức thanh toán nội
bộ, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng quốc gia;
Tham gia đấu thầu tín khiếu Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu
Trang 40NHNN và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ; Làm đại lý trong các lĩnh vực ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của NHNN; Làm các dịch vụ tư vấn tài chính, ngân hàng và đầu tư theo quy định của NHNN;
Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối; kinh doanh, cung ứng các sản phẩm phái sinh; góp vốn, mua cổ phần; kinh doanh, đầu
tư chứng khoán; kinh doanh vàng bạc, đá quý và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản
Cũng trong ngày 04/6/2013, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 1209/QĐ-NHNN thu hồi Giấy phép hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương Cụ thể, trong vòng 15 ngày làm việc, kể từ khi Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng Hợp tác xã có hiệu lực thi hành, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam hoàn trả NHNN (qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) Giấy phép hoạt động số 001/NH-GP ngày 20/7/1995 của Thống đốc NHNN cấp cho Qũy tín dụng nhân dân Trung ương
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc hoàn thiện tổ chức kinh doanh theo mô hình ngân hàng thương mại của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương.
1.4.1 Các nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế vĩ mô :
* Tổng cung : sự phục hồi của lĩnh vực sản xuất còn khá mong manh
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI) YoY trong tháng 5 tăng 6,7%, thấp hơn một chút mức tăng 6,78% của cùng kỳ năm ngoái