1.Tính cấp thiết của đề tàiSự phát triển mạnh mẽ của tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Khi ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp hàng hóa hay dịch vụ đại trà, khách hàng thường phải chấp nhận những quy tắc thương mại do đối tác cung cấp mà không được sửa đổi hay đàm phán lại, những quy tắc đó được gọi là điều kiện giao dịch chung. Trong môi trường nền kinh tế quốc tế hội nhập phát triển, việc sử dụng ngày càng nhiều các điều kiện giao dịch chung đã chứng tỏ ưu thế của chúng trong giao dịch bởi các điều kiện này giúp đẩy nhanh tốc độ và nâng cao hiệu quả giao dịch. Xét trên diện rộng, Việt Nam đã và đang tham gia sâu rộng vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa với các đối tác nước ngoài đang phát triển mạnh mẽ về quy mô và trình độ, kéo theo đó, sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế cũng dần trở nên phổ biến. Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi, đặc biệt là khi bị lạm dụng, những điều kiện giao dịch chung có thể gây bất lợi cho người phải chấp nhận chúng. Các doanh nghiệp Việt Nam do kinh nghiệm còn non yếu nên thường chịu thiệt thòi trong các giao dịch với các đối tác lớn từ nước ngoài. Vậy giải pháp nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng hết các ưu điểm và hạn chế tối đa các nhược điểm trong việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên
Lớp
Khóa
Người hướng dẫn khoa học
: Nguyễn Thị Thu Giang : 0851020064
: Anh 6- Khối 3 Kinh tế : 47
: PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Trang 2Qua khóa luận, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo; PGS, TS Tăng Văn Nghĩa, giáo viên đã tận tình hướng dẫn cũng như giúp đỡ em rất nhiều trong việc hoành thành khóa luận này Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo của trường Đại học Ngoại thương, những sgiảng viên tâm huyết đã truyền dậy cho em những kiến thức nền tảng quý báu trong suốt 4 năm học qua Đồng thời, em xin được cảm ơn các cán bộ tại Thư viện trường Đại học Ngoại thương, Thư viện Quốc gia đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu tham khảo cho khóa luận.
Do thời gian nghiên cứu khóa luận có hạn cũng như trình độ người viết còn nhiều hạn chế, chắc chắn khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót Em mong thầy cô vào các bạn thông cảm và góp ý để bài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn Hà Nội, tháng 5 năm 2012.
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNGVÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 3
I Khái quát về điều kiện giao dịch chung 3
1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của các điệu kiện giao dịch chung 3
1.1 Lịch sử ra đời các điều kiện giao dịch chung 3
1.2 Lịch sử hình thành các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế 5
1.3 Sự phát triển các điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam 6
2 Khái niệm điều kiện giao dịch chung 7
3 Phân loại điều kiện giao dịch chung 10
3.1 Căn cứ vào nội dung của điều kiện giao dịch chung 10
3.2 Căn cứ và sự xuất hiện của các điều kiện giao dịch chung 11
4 Đặc điểm và nội dung của các điều kiện giao dịch chung 11
4.1 Đặc điểm các điều kiện giao dịch chung 11
4.2 Một số nội dung điển hình trong các điều kiện giao dịch chung 12
4.2.1 Điều khoản giao hàng 12
4.2.2 Điều khoản vận tải 14
4.2.3 Điều khoản giá cả và thanh toán 15
II Điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế 17
1 Khả năng áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế 17 2.Một số ưu điểm và hạn chế của điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế… 18
2.1 Các ưu điểm của điều kiện giao dịch chung 18
2.1.1 Chuẩn hóa ngôn ngữ trong hợp đồng 18
Trang 42.1.3 Rút ngắn thời gian đàm phán 20
2.1.4 Tạo thuận lợi cho bên đưa ra các điều kiện giao dịch khi ký kết hợp đồng……… 21
2.2 Các hạn chế của điều kiện giao dịch chung 21
2.2.1 Bất bình đẳng quyền lợi giữa các bên 21
2.2.2 Hạn chế quyền tự do thỏa thuận hợp đồng 24
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 27
I Khái quát 27
II.Thực tiễn áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế 29
1 Thực tiễn áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong một số hoạt động thương mại điển hình 29
1.1 Áp dụng điều kiện giao dịch chung trong ngành bảo hiểm 29
1.1.1 Trong ngành bảo hiểm nhân thọ 29
1.1.2 Trong ngành bảo hiểm hàng hóa 31
1.2 Áp dụng điều kiện giao dịch chung trong các ngành khác 36
1.2.1 Trong giao dịch thương mại điện tử 36
1.2.2 Trong ngành bưu chính viễn thông 39
1.2.3 Trong ngành ngân hàng 41
2 Thực tiễn áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam 43
2.1 Khái quát chung 43
2.2 Phân tích các điều kiện giao dịch chung của công ty DSM Nutritional Products Việt Nam 43
2.2.1 Giới thiệu công ty và đặc điểm hàng hóa kinh doanh 43
Trang 53 Phân tích các tranh chấp liên quan đến điều kiện giao dịch chung của một vài doanh nghiệp tại Việt Nam 50 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 56
I Xu hướng và nhu cầu sử dụng điều kiện giao dịch chung tại Việt
Nam trong thời gian tới 56
II Một số giải pháp tăng cường sử dụng điều kiện giao dịch chung
trong kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam 58
1 Nâng cao nhận thức về điều kiện giao dịch chung 59
2 Tăng cường xây dựng điều kiện giao dịch chung trong doanh nghiệp
61
3 Ban hành quy định của pháp luật điều chỉnh điều kiện giao dịch chung
62
4 Giám sát việc ban hành và thực thi điều kiện giao dịch chung trong
giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại 66 5.Khai thác ưu điểm, hạn chế bất cập của việc sử dụng các điều kiện giao
dịch chung…… 68 6.Nâng cao kỹ năng soạn thảo và ký kết hợp đồng liên quan đến điều kiện
giao dịch chung của doanh nghiệp 70 KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Chữ viết tắt Giải nghĩa Tiếng Anh Giải nghĩa Tiếng Việt
APEC Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châuÁ – Thái Bình DươngCIF Cost, insurance and freight Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
CIP Carriage and insurance
paid to Cước phí và phí bảo hiểm trả tớiDPP Delivered duty paid Giao hàng đã thông quan nhập
khẩuFOB Free on boat Giao hàng lên tàu
L/C Letter of Credit Thư tín dụng
Vietcombank Ngân hàng Thương mại cổ phần
Ngoại Thương Việt NamVNPT Vietnam Posts and
Telecommunications Group
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông
Việt NamWTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển mạnh mẽ của tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa đã tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra với tốc độ nhanhhơn bao giờ hết Khi ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp hàng hóa hay dịch vụđại trà, khách hàng thường phải chấp nhận những quy tắc thương mại do đối táccung cấp mà không được sửa đổi hay đàm phán lại, những quy tắc đó được gọi làđiều kiện giao dịch chung Trong môi trường nền kinh tế quốc tế hội nhập pháttriển, việc sử dụng ngày càng nhiều các điều kiện giao dịch chung đã chứng tỏ ưuthế của chúng trong giao dịch bởi các điều kiện này giúp đẩy nhanh tốc độ vànâng cao hiệu quả giao dịch
Xét trên diện rộng, Việt Nam đã và đang tham gia sâu rộng vào quá trìnhhội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động mua bán hàng hóa với các đối tác nước ngoàiđang phát triển mạnh mẽ về quy mô và trình độ, kéo theo đó, sử dụng các điềukiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế cũng dần trở nên phổ biến Tuynhiên, việc sử dụng rộng rãi, đặc biệt là khi bị lạm dụng, những điều kiện giaodịch chung có thể gây bất lợi cho người phải chấp nhận chúng Các doanh nghiệpViệt Nam do kinh nghiệm còn non yếu nên thường chịu thiệt thòi trong các giaodịch với các đối tác lớn từ nước ngoài Vậy giải pháp nào giúp các doanh nghiệpViệt Nam tận dụng hết các ưu điểm và hạn chế tối đa các nhược điểm trong việcsử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế?
Đề tìm câu trả lời cho những vấn đề trên cần phải có những nghiên cứu cụthể về lịch sử phát triển, nội dung đặc điểm, bản chất pháp lý của các điều kiệngiao dịch chung từ các văn bản có liên quan và thực tiễn áp dụng các quy tắc nàytrong hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước, từ đó đưa ra những kiến nghị,đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng các điều kiện giao dịch chung cũng nhưhạn chế tối đa các nhược điểm khi sử dụng các quy tắc này
Trên đây cũng là lý do tôi chọn chủ đề: “Điều kiện giao dịch chung, lý
luận và thực tiễn áp dụng trong thương mại quốc tế” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ những vấn đề cơ bản về điềukiện giao dịch chung nói chung và trong thương mại quốc tế; đồng thời phân tíchđể thấy được thực tiễn sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt độngthương mại tại Việt Nam; trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cườngviệc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế đối với cácdoanh nghiệp Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận này là điều kiện giao dịch chung củadoanh nghiệp được sử dụng trong thương mại quốc tế
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là điều kiện giao dịch chung trong thươngmại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam trong phạm vi thương mại quốc tế,đặc biệt là của các doanh nghiệp Việt Nam Về mặt thời gian, phạm vi nghiêncứu của khóa luận là giai đoạn từ 1995 đến 2020 trên cơ sở đề xuất các giải pháptăng cường sử dụng điều kiện giao dịch chung trong các doanh nghiệp trongtương lai
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng baogồm: phân tích, luận giải, thống kê tổng hợp những vấn đề liên quan đến điềukiện giao dịch chung trong các văn bản pháp luật, các tài liệu của các tổ chứcquốc gia trên thế giới để làm nổi bật lên nội dung, đặc điểm, bản chất pháp lý củacác điều kiện giao dịch chung
5 Bố cục khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận được chia làm ba chương:
Chương I: Tổng quan về điều kiện giao dịch chung và điều kiện chung trongthương mại quốc tế
Chương II: Thực tiễn áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mạiquốc tế
Chương III: Một số giải pháp tăng cường sử dụng điều kiện giao dịch chungđối với doanh nghiệp Việt Nam
Trang 9CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG VÀ ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I Khái quát về điều kiện giao dịch chung
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới, có thể thấy các hoạt động thươngmại diễn ra với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết Đối với các giao dịch trong nướcvà ngoài nước, việc các doanh nghiệp tự mình xây dựng và vận dụng các điềukhoản ổn định để có thể áp dụng chung cho các giao dịch cùng loại ngày càng trởnên phổ biến Những điều khoản ấy được gọi là những điều kiện giao dịch chung.Điều kiện giao dịch chung đã trở thành một công cụ hữu hiệu tạo điều kiện thuậnlợi hơn cho các doanh nghiệp trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng, từ đóthúc đẩy các mối quan hệ kinh doanh trong thương mại quốc tế
Trên thực tế, điều kiện giao dịch chung đã được rất nhiều doanh nghiệptrên thế giới áp dụng từ lâu Phần dưới đây của luận văn sẽ đề cập chi tiết hơn vềlịch sử ra đời phát triển cũng như khái niệm cơ bản, nội dung và đặc điểm củacác điều kiện giao dịch chung được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế
1 Lịch sử ra đời và sự phát triển của các điệu kiện giao dịch chung
1.1 Lịch sử ra đời các điều kiện giao dịch chung
Các điều kiện giao dịch chung xuất hiện lần đầu trong các giao dịch vềbảo hiểm tại Châu Âu vào Thế kỷ XV và ngày càng trở nên phổ biến Đến Thếkỷ XVII, các điều kiện này được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong các hợpđồng thuê tàu và vận đơn đường biển
Trước cách mạng công nghiệp, nền sản xuất còn mang tính tự cung tự cấp,số lượng hàng hóa ít, kém đa dạng phong phú, số lượng khách hàng cũng chưanhiều, qui mô thị trường vì thế nhỏ lẻ và các giao dịch thương mại diễn ra chưasôi động, tấp nập Chính vì vậy, đặc điểm của tập quán mua bán trong thời giannày là người mua và người bán có vị thế gần như ngang bằng, chính vì vậy họthường đàm phán, thương lượng với nhau về các điều khoản trong hợp đồngtrước khi ký kết Thông thường là một bên đưa ra toàn bộ các điều kiện trong hợpđồng rồi yêu cầu bên kia xem xét và ký chấp nhận trong một thời gian hợp lý, tuynhiên cũng chỉ giới hạn trong ngành bảo hiểm và hàng hải Đối với ngành bảo
Trang 10hiểm, một hãng bảo hiểm, thông thường, phải cung cấp dịch vụ đồng nhất, theonhững điều kiện định trước của mình đến rất nhiều khách hàng khác nhau, vì thếđể tiết kiệm thời gian cũng như chi phí và sức lực trong giao dịch họ thường biênsoạn sẵn những hợp đồng để ký kết dần dần với nhiều khách hàng Do đó, cácđiều kiện giao dịch chung ra đời Đối với ngành hàng hải, do các chủ tàu thườngcó thế lực lớn, thêm vào đó, một con tàu có thể được rất nhiều chủ hàng thuê đểchở hàng Chính vì vậy, một số điều khoản trong hợp đồng đồng thuê tàu chuyếnvà các vận đơn đường biển tàu chợ được lặp đi lặp lại Để quá trình ký kết hợpđồng được thuận lợi và nhanh chóng, các chủ tàu thường soạn sẵn những mẫuhợp đồng thuê tàu và vận đơn đường biển, yêu cầu các chủ hàng xem xét và kýchấp nhận sau đó
Vào thế kỷ XIX, khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu cũng là lúcđánh dấu việc áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động thươngmại Việc sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ đã mang tính hàng loạt, liên tụcvới số lượng lớn, lượng khách hàng cũng tăng lên đáng kể Trong bối cảnh ấy,việc soạn thảo hợp đồng trong sản xuất và thuê lao động mang tính hàng loạt rađời để có thể đáp ứng quy mô ngày càng mở rộng của nền sản xuất Bắt đầu từnhững doanh nghiệp bảo hiểm, giao thông rồi sau đó là những ngân hàng,doanh nghiệp sản xuất hàng hóa dịch vụ… cũng đều thiết tạo cho mình nhữngquy tắc bán hàng thống nhất áp dụng cho nhiều lần giao dịch với nhiều kháchhàng của mình
Từ những phân tích trên có thể thấy, tính tất yếu của sự ra đời các điềukiện giao dịch chung trong hoạt động thương mại là do nhu cầu nền sản xuấthàng hóa và nhu cầu tối đa hóa quyền lợi của các doanh nghiệp Khi quy mô nềnsản xuất ngày càng mở rộng, chất lượng sản phẩm ngày càng gia tăng cũng đồngnghĩa với số lượng khách hàng cũng trở nên ngày một đông đảo với những trìnhđộ, chuyên môn, sự hiểu biết và thị hiếu tiêu dùng khác nhau khiến cho cácdoanh nghiệp, ở cương vị là nhà cung cấp, những người hiểu rõ hơn về các đặctính hàng hóa, luật pháp liên quan đến hàng hóa phải tìm ra những biện phápgiúp việc mua bán trở nên dễ dàng nhanh chóng và thuận lợi hơn Từ đó, các điệukiện giao dịch chung được ra áp dụng rộng rãi và phổ biến
Trang 11Sau khi các điều kiện giao dịch chung được sử dụng rộng rãi, các thươngnhân – những người luôn đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận lên hàng đầu cũngnhận ra rằng tiêu dùng thường chấp nhận hoàn toàn các điều kiện giao dịchchung, chính vì vậy doanh nghiệp có thể ẩn chứa những điều kiện có lợi chomình trong những điều khoản này, nhất là khi những điều kiện thương mại nàymang tính đại trà, đồng loạt… thì lợi ích của họ thu về càng lớn Theo thời gian,các doanh nghiệp cùng với các hiệp hội ngành nghề đã xây dựng và phát triểnnhiều loại hợp đồng cụ thể, từ đó xây dựng cho mình những Luật chơi riêngnhằm tối đa hóa lợi nhuận, tăng thêm sức mạnh trên thị trường, tạo lợi thế cạnhtranh so với các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực Đó là nguyênnhân vì sao việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trở thành tất yếu do nhucầu tối đa hóa quyền lợi của các doanh nghiệp.
1.2 Lịch sử hình thành các điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
Lịch sử phát triển của các điều kiện giao dịch chung trong thương mạiquốc tế ra đời muộn hơn lịch sử phát triển của các giao dịch thương mại xuyênbiên giới Xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền lợi của các thành viên của mình,các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn thường đưa các điều quy định, những cáchứng xử cho việc mua bán hàng hóa Thời kỳ này, các hợp đồng mẫu được các tậpđoàn, hiệp hội soạn thảo để các thành viên tham khảo và sử dụng, tuy nhiênphạm vi sử dụng vẫn còn hạn chế trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Giai đoạn từ 1820 cho tới cuối 1870 là thời kỳ đánh dấu mở cửa nềnkinh tế, khi thuế quan giảm và tỷ lệ thương mại tăng mặc dù vẫn có một số ngoạilệ Đây là thời kỳ thống trị của Đế chế Anh cả trong thương mại lẫn chính trịquốc tế Hệ thống thương mại quốc tế có mức độ mở cửa lớn Một nhân tố tácđộng mạnh mẽ cho sự mở cửa là việc ký kết Hiệp ước Anh - Pháp năm 1860 vàkết quả là một loạt các hiệp định khác ra đời sau đó Thời gian này, các điều kiệngiao dịch chung được sử dụng trong các giao dịch thương mại đa biên, cácthương vụ giữa các thương nhân đến từ các quốc gia khác nhau Đặc biệt điềukiện giao dịch chung được sử dụng nhiều nhất trong các hợp đồng thuê tàu đểvận chuyển hàng hóa bằng đường biển Sự kiện Nga, các quốc gia Cộng sản
Trang 12Đông Âu cũ và Trung Quốc gia nhập vào hệ thống thương mại quốc tế đã thúcđẩy mạnh mẽ sự mở cửa của hệ thống thương mại Đây cũng là giai đoạn cácđiều kiện giao dịch chung được sử dụng với số lượng nhiều nhất, nhiều quốc giađã cho ra đời các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh việc sử dụng các điềukiện giao dịch chung trong hoạt động thương mại quốc tế của mình Cho đến nay,với những ưu điểm và sự thuận lợi vốn có, các điều kiện giao dịch chung sử dụngtrong thương mại quốc tế đã được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các hoạt độngthương mại giữa các doanh nghiệp trong các giao dịch trong và ngoài biên giới.
1.3 Sự phát triển các điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trong những năm đầu Đổi Mới, chủ trương Nhà Nước làtập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm, hàngtiêu dùng, hàng xuất khẩu Các hình thức ngăn sông cấm chợ, chia cắt thị trườngđược xóa bỏ dần, kế hoạch kinh tế của nhà nước được thực hiện trên cơ sở hạchtoán Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể được thừanhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động Nền kinh tế dần dần được thịtrường hóa và bắt đầu có những chuyển biến tốt Song giai đoạn này, Nhà nướcvẫn giữ quyền quản lý hầu hết các hoạt động mua bán hàng hóa, phổ biến nhất làthông qua các hợp đồng mẫu - đây được cho là một hình thức ban đầu của điềukiện giao dịch chung
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, "Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" ra đời Cương lĩnh đã tuyên bốnhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam là: “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Các văn kiện này nêuphương hướng: "thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao vớisự đa dạng về hình thức sở hữu” 10 năm tiếp theo là thời kỳ Việt Nam tích cựchội nhập nền kinh tế mà đỉnh cao là việc ký kết hiệp định gia nhập Tổ chứcThương mại thế giới và hiệp định đối tác song phương với Nhật Bản Từ đây, cácdoanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng việc làm ăn buôn bán, nền kinh tế đấtnước dần dần đi lên1 Số lượng hợp đồng thương mại trong nước và ngoài nướcvì thế cũng tăng lên đáng kể Thay thế cho nền kinh tế quan liêu bao cấp là nền
1 Phạm Văn Chiến, 2003, Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội,
trang 20- 32
Trang 13kinh tế đa dạng với sự tham gia của nhiều tầng lớp và thành phần trong xã hội.Các điều kiện giao dịch chung được sử dụng nhiều hơn trong các hợp đồng muabán đã phát huy phần nào lợi thế của mình trong việc tạo thuận lợi cho các bêntham gi ký kết hợp đồng
Trải qua hơn 20 năm Đổi mới, quan hệ thương mại của nước ta với thếgiới ngày một cải thiện và mở rộng Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế,việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung ngày càng trở nên phổ biến trong cáchợp đồng thương mại quốc tế Có thể nói, lịch sử phát triển của các điều kiệngiao dịch chung đã có từ lâu Khi giao dịch thương mại phát triển đến một mứcđộ nhất định, nhu cầu về công cụ hợp lý hóa giao dịch trong một số lĩnh vực đặt
ra yêu cầu cần phải cải thiện việc thực hiện giao dịch sao cho ngày càng nhanhchóng và hiệu quả
2 Khái niệm điều kiện giao dịch chung
Nhằm mục đích đẩy mạnh tốc độ và nâng cao hiệu quả giao dịch, cácdoanh nghiệp đã xây dựng một hệ thống các điều khoản ổn định để áp dụng chonhiều lần giao dịch với nhiều khách hàng khác nhau Các điều khoản ổn định ấychính là các điều kiện giao dịch chung
Trong thương mại quốc tế, điều kiện giao dịch chung (General terms andcondittions) thường được hiểu là những điều khoản có tính ổn định trong hợpđồng, được chủ thể kinh doanh sử dụng lặp đi lặp lại với các đối tác kinh doanhkhác nhau Điều kiện giao dịch chung là một bộ phận của hợp đồng, tuy đã đượcsử dụng phổ biến từ rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thức nàovề điều kiện giao dịch chung trong các văn bản pháp lý hay các nguyên tắc quốctế Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm thấy những đề cập sơ bộ về Điều kiện giaodịch chung trong các tài liệu nghiên cứu và các văn bản pháp luật có liên quan
Viện quốc tế về thống nhất Tư pháp quốc tế (UNIDROIT) đã đưa ra
bản Principles of International Commercial Contract (PICC), với tên gọi tiếng Việt là “Nguyên tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế”, đã quy định về hợp đồng
sử dụng các điều kiện giao dịch chung (Contracting under standard terms) từ điều2.1.19 đến điều 2.1.22, trong đó có nêu:
Điều 2.1.19 khoản 2:
Trang 14“Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản trong hợp đồng được một bên chuẩn bị trước và để sử dụng chung với đối tác khác lặp đi lặp lại mà không cần phải thỏa thuận lại.” 2
Có thể thấy theo PICC, điều kiện giao dịch chung không phải việc cácđiều kiện này được trình bày ở dạng nào, một văn bản hay một hợp đồng insẵn…, cũng không phải ở việc bên nào soạn thảo ra các điều kiện đó hay sốlượng các điều khoản được phép trở thành những điều kiện giao dịch chung…Mà PICC chỉ tập trung vào yếu tố được soạn thảo trước, để sử dụng chung vàlàm nhiều lần mà không cần thỏa thuận lại Cũng giống việc ký kết hợp đồngthông thường, các điều kiện giao dịch chung do một bên đưa ra sẽ trở nên có hiệulực nếu được bên còn lại chấp nhận Nói cách khác, điều kiện giao dịch chungtrong hợp đồng thường có giá trị ràng buộc khi có chữ ký của các bên hoặc đượcthể hiện bằng cách thức tương đương để thể hiện được sự thống nhất về ý chígiữa các bên
Quan niệm điều kiện giao dịch chung được Liên minh Châu Âu (EU)
đề cập đến trong Nghị định 93/13/EEC- các điều khoản bị lạm dụng trong hợp
đồng người tiêu dùng Điều 3 của Nghị định có nêu ra định nghĩa về điều khoảnmẫu (hay điều kiện giao dịch chung), trong đó các điều kiện giao dịch chung
được gọi là not individually negotiated terms, hoặc standard terms, đã được định
nghĩa như sau:
“Một điều khoản được coi là điều kiện giao dịch chung khi nó được soạn thảo từ trước và người tiêu dùng, vì thế, không thể sửa đổi hay điều chỉnh các điều khoản đó, đặc biệt là với các hợp đồng tiêu chuẩn được soạn thảo sẵn” 3
Định nghĩa trên cũng có nhiều điểm tương đồng với quan niệm củaPICC, điều kiện giao dịch chung do một bên soạn thảo trước và bên kia phải chấpnhận hoàn toàn nếu như muốn giao dịch, không cần đàm phán hay thương lượng
repeated use by one party and which are actually used without negociation with the one party”
3 Tiếng Anh: “A term shall always be regarded as not individually negotiated where it has draftes in advance and the consumer has therefore not been able to influence the subtance of the term, particularly in the contest of pre-formulated standard contract”.
Trang 15Tuy nhiên có thể thấy rằng định nghĩa được nêu trong Nghị định của EU cóphạm vi hẹp hơn quan điểm của PICC Theo PICC, điều kiện giao dịch chungtrong hợp đồng thương mại quốc tế do một bên soạn thảo và được sử dụng nhiềulần thì với cách định nghĩa trong Nghị định chỉ quan niệm điều kiện giao dịchchung là do bên bán hàng hoặc những người cung cấp dịch vụ soạn thảo và đưa
ra cho người tiêu dùng để chấp nhận hoàn toàn các điều khoản ấy Bên cạnh đó,Nghị định cũng không đề cập đến mức độ sử dụng để điều khoản ấy khi nàođược xem là điều kiện giao dịch chung (một lần hay được lặp lại nhiều lần) Nhưvậy, dù có đưa ra định nghĩa về điều kiện giao dịch chung, song Nghị định chỉđưa ra những quy định rất chung về phạm vi, đối tượng áp dụng …
Về định nghĩa điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam, hiện nay, Phápluật Việt Nam chưa có văn bản riêng biệt quy định về điều kiện giao dịch chung.Tuy nhiên có thể tìm thấy định nghĩa liên quan đến bản chất pháp lý của các điềukiện giao dịch chung tại Điều 407, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, trong đó cónêu khái niệm hợp đồng dân sự theo mẫu như sau:
“Hợp đồng dân sự theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do mộtbên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý, nếu bên đượcđề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theomẫu mà bên đề nghị đưa ra”
Khái niệm hợp đồng mẫu không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm điềukiện giao dịch chung, tuy nhiên có thể hiểu đây là quy định sơ khai của Pháp luậtvề điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam Hợp đồng mẫu và điều kiện giao dịchchung đều có những điểm tương đồng về nội dung như: do một bên soạn sẵn, đưa
ra làm việc giao kết hợp đồng trở nên dễ dàng và trở thành nội dung của hợpđồng nếu được bên kia chấp nhận Trong hoạt động thương mại, hợp đồng mẫu
ra đời trước hết nhằm mục đích tham khảo và tạo điều kiện dễ dàng cho việc giaokết hợp đồng, khi các doanh nghiệp tiếp tục phát triển, cá biệt hóa các hợp đồngtham khảo này và tách phần điều khoản soạn sẵn đầy đủ nội dung thành một bảnđiều kiện không thay đổi qua các thương vụ, khi ấy điều kiện giao dịch chungđược hình thành
Trang 16Từ việc nghiên cứu một số quan niệm về điều kiện giao dịch chung ởphần trên, có thể rút ra khái niệm điều kiện chung như sau:
Điều kiện giao dịch chung được hiểu là tất cả những điều kiện hợp đồng được soạn trước bởi một bên trong quan hệ hợp đồng và được sử dụng khi ký kết hợp đồng với nhiều khách hàng khác nhau.
Như vậy, qua khái niệm có thể thấy, điều kiện giao dịch chung khôngchỉ là những điều khoản trong hợp đồng mà còn là những điều kiện, quy tắcthành lập hợp đồng, tức là nếu các bên không chấp nhận những điều kiện này thìhợp đồng không được thành lập Những điều kiện giao dịch chung được một bêntrong quan hệ hợp đồng soạn thảo và sử dụng nhiều lần cho nhiều khách hàngkhác nhau trong quan hệ giao dịch Chúng không giới hạn trong một điều khoảncụ thể nào trong hợp đồng, có thể là toàn bộ hợp đồng hoặc cũng có thể là một sốđiều khoản điển hình, như điều khoản miễn trách, điều khoản trọng tài…4
3 Phân loại điều kiện giao dịch chung
3.1 Căn cứ vào nội dung của điều kiện giao dịch chung
Dựa vào nội dung được nói đến trong điều kiện giao dịch chung ta có thểphân thành 2 loại:
Điều kiện giao dịch chung mô phỏng luật: là các điều khoản, điều kiệnsoạn sẵn như quy định của pháp luật, trên cơ sở ghi chép những thỏa thuận.Trong trường hợp doanh nghiệp không đưa ra điều kiện giao dịch chung loại nàythì quyền và nghĩa vụ các bên vẫn thực hiện theo quy định pháp luật
Điều kiện giao dịch chung theo ý chí của người ban hành: là những điềukiện giao dịch chung ghi lại những thỏa thuận Đặc biệt, những thỏa thuận này dochính ý chí của người ban hành đưa ra mà không bị cấm hay vi phạm pháp luật.Nếu doanh nghiệp không đưa ra các điều khoản thì các điệu kiện như vậy khônglàm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên Loại điều kiện giao dịch chung nàymới có ý nghĩa và thực sự quan trọng đối với bên chấp nhận điều kiện giao dịchchung
3.2 Căn cứ và sự xuất hiện của các điều kiện giao dịch chung
4 Tăng Văn Nghĩa, Bàn về điều kiện giao dịch chung của doanh nghiệp, 1999, Tạp chí Dân chủ và pháp luật Bộ Tư pháp, Số 3/ 2009, trang 21-29
Trang 17Có thể phân thành 3 loại:
Điều kiện giao dịch chung nằm trong hợp đồng: tức là trong một vănbản hợp đồng đã được ký kết, điều kiện giao dịch chung và điều khoản được thỏathuận riêng nằm trong cùng một văn bản
Điều kiện giao dịch chung nằm ngoài hợp đồng, nhưng là một phần củahợp đồng Đây là những điều khoản được dẫn chiếu trong hợp đồng Với loạiđiều kiện giao dịch này, các điều kiện giao dịch chung nằm ở một văn bản khácnên đối tác của doanh nghiệp cần có sự cân nhắc thích đáng khi ký kết
Điều kiện giao dịch chung nằm trong hợp đồng nhưng được in bằngkiểu chữ, cỡ chữ khác biệt so với các điều khoản thỏa thuận riêng
4 Đặc điểm và nội dung của các điều kiện giao dịch chung
4.1 Đặc điểm các điều kiện giao dịch chung
Được soạn thảo trước và sử dụng nhiều lần cho nhiều khách hàng
mà không cần qua thương lượng lại.
Như đã nghiên cứu ở trên, việc ra đời các điều kiện giao dịch chung là phùhợp với nền kinh tế sản xuất hàng hóa, trao đổi, mua bán hàng hóa mang tínhhàng loạt, việc thực hiện các giao dịch, trong đó có đàm phán và ký kết hợp đồngcũng được tiêu chuẩn hóa với mức độ cao dần Đây là đặc điểm quan trọng củacác điều kiện giao dịch chung Điều kiện giao dịch chung được hình thành dựatrên cơ sở lý thuyết của hợp đồng truyền thống Chính vì vậy, các điều khoảntrong hợp đồng thường được tiêu chuẩn hóa về mặt hình thức và thường khôngcông bằng nếu xét về mặt nội dung Nó thường được soạn theo hướng có lợi chongười soạn thảo hoặc người sử dụng chúng Sở dĩ có hiện tượng này là do mộtbên trong quan hệ hợp đồng không được thực sự thỏa thuận về các điều khoảnmà mình sẽ chấp nhận ký kết Đôi khi đối tác của doanh nghiệp phải chịu thiệtthòi khi phải chấp nhận tất cả các điều kiện giao dịch chung nếu muốn giao kếthợp đồng với bên soạn thảo
Không bị giới hạn hình thức thể hiện
Văn phong được sử dụng trong các điều kiện giao dịch chung thườngkhông mang tính cá biệt mà được tiêu chuẩn hóa rất cao bởi vì các điều kiện giao
Trang 18dịch chung thường được áp dụng cho nhiều khách hàng với nhiều lần giao dịch.Hình thức các điều kiện giao dịch chung cũng rất phong phú, đa dạng Các điềukhoản này có thể xuất hiện dưới dạng những phụ đề trong một văn bản hợp đồng,hay những poster quảng cáo, bản điều lệ của công ty… và còn nhiều dạng tồn tạikhác cũng được coi là các điều kiện giao dịch chung Tuy nhiên, hình thức thểhiện dường như không làm ảnh hưởng đến giá trị hiệu lực của các điều kiện giaodịch chung.
Ngôn ngữ của điều kiện giao dịch chung được chuẩn hóa và thường được trình bày để phục vụ một mục đích nhất định.
Thông thường, người soạn thảo ra những điều kiện giao dịch chung thiênvề bảo vệ lợi ích của bản thân trong quan hệ hợp đồng, họ luôn tìm cách kiếm lợicho công ty mình đồng thời hạn chế trách nhiệm của mình trong hợp đồng Cóthể thấy rất nhiều điều khoản trong điều kiện giao dịch chung được đưa ra nhằmbảo vệ lợi ích bên soạn thảo, đôi khi các điều khoản này gây bất công bằng chophía đối tác phải chấp nhận Nói cách khác, ngôn ngữ của các điều kiện giao dịchchung thường thể hiện ý chí chủ quan của một số người, nhằm mục đích nhấtđịnh trong giao dịch, nhất là khi giao dịch mang tính hàng loạt thì hiệu quả việcsử dụng các điều kiện giao dịch này sẽ càng cao
4.2 Một số nội dung điển hình trong các điều kiện giao dịch chung
Những điều khoản trong điều kiện giao dịch chung thông thường lànhững điều khoản về nguyên tắc, trừ trường hợp hợp đồng được thiết kế riêngcho một mặt hàng cụ thể hoặc đối tượng khách hàng nào đó của doanh nghiệp.Phần nội dung tiếp theo của khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu một số điều khoảnđiển hình được lựa chọn trong điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng muabán hàng hóa
4.2.1 Điều khoản giao hàng
Đây là điều khoản rất quan trọng của hợp đồng, vì nó sẽ quy định nghĩavụ cụ thể của người mua và bán; đồng thời cũng là ràng buộc các bên hoàn thànhtrách nhiệm của mình đối với đối phương Nếu không có điều khoản này, hợpđồng mua bán coi như không có hiệu lực Các điều kiện giao dịch chung quyđịnh về việc giao hàng thường đưa ra các nguyên tắc quy định nghĩa vụ của hai
Trang 19bên song song với các điều khoản đã được quy định cụ thể trong hợp đồng muabán Cụ thể điều khoản giao hàng có những nội dung sau:
Thời gian giao hàng
Về thời gian giao hàng, điều kiện giao dịch chung thường dẫn chiếu tớihoặc quy định giống công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế: “Ngườimua phải giao hàng đúng vào ngày mà hợp đồng đã quy định cho việc giao hàng”hoặc “vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định”.Vì vậy, khi quy định ngày giao hàng, người bán phải giao trước 24 giờ ngày đó,còn khi quy định tháng giao hàng, người bán phải tiến hàng giao hàng vào mộtngày bất kỳ trong tháng đó
Thông báo giao hàng
Trong các điều kiện giao dịch chung, doanh nghiệp thường có quy địnhhai lần thông báo giao hàng, cụ thể: thông báo trước khi giao hàng và thông báokết quả giao hàng Việc thông báo trước khi giao hàng có mục đích báo chongười mua biết về việc hàng đã sẵn sàng để giao, nhằm giúp người mua có thểthuê tàu chở hàng Vì vậy, người bán không được làm thông báo này trước khimình đã thực sự có khả năng giao hàng phù hợp với các điều kiện của hợp đồng
Việc hoàn thành nghĩa vụ giao hàng
Việc hoàn thành nghĩa vụ giao hàng là nội dung khá được quan tâmtrong điều khoản giao hàng của bản điều kiện giao dịch chung Phần lớn các hợpđồng quy định ngày giao hàng được xác định “bằng ngày vận đơn được cấp” (AsBill of lading dated or to be dated) Đa số các hợp đồng loại này còn quy địnhrằng, nếu không có bằng chứng khác thì vận đơn đường biển được công nhận làbằng chứng ngày bốc hàng lên tàu Một số hợp đồng còn đề cao giá trị này củavận đơn bằng cách quy định rằng nếu muốn phủ nhận bằng chứng của vận đơnthì phải đưa ra bằng chứng có khả năng thuyết phục
Hầu hết các bản điều kiện giao dịch chung đều có một hay nhiều điềukhoản cho hoãn hoặc miễn giao hàng nếu gặp những trở ngại khách quan cản trởviệc giao hàng như: thiên tai, chiến tranh… Khi trở ngại kéo dài, quá một thờigian hợp lý đã được quy định, một bên có thể yêu cầu hủy bỏ hợp đồng vớinhững điều kiện nhất định Ngoài những nguyên nhân khách qua, việc giao hàng
Trang 20còn phụ thuộc vào chủ quan đương sự Có thể thấy ở một vài bản điều kiện giaodịch chung xuất hiện một điều khoản đặc biệt, gọi là “điều khoản gia hạn”(extension clause), cho đương dự được quyền hoãn giao hàng trong một vài ngày(có thể tối đa là 8 ngày), miễn là phải trả cho đối tác của mình một khoản tiềnthích ứng Như vậy, người bán có quyền lựa chọn việc giao hàng đúng hạn vớiviệc hoãn giao hàng và chịu phạt 5
4.2.2 Điều khoản vận tải.
Trong thương mại quốc tế, vận tải đường biển chiếm đến 70% cácthương vụ Trong đó có đến hơn 90% các mẫu hợp đồng buộc người bán tổ chứcchuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến6 Vì vậy, quy định của các hợp đồng soạnthảo sẵn cũng thường theo hướng này
Nếu các điều kiện giao dịch chung được soạn thảo cho nghiệp vụ muahàng và quy định người bán lo việc chuyên chở thì điều khoản vận tải quy địnhrằng: tàu chở hàng phải có khả năng đi biển, chưa quá tuổi sử dụng hoặc đượcxếp hạng tốt bởi một công ty đăng kiểm có tín nhiệm Quy định này là cần thiếtcho việc bảo vệ quyền lợi của người mua vì theo Incoterms, người bán hàngkhông buộc phải thuê tàu có khả năng đi biển mà chỉ cần thuê tàu đi biển đểchở hàng
Tùy theo loại hàng hóa, nội dung điều khoản này cũng sẽ thay đổi Vídụ: điều kiện giao dịch chung về buôn bán gỗ cho phép hàng được xếp trênboong Điều kiện giao dịch chung về hàng ngũ cốc cũng cho phép chở hàng trênboong, nhưng đó là hợp đồng theo điều kiện Rye terms, nghĩa là người bán phảichịu trách nhiệm về việc hàng bị hư hỏng do nước biển.7
5 Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 20-24
6 Theo J Zielenewski, Ba Lan
7 Karla C.Shippey, 2003, A Short Course in International Contracts: Drafting the International Sales Contracts, World Trade Press 2nd Edition
Trang 214.2.3 Điều khoản giá cả và thanh toán
Đây có thể nói là điều khoản quan trọng nhất của hợp đồng ngoạithương mọi điều khoản khác có thể dễ dàng nhượng bộ hoặc bị thuyết phụcnhưng với điều khoản này hầu hết các bên đối tác đều không muốn nhượng bộ.Thông thường các bên phải thống nhất những nội dung sau đây
Đồng tiền của hợp đồng
Trong hợp đồng ngoại thương giá cả hàng hoá có thể được tính bằng tiềncủa nước người bán, có thể được tính bằng tiền của nước người mua hoặc có thểđược tính bằng tiền của nước thứ ba Thông thường sự lựa chọn đồng tiền thuộcquyền của bên soạn thảo hợp đồng Chính vì thế bên soạn thảo thường muốntranh thủ điều kiện có lợi cho mình Đối với người bán luôn chọn đồng tiền có
xu hướng tăng giá trị trên thị trường hối đoái, với người mua thì ngược lại Đồngtiền được chọn đa phần là những đồng tiền có giá ổn định trên thị trường hốiđoái, đó là những đồng tiền có khả năng chuyển đổi cao, hay gọi là đồng tiềnmạnh, hiện nay nếu sắp xếp theo mức độ chuyển đổi thì những đồng tiền sau đâyđược sử dụng phổ biến hơn cả: USD, JPY, EUR, GBP.8
Điều khoản bảo đảm hối đoái (Exchange Provide clause) đôi khi đượccác doanh nghiệp xuất khẩu sử dụng trong hợp đồng để bảo vệ lợi ích của họ.Hiện nay, theo các tài liệu được nghiên cứu, thì chưa có doanh nghiệp nào lựachọn điều khoản này vào các điều kiện giao dịch chung Điều này có thể đượcgiải thích là do sự biến động rất nhanh của tỷ giá hối đoái, trong khi điều kiệngiao dịch chung lại được sử dụng trong một thời gian dài nên không phải lúc nàocũng đem lại lợi ích cho doanh nghiệp
Giá cả của hợp đồng
Điều kiện giá cả trong bản điều kiện giao dịch chung không phải để ghimức giá cố định cho hợp đồng mà là điều khoản quy định về đặc điểm của giá,những yếu tố tác động tới giá chính thức của hợp đồng
Bên soạn thảo có rất nhiều lợi thế trong việc quy định những nguyên tắclàm thay đổi mức giá đặc biệt là trong một số ngành đặc trưng (như buôn bán cácmặt hàng như quặng, kim loại, lương thực, thực phẩm…) Cụ thể là giá cả được
8 Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 61-65
Trang 22xác định theo hàm lượng của chất hữu ích trong háng hóa mua bán Nếu hàmlượng chất đó càng nhiều thì giá càng cao, ngược lại càng ít thì giá càng thấp.Trong nhiều hợp đồng, giá cả được xác định ngay khi ký kết, nhưng kèm theo đólà các điều khoản về mức tăng giá khi hàng hóa được giao có hàng lượng chấthữu ích cao hơn quy định của hợp đồng Mức tăng giá đó gọi là mức tăng về chấtlượng hàng Ngược lại, khi hàm lượng chất hữu ích trong hàng hóa thấp hơn sovới mức quy định của hợp đồng gọi là giảm giá chất lượng hàng.9
Thanh toán
Incoterms quy định nghĩa vụ người bán phải giao hàng đúng như hợpđồng và được thanh toán, nghĩa vụ của người mua là phải nhận hàng và thanhtoán cho người bán Vì vậy cũng như điều khoản giao hàng, điều khoản thanhtoán giữ vị trí rất quan trong trong hợp đồng ngoại thương, vì nó liên quan trựctiếp đến quyền lợi của cả hai bên Do vậy khi đàm phán ký kết hợp đồng ngoạithương về điều khoản thanh toán các bên cần phải thống nhất những nội dungchính dưới đây
Nội dung của điều khoản này khá đa dạng, phong phú theo từng đốitượng của hợp đồng hoặc nghiệp vụ giao dịch kinh doanh quốc tế Ví dụ trongnghiệp vụ xuất khẩu hàng ngũ cốc, các hợp đồng thường buộc người mua trả tiềnsớm, trả tiền trước khi giao hàng hoặc trả tiền ngay khi ký kết hợp đồng Trongkhông ít trường hợp, hợp đồng nhập khẩu cho bên mua được quyền chọn thờihạn trả tiền trong phạm vi thời hạn quy định Nếu trả tiền sớm, trước hạn thìngười mua được hưởng một khoản giảm giá, gọi là giảm giá trả tiền sớm (cashdiscount) Cũng có những hợp đồng chỉ đề chung chung về thời hạn trả tiền: trảtiền trong thời hạn thích đáng (in due day) hoặc trả gấp (promt)…mà hợp đồngkhông giải thích gì thêm về thuật ngữ này Cách quy định này dễ gây tranh cãitrong việc giải quyết hợp đồng, do vậy các doanh nghiệp nên thận trọng trongviệc lựa chọn cách thứ này để quy định thời hạn thanh toán
Cơ sở việc thanh toán được quy định trên cơ sở chứng từ Các chứng từhàng hóa làm cơ sở cho việc thanh toán tiền hàng là vận đơn, chứng chỉ lưu kho,
9 Lê Nết, 1999, Quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí
Minh phát hành năm 1999
Trang 23giấy chứng nhận phẩm chất, giấy chứng nhận số lượng, giấy chứng nhận kiểmdịch.
Phương thức thanh toán được quy định trong điều kiện giao dịch chungphổ biến nhất vẫn là phương thức tín dụng chứng từ Một số hợp đồng quy địnhtiền hàng trả bằng phương thức nhờ thu, hối phiếu trong phương thức này có thểkèm hoặc không kèm chứng từ Bên cạnh đó, phương thức ghi sổ cũng được sửdụng trong trường hợp về buôn bán đối lưu Mỗi phương thức thanh toán đều cónhững điểm lợi và bất lợi cho người bán hoặc người mua Do vậy tuỳ thuộc mốiquan hệ, giá trị và thời hạn thực hiện hợp đồng mà các bên thống nhất lựa chọnphương thức thanh toán nào cho phù hợp, thuận tiện và đảm bảo quyền lợi chocác bên tham gia hợp đồng.10
Muốn lựa chọn một phương thức thanh toán hợp lý trong quá trình muabán trao đổi hàng hoá với nước ngoài, ngoài việc nắm vững các quy trình nghiệpvụ mỗi thương nhân còn phải biết vận dụng chúng một cách linh hoạt, ứng xửnhanh trong nhiều trường hợp vì nghiệp vụ thanh toán quốc tế là một nghiệp vụrất phức tạp, đặc biệt là với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn non nớt trongviệc sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong khi các đối tác nước ngoài đãcó nhiều kinh nghiệp, nếu gặp phải các đối tác không trung thực, có nhiều thủđoạn thì rất dễ rơi vào bẫy của họ và sẽ khó có thể tránh khỏi tình trạng tiền mấttật mang
II Điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
1 Khả năng áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
Trong bối cảnh nền kinh doanh quốc tế ngày nay, sự ra đời của nhiều tậpđoàn lớn với những mục đích khác nhau trong việc tập trung nguồn lực để dành
ưu thế cạnh tranh trên thị trường đã tạo nên một môi trường cạnh tranh sôi động.Khi các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh thì các hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp hơn Chính sự đadạng, phức tạp này lại ẩn chứa nhiều rủi ro đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có sựchuẩn bị tốt cho các thương vụ trước khi tiến hành kinh doanh quốc tế Trong đó,
10 Nguyễn Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương, Nhà xuất bản Giáo
Dục, trang 98-102
Trang 24một mục tiêu quan trọng đặt ra là làm sao doanh nghiệp soạn thảo được nhữnghợp đồng thương mại hoàn hảo, tránh được những rủi ro pháp lý cho mình.Thông thường, việc soạn thảo hợp đồng thương mại quốc tế yêu cầu khá nhiều
kỹ năng trong đó quan trọng nhất là việc dự tính được những rủi ro có thể xảy ratrong tương lai để có những sự điều chỉnh hợp lý trong hợp đồng tránh gây khókhăn cho bên soạn thảo Vai trò của hợp đồng trong các giao dịch thương mạiquốc tế lại càng quan trọng hơn vì đối tác thường là những doanh nhân chuyênnghiệp, am hiểu luật trong việc giải quyết tranh chấp Từ đó có thể thấy nhu cầucác doanh nghiệp Việt Nam muốn tham gia kinh doanh quốc tề cần làm quen vớiluật và tập quán quốc tế là rất cần thiết Do điều kiện giao dịch chung là nhữngđiều khoản đã được soạn sẵn phù hợp với tiềm lực, đặc điểm và lĩnh vực kinhdoanh của doanh nghiệp, phù hợp với thực tiễn thị trường, có tính ổn định caonên được sử dụng là công cụ rất hữu hiệu với mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là cácdoanh nghiệp có nhu cầu tham gia thương mại quốc tế
Sự chuyên nghiệp hóa nghiệp vụ kinh doanh quốc tế không phải là việcthành lập ra một bộ máy chuyên soạn thảo hợp đồng theo thời vụ mà tập trungnghiên cứu những biến động thị trường kinh tế tài chính, nghiên cứu pháp luậtcũng như các quy tắc điều chỉnh hợp đồng, từ đó đưa ra các điều kiện giao dịchchung phù hợp với chuẩn mực quốc tế và phù hợp với nhu cầu doanh nghiệp
2 Một số ưu điểm và hạn chế của điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
2.1 Các ưu điểm của điều kiện giao dịch chung
2.1.1 Chuẩn hóa ngôn ngữ trong hợp đồng
Ngôn ngữ được sử dụng trong các điều khoản của hợp đồng là ngôn ngữpháp lý - thương mại rất chặt chẽ và thường gây khó khăn trong việc hiểu trọnvẹn ý nghĩa của điều khoản Muốn tránh khỏi sự hiểu lầm có thể xảy ra trongnhững vấn đề lớn, những người soạn thảo hợp đồng thường bổ sung một vài điềubảo lưu và điều thêm bớt, câu cú được sắp đặt khác với văn phong thông thường
Có thể thấy trong điều kiện giao dịch chung có nhiều thuật ngữ thươngmại được sử dụng Những thuật ngữ này, trong nhiều trường hợp, chứa đựngnhững công thức để xử lý vấn đề nghiệp vụ cụ thể Chẳng hạn như điều kiện giao
Trang 25dịch chung dẫn chiếu tới một số điều khoản trong Incoterms, mà mỗi điều khoảntrong Incoterms lại quy định trách nhiệm và quyền hạn của người bán với ngườimua khác nhau Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững công thức củacác điều kiện vận tải trong Incoterms để biết được quyền lợi và nghĩa vụ củamình với hàng hóa đó Bản điều kiện giao dịch chung được soạn thảo với mụcđích ban đầu để đảm bảo quyền lợi cho bên soạn thảo, sau khi đã ký kết hợpđồng thì toàn bộ nội dung sẽ có giá trị ràng buộc cả hai bên chính vì vậy ngôn từđược sử dụng thường chặt chẽ, chuẩn xác và ổn định, tránh gây hiểu lầm trongviệc thực hiện hợp đồng.
2.1.2 Phòng ngừa tranh chấp phát sinh
Điều kiện giao dịch chung cũng đưa ra những khả năng xảy ra, các căncứ miễn trách và thường xác định cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp nếu phátsinh Các điều khoản trong điều kiện giao dịch chung thường là nội dung có tínhnguyên tắc, ổn định trong các giao dịch của doanh nghiệp, ví dụ như: điều khoảnvề nguyên tắc giao hàng, điều khoản về nguyên tắc thuê tàu… Các điều khoảnnày đã được đúc kết dựa trên những kiến thức về hợp đồng và kinh nghiệm từthực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp Với tư cách là người soạn thảo ra cácđiều kiện giao dịch chung, bằng kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc về nghiệpvụ, doanh nghiệp có thể dự đoán được các khả năng xảy ra và các rủi ro dẫn đếntranh chấp trong quá trình giao dịch Từ đó điều chỉnh hành vi người tiêu dùngtrên diện rộng nhằm chủ động bảo vệ lợi ích doanh nghiệp cũng như hạn chế rủi
ro có thể xảy ra
Tất nhiên không có bất cứ doanh nghiệp nào mong muốn xảy ra tranhchấp trong hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là với các doanh nghiệp hoạtđộng trong môi trường kinh doanh quốc tế Bởi vì tranh chấp xảy ra dễ gây tốnkém về tiền bạc, thời gian cho các bên liên quan hơn thế, các thủ tục giải quyếttranh chấp trong các hợp đồng mang tính quốc tế vô cùng phức tạp Chính vì vậy,doanh nghiệp sử dụng điều kiện giao dịch chung trong việc ký kết hợp đồng sẽcó được lợi thế lựa chọn và nắm vững nguồn luật điều chỉnh hợp đồng, khi tranhchấp xảy ra doanh nghiệp sẽ ở thế chủ động hơn trong giải quyết tranh chấp
2.1.3 Rút ngắn thời gian đàm phán
Trang 26Từ khi thực hiện chính sách mở của nền kinh tế, các doanh nghiệp nước
ta đã có nhiều cơ hội kinh doanh hơn và đã đạt được nhiều thành công nhất định.Đã có những doanh nghiệp với số lượng khách hàng lên đến hàng triệu, chính vìvậy để đáp ứng số lượng khách hàng đông đảo các doanh nghiệp đã lựa chọn giảipháp đưa ra các điều kiện giao dịch chung nhằm rút ngắn thời gian đàm pháncũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên trong việc ký kết thực hiện hợpđồng Ưu điểm của các điều kiện giao dịch chung là chính xác, chặt chẽ hơn sửdụng hợp đồng soạn thảo tức thời nên khi chuyển cho đối tác để đàm phán hợpđồng, việc đàm phán sẽ chỉ diễn ra trong khuôn khổ những nội dung không thuộcvề các điều kiện giao dịch chung, ví dự như đối tượng hợp đồng, số lượng, giácả, địa điểm thực hiện… Còn lại những nội dung không thay đổi qua các thươngvụ, khi đã chấp nhận một lần sẽ là cơ sở để các thương vụ sau không mất nhiềuthời gian để tìm hiểu đi đến nhất trí với những nội dung của điều kiện giao dịchchung nữa
Như đã phân tích ở trên, thực tế việc xuất hiện các điều kiện giao dịchchung là nhằm đơn giản hóa việc giao kết hợp đồng và sử dụng lợi thế trong kinhdoanh của các doanh nghiệp lớn, có sức mạnh thị trường Các doanh nghiệp lớnmột lợi thế nhất định trên thị trường khi đưa ra các bản điều kiện giao dịch chungthường gây sức ép để phía đối tác chấp nhận vô điều kiện những điều khoản đãsoạn sẵn nếu muốn thương vụ đó được tiến hành Trong nhiều trường hợp, phíabên kia đề nghị xem xét lại điều kiện giao dịch chung Nếu được bên đưa ra điềukiện giao dịch chung chấp nhận xem xét lại có nghĩa họ sẵn sàng ký một hợpđồng mới mà không sử dụng điều kiện giao dịch chung Trong những trường hợpđó, những điều khoản được xem xét lại thường là những điều kiện nhạy cảm dễxảy ra tranh chấp như điều khoản vi phạm, điều khoản luật áp dụng hoặc điềukhoản bồi thường… Nhưng rõ ràng, khi xem xét lại mọi việc sẽ được tiến hànhtrên điều khoản đã có sẵn này nên diễn ra nhanh chóng hơn việc soạn thảo mới.Dù nhìn nhận theo cách nào, điều kiện giao dịch chung cũng đã giúp thời gianđàm phán giữa các bên được rút ngắn rất nhiều
2.1.4 Tạo thuận lợi cho bên đưa ra các điều kiện giao dịch khi ký kết hợp đồng
Trang 27Như đã phân tích ở trên, mục tiêu lớn nhất của các doanh nghiệp là lợinhuận, và để có được lợi nhuận các doanh nghiệp tìm mọi cách để giành lợi thếtrên thị trường Thương trường biến động từng ngày và khó có doanh nghiệp nàodự đoán được hết những rủi ro có thể xảy ra, ví dụ như: rủi ro thiên thai, rủi rogiao hàng chậm, rủi ro chất lượng hàng hóa bị ảnh hưởng trên đường vậnchuyển… Chính vì vậy, giảm thiếu tối đa các rủi ro là điều mà mọi doanh nghiệpquan tâm hàng đầu trước khi tiến hành các thương vụ Cách ngăn chặn rủi ro antoàn hiệu quả nằm ở các điều khoản hợp đồng, khi một doanh nghiệp đưa ra điềukiện giao dịch chung cho phía đối tác chấp nhận đã hàm chứa mục tiêu giảmthiếu tối đa rủi ro cho mình Và điều tất yếu là khi bên bán có lợi thì bên mua sẽrơi vào tình thế bất lợi hơn, vì thế việc soạn thảo ra các điều kiện giao dịch chunglà việc mà các doanh nghiệp đều hướng tới để đạt được mục tiêu lợi nhuận.
2.2 Các hạn chế của điều kiện giao dịch chung
Điều kiện giao dịch chung ra đời một phần nhằm mục đích vụ lợi củamột doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị thế thống lĩnh trên thị trường
Do vậy, ngay từ khi soạn thảo hợp đồng, sự bất cân bằng về quyền lợi các bên đãhình thành, tạo tiền đề cho những bất cập trong việc ứng dụng điều kiện giaodịch chung trong các hoạt động thương mại
2.2.1 Bất bình đẳng quyền lợi giữa các bên
Bất cân bằng thông tin
Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước lúc tiến hành ký kết hợp đồngkhi các bên tham gia giao dịch cố gắng che giấu thông tin nhằm hạ thấp vị thếcủa bên kia, nâng cao quyền lợi của mình khi ký kết, điều này dẫn đến việc ngườimua và người bán có các thông tin khác nhau Ví dụ như: người mua không biếtrõ về điều kiện khiếu nại về phẩm chất hàng hóa… Như vậy, hiện tượng thôngtin không cân xứng làm cản trở việc giao dịch trên cơ sở hai bên cùng có lợi,ngoài ra còn gây hiện tượng tâm lý ỷ lại sau khi hợp đồng đã được giao kếtnhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soáthoặc muốn kiểm soát phải tốn một khoản chi phí lớn.11
Trang 28Điều kiện giao dịch chung đôi khi bị lợi dụng để thực hiện mục đích cheđậy thông tin nhằm đạt vị thế trên thị trường của bên soạn thảo Bên đưa ra cácđiều kiện giao dịch chung bao giờ cũng là bên đã tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnhvực mà mình kinh doanh bao gồm cả những quy định có liên quan đến pháp luật.Việc lựa chọn điều khoản nào để đưa vào điều kiện giao dịch chung được tính toándựa trên sự lường trước những biến động của thị trường có thể ảnh hưởng tới cáckhâu của thương vụ Bên phải chấp nhận các điều kiện giao dịch chung vì vậy sẽrơi vào thế bị động, ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạnthảo các điều khoản Hậu quả là họ dễ gặp tổn thất lớn hơn nếu rủi ro xảy ra.12
Bất bình đẳng quyền lợi giữa các bên
Trong kinh doanh quốc tế, một vấn đề luôn đặt ra đó là sự tương quanquyền lực thị trường giữa các bên giao dịch Sự so sánh này chịu tác động của hainhân tố chính, đó là:
- Quan hệ so sánh giữa người bán và người mua về sự tập trung vốn và tậptrung tổ chức
- Quan hệ cung cầu về mặt hàng giao dịch tại thời điểm đàm phán, ký kếthợp đồng
Trên thực tế, nhân tố quan hệ cung - cầu có sự phụ thuộc lớn vào sự tậptrung về vốn và tổ chức Ngay cả khi lượng cầu lớn hơn cung, giá cả đang tăng,nhưng vì ít vốn nên các nhà sản xuất quy mô nhỏ vẫn phải bán sớm để thu hồivốn.13 Vì vậy, trong mọi trường hợp, các tập đoàn và các doanh nghiệp lớn luônluôn có lợi thế nhất định
Với những lợi thế trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự phân biệtđối xử đối với bên yếu thế hơn trong bất kỳ điều khoản nào của các điều kiệngiao dịch chung Theo đúng pháp luật và quy tắc quốc tế, hợp đồng chỉ đượcgiao kết khi có sự thỏa thuận của cả hai bên, tuy nhiên nguyên tắc tự nguyệnnày chỉ còn mang tính hình thức nếu bên có lợi thế lại là bên soạn thảo hợp
12 Nguyễn Thị Hồng Hạnh, 2009, Nhu cầu kiểm soát các điều kiện giao dịch chung, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 10, trang 10-14
Company, page 32
Trang 29đồng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ trước với những điều kiện mà bên yếu thếchưa có chuẩn bị gì.
Trong nhiều trường hợp người tiêu dùng sẽ gặp phải rất nhiều rủi ro dokhông được trực tiếp đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các điều kiệngiao dịch chung, cũng như phải chấp nhận các điều kiện thương mại khác một
cách bị động Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung có những quy định nhằm hạn
chế, loại bỏ quyền của người tiêu dùng Ví dụ, trong nhiều hợp đồng, thương
nhân quy định: người tiêu dùng không được khiếu nại sau đã mua, sử dụng hàng
hóa, dịch vụ hay hàng đã mang ra khỏi cửa hàng thì không được trả lại với bất
kỳ lý do gì… Trong trường hợp người tiêu dùng ký vào các bản hợp đồng hay
chấp nhận các điều kiện bán hàng như vậy thì các quy định đó đương nhiên cóhiệu lực trên thực tế Tuy nhiên, rõ ràng đây là những điều khoản hết sức bất lợicho người tiêu dùng trong khi theo các quy định của pháp luật, họ hoàn toàn có
quyền thực hiện việc khiếu nại, đổi hàng khi hàng có khuyết tật… Thứ hai, điều
kiện giao dịch chung đưa ra những quy định nhằm buộc người tiêu dùng phảigánh chịu những rủi ro bất hợp lý Các quy định này thường khiến người tiêudùng phải chịu những rủi ro mà lẽ ra họ không phải chịu theo quy định của phápluật; đồng thời loại trừ trách nhiệm của thương nhân bán hàng hóa, cung cấp dịchvụ phải chịu
Mặt khác, việc lựa chọn điều khoản và soạn thảo nội dung điều khoảnnhằm mục đích tối đa hóa lợi ích bên soạn thảo còn thể hiện ở sự khác nhau trongcác điều khoản của hợp đồng, ví dụ như trong một hợp đồng mua và bán đượcquy định như sau:
- Hợp đồng mua gồm các điều khoản: giao hàng, thuê tàu, giá cả, chi
phí, trường hợp bất khả kháng, vi phạm, đảm bảo, bồi thường, những điềukhoản chung
- Hợp đồng bán bao gồm các điều khoản: giao hàng, thanh toán, trường
hợp bất khả kháng, vi phạm, quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo khiếu nai, hạn chế,những điều khoản chung
Nội dung của cùng một điều khoản trong phần điều kiện giao dịch chungở các hợp đồng có đối tượng khác nhau, phần lợi thế luôn thuộc về phía tập đoàn
Trang 30nếu có phát sinh rủi ro Cụ thể có thể dẫn ra ví dụ về điều khoản khiếu nại tronghợp đồng mua và bán của một công ty được trình bày như sau:
Hợp đồng bán (điều khoản đảm bảo, khiếu nại): bất kỳ khiếu nại nào củaBên Mua về các nội dung thực chất nào nảy sinh từ hợp đồng này sẽ được gửibằng đường máy bay có đảm bảo trong vòng 30 ngày sau khi hàng hóa đã đếncảng đến, hoặc riêng với những khiếu nại về việc khuyết tật bên trong đối với
hàng hóa thì trong vòng 60 ngày kể từ ngày hàng đến cảng đến, khiếu nại đó sẽ
bao gồm đầy đủ các chứng cứ được xác nhận bởi một giám định viên có thẩmquyền
Hợp đồng mua (điều khoản vi phạm): Trong trường hợp (i) bên bánkhông thực hiện bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng này hoặc vi phạm bất kểmột điều khoản, điều kiện, hay sự đảm bảo nào được diễn đạt hay ngụ ý ở đây;(ii) Bên Bán không có khả năng thanh toán những khoản nợ nói chung khi nhữngkhoản nợ này đến hạn; (iii) Bên Bán phá sản hay mất khả năng thanh toán; (iv)chỉ định người thụ thác, người trông giữ hoặc người thanh lý tài sản của Bên Bánhoặc bất kỳ tài sản chính yếu nào của bên bán Bên Mua có thể hoàn toàn theo sựquyết định của mình
Có thể dễ dàng nhận thấy, khi đứng ở vị trí là bên soạn thảo hợp đồng,các doanh nghiệp luôn cố gắng tối đa hóa lợi thế của mình Khi ở vị trí bán hàng,công ty trên chỉ cho phép phía đối tác khiếu nại trong vòng 30-60 ngày (tùy sựviệc vi phạm) và yêu cầu phải đầy đủ chứng cứ được xác nhận bởi giám địnhviên Trong khi đó, khi ở vị thế của người mua hàng, công ty cho phép mình cóquyền quyết định tối đa với những sự việc vi phạm và không đề cập gì tới giớihạn thời gian Thông qua những nội dung ấn định từ trước như vậy, rõ ràng đốitác của họ, dù là người mua hay người bán, đều bị đặt trước những điều kiện bấtlợi, ngược lại họ luôn dành ưu thế cao hơn khách hàng
2.2.2 Hạn chế quyền tự do thỏa thuận hợp đồng
Theo Luật Thương mại Việt Nam quy định, các chủ thể kinh doanh hoàntoàn có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng để xây dựng một hợp đồng giữa cácchủ thể có liên quan Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, trong thực tiễn hoạtđộng kinh doanh, do những yếu tố đặc trưng của lĩnh vực cũng như phương thức
Trang 31kinh doanh thì một khi sử dụng điều kiện giao dịch chung, quyền tự do thỏathuận hợp đồng sẽ bị hạn chế ít nhiều.
Thứ nhất, các điều kiện giao dịch chung gây ra hạn chế quyền đượctham gia thỏa thuận, đàm phán của bên không soạn thảo Điều này thể hiện ởviệc khi một bên đưa ra điều kiện giao dịch chung thì bên kia nếu như khôngchấp nhận toàn bộ nội dung thì thương vụ sẽ không được tiến hành Về nguyêntắc, hợp đồng được giao kết sẽ có sự thỏa thuận giữa các bên Tuy nhiên trongthực tế, đặc biệt là đối với các giao dịch thương mại với một đối tác lớn, bênđược đề nghị chấp nhận điều kiện giao dịch chung khó có thể dành quá nhiềuthời gian cho việc cân nhắc có chấp nhận tất cả các điều khoản đó hay không
Thông thường, khi đưa ra bản điều kiện giao dịch chung, bên soạn thảoluôn khẳng định rằng các điều khoản của họ đưa ra là dựa trên tập quán thươngmại địa phương hoặc tiền lệ giao dịch Họ cũng có thể ngụy biện cho sự bất bìnhđẳng trong quan hệ buôn bán bằng cách nêu lên mục đích tốt đẹp trong hợp đồng,ví dụ như: “cố gắng thực hiện những tập quán là căn cứ cơ sở là sự công bằng vàbình đẳng”
Như vậy, các doanh nghiệp nhỏ khi tham gia giao dịch với các công ty,tập đoàn lớn chắc chắn sẽ gặp nhiều hạn chế do chưa đưa ra được các điều kiệngiao dịch chung của riêng mình hay không nắm được những điều khoản thamkhảo trong tay, thậm chí đôi khi các doanh nghiệp này phải chịu khuất phụctrước áp lực của các điều kiện giao dịch chung mà đối tác đưa ra
Nhìn chung, Chương I đã đưa ra cái nhìn cơ bản về sự hình thành pháttriển của các điều kiện giao dịch chung trên thế giới nói chung và tại Việt Namnói riêng, đồng thời trình bày những khái niệm cơ bản, đặc điểm cũng như mộtvài nội dung điển hình của các điều kiện này để làm rõ được vai trò của các điềukiện giao dịch chung trong việc ký kết hợp đồng thương mại Bên cạnh đó,Chương I cũng đã phân tích một số ưu điểm vào nhược điểm khi sử dụng cácđiều khoản giao dịch chung và khả năng áp dụng điều kiện giao dịch chung trongthương mại quốc tế Dựa trên cơ sở lý luận về những đặc điểm cũng như ưunhược điểm đã nêu, Chương II của khóa luận sẽ trình bày thực trạng sử dụng cácđiều kiện giao dịch chung trong hoạt động thương mại trong và ngoài nước, qua
Trang 32đó thấy được những thuận lợi cũng như khó khăn mà doanh nghiệp đã gặp phảikhi áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động kinh doanh, đặc biệtlà kinh doanh quốc tế.
Trang 33CHƯƠNG II: THỰC TIỄN ÁP DỤNG ĐIỀU KIỆN GIAO DỊCH CHUNG
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I Khái quát
Trong thực tiễn hoạt động thương mại tại Việt Nam, điều kiện giao dịchchung được sử dụng nhiều nhất trong các ngành cung cấp dịch vụ mang tínhđồng loạt như điện, nước, dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ bảo hiểm…những điều kiện này thể hiện cơ bản trong các hợp đồng mẫu của các chủ quảnban hành hoặc phê duyệt Khách hàng chỉ có hai thao tác đơn giản để giao kết đólà điền thông tin theo yêu cầu của nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ và ký hợpđồng Như vậy, doanh nghiệp bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ thường giữ vai tròchính trong quyết định nội dung hợp đồng, khách hàng chỉ tham gia đàm phántrong một số nội dung nhất định như tên hàng, giá cả, chất lượng…
Tuy vậy, các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm phê chuẩn các điềukiện giao dịch chung và có quyền yêu cầu các doanh nghiệp bán hàng, cung ứngdịch vụ chỉnh sửa nội dung các điều khoản cho phù hợp Đối với các doanhnghiệp nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền đôi khi có thêm trách nhiệm banhành hợp đồng mẫu để doanh nghiệp này sử dụng trong giao dịch với kháchhàng Hoạt động soạn thảo và phê chuẩn các điều kiện giao dịch chung dẫn đếnviệc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về chất lượngcác điều kiện giao dịch chung khi chúng được đưa ra áp dụng Đối với các tổchức doanh nghiệp ngoài quốc doanh, việc đưa ra các điều kiện chung phục vụcho quá trình kinh doanh ngày một mở rộng trong xu hướng hội nhập quốc tếcũng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết Các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp cung cấp dịch vụ trong các ngành như ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính…đã soạn thảo và đưa ra được bản điều kiện giao dịch chung và bước đầu khai tháccác thế mạnh của việc sử dụng các điều khoản này trong kinh doanh Tuy nhiên
do kinh nghiệm sử dụng các điều kiện giao dịch chung chưa lâu, các điều kiệnmà các doanh nghiệp đưa ra còn nhiều hạn chế, có nhiều quy định chưa phù hợpvới Pháp luật Phần lớn các điều kiện giao dịch chung của doanh nghiệp có cùngđặc điểm là tối đa hóa lợi ích và tạo điều kiện thuận lợi cho bên soạn thảo hợp
Trang 34đồng, điều này đồng nghĩa với việc khách hàng, người phải chấp nhận vô điềukiện các điều khoản soạn sẵn, sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn.
Ngày nay, khi Việt Nam đang ngày càng tham gia sâu rộng vào hoạtđộng thương mại quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang có nhiều và ngàycàng nhiều các cơ hội giao dịch với các đối tác nước ngoài, chính vì vậy, việcquản lý sử dụng các điều kiện giao dịch chung trong kinh doanh quốc tế càngphải được xem trọng Trong thực tiễn hoạt động thương mại tại Việt Nam, cácđiều kiện giao dịch chung ngày càng được sử dụng phổ biến không chỉ trongcác ngành cung cấp dịch vụ như các dịch vụ ngân hàng, hoạt động viễn thông,bảo hiểm mà còn được sử dụng trong các giao dịch mang đặc trưng của nềnkinh tế với trình độ công nghệ thông tin phát triển, đó là các giao dịch thươngmại điện tử… Nhìn chung việc sử dụng các điều kiện giao dịch chung của cácdoanh nghiệp Việt Nam trong thương mại quốc tế (các chủ thể tham gia trựctiếp vào thị trường thế giới) còn nhiều hạn chế Đặc biệt, từ khi trở thành thànhviên chính thức của WTO và thực hiện lộ trình cắt giảm thuế như đã cam kếtthì cơ hội giao thương với các bạn hàng nước ngoài của các doanh nghiệp ViệtNam ngày càng mở ra nhiều hơn Đây được xem như là cơ hội nhưng đồng thờicũng là thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi mà các bạn hàngnước ngoài đều là những doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm về nghiệp vụ giaodịch kinh doanh quốc tế, đặc biệt là về việc áp dụng các điều kiện giao dịchchung thì đã được họ tiến hành từ rất lâu trước đó Phần lớn các doanh nghiệpViệt Nam phải chấp nhận điều kiện giao dịch chung của các tập đoàn, doanhnghiệp của nước ngoài trong khi các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn là cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, không có sức mạnh thị trường, chưa có kinh nghiệmtrong việc tận dụng triệt để ưu thế của việc sử dụng các điều kiện giao dịchchung cũng như còn nhiều hạn chế về nghiệp vụ kinh doanh bao gồm cả việcsoạn thảo hợp đồng Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những tranh chấp sẽđược đề cập chi tiết ở phần sau của khóa luận Dưới đây xin đi vào phân tíchthực tiễn áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong hoạt động thương mại tạimột số ngành điển hình tại Việt Nam
Trang 35II Thực tiễn áp dụng điều kiện giao dịch chung trong thương mại quốc tế
1 Thực tiễn áp dụng các điều kiện giao dịch chung trong một số hoạt động thương mại điển hình
1.1 Áp dụng điều kiện giao dịch chung trong ngành bảo hiểm
Theo thông lệ trong nghiệp vụ bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm thường dodoanh nghiệp bảo hiểm soạn thảo, các điều kiện được doanh nghiệp bảo hiểmban hành được gọi là các điều kiện giao dịch chung Ngành bảo hiểm tại ViệtNam cũng không nằm ngoài thông lệ này, hợp đồng bảo hiểm ký kết với kháchhàng đều là những hợp đồng đã có mẫu sẵn Sau khi có sự phê duyệt của các cơquan có thẩm quyền quản lý, cụ thể ở đây là Bộ Tài chính, các điều kiện giaodịch chung mới chính thức được đưa ra sử dụng trong các hợp đồng bảo hiểmcủa doanh nghiệp Việc phê chuẩn chặt chẽ các điều kiện này góp phần đảm bảochất lượng các hợp đồng bảo hiểm mẫu, bên cạnh đó góp phần tạo sự tin tưởngvào các điều kiện giao dịch chung cho bên mua bảo hiểm
Do các tính chất phức tạp của đối tượng bảo hiểm cũng như số lượngkhách hàng ngày càng đông đảo, việc các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng cácđiều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng với khách hàng là thực sự cầnthiết Phần dưới đây của khóa luận sẽ trình bày một số điều kiện giao dịch chungtrong hai loại hợp đồng được sử dụng nhiều nhất trong ngành bảo hiểm hiện nay,đó là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và hợp đồng bảo hiểm hàng hóa
1.1.1 Trong ngành bảo hiểm nhân thọ
Trong nền kinh tế thị trường, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ giữmột vai trò quan trọng Bảo hiểm nhân thọ mang lại nhiều lợi ích cho con ngườivà nền kinh tế Đến nay, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã có sự phát triển vượtbậc với rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm tham gia, trong đó có những doanhnghiệp bảo hiểm của các tập đoàn bảo hiểm lớn trên thế giới
Đối tượng của bảo hiểm nhân thọ là nhằm vào những khách hàng là cánhân có thu nhập trong xã hội (người tiêu dùng cuối cùng) Điều kiện giao dịchchung thường được trình bày thành một tập riêng biệt Thông qua xem xét cácđiều kiện giao dịch chung của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trên thị trường
Trang 36hiện nay ta có thể thấy các điều kiện giao dịch chung đóng vai trò rất quan trọngtrong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm
Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là tuổi thọ của người được bảohiểm, đối tượng này rất khó xác định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tình trạngsức khoẻ, bệnh lý, các khuyết tật, thói quen sinh hoạt, công việc chuyên môn, v.v Chính vì vậy, bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm rất khó có thể kê khai đầyđủ và chi tiết tình trạng của mình nếu không có sự gợi ý, hướng dẫn của doanhnghiệp bảo hiểm thông qua các điều kiện giao dịch chung Bên cạnh đó, điều kiệngiao dịch chung giúp doanh nghiệp bảo hiểm đáp ứng được số lượng khách hàng lớnvà đảm bảo chất lượng dịch vụ ổn định và công khai sản phẩm bảo hiểm, tăngcường năng lực cạnh tranh Thông qua việc ban hành các điều kiện giao dịch chung,doanh nghiệp bảo hiểm đã công khai các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợpđồng bảo hiểm nhân thọ, góp phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng trongviệc đánh giá để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận giao kết hợp đồng
a Ưu điểm các điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Các điều kiện giao dịch chung thường được trình bày đẹp và rõ ràng.Các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài thường rất chú trọng đếnhình thức của các hợp đồng bảo hiểm do mình đưa ra, một phần các hợp đồngđược trình bày đẹp thể hiện rõ đẳng cấp của doanh nghiệp, phần khác thể hiện sựtôn trọng khách hàng của doanh nghiệp Các điều kiện giao dịch chung thường cóbố cục tương tự nhau, điều này giúp tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng dễdàng so sánh, chọn lựa những sản phẩm bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phùhợp với nhu cầu của mình Bố cục của các điều kiện giao dịch chung thường baogồm những nội dung như: các điều khoản quy định về quyền lợi bảo hiểm, mộtvài điều khoản quy định về những thay đổi của hợp đồng như giảm số tiền bảohiểm, các điều khoản quy định chung thường bao gồm các điều khoản như kháiniệm sử dụng trong hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, nghĩavụ và quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm…
Bên cạnh đó, có nhiều khái niệm chưa được Pháp luật định nghĩa nhưngđã được giải thích một cách tương đối thống nhất và chính xác trong các điềukhoản của tập điều kiện giao dịch chung như: thương tật toàn bộ và vĩnh viễn, tai
Trang 37nạn, chết đuối ngạt thở, mất tích… Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho kháchhàng nhận thức đúng về hợp đồng mà mình đang ký kết, đồng thời thực hiệnđúng các nghĩa vụ và được giao các quyền lợi chính đáng theo thỏa thuận
b Nhược điểm điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Bên cạnh các ưu điểm kể trên của điều kiện giao dịch chung trong hợpđồng bảo hiểm nhân thọ, thì các điều kiện giao dịch chung trong hợp đồng bảohiểm vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định Thứ nhất, một số điều kiệngiao dịch chung được trình bày còn gây khó hiểu với trình độ phổ thông, đặc biệtlà các điều khoản của các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, cócách thức diễn đạt chưa thực phù hợp với văn phong tiếng Việt Nhiều điềukhoản sử dụng phương pháp dẫn chiếu đến những nội dung điều khoản khác,mặc dù làm cho nội dung điều khoản đó gọn nhẹ hơn nhưng lại gây sự khó hiểuđối với người đọc Thứ hai, nội dung hợp đồng được diễn đạt theo văn phongkhó hiểu và sử dụng các thuật ngữ gây nhầm lẫn cho người đọc Thông thường,các thuật ngữ được dùng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường được cácdoanh nghiệp bảo hiểm giải thích cụ thể, tuy nhiên, một số thuật ngữ được doanhnghiệp bảo hiểm đưa ra một cách không cần thiết và gây khó khăn cho kháchhàng Thứ ba, nhược điểm chủ yếu nhất của điều kiện giao dịch chung là hạn chếquyền tự do thoả thuận hợp đồng Như trên đã phân tích, các điều khoản kiệngiao dịch chung không làm mất đi bản chất của hợp đồng, nhưng rõ ràng đã giảm
đi khả năng lựa chọn của bên mua bảo hiểm Bên mua bảo hiểm chỉ có thể chấpnhận hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với các điều khoản mẫu như vậy mà không cóđược những thoả thuận thật sự phù hợp với điều kiện của mình
1.1.2 Trong ngành bảo hiểm hàng hóa
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế quốc tế, các thương vụ buôn bántrao đổi hàng hóa xuyên quốc gia ngày càng nhiều Điều này dẫn đến nhu cầumua bảo hiểm để đảm bảo cho các hàng hóa xuất nhập khẩu cũng tăng lên nhưmột hệ quả tất yếu Hàng hóa trong quá trình vận chuyển có khả năng gặp phảirất nhiều rủi ro (cháy nổ, phương tiện vận chuyển bị chìm đắm, mắc cạn, đâm va,chi phí đóng góp tổn thất chung, chi phí cứu hộ…) có thể dẫn đến tổn thất Khiđó, việc yêu cầu người vận chuyển bồi thường cũng không dễ dàng, vì vậy, mua
Trang 38bảo hiểm là cần thiết để chuyển rủi ro cho công ty bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểmhàng hóa ra đời hướng tới đối tượng khách hàng là những chủ hàng, nhữngdoanh nghiệp tham gia mua bán hàng hóa Dịch vụ bảo hiểm hàng hóa bao gồmdịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam và bảo hiểmhàng hóa xuất nhập khẩu
a Các điều kiện giao dịch chung sử dụng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trong nước
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa là loại hình bảo hiểm áp dụngcho hàng hóa được vận chuyển trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam bằng đường bộ,
đường sắt, đường sông, tàu ven biển Người bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm đối với
những mất mát, hư hỏng xảy ra do hậu quả trực tiếp của một trong những nguyênnhân như: Cháy hoặc nổ, động đất, bão lụt, gió lốc, sóng thần và sét đánh,phương tiện vận chuyển bị đắm, bị lật đổ, bị rơi, mắc cạn, đâm va nhau hoặc đâm
va vào vật thể khác hay bị trật bánh; Cây gãy đổ, cầu cống, đường hầm và cáccông trình kiến trúc khác bị sập đổ, phương tiện chở hàng mất tích, hy sinh tổnthất chung
Điều kiện giao dịch chung sử dụng cho hàng hóa vận chuyển trong lãnhthổ Việt Nam có sự tương đồng về bố cục và nội dung giữa các doanh nghiệp bảohiểm Về bố cục, các hợp đồng bảo hiểm này bao gồm các chương, các điềukhoản quy định về nguyên tắc chung, phạm vi bảo hiểm, các điều khoản loại trừbảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm, nghĩa vụ củangười được bảo hiểm khi có xảy ra tổn thất, cách tính và thanh toán bồi thườngvà thời hiệu khiếu nại và xử lý tranh chấp… Qua việc xem xét và đối chiếu cácđiều kiện giao dịch chung trong các tập quy tắc có thể thấy các điều khoản, nộidung được sử dụng trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa cónội dung rõ ràng, quy định khá chi tiết Các vấn đề như phạm vi bảo hiểm, cácđiều khoản loại trừ bảo hiểm, xác định tổn thất, cách tính tiền bồi thường, chuyểnnhượng bồi thường và việc từ bỏ hàng hóa… được quy định đúng với bản chấtcủa nghiệp vụ bảo hiểm
Tuy nhiên, bên cạnh những quy tắc đúng với bản chất nghiệp vụ bảohiểm, điều kiện giao dịch chung mà các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra còn tồn
Trang 39tại một số hạn chế Các hãng bảo hiểm vẫn cố đưa ra những nguyên tắc riêngnhằm mục đích tối đa hóa lợi ích của công ty mình Có thể xét đến Điều 7: thờihạn bắt đầu và kết thúc trách nhiệm bảo hiểm trong tập quy tắc bảo hiểm hànghóa vận chuyển nội địa của Bảo Việt được quy định như sau:
Điều 7: Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu có hiệu lực từ khi hàng hóa được bảo hiểm được xếp lên phương tiện chuyên chở tại địa điểm xuất phát ghi trong hợp đồng bảo hiểm để bắt đầu vận chuyển, tiếp tục có hiệu lực trong suốt quá trình vận chuyển bình thường và kết thúc vào lúc hàng hóa được dỡ khỏi phương tiện chuyên chở tại nơi đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm.
Theo quy tắc của Bảo Việt, không gian và thời gian bảo hiểm đã bị thuhẹp so với nguyên tắc “từ kho đến kho” Trong nguyên tắc “từ kho đến kho”trách nhiệm bảo hiểm hàng hóa bắt đầu từ khi hàng hóa được xếp lên phươngtiện vận chuyển tại điểm xuất phát cho đến khi hàng hóa được dỡ ra khỏi phươngtiện vận tải tại nơi đến và vào kho an toàn.14 Đối với quy tắc quy định của BảoViệt, người bảo hiểm chỉ phải chịu trách nhiệm bảo hiểm cho hàng hóa được bảohiểm từ khi hàng hóa được xếp lên phương tiện tại điểm xuất phát đến khi hàngđược bốc dỡ khỏi phương tiện vận tải tại nơi đến ghi trong hợp đồng
Một vấn đề hạn chế nữa trong các điều kiện giao dịch chung của cácdoanh nghiệp bảo hiểm đưa ra trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nộiđịa là người bảo hiểm luôn giữ thế chủ động trong các quyết định về bồi thường.Tại Điều 14 tập Quy tắc bảo hiểm của Bảo Việt có quy định: Khi khiếu nại ngườibảo hiểm về những mất mát hư hỏng thuộc trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm,người được bảo hiểm cần nộp đủ Những giấy tờ như Bản chính Giấy chứng nhậnbảo hiểm, bản chính hợp đồng vận chuyển, giấy vận chuyển hàng hóa do chủphương tiện cấp, biên bản giám định hàng tổn thất do Bảo Việt hoặc người đượcBảo Việt chỉ định cấp có ghi rõ mức độ tổn thất…
Các quy định về thủ tục giấy tờ người được bảo hiểm cần nộp đủ khikhiếu nại người bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng thuộc trách nhiệm hợpđồng bảo hiểm đã một phần gây khó khăn cho người được bảo hiểm trong trườnghợp có khiếu nại Người được bảo hiểm phải nộp Biên bản giám định tổn thất do
14 Vũ Hữu Tửu, 2006, Giáo trình Kỹ thuật nghiệp vụ Ngoại thương, Nhà xuất bản Giáo Dục,
trang 124
Trang 40người bảo hiểm cấp hoặc cơ quan giám định do người bảo hiểm chỉ định cấp ghirõ mức độ tổn thất cho thấy công ty bảo hiểm giữ quyền quyết định những tổnthất xảy ra có thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm hay không.
b Các điều kiện giao dịch chung sử dụng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế quốc tế, các thương vụ buôn bántrao đổi hàng hóa xuyên quốc gia ngày càng nhiều như một hệ quả tất yếu nhucầu bảo hiểm để đảm bảo cho các hàng hóa xuất nhập khẩu cũng tăng lên nhanhchóng Hàng hóa trong quá trình vận chuyển có thể gặp phải rất nhiều rủi ro(cháy nổ, phương tiện vận chuyển bị chìm đắm, mắc cạn, đâm va, chi phí đónggóp tổn thất chung, chi phí cứu hộ…) dẫn đến tổn thất Khi tổn thất xảy ra, việcchủ hàng yêu cầu người vận chuyển bồi thường là không hề dễ dàng, vì vậy, muabảo hiểm là cần thiết vì việc mua bảo hiểm được xem như việc chuyển rủi ro chocông ty bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểm hàng hóa ra đời hướng tới đối tượng kháchhàng là những chủ hàng, những doanh nghiệp tham gia mua bán hàng hóa Dịchvụ bảo hiểm hàng hóa bao gồm dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa vận chuyển tronglãnh thổ Việt Nam và bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam thường ký kếthợp đồng mua hàng theo điều kiện CIF, và điều kiện bảo hiểm là FOB, chính vìvậy nên trách nhiệm mua bảo hiểm hàng hóa thuộc về đối tác nước ngoài, điềunày dẫn đến việc các doanh nghiệp bảo hiểm hàng hóa trong nước chưa được sửdụng triệt để Trong các hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, các điều kiện giao dịchchung thường là những quy tắc chung được soạn sẵn được trình bày trong mộttập riêng hoặc được in ở mặt sau của đơn bảo hiểm với cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữcủa mặt trước
Trước xu thế hoạt động buôn bán xuất nhập khẩu đang ngày càng giatăng, các giao dịch ký kết làm ăn với các đối tác nước ngoài ngày một nhiều,ngày càng có nhiều hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được ký kết.Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước năm 2010 đạt 71,6 tỷ USD, kim ngạchnhập khẩu hàng hóa đạt 84 tỷ USD Mặc dù kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩucó mức tăng trưởng cao (tương ứng là 25,5% và 20,1% so với năm 2009) nhưng