MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 6 PHẦN NỘI DUNG 7 I. Bản chất của giá trị thặng dư và quá trình sản xuất giá trị thặng dư. 7 1. Bản chất của giá trị thặng dư. 7 2. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư. 8 II.Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. 9 1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối. 9 2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. 12 3. Giá trị thặng dư siêu ngạch. 13 III. Tính thực tiễn của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư. 14 IV.Ý nghĩa thực tiễn của lý luận này đối với Việt Nam hiện nay. 16 IV. Những ý kiến thắc mắc cần trao đổi. 18
Trang 1BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 1
Thời gian: 14h – 16h, ngày 25/03/2016
Địa điểm: Sân thư viện Đại học Thương mại
Nội dung thảo luận: Thảo luận về đề cương và phân công các thành viên chuẩn bị nội dung, phân công nhiệm vụ cụ thể
Thành viên tham gia: Tất cả các thành viên trong nhóm
Phân công nhiệm vụ:
1 Bùi Đăng Thiện Nhóm trưởng Thuyết trình, tổng hợp đề tài
4 Bùi Thị Trang (T3) Thành viên Lấy ví dụ dẫn chứng
8 Nguyễn Thị Phương Thảo Thành viên Thuyết trình
9 Phạm Lê Phương Thảo Thành viên Nội dung chính
12 Nguyễn Thị Thanh Thảo Thành viên Làm slide
Thư ký Lưu Thanh Thủy
Nhóm trưởng Bùi Đăng Thiện
BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 2
Thời gian: 15h – 16h, ngày 01/04/2016
Trang 2Địa điểm: Sân thư viện Đại học Thương mại.
Nội dung thảo luận: Thảo luận các nội dung đã được phân công rồi tổng hợp Thành viên tham gia: Tất cả các thành viên trong nhóm
Phân công nhiệm vụ:
1 Bùi Đăng Thiện Nhóm trưởng Viết bản tóm tắt, tổng hợp bài
4 Bùi Thị Trang (T3) Thành viên Nộp phần ví dụ
8 Nguyễn Thị Phương Thảo Thành viên Viết bản tóm tắt
9 Phạm Lê Phương Thảo Thành viên Nộp bài nội dung
12 Nguyễn Thị Thanh Thảo Thành viên Làm slide
13 Nguyễn Đàm Thuân Thành viên Nộp bài nội dung
Thư ký Lưu Thanh Thủy
Nhóm trưởng Bùi Đăng Thiện
Trang 3BIÊN BẢN HỌP NHÓM LẦN 3
Thời gian: 15h – 17h, ngày 09/04/2016
Địa điểm: Sân thư viện Đại học Thương mại
Nội dung thảo luận: Thảo luận về bản báo cáo và slide
Thành viên tham gia: Tất cả các thành viên trong nhóm
Phân công nhiệm vụ:
3 Bùi Thị Trang (I3) Thành viên Trả lời câu hỏi, phản biện
4 Bùi Thị Trang (T3) Thành viên Bổ sung, chỉnh sửa
7 Ngô Thị Phương Thảo Thành viên Trả lời câu hỏi, phản biện
8 Nguyễn Thị Phương Thảo Thành viên Thuyết trình thử
9 Phạm Lê Phương Thảo Thành viên Bổ sung, chỉnh sửa
12 Nguyễn Thị Thanh Thảo Thành viên Bổ sung, chỉnh sửa
13 Nguyễn Đàm Thuân Thành viên Bổ sung, chỉnh sửa
Thư ký Lưu Thanh Thủy
Nhóm trưởng Bùi Đăng Thiện
BẢNG PHÂN LOẠI
Trang 4Nhóm 09 – Lớp HP: 1612MLNP0211
1 Bùi Đăng Thiện Thuyết trình, tổng hợp đề tài
4 Bùi Thị Trang (T3) Lấy ví dụ dẫn chứng
8 Nguyễn Thị Phương Thảo Thuyết trình
Thư ký Lưu Thanh Thủy
Nhóm trưởng Bùi Đăng Thiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 6
PHẦN NỘI DUNG 7
I Bản chất của giá trị thặng dư và quá trình sản xuất giá trị thặng dư 7
1 Bản chất của giá trị thặng dư 7
2 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư 8
II Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 9
1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 9
2 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối 12
3 Giá trị thặng dư siêu ngạch 13
III Tính thực tiễn của hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư 14
IV Ý nghĩa thực tiễn của lý luận này đối với Việt Nam hiện nay 16
IV Những ý kiến thắc mắc cần trao đổi 18
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ khi học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác ra đời cho đến nay, thế giới đã trải qua những biến đổi sâu sắc Rất nhiều sự kiện đã thể hiện tính đúng đắn của những kết luận rút ra từ giá trị thặng dư như: Những cuộc “Khủng hoảng giẫy chết” của chủ nghĩa tư bản thế giới đầu thế kỷ XX, sự ra đời của hệ thống chủ nghĩa hiện thực, phong trào đấu tranh của các giai cấp công nhân và nông nhân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa, sự tan rã của các hệ thống thuộc địa…Phải nói
là, học thuyết giá trị thặng dư chính là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lý luận kinh tế của C.Mác Nhờ có nó mà toàn bộ những bí mật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa được vạnh trần, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được nêu ra một cách chính xác mà trong đó, hai phương pháp sản xuất chính là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối được
áp dụng rộng rãi nhất, nhằm tạo ra tư bản để tích lũy và tái mở rộng sản xuất, đưa
xã hội tư bản ngày càng phát triển Do vậy, phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cùng với tính thực tiễn của nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng thời cũng vạch trần bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản thông qua bóc lột giá trị thặng dư
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
I Bản chất của giá trị thặng dư và quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
1 Bản chất của giá trị thặng dư.
Trước C.Mác, ngay cả các nhà kinh tế lỗi lạc như D.Ricardo cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hóa đúng quy luật giá trị mà nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động của mình Khoảng lớn hơn đó, tức là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động, C.Mác gọi là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt
Giá trị thặng dư là mục đích cuối cùng của bất cứ nhà tư bản nào dưới chủ nghĩa tư bản Làm thế nào để thu được nhiều giá trị thặng dư nhất? Đó là câu hỏi
mà các nhà tư bản luôn luôn đặt ra cho mình và để trả lời câu hỏi ấy các nhà tư bản sẵn sàng làm bất cứ điều gì miễn sao thu được càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt Nhưng một câu hỏi đặt ra là các nhà tư bản sản xuất giá trị thặng dư bằng cách nào? Cũng như mọi chế độ khác, quy trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là một quá trình lao động nhưng mang tính đặc thù là quá trình sản xuất của cải đồng thời cũng sản xuất ra giá trị thặng dư Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra giá trị, nếu quá trình này dừng lại tại một điểm mà giá trị mới tạo ra ngang bằng với giá trị sức lao động thì chỉ sản xuất ra giá trị đơn giản Nếu quy trình này vượt qua điểm đó sẽ có sản xuất giá trị thặng dư, khi người công nhân lao động thì sức lao động của họ đã bán cho nhà tư bản Từ đây, ta có thể định nghĩa được giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo
ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra chính là nguồn gốc làm giàu cho các nhà tư bản
Trang 8VD: Bạn mua 6 đồng tiền vải về may áo, cái áo mới có giá trị 10 đồng Vậy bạn
đã tạo ra 4 đồng giá trị - đó là giá trị thặng dư
2 Quá trình sản xuất giá trị thặng dư.
Để có khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn, nhà tư bản dùng nhiều phương pháp khác nhau tùy theo điều kiện kinh tế - kỹ thuật trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản Tùy thuộc điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản mà các nhà tư bản đã áp dụng các biện pháp bóc lột giá trị thặng dư khác nhau trong những thời kỳ khác nhau và trong từng giai đoạn ấy xuất hiện các phương pháp bóc lột giá trị thặng dư cơ bản trong giai đoạn phát triển kinh tế - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản Trải qua các giai đoạn phát triển kinh tế - kỹ thuật, các nhà tư bản đã áp dụng hai biện pháp bóc lột giá trị thặng dư cơ bản nhất đó là: Giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối
Để tăng thêm giá trị thặng dư, các nhà tư bản đều tìm mọi cách làm thế nào để tăng thêm phần lao động không được trả công cho công nhân Vì chúng ta biết rằng giá trị thặng dư là một phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động mà người công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Vì vậy trước khi xem xét đến hai biện pháp bóc lột giá trị thặng dư cơ bản của chủ nghĩa tư bản, chúng ta cần xem đâu là phần lao động không được trả công của công nhân, từ đó ta biết rõ hơn về phương pháp bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản
Chúng ta có thể phân công ngày lao động của công nhân làm hai bộ phận:
+ Bộ phận thứ nhất là thời gian lao động cần thiết
+ Bộ phận thứ hai là thời gian lao động thặng dư
Trong thời gian lao động cần thiết, người công nhân tạo ra giá trị sức lao động của mình tức là sáng tạo ra một lượng giá trị đủ đảm bảo cho đời sống bản thân và gia đình họ Nó cần thiết cho người công nhân và nó cũng cần thiết cho các nhà tư bản
Trong thời gian lao động thặng dư, người công nhân sáng tạo ra giá trị thặng dư
mà nhà tư bản chiếm lấy
Bằng cách phân chia ngày lao động của công nhân như trên, chúng ta có thể đi sâu vào các phương pháp bóc lột giá trị thặng dư của các nhà tư bản dưới chủ nghĩa tư bản
Trang 9II Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư.
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là giá trị sử dụng mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, chính là nhân giá trị lên Theo đuổi giá trị thặng dư tối đa
là mục đích và động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản cũng như của toàn bộ xã hội tư bản Nhà tư bản cố gắng sản xuất ra hàng hóa với chất lượng tốt cũng chỉ vì họ muốn thu được nhiều giá trị thặng dư
Bởi lẽ, sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa không chỉ phản ánh mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn vạch rõ phương tiện, thủ đoạn mà các nhà tư bản
sử dụng để đạt được mục đích như tăng cường bóc lột công nhân làm thuê bằng cách tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động, tăng năng suất lao động và
mở rộng sản xuất Khái quát lại có hai phương pháp để đạt được giá trị đó là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
1 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
1.1 Khái niệm giá trị thặng dư tuyệt đối.
Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật
còn thấp, tiến bộ còn chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư
là kéo dài ngày lao động của công nhân
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư được tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động xã hội, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi
1.2 Ví dụ.
Ví dụ 1:
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là: m’= 4/4*100% = 100%
Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 giờ Khi đó, tỷ suất thặng dư là:
m’= 6/4*100% = 150%
Trang 10Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi thì thời gian lao động tất yếu tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%
Ví dụ 2:
Giả sử, để chế tạo ra 10 kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền 10$ để mua 10kg bông, 2$ cho hao mòn máy móc và 3$ mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong một ngày (12 giờ); cuối cùng giả định trong quá trình sản xuất sợi
đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết
Giả sử kéo 10 kg bông thành sợi mất 6 giờ và mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị 0,5$: 0,5$ x 6 = 3$
Vậy giá trị của 1 kg sợi là:
Giá trị 10kg bông chuyển vào: 10$
Giá trị của máy móc chuyển vào: 2$
Giá trị do công nhân tạo ra: 3$
Tổng cộng : 15$
Nếu quá trình lao động chỉ dừng ở đó (công nhân làm việc 6 giờ) thì không có giá trị thặng dư Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 12 giờ chứ không phải trong 6 giờ Việc sử dụng sức lao động trong ngày đó là thuộc quyền của nhà
tư bản
Nếu nhà tư bản bắt công nhân làm việc
12 giờ trong ngày như đã thỏa thuận thì
chi phí sản xuất:
-Tiền mua bông 20 kg: 20$
-Hao mòn máy móc: 4$
-Tiền mua sức lao động trong 1 ngày:
3$
Giá trị của sản phẩm mới:
- Giá trị của bông được chuyển vào sợi: 20$
- Giá trị máy móc được chuyển vào sợi: 4$
- Giá trị do lao động của công nhân tạo
ra trong 12 giờ lao động: 6$
Giá trị thặng dư: 30$ - 27$ = 3$
Như vậy, 27$ ứng trước của nhà tư bản đã chuyển thành 30$ đem lại một giá trị thăng dư là 3 $
* Kết luận:
- Một là, giá trị thăng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không
Trang 11- Hai là, ngày lao động của công nhân chia thành hai phần: Thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư
- Ba là, giá trị của hàng hóa gồm hai phần: giá trị TLSX, giá trị lao động trừu tượng của CN tạo ra trong quá trình lao động, gọi là giá mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Đây chính là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của CNTB
Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân Còn giới hạn dưới của người lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn ngày lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất lẫn tinh thần của người lao động
Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố định và có nhiều mức khác nhau Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ
Ví dụ về giá trị thặng dư này đối với Việt Nam hiện nay:
Tổng giá trị thặng dư của vòng quay thứ nhất là 500 triệu đồng; trong cơ sở sản xuất gồm 50 thành viên với tổng số lương được nhận trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 1 tỷ đồng, tức là tổng giá trị thặng dư của vòng quay sản xuất này bằng 50% số lương Như vậy, mỗi thành viên tham gia sản xuất ở vòng quay này trung bình được lĩnh thêm một số tiền bằng 50% số lương gốc của mình Lĩnh theo
tỷ lệ lương, mà lương là sự phản ánh mức độ đóng góp sức lực, trí tuệ của từng người cho toàn bộ công việc sản xuất của vòng quay đó Lương của mỗi người mỗi khác nên số tiền được lĩnh thêm của mỗi người cũng mỗi khác Một thành viên nhận tổng số lương trong thời gian hoàn thành vòng quay đó là 20 triệu đồng thì được lĩnh thêm 10 triệu đồng nữa Một thành viên khác lương chỉ có 10 triệu đồng thì chỉ được nhận thêm 5 triệu đồng Còn người đóng góp sức lực, trí tuệ nhiều, hưởng lương lên tới 40 triệu thì được lĩnh thêm 20 triệu đồng nữa
Trang 122 Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.
2.1 Khái niệm giá trị thặng dư tương đối.
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, tức là bóc lột giá trị thặng dư tương đối
Vậy giá trị thặng dư tương đối là gì? Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng
dư được tạo ra do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện
độ dài ngày lao động vẫn như cũ
2.2 Ví dụ.
Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là: m’= 4/4*100% = 100%
Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần
3 giờ để tạo ra một giá trị mới bằng với giá trị của sức lao động của mình Do đó,
tỷ lệ phân chia lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: m’= 5/3*100% = 166% Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã được tăng từ 100% lên 166%
Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian lao động tất yếu có quan hệ với giá trị sức lao động Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu phải giảm giá trị sức lao động Muốn hạ thấp giá trị sức lao động phải làm giảm giá trị những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân Điều
đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân hay tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra những tư liệu sản xuất đó
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản