1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ và vừa tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH sở GIAO DỊCH 1

55 348 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 136,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

marketing… Do vậy, có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ có tínhkhông ổn định và khó xác định được khối lượng chính xác. Các dịch vụ chính của ngân hàng thương mại Tùy theo

Trang 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1 Cơ sở lý luận về cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại

1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.1.1.1 Khái niệm

Theo Luật Doanh nghiệp ngày 29/11/2005 : “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền vànghĩa vụ dân sự, hoạt động theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộhoạt động kinh tế va chịu sự quản lý của Nhà nước bởi Luật Doanh nghiệp và các quyđịnh khác của pháp luật Nói cách khác, doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thànhlập và tổ chức sản xuất ra sản phẩm để sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ nhằmthỏa mãn nhu cầu của thị trường và kết quả thu về là lợi nhuận, tích lũy được vốn để tiếptục tái đầu tư phát triển kinh doanh ngày càng cao hơn

Loại hình DNNVV phát triển khá phổ biến ở các nước đang phát triển, nhất là các nướctrong khu vực ASEAN Ở Việt Nam, nhóm doanh nghiệp này có vị thế quan trọng trongquá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước

Theo Điều 3 của Nghị định số 90/2201/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúpphát triển DNNVV thì DNNVV được định nghĩa : “ DNNVV là cơ sở sản xuất, kinhdoanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký khôngquá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hằng năm không quá 300 người.”

Theo Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 06 năm 2009 vềtrợ giúp phát triển DNNVV, thì : “ DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh

Trang 2

theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy môtổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cânđối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêuchí ưu tiên) ”

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

(người)

Tổng nguồn vốn (tỷ VNĐ)

Số lao động (người)

Tổng nguồn vốn (tỷ VNĐ)

Số lao động (người)

Nông, lâm nghiệp & thủy

Trang 3

DNNVV có vốn đầu tư ban đầu ít nên chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp thường ngắn dẫn đến khả năng thu hồi vốn nhanh tạo điều kiện cho doanhnghiệp kinh doanh hiệu quả Với quy mô vừa và nhỏ các doanh nghiệp này rất linhhoạt, dễ thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường, thích hợp với điềukiện sử dụng các trình độ kỹ thuật khác nhau như thủ công, cơ khí và bán cơ khí

để sản xuất ra những sản phẩm thích ứng với yêu cầu của nhiều tầng lớp dân cư cóthu nhập khác nhau

Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông thường

để thành lập một doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ cần vốn đầu tư ban đầu không lớn,mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải Đặc điểm này làm chodoanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành nghề;tạo điều kiện cho nền kinh tế khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnhtranh lành mạnh hơn

- Về lao động:

Phần lớn các DNNVV sử dụng nhiều lao động giản đơn, quy mô lao động nhỏ,trình độ tay nghề chưa cao, đa số là sử dụng lao động hộ gia đình, thuê và tuyểndụng ở các tỉnh Lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn

Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế Đội ngũ quản lý cònthiếu trình độ, kỹ năng quản lý, sử dụng kinh nghiệm là chủ yếu, chưa có chuyênmôn Tuy Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao

so với các nước có cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việcgiản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, năng suất lao động không cao

Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lựcquản lý tốt chưa nhiều Một bộ phận lớn chủ doanh nghiệp chưa được đào tạo bàibản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quảntrị kinh doanh Mặt khác, DNNVV ít có khả năng thu hút những nhà quản lý vàlao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương cao và có các chính

Trang 4

sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như nhữngngười lao động giỏi.

- Về công nghệ và máy móc thiết bị :

Công nghệ và máy móc thiết bị của các DNNVV thường lạc hậu do chi phí đầu tưcông nghệ mới và kỹ thuật hiện đại cao nên thường vượt quá khả năng của cácDNNVV với qui mô vốn hạn chế Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mứctrung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại chậm Hạn chế về năng lực cán

bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng sản xuấtkinh doanh

Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có những sáng kiến đổi mới côngnghệ phù hợp với quy mô của mình từ những công nghệ cũ và lạc hậu Điều nàytạo nên sự khác biệt về sản phẩm để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tồn tạitrên thị trường

- Về năng lực cạnh tranh:

Năng lực kinh doanh còn hạn chế do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không cóđiều kiện đầu tư để nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiêntiến, hiện đại Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩmkhông cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng giá trị sản phẩm nóichung thấp, tính cạnh tranh trên thị trường kém DNNVV cũng gặp nhiều khókhăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếuthông tin về thị trường Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thịtrường nước ngoài Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là nhữngdoanh nghiệp mới hình thành, công tác tiếp thị còn kém hiệu quả và cũng chưa cónhiều khách hàng truyền thống Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanhnghiệp này thường phục vụ cho nhu cầu của địa phương, việc mở rộng ra các thịtrường mới là rất khó khăn đã hạn chế năng lực cạnh tranh của các DNNVV

- Về năng lực quản trị :

Trang 5

Một đặc điểm của DNNVV nước ta hiện nay là sản xuất kinh doanh theo cách tựphát, tự điều hành, quản lý còn mang tính gia đình Quản trị nội bộ của cácDNNVV còn yếu, nhất là quản lý tài chính, ý thực chấp hành các chế độ chínhsách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là kiên kết trong cùng mộthội ngành nghề Khả năng liên kết của các DNNVV còn hạn chế do tư tưởngmạnh ai nấy làm, và do chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu DN lớn Trongkhi đó ở nhiều nước DNNVV chính là đơn vị cung cấp nguyên phụ liệu cho các

DN lớn, tạo thành chuỗi cung ứng hiệu quả

1.1.1.3 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế

- Các DNNVV cung cấp một lượng sản phảm hàng hóa dịch vụ đáng kể cho nền

kinh tế, các DNNVV hoạt động trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề khác nhautrong nền kinh tế, cung cấp nhiều chủng loại cũng như số lượng hàng hóa, sảnphẩm đáng kể cho thị trường trong nước và tiến ra thị trường nước ngoài

- Các DNNVV trong nền kinh tế góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người lao

động DNNVV qua đó góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội

- Hoạt động của các DNNVV góp phần làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả

kinh tế cao Với bộ máy quản lý nhỏ, gọn DNNVV sẽ dế dàng kinh doanh, xâmnhập vào hầu hết các ngõ ngách của thị trường mà doang nghiệp lớn khó có thểlàm được, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ cho những doanh nghiệp lớn

Với quy mô vốn và lao động không lớn, các DNNVV dễ dàng được thành lập,chuyển đổi về mặt hàng sản xuất kinh doanh Điều đó cho thấy, các doanh nghiệpnày đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hóa và cung cấp hàng hóa dịch

vụ bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, đồng thời là mạng lưới tiêu thụ hàng hóacho doanh nghiệp lớn, góp phần tích cực trong khâu phân phối hàng hóa, đảm bảo

Trang 6

nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và bình ổn giá cả giữa các vùng và các địaphương.

Các DNNVV đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú

và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn khó làm được DNNVV đã góp phần tạo môitrường kinh doanh, tự do cạnh tranh và giảm độc quyền, đẩy nhanh tiến trình hộinhập quốc tế; phát huy được tiềm lực trong nước trong điều kiện nền kinh tế cóxuất phát điểm với nguồn vốn thấp, trình độ khoa học kỹ thuật lạc hậu, trình độ kỹnăng lao động còn yếu, góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng,miền trong một quốc gia

- Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác

tiềm năng, thế mạnh của từng vùng

Phát triển các DNNVV sẽ giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tàinguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương

- Các DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và

phân công lao động giữa các vùng, địa phương Sự phát triển của DNNVV có thểgóp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong mộtnước, thu hút ngày càng nhiều lao động ở nông thôn, chủ yếu tập trung vào ngànhphi nông nghiệp, công nghiệp và đã giúp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế địaphương, cơ cấu ngành, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của quốc gia

1.1.2 Dịch vụ cho vay đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương mại 1.1.2.1 Dịch vụ ngân hàng

Khái niệm :

Hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ Tính đa dạng, phức tapk, vôhình của các loại hình dịch vụ làm cho việc thống nhất khái niệm dịch vụ trở nênkhó khăn Không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới, mỗi quốc gia đều có nhữngcách hiểu về dịch vụ khác nhau, chính vì vậy trong hiệp định về thương mại dịch

vụ ( GATS) của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng không đưa ra kháiniêm về dịch vụ mà thay vào đó là sự liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn gồm 155

Trang 7

phân ngành Còn trong từ điển bách khoa Việt Nam giải thích : dịch vụ là hoạtđộng phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Trên thế giới, vấn đề dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộhoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối… của ngân hàng đối với doanhnghiệp và công chúng

Ở Việt Nam, trong Luật các TCTD năm 1997, cụm từ “ dịch vụ ngân hàng” cũng

đề cập tại Khoản 1 và Khoản 7 Điều 20 nhưng không có định nghĩa Cụ thể, “Khoản 1 Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luậtnày và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng”, “ Khoản 7 Hoạtđộng ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dungthường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứngdịch vụ thanh toán”

Theo giáo trình Quản trị tác nghiệp Ngân hàng Thương mại của Trường Đại họcThương mại, dịch vụ ngân hàng được khái niệm như sau

- Theo nghĩa rộng : dịch vụ ngâ hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín

dụng, thanh toán , ngoại hối của ngân hàng Quan điểm này phù hợp với cách phânngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và Hiệp định thươngmại tự do Việt Nam – Hoa Kỳ cũng như cách phân loại của nhiều nước phát triểntrên thế giới

- Theo nghĩa hẹp : dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc

phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng trung giantài chính ( huy động tiền gửi, cho vay ) Như vậy, dịch vụ ngân hàng chi bao gồmnhững hoạt động ngoại bảng , dịch vụ thu phí như chuyển tiền, bảo lãnh, thanhtoán quốc tế…

Trong phạm vi bài khóa luận, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng , phùhợp với quan niệm phổ biến trên thế giới hiện nay

Đặc điểm:

Trang 8

Giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ngân hàng cũng mang những đặc trưng

cơ bản sau

Tính vô hình

Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt sản phẩm dịch vụ ngân hàng với các sảnphẩm của các ngành sản xuất khác Cũng giống như các dịch vụ khác, dịch vụngân hàng cũng không có hình thái vật chất cụ thể Khách hàng tiếp nhận và tiêudùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông tin và kếtquả là nhu cầu được đáp ứng Cũng có một đặc điểm đặc biệt là khách hàng chỉ cóthể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng chúng Dịch vụngân hàng cũng có điểm khác hàng hóa vật chất ở chỗ không có sản phẩm dởdang, không lưu trữ được

Tính đồng thời

Dịch vụ ngân hàng có đặc điểm này là do việc cung ứng và tiêu dùng dịch vụ luônxảy ra đồng thời, không tách rời nhau Dịch vụ ngân hàng chỉ được cung ứng khikhách hàng có nhu cầu sử dụng đáo ứng một số điều kiện nhất định của nhà cungcấp là ngân hàng Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc xác định giá cả dịch vụ nhằmđảm bảo lợi ích của cả hai bên Các ngân hàng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầucủa khách hàng thì sẽ càng thu được khoảng cách giữa việc cung ứng và tiêu dùngdịch vụ ngân hàng Kết quả là ngân hàng sẽ ngày càng có nhiều khách hàng hơn

và kèm theo là thu nhập của ngân hàng tăng lên

Tính không ổn định và khó xác định khối lượng

Là một loại hình dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng do đó sẽ chịu rất nhiều tácđộng từ các yếu tố của môi trường kinh doanh Trong điều kiệm nền kinh tế pháttriển theo xu hướng hội nhập, thì sự biến động của các yếu tố thuộc môi trườngkinh doanh càng lớn và khó có thể lường trước Chất lượng của các dịch vụ ngânhàng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả về yếu tố khách quan như trình độthụ hưởng dịch vụ của khách hàng, thói quen, tập quán…đến các yếu tố chủ quannhư uy tín, vị thế của ngân hàng cung cấp dịch vụ, trình độ cán bộ, chính sách

Trang 9

marketing… Do vậy, có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại hình dịch vụ có tínhkhông ổn định và khó xác định được khối lượng chính xác.

Các dịch vụ chính của ngân hàng thương mại

Tùy theo chiến lược kinh doanh, mỗi ngân hàng có thể cung cấp số lượng dịch vụkhác nhau, nhưng nhìn chung các NHTM đều cung cấp hai nhóm dịch vụ, đó là :dịch vụ truyền thống và dịch vụ ngân hàng mới phát triển trong những năm gầnđây

Các dịch vụ truyền thống

 Trao đổi ngoại tệ

 Chiết khấu thương phiếu

và cho vay thương mại

 Nhận tiền gửi

 Dịch vụ thanh toán

 Bảo quản vật có giá

 Tài trợ các hoạt động củaChính phủ

 Cung cấp dịch vụ ủy thác

Dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây

 Cho vay tiêu dùng

 Tư vấn tài chính

 Quản lý tiền

 Dịch vụ cho thuê thiết bị

 Cho vay tài trợ dự án

 Bán các dịch vụ bảo hiểm

 Cung cấp kế hoạch hưu trí

 Cung cấp dịch vụ môi giới

đầu tư chứng khoán

 Cung cấp dịch vụ tương hỗ

và trợ cấp

 Cung cấp dịch vụ ngânhàng đầu tư và ngân hàngbán buôn

 Các dịch vụ ngân hànghiện đại : dịch vụ tư vấn tàichính cá nhân và dịch vụngân hàng trực tuyến

1.1.2.2 Dịch vụ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 10

Theo QĐ 1627/2001 và 127/2005/QĐ-NHNN : “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” Dịch vụ cho vay của ngân hàng giúp cho khách hàng có vốn để mở rộng

sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện các dự án lớn, phương án sản xuất kinh doanh.Theo đó, dịch vụ cho vay đối với DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó NHTMcho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất địnhtheo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi

1.1.2.3 Các hình thức cho vay đối với DNNVV

Dịch vụ cho vay là một trong những dịch vụ kinh doanh của yếu, mang lại phầnthu nhập lớn cho ngân hàng Dịch vụ cho vay thực hiện tốt thì ngân hàng sẽ vữngmạnh và phát triển, ngược lại thì ngân hàng sẽ đi đến chỗ phá sản Cùng với sựphát triển mạnh mẽ của nền kinh tế với nhiều loại hình kinh tế đa dạng và phức tạpthì dịch vụ cho vay cũng ngày càng phát triển, phong phú đa dạng về hình thức,thể loại, phương thức Các dịch vụ cho vay đối với DNNVV bao gồm

Dịch vụ cho vay từng lần

Dịch vụ cho vay từng lần là dịch vụ cho vay mà mỗi lần vay vốn người vay và tổchức tín dụng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng Từngkhoản vay là nột hợp đồng tín dụng và gắn với một phương án sử dụng vốn cụ thể.Dịch vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản, do vậy ngân hàng có thể kiểm soáttừng món vay tách biệt

Dịch vụ cho vay theo hạn mức tín dụng

Đây là dịch vụ cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận mộthạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường khôngquá 12 tháng Khác với dịch cho vay từng lần, trong dịch vụ này ngân hàng sẽkhông định kỳ hạn nợ cho từng món tiền vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tíndụng có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên tớimức tối đa cho phép thì khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng

Trang 11

Ưu điểm của dịch vụ này là thủ tục cho vay đơn giản, khách hàng chủ động đượcnguồn vốn vay Tuy nhiên, do các lần vay không tách bạch thành các kỳ hạn nợ cụthể nên ngân hàng khó kiểm soát được hiệu quả sử dụng từng lần vay

Dịch vụ cho vay với hình thức chiết khấu giấy tờ có giá

Chiết khấu giấy tờ có giá là một dịch vụ cho vay có thời hạn ngắn hạn, trong đókhách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu các giấy tờ có giá chưa đến hạn chongân hàng để nhận một khoản tiền bằng mức chiết khấu của giấy tờ có giá trừ đilãi chiết khấu

Dịch vụ cho vay theo hạn mức thấu chi

Dịch vụ cho vay theo hạn mức thấu chi là dịch vụ theo đó ngân hàng cho phépngười vay được chi vượt số tiền có trên số dư tài khoản thanh toán của mình đénmột giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định Giới hạn này gọi là hạnmức thấu chi Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản cùa mình, ngân hàng sẽthu nợ gốc và lãi Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, có thể cấp cho kháchhàng là doanh nghiệp và cá nhân, thủ tục đơn giản Phương thức này giúp chokhách hàng chủ động trong quan hệ thanh toán

Dịch vụ cho vay theo dự án đầu tư

Trong dịch vụ cho vay này, ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các

dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụđời sống Để tiến hành cho vay, ngân hàng sẽ căn cứ vào hồ sơ vay vốn để tiếnhành thẩm định dự án đầu tư, nếu chấp thuận cho vay ngân hàng sẽ ký hợp đồngtín dụng Không chấp thuận cho vay ngân hàng sẽ có giấy gửi tới khách hàng nêu

rõ lý do không cho vay

Dịch vụ cho vay trả góp

Đây là dịch vụ cho vay nhằm giúp người vay có điều kiện để mua sắm máy mócthiết bị Theo đó ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận số tiền lãi vay

Trang 12

phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạncho vay Phương thức cho vay này thường áp dụng đối với người vay có phương

án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn, ổn định

Dịch vụ cho vay hợp vốn

Dịch vụ cho vay hợp vốn là dịch vụ trong đó một nhóm các ngân hàng cùng vayđối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng Trong cho vay hợpvốn, một ngân hàng là đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác Việccho vay được thực hiện theo chế độ đồng tài trợ và quy chế tín dụng của các tổchức tín dụng do Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành

- Các dịch vụ cho vay khác

Ngoài những dịch cho vay đã nêu ở trên, các ngân hàng còn áp dụng một số dịch

vụ cho vay như: dịch vụ cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tíndụng, dịch vụ cho vay ủy thác…

1.1.2.4 Vai trò của dịch vụ cho vay đối với DNNVV

Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các DNNVV là một tấtyếu khách quan và cũng như các loại hình doanh nghiệp khác trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp này cũng sử dụng vốn vay ngân hàng

để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn cũng như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốncủa mình Vốn vay ngân hàng đầu tư cho các DNNVV đóng vai trò rất quantrọng,nó chẳng những thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này mà thông qua đótác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiệncác cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò củahoạt động cho vay ngân hàng trong việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, ta xétmột số vai trò sau:

Góp phần đảm bảo cho hoạt động của các DNNVV được liên tục.

Trang 13

Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹthuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tạiđứng vững và phát triển trong cạnh tranh Trên thực tế không một doanh nghiệpnào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh Vốn vay củangân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, muasắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh Từ đó góp phần thúc đẩytạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục.

Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV

Khi sử dụng vốn vay, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phảiđảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản củahợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không Do đó đòi hỏi cácdoanh nghiệp muốn có vốn vay của ngân hàng phải có phương án sản xuất khảthi Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụngvốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuậnphải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi Trongquá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giảingân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả

Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNNVV

Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuấtkinh doanh Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoáhiệu quả sử dụng vốn Đối với cácDNNVV do hạn chế về vốn nên việc sử dụngvốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp vì nếu sử dụng thì giá vốn sẽcao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận Để hiệu quả thì doanh nghiệpphải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vaynhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất

Góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNNVV

Trang 14

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại vàđứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh Đặcbiệt đối với các DNNVV, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thếtrong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là mộtvấn đề khó khăn Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là tăng cườngliên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuậthiện đại để tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tưcho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phảimất nhiều năm mới thực hiện được Và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không cònnữa Như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ có thểtìm đến vốn vay ngânh hàng Chỉ có vốn vay ngân hàng mới có thể giúp doanhnghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinhdoanh.

1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ cho vay

Dịch vụ cho vay là một trong những dịch vụ mang lại doanh thu chủ yếu cho cácNHTM, do đó, chất lượng dịch vụ cho vay luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu

ở các ngân hàng

Chất lượng dịch vụ cho vay của DNNVV được hiểu là sự đáp ứng về số lượng vàchất lượng đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng và đảm bảo các yếu tố an toàn

và lợi nhuận đối với ngân hàng Như vậy, để hiểu dược khái niệm chất lượng dịch

vụ cho vay, chúng ta cần tiếp cận trên 3 giác độ, đó là : ngân hàng và khách hàngDưới mỗi góc độ, chất lượng cho vay lại được thể hiện một cách khác nhau

Đối với ngân hàng

Chất lượng dịch vụ cho vay được thể hiện qua mức độ an toàn và sinh lời của cáckhoản cho vay cấp cho khách hàng Chất lượng dịch vụ cho vay tốt được phản ánhthông qua độ an toàn cao, ngân hàng không đứng trước nguy cơ bị mất vốn, bêncạnh đó, khách hàng còn thanh toán lãi cho ngân hàng, tức là đảm bảo tính sinh

Trang 15

lời, giúp ngân hàng có thể ổn định và phát triển Chất lượng dịch vụ cho vay tốtđược phản ánh thông qua tốc độ tăng trưởng cho vay cao, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạnthấp và nằm trong phạm vi quy định, cơ cấu cho vay hợp lý, lợi nhuận từ hoạtđộng cho vay cao.

Đối với khách hàng

Chất lượng dịch vụ cho vay được thể hiện ở sự đáp ứng nhu cầu vốn của kháchhàng với một lãi suất hợp lí, thủ tục đơn giản, nhanh gọn, thuận tiện, hình thức vàthời hạn cho vay hợp lí, phù hợp với tình hình, tiến độ sản xuất kinh doanh Trongđiều kiện hiện nay, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng là rất gay gắt, chính vì vậy,xét trên giác độ khách hàng, ngân hàng nào có chất lượng dịch vụ cho vay tốt hơn

sẽ thu hút được đông đảo các doanh nghiệp và cá nhân đến vay vốn, từ đó mới cóthể tồn tại và phát triển được

Như vậy, chất lượng dịch vụ cho vay có thể được nhìn nhận từ hai giác độ nóitrên Chất lượng cho vay phải thỏa mãn đồng thời cả hai mục tiêu của ngân hàng

và khách hàng Nhưng có thể nhận thấy rõ ràng là các mục tiêu này mâu thuẫn,xung đột lẫn nhau Ngân hàng muốn nâng cao lợi nhuân thì mức lãi suất phải cao,khoản cho vay phải được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi Nhưng đối vớikhách hàng, họ muốn tối thiểu hóa chi phí nên mức lãi suất phải thấp, tiến độ giảingân và trả nợ phải phù hợp với tiến độ sản xuất kinh doanh Chính vì vậy, chấtlượng dịch vụ cho vay tốt là phải dung hòa được hai mục tiêu xét trên giác độ ngânhàng và khách hàng.Có như vậy, dịch vụ cho vay mới đảm bảo cho ngân hàng ổnđịnh, phát triển bền vững, tạo được niềm tin trong lòng khách hàng, thoả mãn tốtnhu cầu khách hàng, và đồng thời góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội ổn định vàphát triển bền vững

1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và

vừa của ngân hàng thương mại

Trang 16

Việc nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay đối với các DNNVV đón vai trò quantrọng đối với cả bản thân doanh nghiệp, ngân hàng cũng như toàn xã hội Để thấyđược sự cần thiết của nâng cao chất lượng dịch cho vay ta hãy xem xét ý nghĩa vàvai trò của việc nâng cao chất lượng cho vay đối với DNNVV

Đối với DNNVV

Đối với doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng, chất lượng dịch vụ chovay cao tức là khoản vay chính đáng của doanh nghiệp được đáp ứng một cáchkịp thời, nhanh chóng, quá trình giải ngân phù hợp với yêu cầu kinh doanh, chiphí vốn vay thấp, thủ tục nhanh gọn và hiệu quả sử dụng vốn cao

Khi nhận được vốn tài trợ phù hợp của ngân hàng, DNNVV có thể đầu tư theomục đích vay vốn nhằm cải thiện công nghệ, mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh, nâng cao năng suất…từ đó đem lại thu nhập cao hơn cho doanh nghiệp

Do đó, các DNNVV luôn muốn chọn cho doanh nghiệp một ngân hàng có chấtlượng cho vay tốt

Đối với NHTM

Dịch vụ cho vay là một trong những hoạt động sinh lời quan trọng nhất của cácNHTM Khi ngân hàng tìm cách nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tức là ngânhàng tìm cách mở rộng dịch vụ cho vay một cách đảm bảo, để có thể vừa mở rộngvừa thu hồi lãi và gốc đúng hạn Nghĩa là nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay sẽlàm tăng doanh thu cho ngân hàng Nhờ đó, ngân hàng có thể tiếp tục mở rộng tíndụng cũng như cá dịch vụ khác

Nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay cũng giúp tăng tuy tín của ngân hàng, từ đóthu hút được khách hàng mới, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng Đócũng là mục tiêu phát triển bền vững của các NHTM, cạnh tranh bằng cách nângcao chất lượng dịch vụ Do đó, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay là xu thế pháttriển tất yếu của các NHTM

Đối với nền kinh tế

Trang 17

Khi các NHTM nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay, tức là mở rộng cho vay đãđáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế Những khoản cho vay chất lượng tốt này lạitạo ra lợi nhuận cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động Hoạt độngnâng cao dịch vụ chất lượng cho vay đã góp phần thực hiện các mục tiêu của Nhànước, góp phần đưa kinh tế ngày càng phát triển vững mạnh hơn.

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay đối với DNNVV

Chất lượng dịch vụ cho vay đối với DNNVV là một khái niệm vừa cụ thể ( thôngqua các chi tiêu định lượng có thê tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quáhạn…) lại vừa trừu tượng ( thể hiện ở khả năng thu hút khách hàng, đóng gópvào nền kinh tế…) Từ đó, để đánh giá chất lượng dịch vụ cho vay của NHTMđối với các DNNVV, người ta chia làm hai nhóm chỉ tiêu : nhóm chỉ tiêu địnhtính và nhóm chỉ tiêu định lượng

1.3.1 Chỉ tiêu định tính

Khó có thể đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể cho các tiêu chuẩn định tính Do đó, tùyvào mỗi ngân hàn khác nhau sẽ tự xác định tiêu chí cho các chỉ tiêu định tính Cóthể kể đến một số chỉ tiêu sau:

Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quy trìn tín dụng

Dịch vụ cho vay có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật của Nhànước: Luật các tổ chức tín dụng, các quy chế cho vay, các văn bản của Ngânhàng Nhà nước và các văn bản có liên quan

Khi thực hiện dich vụ cho vay, phải luôn đảm bảo tuân thủ các quy trình cho vay,nguyên tắc cho vay vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá chất lượng cho vay.Dịch vụ cho vay của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảotính an toàn và khả năng sinh lời Các nguyên tắc này được cụ thể hóa trong quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước và các NHTM Có thể kể đến ba nguyên tắc cơbản

Trang 18

 Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định đã thỏathuận trong hợp đồng cho vay.

 Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục địch đã thỏa thuậntrong hợp đồng tín dụng

 Ngân hàng chỉ được tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả

Nếu ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay thì ngân hàng có thể đánhgiá đúng tình hình tài chính của khách hàng, từ đó, giúp đưa ra quyết định tài trợhợp lý, đảm bảo an toàn, hạn chế rủi ro cho ngân hàng

Chính sách quản trị điều hành đúng đắn, chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu cạnh tranh, phát triển kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ cụ thể

Chỉ tiêu trên được thể hiện trong chính sách tín dụng của ngân hàng Chính sáchtín dụng cho ta biết về cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, hướng dẫn chung chocán bộ, nhân viên ngân hàng tăng cường chuyên môn và tạo sự thống nhất Chính

sự tín dụng của ngân hàng cũng cho biết được chiến lược phát triển tín dụng củangân hàng

Mức độ thỏa mãn nhu cầu tìa trợ của khách hàng và chi phí cho vay

Chất lượng cho vay của ngân hàng với khách hàng được cho là tốt khi mà ngânhàng có khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của kháchhàng Để đảm bảo yêu cầu trên, ngân hàng cần có hệ thống đánh giá, dự báo,phân tích nhu cầu của khách hàng thật chính xác, từ đó nâng cao chất lượng chovay Đồng thời, việc đáp ứng nhu cầu vốn hợp lý của khách hàng một cách nhanhchóng giúp làm tăng thêm uy tín của ngân hàng

Đóng góp của dịch vụ cho vay của ngân hàng vào sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 19

Thông qua cho vay đối với DNNVV thì các ngân hàng đã góp phần vào sự pháttriển chung của kinh tế - xã hội, tăng việc làm, thúc đẩy sản xuất… Tuy nhiên,đây là một chi tiêu khó có thể đánh giá chính xác.

1.3.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng

Vì các chỉ tiêu định tính rất khó xác định hiệu quả thực hiện, nên người ta thường

sử dụng các chỉ tiêu định tính làm các chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá chất lượngcủa dịch vụ cho vay Đây là các chỉ tiêu rất quan trọng với các NHTM, thông quacác chỉ tiêu này, ngân hàng có thể xác định một cách tương đối chính xác về chấtlượng dịch vụ cho vay đối với DNNVV của ngân hàng Do đó, việc tính toán cầnđảm bảo sự chính xác và đầy đủ

1.3.2.1 Nhóm chỉ tiêu phân tích quy mô, cơ cấu khoản vay DNNVV

Quy mô dịch vụ cho vay DNNVV

Doanh số cho vay

Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát và có hệ thống đối với nhữngkhoản vay tại một thời điểm Khi xác định doanh số cho vay, chưa có sự đánh giá

cụ thể về chất lượng và phần ròng của những khoản vay trong một thời kỳ nhấtđịnh Nhưng đây là chỉ tiêu cho biết khả năng luân chuyển sử dụng vốn của mộtngân hàng Quy mô đầu tư và cấp vốn tín dụng của ngân hàng đó với nền kinh tếquốc dân trong một thời kỳ

Doanh số thu nợ

Là chỉ tiêu phản ánh số tiền ngân hàng thu hồi được của các khoản cho vay trongmột thời kỳ xác định Chỉ tiêu này chiếm tỷ trọng càng lớn so với doanh số phátvay thì hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng càng cao, ngược lại ngân hàng

sẽ phải đối diện với nguy cơ rủi ro vỡ nợ cao hơn

Dư nợ cho vay

Trang 20

Tổng dư nợ cho vay là chỉ tiêu tuyệt đối, thể hiện được mối quan hệ tín dụnggiữa ngân hàng với khách hàng, đồng thời là chỉ tiêu phản ánh phần vốn đầu tưhiện đang còn lại tại một thời điểm của ngân hàng sau khi đã cho vay nhưng chưathu về Đồng thời chỉ tiêu dư nợ cho vay cũng phản ánh mối quan hệ với doanh

số cho vay theo công thức: Dư nợ đầu kỳ + Doanh số cho vay – Doanh số thu nợ

= Dư nợ cuối kỳ) với khả năng đáp ứng nguồn vốn của các NHTM đối với nhucầu sử dụng vốn trong nền kinh tế

Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu này cho biết so với kỳ trước thì dư nợ cho vay DNNVV kỳ này tăngtrưởng bao nhiêu % Ngân hàng có tốc độ tăng trưởng dư nợ cao sẽ mang lại lợinhuận cao cho ngân hàng, nhưng khi xem xét cần đặt chỉ tiêu này trong tươngquan với các chỉ tiêu đánh giá rủi ro để đưa ra nhận xét chính xác về thực trạngcho vay của ngân hàng

T ố c đ ộ t ă ng tr ư ở ngt í n d ụ ng= Dư n ợ TDk ỳ n à y−D ư n ợ TD k ỳ tr ư ớ c

D ư n ợ t í n d ụ ng k ỳ tr ư ớ c x 100 %

Tỷ trọng dư nợ DNNVV

Tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV = Dư nợ cho vay DNNVV

Tổng dư nợ cho vay ×100%

Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng dư nợ cho vay DNNVV trong tổng dư

nợ cho vay của một ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau, cho phép nghiên cứubiến động quy mô, khối lượng cho vay DNNVV

Chỉ tiêu này cũng có thể dùng so sánh giữa các ngân hàng khác nhau để thấyđược thế mạnh của ngân hàng này so với thế mạnh của ngân hàng khác trongdịch vụ cho vay DNNVV Tuy nhiên, có thể coi đây như một chỉ tiêu định lượng

Trang 21

để có thể thấy rõ bản chất, vai trò của dịch vụ cho vay DNNVV trong một ngânhàng.

1.3.2.2 Nhóm chỉ tiêu phân tích chất lượng dịch vụ cho vay DNNVV

Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có hiệu quả càng thấp Nợ xấu có nguy

cơ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng và nếu có quá nhiều nợ xấu sẽ có thể làmcho ngân hàng phá sản Các ngân hàng đang cố gắng giảm đến mức tối đa cáckhoản nợ xấu để làm tăng hiệu quả của dịch vụ cho vay DNNVV

Tỷ lệ nợ không thể thu hồi DNNVV

Tỷ lệ nợ cho vay DNNVV không thể thu hồi = Dư nợ DNNVV không thể thu hồi

Tổng dư nợ cho vay DNNVV ×100%

Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng cho vay DNNVV thì có bao nhiêuđồng không thể thu hồi được vốn

Trang 22

Hệ số này ở mức 0% là tốt nhất, ở mức <1% là bình thường, ở mức >1% là

có vấn đề, ngân hàng cần chú trọng xem xét nguyên nhân để tìm biện pháp khắcphục

1.3.2.3 Chỉ tiêu lợi nhuận từ dịch vụ cho vay DNNVV

Tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ cho vay đối với DNNVV

Tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ cho vay DNNVV = Thu nhập từ dịch vụ cho vay DNNVV

Tổng thu nhập ngân hàng × 100%

Chỉ tiêu này cho phép thấy rõ hơn vị trí của dịch vụ cho vay DNNVV tronghoạt động của ngân hàng Thu từ dịch vụ cho vay DNNVVcó hiệu quả cao sẽ đónggóp lớn vào thu nhập ngân hàng Nếu dịch vụ cho vay DNNVV có hiệu quả khôngtốt thì thu không được nợ gốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của ngân hàng, nên

sẽ kéo theo lợi nhuận giảm tương ứng

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cho vay DNNVV

1.4.1 Nhân tố chủ quan

Chính sách tín dụng của ngân hàng đối với DNNVV

Chính sách tín dụng là một tập hợp các biện pháp mang tính đặc thù của mỗingân hàng để định hướng cho hoạt động tín dụng

Mỗi một ngân hàng đều có một chính sách tín dụng riêng cho mình Chính sáchtín dụng quyết định sự thành bại của mỗi ngân hàng Nó bao gồm hệ thống cácquy định về hạn mức, lãi suất, thời hạn, đối tượng khách hàng, các quy định,ràng buộc đối với khách hàng, quy trình thẩm định, giải ngân, giám sát sau khicấp tín dụng, quy định về tài sản đảm bảo…Chính vì vậy, nó có ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng tín dụng Một ngân hàng có chính sách tín dụng hợp lí vàđúng đắn sẽ tạo được niềm tin và sự hấp dẫn đối với khách hàng Một chínhsách tín dụng đúng hướng đòi hỏi phải tuân thủ đúng pháp luật, phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của mỗi ngân hàng, khai thác được thế mạnh của mỗi ngânhàng trên từng lĩnh vực, tạo ra sự cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường tàichính, đảm bảo tính an toàn và sinh lời cho sự phát triển của ngân hàng Chính

Trang 23

sách tín dụng là nền móng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Trên cơ sởnền móng vững chắc ấy, hoạt động tín dụng mới được xây dựng và phát triểnđúng hướng Đây cũng chính là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng Chínhsách tín dụng đúng đắn sẽ giúp cho cán bộ tín dụng có phương hướng triển khaicông việc một cách thuận lợi, hiệu quả, nhanh chóng, hạn chế rủi ro, tiết kiệmcông sức cũng như chi phí.

Công tác tổ chức ngân hàng

Cũng như bất cứ các hoạt động khác trong ngân hàng, dịch vụ cho vay muốnđạt được kết quả tốt cũng đòi hỏi công tác tổ chức của ngân hàng phải tốt, có sựphối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các bộ phận, phòng ban, từ các cấp lãnhđạo xuống đến từng nhân viên Dịch vụ cho vay cần có sự phối hợp chặt chẽ từ

bộ phận thẩm định, đến các bộ phận có thẩm quyền xét duyệt của ngân hàng.Cần có một sự phối hợp chăt chẽ, ăn ý, uyển chuyển giữa các bộ phận từ đóchất lượng dịch vụ cho vay mới có thể được nâng cao

Chất lượng khâu thẩm định tín dụng của ngân hàng

Quá trình thẩm định tín dụng là quá trình ngân hàng phân tích đánh giá nănglực khách hàng trên các phương diện năng lực tài chính của khách hàng, tínhkhả thi của phương án kinh doanh, dự án đầu tư, quan hệ sở hữu, giá trị của tàisản đảm bảo, khả năng chi trả nợ đầy đủ đúng hạn của khách hàng Đây là khâuquan trọng nhất trong quá trình xét duyệt, ra quyết định cung cấp dịch vụ chovay Trong quá trình thẩm định, ngân hàng sẽ chọn lọc ra những cơ hội đầu tưtốt, hiệu quả, đảm bảo tính sinh lời và an toàn cho ngân hàng Nếu quá trìnhthẩm định mắc phải những sai sót thì hậu quả xảy ra là khôn lường Quá trìnhthẩm định muốn có hiệu quả, nó lại phụ thuộc vào các nhân tố thông tin tíndụng đầy đủ, chính xác, năng lực thẩm định, tư cách đạo đức của cán bộ tíndụng, quy trình thẩm định được xây dựng khoa học, bao quát, xem xét đến mọikhía cạnh của vấn đề Kết thúc quá trình thẩm định, ngân hàng sẽ quyết định

Trang 24

mức cấp tín dụng, thời hạn, phương án trả nợ, lãi suất Chất lượng thẩm địnhảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Chất lượng thẩm định tốt thì mới đảm bảochất lượng tín dụng và ngược lại.

Cơ sở vật chất, trình độ công nghệ kĩ thuật của ngân hàng

Đây là một nhân tố ảnh hưởng khá lớn đến chất lượng dịch vụ cho vay củangân hàng Trong thời đại hiện nay, công nghệ đóng một vai trò quyết định Cơ

sở vật chất khang trang hiện đại, công nghệ tiên tiến chính xác, gọn nhẹ khôngchỉ tạo hình ảnh đẹp trong mắt khách hàng mà còn hỗ trợ rất lớn trong các khâucủa hoạt động tín dụng Các giao dịch cũng như trao đổi, liên hệ thông tin giữangân hàng và khách hàng trở nên nhanh gọn, tiết kiệm chi phí, thời gian, côngtác lưu trữ, tìm kiếm các thông tin của khách hàng cũng trở nên rất nhanh gọn

Nó tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tín dụng trong công việc của mình gópphần tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc

Thông tin tín dụng

Trong dịch vụ cho vay của ngân hàng, thông tin đóng một vai trò quan trọng,đặc biệt trong công tác thẩm định tín dụng Cán bộ thu thập những nguồn thôngtin để phục vụ cho quá trình thẩm định, đánh giá khách hàng của mình Để tăngtính xác thực phục vụ cho việc đánh giá khách hàng, thông tin được thu thập từnhiều nguồn khác nhau Đó là các giấy tờ sổ sách, các báo cáo tài chính, hợpđồng thương mại, hồ sơ dự án, các hóa đơn, chứng từ do phía khách hàng vàcác đối tác của khách hàng cung cấp Bên cạnh đó, thông tin tín dụng còn đượccán bộ tín dụng thu thập trong quá trình đi thị sát thực tế doanh nghiệp, để tăngtính sát thực cho thông tin Hiện nay, một kênh thông tin hỗ trợ rất lớn đối vớicán bộ tín dụng là thông tín từ trung tâm thông tin tín dụng CIC (Central ofinformation credit) Trung tâm CIC sẽ cung cấp cho ngân hàng các thông tin vềkhách hàng, cụ thể như quan hệ tín dụng của khách hàng đối với các ngân hàng,

dư nợ tín dụng, tình hình trả nợ Đây là một kênh thông tin khá hiệu quả, và hữu

Trang 25

ích hiện nay Việc chủ động thu thập, xử lí, phân tích đánh giá thông tin tíndụng có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình thẩm định tín dụng Nếu thông tinsai lệch hay cán bộ tín dụng không có khả năng phân tích thông tin thì tất yếu,quyết định cấp tín dụng sẽ không chính xác và gây ra những thiệt hại cho ngânhàng Chính vì vậy, thông tin tín dụng là một trong những nhân tố quan trọngảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ cho vay Chất lượng dịch vụ cho vay tốt đòihỏi thông phải được thu thập nhanh chóng, đầy đủ, kịp thời kết hợp với việc xử

lí chính xác

Chất lượng cán bộ ngân hàng

Cũng như rất nhiều những lĩnh vực khác, trong dịch vụ cho vay của ngân hàng,con người là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất Con người ở đây bao gồmđội ngũ lãnh đạo ngân hàng và các cán bộ, nhân viên ngân hàng Xét đến nhân

tố con người, chúng ta đề cập đến các khía cạnh trình độ, kinh nghiệm, nănglực, nhận thức và tư cách đạo đức của đội ngũ lãnh đạo, nhân viên ngân hàng Đội ngũ lãnh đạo có năng lực, kinh nghiệm sẽ ra những quyết định chỉ đạo sángsuốt, phù hợp với tình hình Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ tín dụng được trang bịđầy đủ kiến thức, có năng lực tốt sẽ giúp cho quá trình thẩm định đạt kết quả tốt,

từ đó ra những quyết định đúng đắn trong việc cung cấp dịch vụ cho vay tớikhách hàng Có nhiều trường hợp, ngân hàng phải chịu thiệt thòi, thua lỗ do khảnăng thẩm định dự án của cán bộ tín dụng có nhiều hạn chế Tuy nhiên, kiếnthức, kinh nghiệm còn chưa đủ Bên cạnh việc trang bị kiến thức, đào tạo nănglực cho cán bộ, các ngân hàng không thể bỏ qua việc trau dồi tư cách đạo đứccho đội ngũ lãnh đạo cũng như đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng Thực tế chothấy, có rất nhiều trường hợp, khách hàng câu kết với cán bộ tín dụng để lừa đảongân hàng Chính vì vậy, vấn đề tư cách đạo đức cần được xem trọng, thậm chíhơn cả năng lực, kinh nghiệm Một cán bộ tín dụng kém về năng lực kinhnghiệm có thể trau dồi, học hỏi theo thời gian, nhưng một cán bộ không có tưcách đạo đức có thể là một mối nguy hiểm thường trực đối với ngân hàng

Trang 26

1.4.2 Các nhân tố thuộc về khách hàng

Bên cạnh các nhân tố chủ quan, nhân tố khách quan cũng có tầm ảnh hưởng lớnđến chất lượng dịch vụ cho vay đối với DNNVV Chất lượng dịch vụ cho vaykhông chỉ chịu ảnh hưởng từ phía ngân hàng mà còn chịu tác động nhiều chiều

từ phía DNNVV

Tính khả thi của phương án kinh doanh

Phương án kinh doanh là một trong những yếu tố tác động đến chất lượng dịch vụcho vay Phương án kinh doanh được xây dựng có tính thực tiễn, tính khả thi cao

sẽ được ngân hàng phê duyệt cung cấp dịch vụ cho vay Đồng thời khi cóphương án sản xuất kinh doanh có tính khả thi, hiệu quả cao sẽ giúp doanhnghiệp thu về lợi nhuận cao, từ đó đảm bảo được khả năng hoàn trả nợ đầy đủđúng hạn của doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay.Chính vì vậy, phương án kinh doanh có ảnh hưởng lớn tới chất lượng dịch vụ chovay nên khi tiến hành thẩm định, cán bộ tín dụng phải xem xét, đánh giá kĩ lưỡngtính khả thi của yếu tố này

Năng lực tài chính, khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Năng lực tài chính được thể hiện ở nhiều khía cạnh như tổng tài sản, tổng vốn tự

có, khả năng thanh toán của doanh nghiệp…Cán bộ tín dụng có thể đánh giá nănglực tài chính của DNVVN thông qua các báo cáo tài chính thông qua các năm.Năng lực tài chính vững mạnh sẽ đảm bảo khả năng chi trả của DN đối với khoản

nợ của ngân hàng Khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp được phản ánhthông qua năng lực tài chính, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, và tài sảnđảm bảo của doanh nghiệp Tài sản đảm bảo chính là nguồn trả nợ thứ hai chongân hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng hoàn trả Đây là mộttrong những yếu tố quan trọng để đảm bảo khả năng chi trả của doanh nghiệp.Hiện nay, các ngân hàng thương mại được phép cho vay tối đa là 70% giá trị tàisản đảm bảo Chính vì vậy, ngân hàng cần xem xét đến tính chất sở hữu, giá trị,

Trang 27

tinh hao mòn của tài sản đảm bảo Trên cơ sở đó, kết hợp với việc nhìn nhận,phân tích năng lực tài chính để có cái nhìn đánh giá chính xác nhất về khả năngtrả nợ của doanh nghiệp.

Năng lực quản lí của doanh nghiệp

Năng lực quản lí tốt sẽ giúp hoạt động của doanh nghiệp trở nên trôi chảy, hiệuquả, hoạt động sản xuất hiệu quả, kinh doanh có lãi, từ đó làm tăng thêm uy tíncủa doanh nghiệp đối với ngân hàng đồng thời tăng khả năng trả nợ đối với ngânhàng Một doanh nghiệp có khả năng quản lí tốt sẽ có những quyết định, phương

án kinh doanh chính xác, thu về lợi nhuận đảm bảo nguồn trả nợ cho ngân hàng.Chính vì vậy, khả năng quản lí doanh nghiệp tốt cũng là một dấu hiệu đảm bảochất lượng dịch vụ cho vay

Uy tín, đạo đức của doanh nghiệp

Uy tín, đạo đức của doanh nghiệp là một nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới chấtlượng dịch vụ cho vay Thực tế cho thấy không thiếu các trường hợp, các doanhnghiệp cố tình làm giả sổ sách, hợp đồng để lừa đảo, chiếm dụng vốn của ngânhàng, hay sử dụng vốn sai mục đích đã thỏa thuận Uy tín, đạo đức ảnh hưởng tớitính trung thực của các thông tin mà khách hàng cung cấp cho ngân hàng Mộtkhi khách hàng cố tình lừa đảo mà ngân hàng không thể phát hiện ra thì hậu quảcủa nó là khôn lường Chính vì vậy, uy tín đạo đức của khách hàng là một yêu tốcần được xem xét kĩ lưỡng, cân thận trong quá trình cấp dịch vụ cho vay đối vớiDNNVV

1.4.3 Các nhân tố từ môi trường bên ngoài

Môi trường pháp lí

Môi trường pháp lí bao gồm các cơ chế, chính sách, quy định điều chỉnh về hoạtđộng tín dụng của ngân hàng đối với các DNVVN, và điều chỉnh về hoạt độngsản xuất kinh doanh của các DNVVN Hoạt động ngân hàng luôn nằm trongnhững khuôn khổ pháp lí nhất định cũng như rất nhiều các lĩnh vực khác trong

Ngày đăng: 05/05/2016, 09:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy mô về vốn và số lao động - HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH  NGHIỆP NHỎ và vừa tại NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN đầu tư và PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH sở GIAO DỊCH 1
Bảng 1.1 Phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy mô về vốn và số lao động (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w