Từ những bài học kinh nghiệm trong lịch sử, hơn bao giờ hết, Đảng ta cần coi trọng đổi mới công tác tuyên truyền nhằm khơi dậy và phát triển chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng cách mạng, tinh
Trang 1LUẬN VĂN:
Một số phương hướng, giải pháp chủ
yếu đổi mới công tác tuyên truyền
của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 2Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng, trong đó có công tác tuyên truyền Ngay từ những ngày đầu cách mạng, lãnh tụ Nguyễn
ái Quốc đã trực tiếp tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin trong quần chúng nhân dân để xây dựng phong trào cách mạng Công tác tuyên truyền đã cổ vũ toàn dân tộc đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Tiếp đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, công tác tuyên truyền đã làm lay động tình cảm đến từng người dân, tạo dựng niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, gian khổ chiến đấu vì mục tiêu, độc lập và thống nhất Tổ quốc Trong sự nghiệp đổi mới, công tác tuyên truyền đã góp phần làm nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của nước ta
Bước vào thế kỷ XXI, tình hình thế giới tiếp tục có những biến đổi phức tạp và khó lường, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển đất nước Sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, toàn cầu hoá v.v đang tạo ra những thuận lợi cho đất nước ta trong quá trình hội nhập nhưng cũng đặt ra những thách thức mới trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong công tác tuyên truyền Những sự kiện chính trị, kinh tế, an ninh, thiên tai v.v xảy ra trên thế giới đều tác động nhanh chóng đến tư tưởng nhân dân và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta Công tác tuyên truyền phải làm thế nào đảm bảo giữ đúng định hướng của Đảng, truyền bá chủ trương, đường lối của Đảng, góp phần chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, chủ quyền quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế là những vấn đề lớn và phức tạp về lý luận và thực tiễn hiện nay
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, không những làm cho cách mạng nước ta mất đi những đồng minh chiến lược quan trọng mà còn tác động tiêu cực đến tư tưởng của một bộ phận đảng viên và quần
Trang 3chúng nhân dân Các thế lực thù địch ở nước ngoài cấu kết với bọn cơ hội chính trị ở trong nước ráo riết hoạt động, phát tán tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm sai trái hòng phản bác những vấn đề lý luận cơ bản của cách mạng Việt Nam Chúng phủ định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc, vu cáo lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo cấp cao Chúng đầu tư tiền của, vật chất, dùng lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, đồng thời tập trung phát triển lực lượng, phương tiện ở trong nước chống phá cách mạng Việt Nam Chúng thực hiện mưu đồ, tạo ra sự “tự diễn biến”,
“tự chuyển hoá”, sự chống đối từ trong Đảng và trong nội bộ nhân dân, từng bước làm cho nhân tố bên trong phát triển thành lực lượng chính trị đối lập mạnh kết hợp với yếu tố bên ngoài làm sụp đổ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Vì thế, đổi mới công tác tuyên truyền là yêu cầu tất yếu của công tác tư tưởng, văn hoá trong tình hình hiện nay
Tình trạng quan liêu, tham nhũng, thoái hoá, biến chất trong bộ máy cán bộ lãnh đạo các cấp đã tác động tiêu cực đến tư tưởng đảng viên và nhân dân, làm giảm sút niềm tin vào Đảng Những tác động từ tư tưởng chính trị và thực tiễn của các nước trên thế giới ảnh hưởng rất lớn đến đường lối lãnh đạo của Đảng ta Chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển, trong đó có những thể chế chính trị đang thể hiện ưu thế, kinh tế phát triển, xã hội ổn định Thực tế đó tác động đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân dẫn đến những liên tưởng, so sánh, những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao hơn đối với sự lãnh đạo của Đảng Thực tế đang đặt ra cho công tác tuyên truyền yêu cầu mới, đó là: sự thuyết phục không phải chỉ bằng lý thuyết suông mà phải bằng thực tiễn Nếu như trước kia, chỉ cần coi trọng một mặt “Đảng nói, dân tin”, thì bây giờ phải chú trọng hơn đến mặt thứ hai
“Đảng làm, dân theo”
Công tác tuyên truyền của Đảng trong thời gian qua, bên cạnh những thành tựu cơ bản, đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém Nội dung tuyên truyền còn thiếu sức thuyết phục, định hướng thông tin chậm Thông tin không chính thống, thông tin xấu lan tràn nhanh và rộng trong xã hội Nhiều đảng viên thiếu gương mẫu, nói không đi đôi với làm Niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng giảm sút Thậm chí đã xuất hiện tình trạng, nhiều người làm công tác tuyên truyền cũng thiếu niềm tin vào chính những điều mà họ
Trang 4tuyên truyền Nếu công tác tuyên truyền của Đảng không đổi mới, những yếu kém trong công tác tuyên truyền không được khắc phục, thì niềm tin vào Đảng, vào chế độ sẽ ngày càng giảm sút, đe doạ sự lãnh đạo của Đảng Thực tế đó đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền, củng cố và tăng cường niềm tin chính trị trong nhân dân, giữ vững vai trò duy nhất lãnh đạo cách mạng, đảm bảo giành thắng lợi trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đổi mới công tác tuyên truyền còn là yêu cầu của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Từ những bài học kinh nghiệm trong lịch sử, hơn bao giờ hết, Đảng ta cần coi trọng đổi mới công tác tuyên truyền nhằm khơi dậy và phát triển chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng cách mạng, tinh thần độc lập và tự chủ của chúng ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế; xem đây là động lực to lớn cho hội nhập, và ở đây, công tác tuyên truyền của Đảng phải đứng ở tuyến đầu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác tuyên truyền là một trong ba bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng của Đảng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học với những quy mô và cấp
độ khác nhau Sau đây là một số công trình:
Năm 1999, Vụ Tổng hợp kinh tế Bộ Ngoại giao biên soạn cuốn sách Toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế của Việt Nam và Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản Cuốn
sách cung cấp những thông tin về xu thế, thời cơ và thách thức của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế; kinh nghiệm của các nước đang phát triển và những giải pháp cho tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam
Năm 2002, cuốn sách Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư
tưởng do PGS Hà Học Hợi chủ biên, được Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản
Cuốn sách hình thành trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp nhà nước
“Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng” mã số KHXH 05-02, trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư
Trang 5tưởng, dự báo tình hình tư tưởng xã hội của nước ta đến năm 2020, đề xuất nội dung, giải pháp cơ bản và một số nhiệm vụ trước mắt của công tác tư tưởng
Năm 2003, Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn tập bài giảng Nguyên lý tuyên truyền
nêu khái quát những vấn đề chung về công tác tuyên truyền, đặc biệt đề cập đến những quan điểm có tính nguyên tắc đổi mới công tác tuyên truyền và phương hướng cơ bản đổi mới công tác tuyên truyền hiện nay
Năm 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Đổi mới và phát triển ở
Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (Mã số: ĐTĐL-2003/18) do GS,TS
Nguyễn Phú Trọng làm chủ nhiệm, đã tổng kết thực tiễn một số lĩnh vực chủ yếu qua hai mươi năm đổi mới, làm rõ những thành tựu và hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm góp phần làm sáng tỏ hơn và bổ sung phát triển đường lối đổi mới ở Việt Nam Về vấn
đề nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đề tài khẳng định, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng
Năm 2003, Đề tài khoa học (Mã số ĐTĐL 2003-17) “Nghiên cứu, phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới” do TS Nguyễn Hồng Vinh làm chủ nhiệm, đã đánh giá tình hình, nêu
phương hướng, nhiệm vụ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm 2004, Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương biên soạn cuốn sách “Những vấn
đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta” trình bày quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Năm 2006, cuốn sách Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh
của TS Hoàng Quốc Bảo, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản, nghiên cứu nguồn gốc, những đặc trưng cơ bản của phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh, thực trạng phương pháp tuyên truyền của đội ngũ cán bộ tư tưởng và đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả tuyên truyền theo phương pháp tuyên truyền cách mạng
Hồ Chí Minh
Trang 6Năm 2008, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn cuốn sách Nguyên lý công tác tư tưởng (tập I và II) do
PGS,TS Lương Khắc Hiếu chủ biên, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản Cuốn sách là kết quả nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy của tập thể giảng viên Khoa Tuyên truyền và các nhà khoa học, giới thiệu những vấn đề chung nhất như đối tượng, bản chất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp …của công tác tư tưởng, trong đó có công tác tuyên truyền
Tháng 10 năm 2008, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức hội thảo khoa học - thực tiễn về chủ đề “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay” và xuất bản kỷ yếu tập hợp 49 bài tham luận của các nhà khoa học, nhà quản lý lãnh đạo Các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh của công tác tư tưởng cả về lý luận và thực tiễn, chỉ ra những kết quả, hạn chế và đề xuất những giải pháp sắc sảo, khả thi Đáng chú ý, có một số bài nghiên cứu chuyên sâu về công tác tuyên truyền, như bài “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền trong giai đoạn mới” của TS Bùi Thế Đức; bài “Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động công nhân, lao động trong điều kiện hiện nay: thực trạng và giải pháp” của TS Dương Văn Sao; bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin đối ngoại trong giai đoạn hiện nay: thực trạng, vấn đề và giải pháp” của PGS,TS Phạm Văn Linh; bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác báo chí truyền thông hiện nay: thực trạng và giải pháp” của PGS,TS Đinh Văn Hưởng; bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay: thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Quang Khải v.v
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đây đã đề cập đến công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam dưới những góc độ khác nhau và đề cập đến quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam Khái quát lại, chúng ta cũng đã có những quan điểm cơ bản về nguyên lý công tác tuyên truyền, yêu cầu, nội dung, phương thức công tác tuyên truyền của Đảng và những vấn đề cơ bản về hội nhập, như: thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn và lộ trình hội nhập Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học chính trị, có thể nói chưa có
đề tài khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về công tác tuyên truyền của Đảng, đặc biệt là vấn đề đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt
Trang 7Nam hiện nay Về hội nhập quốc tế, cũng chưa có tài liệu nào nghiên cứu chuyên sâu những tác động của hội nhập đối với công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, xác định những yêu cầu mới đặt ra cho công tác tuyên truyền trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
* Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ thêm một số phạm trù và khái niệm công tác tuyên truyền của Đảng và bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
- Làm rõ thực trạng và yêu cầu mới đặt ra cho công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
- Xác định một số phương hướng, giải pháp và kiến nghị đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
- Công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian, luận văn xác định tập trung nghiên cứu công tác tuyên truyền của Đảng ta từ Đại hội IX (năm 2001) đến nay, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Về công tác tuyên truyền, vấn đề được nghiên cứu dưới góc độ một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng với tính cách là một chức năng và nhiệm vụ của Đảng cầm quyền, lãnh đạo thực hiện quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng, những yêu cầu mới trong bối cảnh hội nhập quốc
tế đặt ra cho công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 8- Xác định những nội dung và phương pháp đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận
Vấn đề đổi mới công tác tuyên truyền trong luận văn này được nghiên cứu trên cơ
sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Chính trị học hiện đại
* Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp của Chính trị học và một số khoa học chính trị, khoa học xã hội
có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1 một số vấn đề lý luận về công tác tuyên truyền của đảng cộng sản việt nam Hiện NAY
1.1 Công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam Hiện NAY
1.1.1 Khái niệm tuyên truyền và công tác tuyên truyền
1.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền
Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền đã được nhà thờ La Mã sử dụng từ gần 400 năm về trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo với mục đích thuyết phục, lôi kéo những người khác tin và đi theo đạo Ki-tô Về sau, thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng một cách rộng rãi, để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định
Tiếng La tinh (Prapaganda) tuyên truyền là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào Trong Từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa:
Trang 9rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật v.v nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là tuyên truyền tư tưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành trong đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ
vũ tính tích cực xã hội của con người
Hán - Việt Tự điển giải thích: “Tuyên” có nghĩa là tản khắp mọi nơi; “Truyền” có
nghĩa là đem của người này mà trao cho kẻ kia [35, tr.39-172] Từ điển chính trị cho rằng
“Tuyên truyền là giải thích phổ biến một tư tưởng, một học thuyết, lý luận chính trị nào
đó” [27] Theo Đại từ điển tiếng Việt “Tuyên truyền là giải thớch rộng rói để thuyết phục,
vận động mọi người læm theo”[81] Theo Hồ Chí Minh “Tuyên truyền là đem một việc
gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân làm”[62, tr.162] Khi nghiên cứu về tuyên truyền, tác giả Hoàng Quốc Bảo đưa ra khái niệm:
Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống…thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ và tính tính cực của con người trong thực tiễn xã hội [29, tr.15]
Từ những cách lý giải về thuật ngữ tuyên truyền như trên cho thấy khái niệm tuyên truyền có những đặc điểm chung sau đây:
(1) Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tư tưởng, một chủ trương hay một vấn
đề nào đó của chủ thể tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền
(2) Tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền để củng cố hoặc làm thay đổi nhận thức của đối tượng tuyên truyền, qua đó xây dựng thế giới quan nhất định ở đối tượng tuyên truyền phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền
(3) Tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích, cổ vũ đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích của chủ thể tuyên truyền
Từ những lý giải trên, xin đưa ra khái niệm tuyên truyền như sau:
Trang 10Tuyên truyền là phổ biến, giải thích một tư tưởng, một chủ trương, một quan điểm, một vấn đề nào đó nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền, hình thành một thế giới quan, nhân sinh quan và cổ vũ tính tích cực của họ để đạt được mục đích của chủ thể tuyên truyền
Tuyên truyền có thể phân chia thành nhiều loại Trên bình diện hệ tư tưởng mà nó truyền bá thì có tuyên truyền vô sản, tuyên truyền tư sản v.v ở góc độ hẹp, theo nội dung
mà nó truyền tải thì có tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền chính trị, tuyên truyền an ninh, quốc phòng, tuyên truyền văn hoá v.v Hoặc xét theo phương thức tác động thì có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền thông qua văn học, nghệ thuật v.v Nếu phân loại theo phạm vi hoạt động thì có tuyên truyền đối nội, tuyên truyền đối ngoại v.v Tuyên truyền trong bối cảnh hội nhập quốc tế cần chú ý tâm lý đối tượng và xu thế tự do tư tưởng
1.1.1.2 Khái niệm công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người và là một hoạt động xã hội đặc biệt Tính đặc biệt của nó thể hiện ở chỗ, cả chủ thể và đối tượng đều là con người; đối tượng tác động của nó là ý thức con người và rộng hơn là ý thức xã hội Hoạt động tuyên truyền là hoạt động của con người tác động đến con người Chỉ có con người mới có nhu cầu trao đổi tư tưởng, văn hoá và cũng chỉ có con người mới có khả năng trao truyền cho nhau tư tưởng, văn hoá Tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, tác động vào mối quan hệ xã hội và diễn ra trong điều kiện xã hội nhất định Hiệu quả tuyên truyền cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường - xã hội Tuyên truyền phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi càng phải truyền bá sâu rộng hệ tư tưởng của giai cấp thống trị nhằm giác ngộ, động viên mọi người tích cực tham gia xây dựng xã hội, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị Mặt khác, khi xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm cho hoạt động tuyên truyền phát triển phong phú hơn Từ xa xưa, khi ngôn ngữ, phương tiện truyền thông sơ khai nhất ra đời cho đến khi có các phương tiện truyền thông như máy tính, internet, vệ tinh nhân tạo, cáp quang v.v thì tuyên truyền đã giúp cho con người tiếp cận được nguồn thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, thuận
Trang 11tiện Điều đó đã góp phần thúc đẩy xã hội phát triển với một tốc độ nhanh gấp nhiều lần
so với trước đây
Cuốn Nguyên lý công tác tư tưởng đã nêu khái niệm công tác tuyên truyền như
sau:
Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [47, tr.31]
Vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền thể hiện ở chỗ, nó truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến; khơi dậy tính sáng tạo cách mạng của quần chúng; cổ vũ, động viên quần chúng tham gia
sự nghiệp cách mạng, góp phần tổ chức các phong trào cách mạng; chuẩn bị tiền đề tư tưởng, lý luận và con người cho các cuộc cách mạng Vì vậy, công tác tuyên truyền trở thành một công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của bất kỳ giai cấp và tổ chức cách mạng nào Các Mác viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [59, tr.580] Vai trò của công tác tuyên truyền chính là làm cho “lý luận thâm nhập vào quần chúng” để qua đó “trở thành lực lượng vật chất” [47, tr.33]
1.1.2 Công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau nhiều năm tìm đường cứu nước, Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân Người khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận về con đường giải phóng dân tộc và xem đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng cho chúng ta Từ đó, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị tiền đề, điều kiện lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam Người trực tiếp tổ chức và mở các lớp huấn luyện thanh niên Việt Nam tại Quảng Châu
Trang 12(Trung Quốc), tuyên truyền, giác ngộ về chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường cứu nước của cách mạng Việt Nam Những thanh niên được Người huấn luyện trở về nước đã tích cực tuyên truyền trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động, hướng dẫn họ tổ chức đấu tranh Hình thức tuyên truyền trong giai đoạn ấy là thông qua tài liệu, báo chí, bằng
cả hai con đường công khai và bí mật, nhưng chủ yếu là thông qua hình thức tuyên truyền miệng trực tiếp đến các cơ sở và mọi người dân
Ngày 3-2-1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Từ đây, cách mạng Việt Nam đã
có Đảng lãnh đạo và công tác tuyên truyền cũng có bước phát triển về chất Đảng đã thành lập Ban Tuyên truyền cổ động để chỉ đạo công tác tuyên truyền Hoạt động tuyên truyền được công khai, rộng rãi hơn, vận động các tầng lớp nhân dân đi theo Đảng, đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám, giành độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Bước vào xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, Bộ Tuyên truyền và các cơ quan báo chí của Đảng và các đoàn thể được thành lập Công tác tuyên truyền hướng vào phổ biến chủ trương, chính sách mới của Đảng, vừa kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa kiến quốc Công tác tuyên truyền đã góp phần quan trọng khơi dậy lòng yêu nước, truyền thống đánh giặc kiên cường, động viên nhân dân vượt qua gian khổ, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ và giành được thắng lợi vĩ đại Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác tuyên truyền càng được phát triển, cổ vũ nhân dân ta đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Sau ngày đất nước thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, công tác tuyên truyền bước sang một thời
kỳ mới Tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền được củng cố, kiện toàn thống nhất trong cả nước, có mạng lưới rộng khắp đến cơ sở Nội dung công tác tuyên truyền tập trung cho nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Gần đây, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá X), tháng 8-2007, đã ban hành Nghị
quyết số 16-NQ/TW về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới Nghị
quyết là sự chỉ đạo, định hướng công tác tư tưởng trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, trong đó có công tác tuyên truyền
Trang 131.1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam
a Chức năng của công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền có những chức năng sau:
Trước hết, chức năng thông tin là chức năng cơ bản, đầu tiên của công tác tuyên
truyền Tuyên truyền đem lại thông tin mới cho đối tượng nhằm thực hiện mục đích là nâng cao nhận thức của đối tượng về mọi mặt của đời sống xã hội, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thông tin thời sự trong nước và quốc tế
Thứ hai, chức năng giáo dục tư tưởng là chức năng hết sức quan trọng của công
tác tuyên truyền Tuyên truyền thực hiện nhiệm vụ truyền bá, giáo dục hệ tư tưởng; đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ chính trị của đất nước và địa phương Chức năng giáo dục tư tưởng của công tác tuyên truyền thực hiện qua việc giáo dục lý luận và hình thành tư duy lý luận; giáo dục chính trị tư tưởng và hình thành văn hoá chính trị; giáo dục thế giới quan và hình thành thế giới quan khoa học; giáo dục lao động và hình thành thái độ lao động mới; giáo dục kinh tế, hình thành văn hoá kinh tế; giáo dục đạo đức và lối sống mới; giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng và hình thành khả năng “miễn dịch” của nhân dân đối với ảnh hưởng của hệ tư tưởng thù địch và “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
Thứ ba, chức năng tổ chức, cổ vũ và hành động là chức năng góp phần vận động,
thuyết phục quần chúng, tập hợp, tổ chức họ tham gia vào xây dựng và bảo vệ chế độ Hướng dẫn tập hợp quần chúng tham gia vào các quá trình tư tưởng, tham gia vào giải quyết nhiệm vụ chính trị, tham gia ủng hộ cái mới, tiến bộ, phê phán cái tiêu cực, lạc hậu trong đời sống xã hội Cổ vũ khích lệ quần chúng sáng tạo, tích cực, chủ động tham gia các phong trào thi đua, tham gia các cuộc vận động cách mạng rộng lớn hoặc một hình thức tập hợp nào đó nhằm thực hiện những nhiệm vụ chính trị đặt ra
Thứ tư, chức năng phê phán là phê phán triệt để, với thái độ khách quan mọi biểu
hiện của chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại và trào lưu tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng Mác-Lênin Đấu tranh không khoan nhượng với các học thuyết tư sản, các luận điệu ca
Trang 14ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, bôi nhọ, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực, phủ nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với xã hội Phê phán những tư tưởng và hành vi lỗi thời, lạc hậu trong xã hội, không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay Tích cực đấu tranh với biểu hiện tiêu cực trong xã hội, những biểu hiện lệch lạc, trái với quan điểm, đường lối của Đảng Kiên quyết đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
Các chức năng của công tác tuyên truyền đều quan trọng Mỗi chức năng giữ một vai trò riêng trong quá trình tuyên truyền Khi tiến hành tuyên truyền, không thể coi nhẹ chức năng nào để tránh phiến diện dẫn đến hiệu quả công tác tuyên truyền kém
b Nhiệm vụ của công tác tuyên truyền
Công tác tuyên truyền có các nhiệm vụ sau:
Truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những tinh hoa văn hoá tư tưởng của dân tộc và nhân loại nhằm nâng cao nhận thức và góp phần hình thành nhân sinh quan, thế giới quan Mác-Lênin trong toàn xã hội Lênin chỉ rõ nhiệm vụ của công tác tuyên truyền và cổ động là làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa và ý thức chính trị thấm sâu và quần chúng vô sản
Giải thích quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức và củng cố niềm tin chính trị trong nhân dân Giáo dục mọi người hiểu rõ nhiệm vụ chính trị của đất nước, của địa phương và quyết tâm thực hiện tốt các nhiệm vụ ấy
Hướng dẫn, cổ vũ quần chúng tích cực thực hiện chủ trương, đường lối, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Phát hiện, cổ vũ những điển hình tiên tiến và đồng thời dự báo sớm những hiện tượng, khuynh hướng xấu, lạc hậu từ khi chúng còn phôi thai
Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng trái với chủ nghĩa Lênin, đường lối, chính sách của Đảng; các luận điệu phản tuyên truyền của các thế lực thù địch; đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực xã hội
Mác-1.2 Hội nhập quốc tế và tác động của nó đối với công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam Hiện NAY
Trang 151.2.1 Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
1.2.1.1 Khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế
Thời kỳ đầu, hội nhập kinh tế quốc tế thường được hiểu theo nghĩa hẹp là việc nước ta thiết lập quan hệ thương mại với một số nước hoặc là thành viên của một số thể chế kinh tế quốc tế Hiện nay, khái niệm này đã được nghiên cứu, phát triển đầy đủ toàn
diện hơn Trong cuốn Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực
tiễn nêu: hội nhập kinh tế quốc tế là một phạm trù có nội dung toàn diện, sâu sắc Đó là
quá trình không chỉ nói đến việc hợp tác với nước ngoài mà còn bao gồm cả quá trình chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng hiện đại, xây dựng nền kinh tế
có chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao; giải phóng mọi sức sản xuất; từng bước tự
do hoá các hoạt động kinh tế, tháo gỡ những trói buộc và cản trở đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế dựa trên nguyên tắc và thể chế của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở cửa thị trường, giảm và tiến tới xoá
bỏ những quy định về bảo hộ; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động ở nước ta; đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - thương mại - tài chính giữa nước ta và các quốc gia trên thế giới
1.2.1.2 Khái niệm hội nhập quốc tế
Trong một số văn kiện Đảng đã dùng cụm từ hội nhập quốc tế nhưng còn chưa được nghiên cứu nhiều Các phương tiện thông tin đại chúng ở nước ta thường dùng khái niệm “hội nhập quốc tế” để nói đến sự hợp tác của Việt Nam với các nước khác không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà còn mở rộng ra lĩnh vực khác, như chính trị, văn hoá, giáo dục v.v Đến nay, hội nhập quốc tế được hiểu là quá trình tham gia của chủ thể vào những sự kiện chung của đời sống quốc tế với những chính kiến riêng của mình, nhằm mục đích tranh thủ những cơ hội thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên, hội nhập không phải là “hoà tan”, mà là sự tham gia vào đời sống quốc tế trên cơ
sở giữ gìn bản sắc, bản lĩnh dân tộc, độc lập, chủ quyền quốc gia Hội nhập quốc tế của Việt Nam còn có đặc điểm riêng, đó là hội nhập vào nền kinh tế thế giới, mà hiện nay chủ yếu là nền kinh tế tư bản, nhưng vẫn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa
1.2.1.3 Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
Trang 16a Đường lối hội nhập của Đảng và Nhà nước ta
Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, cùng với nhiệm vụ củng
cố xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng và kiến thiết đất nước, Nhà nước ta đã có chủ trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc, tháng 12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu:
Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; b Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; c Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc [60, tr.470]
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do chiến tranh kéo dài và chính sách bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, do đó, ta chủ yếu tham gia thể chế liên kết hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa như tham gia Hội đồng Tương trợ Kinh tế do Liên Xô chủ trì
Đến Đại hội VI của Đảng với đường lối đổi mới, tư duy của Đảng ta về vấn đề hội nhập quốc tế đã có bước đột phá Đảng chủ trương: “Tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế
và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các
tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi” [39, tr.81] Tuy nhiên, lúc này còn có tư tưởng ngần ngại, lo sợ những ảnh hưởng tiêu cực mà chưa thấy được toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan
Đại hội VII của Đảng đã bước đầu đưa ra những nhận định tình hình và định hướng chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đúng đắn Đảng đề ra chủ trương phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, gắn thị trường trong nước và xuất khẩu, mở rộng đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng
có lợi Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) xác định nhiệm vụ cố gắng khai thông quan
hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Tuy nhiên, ở thời kỳ này, chúng ta vẫn chưa coi toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan và chưa dùng khái niệm “hội nhập kinh
Trang 17tế quốc tế” Sau Đại hội VII của Đảng, xảy ra cuộc khủng khoảng kinh tế - tài chính ở khu vực Đông á làm cho nhiều người lo ngại về những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Nắm vững và nhận định đúng tình hình, Đảng và Nhà nước ta kiên định chủ trương mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Tháng 12-1997, Ban Chấp hành Trung ương ra nghị quyết về kinh tế đối ngoại, chỉ rõ phải tiếp tục đổi mới, phát huy tối
đa nhân lực, tăng cường hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế và nhấn mạnh, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ pháp luật và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định Thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO, đồng thời xây dựng kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA
Phải đến Đại hội IX của Đảng (năm 2001), nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế
mới rõ hơn, đầy đủ hơn Đảng ta nhận định, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách
quan và đề ra chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Vấn đề lúc này
không phải là có hội nhập kinh tế quốc tế hay không mà là làm thế nào để tận dụng được
cơ hội và vượt qua thách thức, tranh thủ tốt nhất các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết đại hội IX
của Đảng, tháng 11-2001 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 07 về hội nhập kinh tế quốc tế Đây
là nghị quyết quan trọng nêu rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Ngày 14-3-2002 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 07/NQ-TW ngày 27- 1- 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc
tế Đến Nghị quyết Trung ương 9 (khoá IX) tháng 1-2004, Đảng ta chỉ rõ, chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương mà nước ta đã ký và chuẩn bị tốt các điều kiện để sớm gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO)
Đại hội X của Đảng bổ sung thêm cụm từ “tích cực”, thể hiện nhận thức sâu sắc hơn của Đảng đối với vấn đề hội nhập quốc tế đã nêu ở Đại hội IX: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” Nghị quyết đã đề cập đến “Mở rộng hợp tác quốc tế trên
Trang 18các lĩnh vực khác”, “Củng cố và phát triển quan hệ hợp tác song phương và tin cậy với các đối tác chiến lược” [40, tr.113-114] Như vậy, Việt Nam không chỉ hội nhập quốc tế
về kinh tế, mà còn mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác Tuy nhiên, khái niệm “hội nhập kinh tế quốc tế” được sử dụng rộng rãi, còn khái niệm “hội nhập quốc tế” vẫn sử dụng một cách “dè dặt” Đến các hội nghị Trung ương khoá X, nhất là từ hội nghị lần 7, khái niệm “hội nhập quốc tế” được sử dụng thường xuyên hơn
Như vậy, tính từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới, vấn đề hội nhập quốc tế được đặt ra, qua 20 năm với 4 kỳ Đại hội, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ hơn, rõ nét hơn
về đường lối hội nhập quốc tế Từ chỗ chỉ đề cập đến hội nhập kinh tế, Đảng ta đã chỉ ra:
Hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới và hội nhập quốc tế, với ý nghĩa
là tham gia vào những sự kiện chung của đời sống quốc tế trên tất cả các lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, quân sự v.v Hội nhập quốc tế là một bước phát triển mới về tư duy của Đảng ta so với hội nhập kinh tế quốc tế
Dự báo trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được khẳng định rõ hơn và sẽ có những bước phát triển mới
b Khái quát về quá trình và kết quả hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian qua
* Trên lĩnh vực kinh tế
Từ những chủ trương trên, quá trình hội nhập ở nước ta đã được triển khai tích cực
và ngày càng sâu rộng Nước ta đã mở rộng quan hệ thương mại với nhiều nước khác và
là thành viên của một số thể chế quốc tế Nội dung hợp tác ngày càng phong phú, đa dạng
và ảnh hưởng mạnh mẽ tới nhau, có thể tóm lược về cơ bản như sau:
Ngày 28-6-1995, Việt Nam tham gia vào Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và bắt đầu thực hiện từng bước các cam kết nhằm xây dựng Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) Đến tháng 3-1996, Việt Nam đã tham gia và trở thành sáng lập viên của Diễn đàn Hợp tác á - âu (ASEM) Diễn đàn này gồm 25 nước thành viên, trong đó có 10 nước châu á và 15 nước châu Âu, với mục đích tăng cường đối thoại và hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, chính trị và ngoại giao
Trang 19Tháng 11-1998, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC) - diễn đàn gồm 21 nền kinh tế thuộc vùng châu á - Thái Bình Dương Trong khuôn khổ hợp tác tại Diễn đàn này, nhiều nội dung cụ thể thực hiện thuận lợi hoá thương mại giữa các thành viên theo Chương trình Hành động Tập thể (CAP), Chương trình Hành động quốc gia (IAP) và Tự do hoá tự nguyện sớm (EVSL) đã được nước ta nghiên cứu, tham gia
Từ sau năm 1992, Việt Nam khôi phục quan hệ bình thường với các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng phát triển châu á (ADB) Chúng ta đã tiến hành đàm phán Chương trình Điều chỉnh cơ cấu giai đoạn II (SAC II) của WB và chương trình Điều chỉnh cơ cấu mở rộng (ESAF) của IMP cho thời kỳ 1999-2002 Điều kiện của các tổ chức tài chính đưa ra đối với Việt Nam bao gồm các nội dung chính là xoá bỏ và thực hiện thuế hoá các biện pháp phi thuế
và mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước Trong khuôn khổ tín dụng từ Quỹ Miyazawa, Chính phủ Nhật đã dành cho Việt Nam khoản tín dụng 20 tỷ yên (khoảng 160 triệu USD) để hỗ trợ các chương trình cải cách kinh tế
Đến tháng 12-1994, Việt Nam đã chính thức gửi đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và tiến hành các cuộc đàm phán đầy khó khăn, phức tạp trước khi trở thành thành viên của tổ chức này Quan hệ song phương, đàm phán ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là một nội dung lớn trong quá trình gia nhập WTO Việt Nam đã tiến hành 9 phiên đàm phán với phía Hoa Kỳ và đã ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ ngày 13-7-2000, có hiệu lực từ ngày 10-12-2001
Với việc thực hiện AFTA từ ngày 1-1-2006, lần đầu tiên nước ta thực sự tham gia một Hiệp định tự do hoá thương mại quốc tế, tuy còn ở tầm khu vực Ta đã bình thường hoá và thiết lập được quan hệ thương mại với tất cả các đối tác kinh tế lớn, nhất là các cường quốc, các trung tâm kinh tế và các thể chế tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền
tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu á (ADB)
Ngày 7-11-2006, tại trụ sở của Đại hội đồng tại Geneva, Thuỵ Sĩ, WTO đã chính thức kết nạp Việt Nam là thành viên thứ 150, bắt đầu từ thời điểm 11-1-2007, sau 11 năm
Trang 20tiến hành đàm phán Các cam kết WTO của Việt Nam tương tự các cam kết của các nước mới gia nhập khác, nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa hàng nội địa và nhập khẩu hoặc giữa đầu tư trong và ngoài nước và minh bạch hoá Các lĩnh vực quan trọng nhất mà Việt Nam đã cam kết gồm: mở cửa thị trường thông qua cắt giảm các hàng rào thuế quan; chính sách giá cả minh bạch, không phân biệt đối xử và phù hợp với các quy định của WTO; giảm hoặc điều chỉnh lại thuế xuất khẩu đối với một số hàng hoá; không áp dụng trợ cấp xuất khẩu đối với nông sản từ thời điểm gia nhập; duy trì hỗ trợ nông nghiệp ở trong nước ở mức không quá 10% giá trị sản lượng; bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp công nghiệp bị cấm từ thời điểm gia nhập; các ưu đãi đầu tư đã cấp trước ngày gia nhập WTO sẽ được bảo lưu trong 5 năm; tuân thủ Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại của WTO; tuân thủ Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan của WTO ngay từ khi gia nhập; tuân thủ Hiệp định về kiểm tra trước khi giao hàng cũng như các hiệp định có liên quan khác của WTO; duy trì hệ thống hải quan thống nhất minh bạch, đơn giản và phù hợp với chuẩn mực quốc tế; các doanh nghiệp nhà nước sẽ hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại; nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp; chấp nhận điều khoản về nền kinh tế phi thị trường trong thời gian tối đa
là 12 năm; tham gia vào một số Hiệp định tự do hoá theo ngành; cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ kế toán, kiểm toán, dịch vụ thuế [32, tr.2]
Gia nhập WTO, đất nước ta đứng trước những cơ hội lớn Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã chỉ ra những cơ hội sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới Việt Nam có điều kiện thuận lợi để mở rộng xuất khẩu vào thị trường 149 nước thành viên WTO và các nước sẽ
là thành viên tiếp sau với tư cách là một đối tác bình đẳng, không bị phân biệt đối xử và theo mức thuế mà các thành viên đã cam kết Đây là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ, tạo thêm việc làm, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế nước ta Việt Nam thực hiện cam kết WTO sẽ thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng hoàn thiện Môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của
Trang 21các thành phần kinh tế, các nhà đầu tư trong và ngoài nước Các doanh nghiệp Việt Nam
có nhiều cơ hội đầu tư ra nước ngoài sẽ đóng góp tích cực hơn vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Gia nhập WTO sẽ thúc đẩy kinh tế nước ta phát triển, chính sách kinh tế và cơ chế quản lý công khai, minh bạch hơn Môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, khơi dậy mạnh mẽ những tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của nhân dân Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sẽ hiệu quả hơn, do đó tăng trưởng kinh tế sẽ nhanh và bền vững hơn Việt Nam có địa vị bình đẳng với các thành viên khác khi tham gia hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn Trong các cuộc tranh chấp thương mại với các thành viên khác, ta có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ quyền lợi doanh nghiệp, hạn chế những thiệt hại Chúng ta
có thêm những thuận lợi mới để thực hiện đường lối đối ngoại: “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” Tiếp tục phát huy và nâng cao vai trò của nước ta trong các tổ chức khu vực và quốc tế, mở rộng quan hệ đối tác bình đẳng với các nước trên thế giới
Gia nhập WTO, Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn Chúng ta phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng mạnh hơn trên cả 3 cấp độ: sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa quốc gia với quốc gia Tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá kinh tế có thể làm tăng thêm sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng miền của đất nước Có thể có những bộ phận dân cư ít được hưởng lợi, thậm chí còn bị tác động tiêu cực Khoảng cách giàu - nghèo, mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các giai tầng có thể doãng ra hơn Một bộ phận doanh nghiệp có thể bị phá sản và thất nghiệp sẽ tăng lên Từ đó có thể dẫn tới những yếu tố gây bất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước Những biến động của thị trường tài chính tiền tệ, thị trường hàng hoá quốc tế sẽ tác động nhanh hơn, mạnh hơn đến thị trường trong nước, tiềm ẩn nguy cơ không kiểm soát được thị trường, có thể gây rối loạn, thậm chí khủng hoảng kinh tế, tài chính, ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định và phát triển bền vững của đất nước Đội ngũ, cán bộ, công nhân, viên chức
và lao động, chuyên gia trong các lĩnh vực còn thiếu và yếu cả về năng lực chuyên môn, tin học, ngoại ngữ Đặc biệt, chúng ta còn thiếu đội ngũ luật sư giỏi, thông thạo luật pháp
Trang 22quốc tế và ngoại ngữ để giải quyết các tranh chấp thương mại và tư vấn cho các doanh nghiệp trong kinh doanh Lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ lớn Số lao động có trình độ chuyên môn và tay nghề cao còn thiếu nhiều Bên cạnh những thách thức trong lĩnh vực kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra những thách thức lớn đối với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái cho sự phát triển bền vững của đất nước
Thực tiễn sau 2 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), chúng ta đạt được những kết quả nhất định
Nước ta đã thực thi đầy đủ và nghiêm túc các cam kết gia nhập WTO, bao gồm
mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ, tuân thủ các quy định chung trong WTO Về thương mại hàng hoá, cắt giảm thuế liên quan đến hàng dệt may, xi măng, nông thổ sản, rau quả tươi, cà phê, hàng tiêu dùng, thiết bị xây dựng Về thương mại dịch vụ, mở cửa thị trường, nhất là đối với dịch vụ tài chính - ngân hàng đã cấp phép thành lập một số công ty tài chính và ngân hàng 100% vốn nước ngoài Xây dựng và hoàn chỉnh nhiều văn bản pháp quy quan trọng như Luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn thực thi các cam kết gia nhập WTO, qua đó cải thiện và tăng tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam Bước đầu chủ động tham gia các hoạt động chung trong WTO và đàm phán tại vòng Đôha trên các lĩnh vực
có lợi ích thiết thực như nông nghiệp, công nghiệp, cải cách các quy định trong WTO (chống bán phá giá, trợ cấp các biện pháp tự vệ) Hoạt động tích cực trong các nhóm truyền thống như APEC, ASEAN Chủ động tham gia Nhóm các thành viên mới gia nhập (RAMS) để tăng cường vị thế đàm phán và phối hợp đấu tranh vì lợi ích của các thành viên mới
Gia nhập WTO tác động tích cực đối với nền kinh tế, đặc biệt về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xuất khẩu: “vốn đăng ký FDI đạt trên 20 tỷ USD năm 2007
và trên 60 tỷ USD trong năm 2008 Khu vực FDI đã và đang đóng góp tích cực hơn cho nền kinh tế Tỷ trọng của khu vực này trong GDP tăng từ 13,3% năm 2000 lên 17,1% năm 2006, 18,0% năm 2007, 19,2% năm 2008” [33] Sự bùng nổ FDI trong hai năm qua
Trang 23phản ánh niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào công cuộc đổi mới cũng như tiềm năng phát triển dài hạn của Việt Nam, nhờ đó Việt Nam được đánh giá là điểm hấp dẫn thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài Thị trường xuất khẩu được mở rộng đến 15 quốc gia
và vùng lãnh thổ, chứng tỏ năng lực sản xuất của nước ta đã đáp ứng các đơn đặt hàng của doanh nghiệp nước ngoài Đây là yếu tố góp phần quan trọng vào việc duy trì tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh khủng khoảng tài chính đang lan rộng trên thế giới
Về kinh tế đối ngoại và vị thế quốc tế của nước ta, cùng với việc trở thành Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, việc gia nhập WTO góp phần nâng cao đáng kể vị thế của nước ta trên trường quốc tế và khẳng định với thế giới về chính sách đối ngoại chủ động tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam Với tư cách là thành viên WTO, nước ta có điều kiện tham gia tích cực và tăng cường vai trò trong hệ thống thương mại đa phương, góp phần mở rộng các lợi ích của đất nước Nhiều đối tác kinh tế - thương mại chủ chốt trong đó Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada v.v ngày càng nhìn nhận Việt Nam như một đối tác giàu tiềm năng và quan trọng tại khu vực Đông Nam á Nước ta đã tận dụng các mối quan hệ mở rộng để đẩy mạnh triển khai liên kết kinh tế song phương và khu vực Ký và thực hiện Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA) với Nhật Bản, đang đàm phán Hiệp định Mậu dịch Tự do (FTA) với Chi-lê, Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ đầu tư song phương (FIPA) với Canada, Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA) với EU, dự kiến sẽ khởi động đàm phán Hiệp định Đầu tư song phương (BIT) với Mỹ
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế - thương mại với trên 200 nước và vùng lãnh thổ, nhận đầu tư từ hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ Tổng kim ngạch ngoại thương
đã vượt hơn rất nhiều so với tổng sản phẩm trong nước Chỉ tính từ tháng 1-2009 đến tháng 7-2009 đã có 385 dự án của 20 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng
số vốn 5428,9 triệu USD [75] Các doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta đã từng bước làm quen và tham gia thực sự vào cuộc cạnh tranh quốc tế, nhờ đó mà được rèn luyện và trưởng thành hơn Từ chỗ hầu như không có mặt hàng nào của ta có sức cạnh tranh quốc tế đến nay
đã có tới hơn 200 mặt hàng được thị trường quốc tế ưa chuộng Một số lĩnh vực, một số doanh nghiệp đã đầu tư sản xuất ở nước ngoài
Trang 24Đạt được kết quả nêu trên, nhưng chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức Nền kinh tế nước ta đang phải trải qua những biến động mạnh, phức tạp như lạm phát cao, nhập siêu lớn, hệ thống tài chính và các thị trường lao động, đất đai, chứng khoán bị xáo động mạnh Nếu như năm 2007, năm đầu tiên nước ta thực hiện gia nhập WTO với tinh thần phấn khởi thì bước sang năm 2008, đã bị tác động trực tiếp của khủng khoảng tài chính thế giới, giá cả tăng cao, sản xuất đình đốn Xuất khẩu năm 2008 vốn dự kiến tăng trưởng 34% nhưng tăng trưởng về giá đã chiếm 20% Năm 2008 vốn FDI dự kiến đạt 60 tỷ USD trong đó vốn thực hiện đạt 11 tỷ USD nhưng khả năng giải ngân thực chỉ đạt 8 tỷ USD Vấn đề đầu tư từ khối doanh nghiệp tư nhân đang có chiều hướng giảm sút, tỷ lệ thất nghiệp năm 2008 vào khoảng 5,1% Xu hướng người có trình độ bị thất nghiệp ngày càng tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn ra Tăng trưởng kinh tế GDP năm 2005 - 8,4%; năm 2006 - 8,2%; năm 2007 - 8,5%; năm 2008 - 6,2% [32, tr.14]
Việc gia nhập WTO và hội nhập kinh tế sâu và toàn diện cũng đặt ra những thách thức, khó khăn cho kinh tế đối ngoại Trong cam kết gia nhập WTO, Việt Nam phải chấp nhận thời hạn 12 năm trước khi được công nhận là nước có nền kinh tế thị trường đầy đủ Điều này tạo ra sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp và ngành kinh tế Việt Nam khi xảy ra các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ cấp do các đối tác nước ngoài khởi xướng về nguồn lực đàm phán và khả năng tranh thủ các lợi ích do hội nhập kinh tế quốc
tế mang lại thấp Nền kinh tế bộc lộ một số bất cập như: Khung pháp lý cần tiếp tục được
bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp các cam kết chung trong WTO và các chuẩn mực kinh tế thị trường; cơ cấu xuất nhập khẩu chậm chuyển dịch; sức cạnh tranh trên các cấp
độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp; kết cấu hạ tầng yếu kém; sự thiếu hụt
về nguồn nhân lực, đặc biệt là lao động có trình độ cao v.v Những vấn đề đó đang cản trở sự tăng trưởng kinh tế có chất lượng và phát triển bền vững của nước ta v.v
Trang 25tích cực tham gia mọi hoạt động của ASEAN, cùng các thành viên xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột: cộng đồng kinh tế, cộng đồng chính trị - an ninh, cộng đồng văn hoá - xã hội Hội nghị Cấp cao ASEAN 15 (tháng 10-2009) đã chính thức công bố Việt Nam đảm nhận cương vị Chủ tịch ASEAN từ 1-1-2010
Tháng 3-1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn Hợp tác á - âu (ASEM) không chỉ hợp tác trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, văn hoá, khoa học - kỹ thuật mà hợp tác cả trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao
Ngày 16-10-2007, Chủ tịch Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã công bố quyết định Việt Nam trở thành Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 Trong nhiệm kỳ này, Việt Nam đã 2 lần giữ cương vị Chủ tịch luân phiên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, tham gia với vị trí, vai trò quan trọng trong việc giải quyết xung đột, đảm bảo an ninh, gìn giữ hoà bình thế giới Sự kiện này góp phần nâng cao đáng kể vị thế chính trị của nước ta trên trường quốc tế và khẳng định với thế giới về chính sách đối ngoại chủ động tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam
* Trên lĩnh vực ngoại giao
Trên lĩnh vực ngoại giao, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng, với một số mốc lớn mang dấu ấn trong lịch sử ngoại giao Tháng 11-1991, khôi phục quan hệ bình thường với Trung Quốc Tháng 7-1995, ký Hiệp định khung về hợp tác với Cộng đồng châu Âu Tháng 7-1995, gia nhập ASEAN và bình thường hoá quan hệ với Mỹ Tháng 1-
2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO; trở thành Uỷ viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 v.v
Như vậy, Việt Nam đã tham gia hầu hết những tổ chức và diễn đàn quan trọng trên thế giới và xác định rõ đường lối ngoại giao với các nước trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển
* Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội
Quá trình hội nhập tác động rất rõ trên lĩnh vực văn hoá - xã hội Văn hoá thế giới tác động và du nhập vào xã hội Việt Nam, vào từng gia đình, từng đối tượng khá nhanh,
kể cả những giá trị văn hoá tiến bộ của nhân loại và những ảnh hưởng phi văn hoá
Trang 26Văn hoá của dân tộc ta cũng đang được phổ biến rộng rãi đến các quốc gia, các dân tộc trên thế giới Các hình thức giao lưu văn hoá được tổ chức ngày càng đa dạng, phong phú như tổ chức festival, du lịch, lễ hội, hội thi, liên hoan nghệ thuật, điện ảnh, sân khấu, hội thảo, triển lãm v.v Tuần lễ văn hoá của các nước Nga, Nhật, Hàn Quốc, Anh v.v được tổ chức thường xuyên tại Việt Nam Đặc biệt, Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Lễ hội văn hoá tôn giáo thế giới) được tổ chức tại Việt Nam năm 2008 với sự tham gia của hơn 2.000 người là đại biểu phật giáo, quan chức của 70 quốc gia đã góp phần quảng
bá hình ảnh đất nước, con người và văn hoá Việt Nam ra nước ngoài Việt Nam đã ký kết hợp tác giáo dục với nhiều quốc gia trên thế giới Chỉ riêng với Mỹ, tính đến năm 2007
đã có 15 chương trình, dự án lớn có liên quan đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo triển khai ở Việt Nam như “Chương trình khách tham quan quốc tế” (IVP), “Chương trình viết văn quốc tế” (IWP), “Chương trình Fulbright Việt Nam”, “Quỹ Ford”, “Quỹ giáo dục Việt Nam” v.v “Theo thống kê, từ năm 1992 đến năm 2007 có 226 người Việt Nam được Mỹ cấp học bổng Fulbright đào tạo sau đại học tại Mỹ” [5, tr.45]
Nhiều hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực y tế (phòng chống dịch bệnh, HIV/AIDS, chăm sóc sức khoẻ…), phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường v.v được triển khai Những công trình văn hoá vật thể và phi vật thể của Việt Nam được thế giới công nhận là di sản thế giới ngày càng nhiều, như: Cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế, Quan họ Bắc Ninh, Ca Trù, Vịnh Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn v.v Festival Huế được tổ chức thường kỳ 2 năm 1 lần, đã tổ chức lần thứ 5 vào năm 2008 thu hút sự tham gia của hàng chục quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới Năm 2009, Việt Nam được bầu là 1 trong 20 thành viên của Tổ chức UNESCO
Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực của hệ tư tưởng tư sản và các ảnh hưởng phản văn hoá, như: sự phai nhạt
lý tưởng xã hội chủ nghĩa; niềm tin vào Đảng và chế độ giảm sút; lối sống thực dụng, cá nhân, bạo lực; ấn phẩm đồi truỵ xâm nhập, tràn lan v.v
* Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh
Trang 27Đây là lĩnh vực khó nhận biết, vì là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan chặt chẽ đến chủ quyền an ninh quốc gia Hiểu theo nghĩa rộng, tức là bao gồm cả an ninh phi truyền thống như: phòng chống và giảm nhẹ các thảm hoạ thiên tai, chống tội phạm xuyên quốc gia, chống di dân bất hợp pháp v.v thì nước ta có bước hội nhập đáng kể Về quốc phòng, chúng ta đã mở rộng hợp tác với các quốc gia lớn trên thế giới Thành tích nổi bật trong những năm gần đây là đất nước giữ được hoà bình, ổn định với các nước láng giềng Hoàn thành phân định biên giới trên bộ với các nước láng giềng, tiến hành cắm mốc biên giới, phân định ranh giới lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan Đến nay, chúng ta đã tham gia nhiều cơ chế hợp tác quốc phòng - an ninh của khu vực và thế giới như: Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN; Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF); Tổ chức cảnh sát quốc tế (INTERPOL) v.v Sau hơn hai mươi năm hội nhập, quốc phòng - an ninh của đất nước vẫn được giữ vững, có mặt được tăng cường, tuy nhiên còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức tạp, khó lường
Nhìn lại quá trình hội nhập quốc tế trong thời gian qua, chúng ta đã có những bước
đi thận trọng, vừa làm vừa rút kinh nghiệm và tìm được hướng đi đúng Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, ban đầu chúng ta mới chỉ đề cập đến hội nhập kinh tế quốc tế và tích cực chuẩn bị cho quá trình này mà chưa bàn tới hội nhập trên các lĩnh vực khác Thực tế, khi hội nhập kinh tế đã tất yếu dẫn đến hội nhập trên các lĩnh vực khác và chúng ta cũng đã thu được kết quả rõ nét trên lĩnh vực kinh tế và kết quả bước đầu trên các lĩnh vực khác Những kết quả hội nhập quốc tế trong thời gian vừa qua đã giúp cho chúng ta rút ra những kinh nghiệm quý báu, đồng thời dự báo tình hình khách quan hơn, khoa học hơn làm cơ sở hoạch định đường lối hội nhập trong những năm tới Chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan tuyên truyền của Đảng (ban tuyên giáo của các cấp uỷ đảng, đoàn thể, các cơ quan thông tin đại chúng, các viện nghiên cứu v.v.) phải làm thế nào quảng bá những thành tựu này trong nhân dân Đồng thời cùng chủ động dự báo những khó khăn, phức tạp, đề xuất những giải pháp tuyên truyền trong quá trình hội nhập quốc tế
1.2.2 Tác động của hội nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng
Cộng sản Việt Nam hiện nay
1.2.2.1 Những nhân tố tác động tích cực
Trang 28Sự phát triển của khoa học - công nghệ tiếp tục làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh
tế và xã hội, dẫn đến những thay đổi khác nhiều so với thời đại kinh tế công nghiệp hàng trăm năm qua Lực lượng sản xuất phát triển có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, đưa lại cho nước ta cũng như các quốc gia đang phát triển cơ hội tranh thủ nguồn vốn khoa học - công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển, mở rộng thị trường để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công tác tuyên truyền của nhân loại nói chung, trong đó có công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng trở nên phong phú, đa dạng là điều kiện phát triển công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay
Kinh tế thị trường toàn cầu và kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ tạo nên nhiều chuyển dịch mới, từ cơ cấu kinh tế, hệ thống thị trường đến thể chế kinh tế Hàng loạt vấn đề kinh tế vĩ mô sẽ được nhận thức lại, khẳng định vai trò, vị trí của nhiều quốc gia, trong đó có các quốc gia châu á mới nổi lên như Trung Quốc, ấn Độ v.v Quyền lực kinh tế sẽ được phân bố lại, nhiều nền kinh tế mạnh mới nổi lên cạnh tranh và kiềm chế nền kinh tế Mỹ vốn giữ vị trí cường quốc trong những thập kỷ qua Trong bối cảnh đó, đất nước ta sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong quan hệ hợp tác kinh tế và hợp tác mọi mặt với các nước trên thế giới Với việc hội nhập đa phương theo WTO, các nước thành viên cùng xoá giảm rào cản thương mại, đầu tư vào Việt Nam, do đó ta có thể tiếp cận với tất cả các thị trường bên ngoài tốt hơn Các nghiên cứu cho thấy, hội nhập kinh tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng đều có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi thông tin, mở rộng và phát triển tuyên truyền của Đảng ta
Hoà bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế lớn tạo ra môi trường ổn định và phát triển cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam Mâu thuẫn hiện nay giữa các nước lớn vẫn tồn tại và phát triển, nhưng chưa đến mức có thể dẫn đến nguy cơ xung đột chiến tranh Một số nước xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc, Việt Nam, Lào) cải cách, mở cửa, đổi mới thắng lợi Cu Ba tuy bị bao vây, cấm vận, nhưng kinh tế, xã hội cũng đang khởi sắc
Trang 29Một số đảng cộng sản, đảng cánh tả ở châu âu, Mông Cổ và một số nước ở Mỹ La tinh giành thắng lợi trong bầu cử Đó là những nhân tố tác động tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự nghiệp đổi mới, hy vọng vào sự phát triển và thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội trên thế giới Đây cũng là những mặt thuận lợi cho công tác tuyên truyền của Đảng
ta trong quá trình hội nhập quốc tế, tranh thủ những thời cơ thuận lợi cho công cuộc đổi mới
Có thể nói, hơn bao giờ hết, hội nhập quốc tế với tất cả các vấn đề của nó đang tạo
ra những cơ hội và điều kiện để mở rộng và phát triển mạnh mẽ công tác tuyên truyền của Đảng về cả sự rộng lớn, phong phú của các thông tin, về phương thức và phương tiện tuyên truyền, về môi trường xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền của Đảng ta
1.2.2.2 Những nhân tố tác động tiêu cực
Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sẽ tác động đến độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng Toàn cầu hoá hiện nay hầu như do các nước tư bản phát triển, các công ty tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, tạo ra những thách thức và nguy cơ không nhỏ đối với đa số các quốc gia, dân tộc nhất là về vấn đề độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, bản sắc dân tộc bị đe doạ Về kinh tế, chúng ta phải đương đầu với sự cạnh tranh kinh tế không cân sức, dễ bị ảnh hưởng từ những biến động phức tạp của thị trường thế giới, bị những thế lực lợi dụng toàn cầu hoá để can thiệp chính trị vào các công việc nội bộ Rủi ro về bất ổn kinh tế vĩ mô và tài chính ngày càng lớn hơn Hội nhập kinh tế dẫn tới quá trình ngày càng gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế cũng như
sự phụ thuộc vào nền kinh tế toàn cầu Việt Nam, với xuất phát điểm từ nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu có thể dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc từ bên ngoài như biến động giá cả trên thị trường thế giới, tình hình kinh tế của các nước bạn hàng thương mại Mặt khác, các nước lớn điều chỉnh chiến lược theo xu thế vừa hợp tác, vừa mặc cả, nhân nhượng, thoả hiệp với nhau vì lợi ích của chính quốc gia họ sẽ đặt ra nhiều thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Điều này gây không ít khó khăn, lúng túng cho Đảng ta trong công tác tuyên truyền và vận động quần chúng Liệu trong
Trang 30quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam có giữ vững độc lập, có giữ vững chủ quyền quản
lý điều hành đất nước, không bị bất cứ quốc gia nào chi phối hay không? Đó là một vấn
đề rất lớn đặt ra cho nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế
Chủ nghĩa tư bản tạm thời thắng thế đang chi phối thế giới tác động rất lớn đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Các thế lực hiếu chiến và phản động đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” kết hợp với gây bạo loạn lật đổ từ bên trong và can thiệp khi cần thiết, nhằm xoá bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đưa các nước đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm của chiến lược “diễn biến hoà bình” Chúng lợi dụng các phương tiện truyền thông, đầu tư cơ sở vật chất, phát tán thông tin, tài trợ tiền, phương tiện hoạt động, lôi kéo, tập hợp các phần tử cơ hội trong và ngoài nước, sinh viên du học, ráo riết chống phá ta trên mọi lĩnh vực Chúng xác định, mặt trận tư tưởng - văn hoá là mũi đột phá Trong quá trình hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, chống phá ta thông qua các dự án đầu tư, các chương trình hợp tác, các quỹ, các tổ chức phi chính phủ v.v Đặc biệt thông qua hợp tác kinh tế, chúng mưu toan từ chuyển hoá kinh tế sẽ dẫn đến chuyển hoá chính trị, hình thành đa nguyên chính trị, đa đảng cầm quyền để xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta, hòng lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa Trong quá trình hội nhập quốc tế, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất đối với công tác tuyên truyền của Đảng ta
Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng gia tăng, tác động nhanh, mạnh đến tâm tư, tình cảm của nhân dân Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do hoạt động xâm lược, can thiệp lật đổ của Mỹ
và các thế lực theo đuổi Mỹ hơn một thập kỷ qua Bất công, bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng trên thế giới Đó cũng là những tác động không nhỏ tới Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Sự phát triển của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập đã phát huy tính tích cực, năng động, sáng tạo của nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Song, bên cạnh đó, do mặt trái của cơ chế thị trường, sự quản lý còn nhiều mặt yếu kém, thiếu đồng bộ nên đã xuất hiện sự phân cực trong xã hội Môi trường văn hoá - xã hội bị ô nhiễm bởi sự gia
Trang 31tăng tội phạm, tệ nạn, tiêu cực xã hội, nhất là sự suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó nổi lên nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét Sự nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân
có biểu hiện thiếu bền vững Bức xúc trong dân chậm được giải quyết và ngày càng gia tăng, dẫn đến khiếu kiện đông người, đình công v.v gây mất ổn định an ninh, trật tự Các phần tử cơ hội cấu kết với bọn phản động nước ngoài lôi kéo, kính động nhân dân biểu tình, gây bạo loạn chính trị như đã xảy ra ở Tây Nguyên những năm 2001 và 2004
Khó khăn và phức tạp của công tác tuyên truyền của Đảng hiện nay là ở chỗ, làm thế nào để làm chủ được các nguồn thông tin, định hướng và lãnh đạo các kênh - các phương tiện thông tin, nhất là các phương tiện thông tin hiện đại Hơn nữa, công tác tuyên truyền của Đảng phải làm thế nào chủ động đi trước một bước trong việc định hướng và xử lý thông tin; làm thế nào kết hợp có hiệu quả tuyên truyền đối ngoại với tuyên truyền đối nội; kết hợp tuyên truyền chống tiêu cực với tuyên truyền và phát triển các phong trào thi đua yêu nước, các điển hình nhân tố mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Sau hơn hai thập kỷ đổi mới đất nước với hơn một thập kỷ hội nhập quốc tế, công tác tuyên truyền của Đảng nói riêng và công tác xây dựng Đảng nói chung ngày càng bộc
lộ những khó khăn và bất cập Sự lúng túng trong công tác tuyên truyền ở đây, không chỉ dừng lại ở những vấn đề thực tiễn, mà hơn thế còn từ những cơ sở lý luận của vấn đề Công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang đứng trước yêu cầu xây dựng và phát triển những cơ sở khoa học cho nó Một mặt, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyên truyền Mặt khác, cần trao đổi, học tập kinh nghiệm và những lý thuyết khoa học mới cho công tác tuyên truyền của Đảng ở cả các khía cạnh nội dung, hình thức, phương pháp và phương tiện tuyên truyền của các đảng chính trị, đảng cầm quyền trên thế giới
Trang 32Chương 2 Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay
2.1 Thực Trạng công tác tuyên truyền của Đảng trong quá trình hội nhập Quốc Tế Từ năm 2001 đến nay
2.1.1 Những thành tựu chủ yếu
2.1.1.1 Tiếp tục truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
Công tác tuyên truyền là một khâu quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng đến với quần chúng, tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, cổ vũ quần chúng thực hiện thắng lợi mục tiêu của Đảng đã đề ra Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, trong Đảng, trong xã hội đã xuất hiện tình trạng hoài nghi chủ nghĩa Mác-Lênin, ngại học
lý luận chính trị Trước bối cảnh đó, công tác tuyên truyền đã tích cực đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin
Đối với cán bộ, Đảng ta đã ban hành quy định chế độ học tập lý luận chính trị, quy định trình độ sơ cấp, trung cấp, cao cấp, cử nhân với từng đối tượng, coi đó là tiêu chuẩn khi xét nâng ngạch, đề bạt và bổ nhiệm cán bộ Ban hành chế độ phụ cấp riêng đối với cán bộ giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Vào dịp kỷ niệm những sự kiện quốc tế, những ngày lễ lớn của Đảng, của đất nước, Đảng ta ban hành các nghị quyết, chỉ thị, thông báo tổ chức các hoạt động kỷ niệm Thông qua đó, Đảng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định giá trị trường tồn, tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin Công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng được quan tâm chỉ đạo và trở thành
phong trào sâu rộng Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27-3-2003 về Đẩy
Trang 33mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới Ban
Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) đã tổ chức tốt đợt học tập và cuộc thi tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân Bộ Chính
trị (khoá X) ban hành Chỉ thị 06-CT/TW phát động Cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Từ đó, việc nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành phong trào sâu rộng trong toàn xã hội Năm
2007, tổ chức học tập 3 chuyên đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay; Giới thiệu tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Giới thiệu tác phẩm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Năm 2008, học tập chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề thực hành tiết kiệm, chống tham ô, quan liêu lãng phí Năm 2009, học tập chuyên đề Tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về nâng cao ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Công tác tuyên truyền tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trên các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình văn hoá - văn nghệ được triển khai tích cực với nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn Tổ chức phát động cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các cá nhân, tập thể làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Có thể nói, những năm qua, những người làm công tác tư tưởng, văn hoá và giáo dục, trong đó có những người làm công tác tuyên truyền đã có rất nhiều trăn trở nghiên cứu, tìm kiếm những nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng phù hợp và có hiệu quả hơn Có thể thấy rõ
ở sự phối kết hợp giữa các lực lượng làm tuyên truyền (cán bộ ban tuyên giáo, phóng viên báo, tạp chí, văn nghệ sĩ v.v.); ở sự lồng ghép của các chương trình tuyên truyền giáo dục và đào tạo; ở các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội v.v
2.1.1.2 Đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 34Trong thời gian qua, công tác tuyên truyền, cổ động đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã được triển khai một cách tích cực Nội dung, hình thức tuyên truyền được đổi mới mạnh mẽ Trên từng lĩnh vực, công tác tuyên truyền đã đạt những thành tựu nổi bật sau:
* Tuyên truyền chính trị
Công tác tuyên truyền chính trị đã hướng vào mục đích giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng; xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân, vì dân Giữ vững ổn định chính trị, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa; kiên định đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
Ngay sau các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Ban Tuyên giáo Trung ương đã chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập Nghị quyết Đại hội sâu, rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Mở các chuyên trang, chuyên mục tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng Các tổ chức chính trị - xã hội biên soạn tài liệu học tập, tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Đảng và tổ chức cho hội viên, đoàn viên sinh hoạt dưới nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn Các nghị quyết hội nghị Trung ương (khoá IX, khoá X) được triển khai nhanh, với những hình thức đổi mới Tài liệu cung cấp đủ, kịp thời Nhờ đó, đường lối, chủ trương của Đảng đến được đông đảo các tầng lớp nhân dân, góp phần đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống
Nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử của đất nước, như: các kỳ đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội; kỷ niệm ngày thành lập Đảng, thành lập Nước, ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, như: Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Hồng Phong, Trường Chinh, Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng v.v toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, phát động các phong trào thi đua yêu nước Qua đó, góp phần giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng niềm tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, nêu cao ý thức tự cường, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong công cuộc đổi mới đất nước
Trang 35Tổ chức tuyên truyền rộng rãi các sự kiện có ý nghĩa quốc tế của Việt Nam, như: Việt Nam được chọn làm Chủ tịch của năm APEC 2006 và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 14; Việt Nam được bầu vào vị trí Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với số phiếu rất cao v.v Công tác tuyên truyền các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng và các ngày lễ lớn trên đã tạo ra không khí phấn khởi, củng cố niềm tin chính trị trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Trên cơ sở đó tăng cường củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong nhận thức và hành động - cội nguồn làm nên sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để tận dụng mọi thời cơ, vượt lên thách thức, biến khó khăn thành thuận lợi Với tinh thần đó, công tác tuyên truyền cũng đã tăng tính chủ động, tính nhạy bén, tính thuyết phục, bám sát thực tiễn của các ngành, các cấp, các địa phương, góp phần giữ vững môi trường chính trị, xã hội ổn định - nhân tố có ý nghĩa quyết định để tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
* Tuyên truyền kinh tế - xã hội
Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội công tác tuyên truyền đã hướng vào mục đích phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội Gắn với các đợt học tập các Nghị quyết của Trung ương, công tác tuyên truyền đã tập trung tuyên truyền sâu rộng đường lối, chính sách về kinh tế của Đảng, Nhà nước ta, như: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2010; thời cơ, thách thức, nhiệm vụ và giải pháp của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); những giải pháp khắc phục ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới theo tinh thần Kết luận số 22-KL/TW của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ Gần đây, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 264-TB/TW (ngày 31-7-2009) về tổ chức cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, bước đầu đã được đông đảo các cấp, các ngành và nhân dân hưởng ứng và có tác dụng tích cực Qua đó, công tác tuyên truyền đã góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc
độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Trên lĩnh vực xã hội, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục, y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, khoa học công nghệ và môi trường v.v được triển khai
Trang 36tích cực Tổ chức các đợt tuyên truyền phòng chống đại dịch cúm người H5N1, H1N1, HIV/AIDS và dịch bệnh trên gia súc, gia cầm v.v
* Tuyên truyền quốc phòng - an ninh
Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, công tác tuyên truyền đã giải thích, làm rõ đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về nhiệm vụ bảo vệ, an ninh, quốc phòng,
đó là, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội với nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và đối ngoại; xây dựng vững chắc nền an ninh
nhân dân và thế trận an ninh nhân dân gắn với nền quốc phòng toàn dân và thế trận quốc
phòng toàn dân; xây dựng lực lượng công an nhân dân và quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại v.v Tuyên truyền Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá IX) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, làm rõ vị trí, vai trò, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xác định rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hoà bình” trong tình hình mới Tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân nhận rõ âm mưu gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch tại Tây Nguyên năm 2001 và năm
2004 Tổ chức tuyên truyền về biển, đảo, công tác biên giới trên bộ và lãnh hải Việt Nam Tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, góp phần giải quyết một số vụ việc liên quan đến tôn giáo như vụ tranh chấp đất đai ở giáo xứ Thái Hà; vụ gây rối trật tự ở Tu viện Bát Nhã, thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng; vụ vi phạm Khu chứng tích tội ác chiến tranh Tháp chuông Tam Toà, thị xã Đồng Hới, Quảng Bình v.v
* Tuyên truyền văn hoá
Phổ biến, giải thích, cổ vũ động viên toàn dân tích cực thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về “Xây dựng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Công tác tuyên truyền hướng vào mục
đích kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại: “Làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng
xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội” [45, tr.41]
Trang 37Hoạt động văn hoá - văn nghệ chuyên nghiệp và nghiệp dư được tổ chức dưới nhiều hình thức, nhất là vào các dịp lễ, hội của đất nước và các địa phương Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các hội văn học, nghệ thuật Việt Nam, các hội chuyên ngành ở Trung ương và địa phương đã tổ chức nhiều cuộc thi sáng tạo văn học - nghệ thuật chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Nhiều tác phẩm văn học - nghệ thuật đã được giải cao trong nước và quốc tế
* Tuyên truyền đối ngoại
Công tác tuyên truyền đối ngoại tập trung giải thích rõ quan điểm đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, đó là: đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; tích cực hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, vì sự phát triển, vì lợi ích dân tộc, bảo đảm giữ vững độc lập tự chủ, tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; củng cố nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Giới thiệu những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè thế giới; những đóng góp của kiều bào và bạn bè thế giới đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam Thường xuyên thông tin tình hình quốc tế và hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta Tuyên truyền về các chuyến thăm, làm việc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta với các nước trên thế giới Giới thiệu hình ảnh đất nước, con người và chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta ra nước ngoài Giải thích cho thế giới biết
rõ những luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch về tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam, đồng thời cung cấp thông tin, tư liệu về những thành tựu của Việt Nam trong các lĩnh vực đó
2.1.1.3 Đẩy mạnh tuyên truyền thi đua yêu nước, phát hiện những nhân tố mới, cổ vũ và nhân rộng điển hình tiên tiến; đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Công tác tuyên truyền góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cổ vũ những nhân tố mới, phát hiện và nhân rộng những điển hình tiên tiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có tác dụng giáo dục, thuyết phục cao Đặc biệt, hiện nay đất nước ta đang ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế
và mở rộng hội nhập trên các lĩnh vực khác, trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa,
Trang 38đã xuất hiện khuynh hướng xem nhẹ vai trò của phong trào thi đua yêu nước mà đề cao vai trò cạnh tranh của cơ chế kinh tế thị trường Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 35-CT/TW ngày 3-6-1998 về đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong giai đoạn mới Tiếp đó, ngày 21-5-2004 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 39-CT/TW về việc tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến Công tác tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các địa phương, các tầng lớp nhân dân trong điều kiện thực hiện cơ chế kinh tế thị trường càng phải coi trọng thi đua yêu nước vì nó không chỉ tạo động lực cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị mà còn khắc phục được những lệch lạc, những cách nhìn phiến diện chỉ coi trọng lợi ích trước mắt mà không coi trọng lợi ích lâu dài hoặc chỉ coi trọng lợi ích vật chất mà xem nhẹ đời sống tinh thần Chính vì thế, trong thời gian qua đã xuất hiện nhiều phong trào thi đua sâu rộng trong cả nước, khơi dậy ý thức tự giác, cổ vũ khát vọng vươn lên của các tầng lớp nhân dân, như phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Xoá đói giảm nghèo”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Mái ấm tình thương”, “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”,
“Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” v.v Các phong trào thi đua đã khơi dậy lòng yêu nước, khơi dậy ý thức tự giác, cổ vũ động viên nhân dân phát huy ý chí tự lực, tự cường dân tộc quyết tâm thực hiện mục tiêu cao cả của Đảng, của dân tộc trong mỗi giai đoạn cách mạng Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua
ái quốc, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương tham mưu cho Ban Bí thư ban hành Chỉ thị tổ chức kỷ niệm
Thi đua yêu nước đã trở thành một phương thức tuyên truyền đặc trưng trong công tác tuyên truyền của Đảng, và chính nó là động lực quan trọng góp phần làm nên hiệu quả của công tác tuyên truyền
2.1.1.4 Đẩy mạnh tuyên truyền chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các quan điểm sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết, đẩy mạnh hoạt động chống phá với nhiều âm mưu, thủ đoạn vừa trắng trợn, vừa tinh vi Xác định
Trang 39phòng chống âm mưu “diễn biến hoà bình” là một nhiệm vụ quan trọng, phải tiến hành thường xuyên, lâu dài, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị, thông báo chỉ đạo công tác này Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Trung ương chống âm mưu “diễn biến hoà bình”, Ban tuyên giáo Trung ương đã hướng dẫn tổ chức quán triệt Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 4-1-2002 của Ban Bí thư về tăng cường cuộc đấu tranh chống các luận điệu sai trái
và hoạt động tán phát tài liệu chống Việt Nam; Thông báo Kết luận 94-TB/TW, ngày 12-2002 của Ban Bí thư (khoá IX) về “Nhiệm vụ tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá”; Nghị quyết Trung ương 8 (khoá IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” Gần đây, ngày 17-4-
30-2009, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 34-CT/TW về tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành tài liệu tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong nhân dân Qua đó, giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân xác định được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là những thủ đoạn mới, nắm vững nhiệm vụ của mình trong đấu tranh, phòng ngừa, phản bác các quan điểm sai trái Bên cạnh đó, nhóm chuyên gia của Ban Chỉ đạo Trung ương chống âm mưu “diễn biến hoà bình” đã viết nhiều tin, bài phản bác các thông tin và quan điểm sai trái, thù địch trên báo chí trong nước và báo điện tử hải ngoại Đặc biệt thông qua các hội nghị báo cáo viên, tuyên truyền viên để cung cấp thông tin, giải thích rõ luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch
2.1.1.5 Đổi mới và tăng cường tổ chức và cán bộ làm công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế
Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tổ chức và cán bộ làm công tác tuyên giáo ngày càng được củng cố kiện toàn từ Trung ương đến cơ sở Ngày 11-4-2007, Bộ Chính trị ra Quyết định số 44-QĐ/TW về hợp nhất Ban Khoa giáo Trung ương và Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương Ngày 28-8-2008, Bộ Chính trị ra quyết định số 80-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Ban Tuyên giáo Trung ương gồm 20 đơn vị: Văn phòng Ban; Văn phòng Hội đồng Lý luận, phê bình, văn học, nghệ thuật Trung ương; Trung tâm Nghiên cứu Khoa học, nghiệp vụ và tư liệu; Trung tâm Thông tin
Trang 40công tác tuyên giáo; Tạp chí Tuyên giáo; Tạp chí Thông tin đối ngoại; Cơ quan thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh; Cơ quan Thường trực tại Thành phố Đà Nẵng; Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội; Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam; Vụ Tuyên truyền; Vụ Tổng hợp; Vụ Văn hoá - Văn nghệ; Vụ Báo chí - Xuất bản; Vụ Tổ chức và Cán bộ; Vụ
Lý luận chính trị; Vụ Thông tin đối ngoại và Hợp tác quốc tế; Vụ Khoa học, Công nghệ
và Môi trường; Vụ Giáo dục và Đào tạo; Vụ các vấn đề xã hội Đội ngũ cán bộ Ban Tuyên giáo Trung ương hiện có hơn 300 người, trong đó: giáo sư, phó giáo sư - 4,6%; tiến sĩ, thạc sĩ - 26%; đại học, cao đẳng - 55% Trình độ lý luận chính trị cử nhân và cao cấp - 40,8% [7, tr.693]
Tổ chức ban tuyên giáo cấp tỉnh được kiện toàn, trung bình có từ 22 đến 25 cán bộ; các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 46 cán bộ, cơ cấu 5 đến 7 phòng chuyên môn, do đồng chí uỷ viên ban thường vụ tỉnh, thành uỷ làm trưởng ban Đáng chú
ý, theo tinh thần Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 15-10-2007 của Ban Bí thư Trung ương về
“Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”, 48/63 tỉnh, thành phố đã thành lập Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo, 6 tỉnh thành lập phòng Thông tin công tác tuyên giáo Đảng uỷ khối các cơ quan Trung ương, Đảng uỷ khối doanh nghiệp Trung ương thành lập Trung tâm bồi dưỡng chính trị Đó là cơ sở, là điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động tuyên truyền Đội ngũ cán bộ ban tuyên giáo cấp tỉnh có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ - 9,24%; đại học - 70,91%; cao đẳng - 3,79%; trong đó cán bộ có trình độ lý luận chính trị cử nhân và cao cấp - 52,36% [7, tr.694]
Ban tuyên giáo cấp huyện có từ 3 - 6 cán bộ, do đồng chí uỷ viên ban thường vụ huyện uỷ làm trưởng ban Trình độ học vấn tiến sĩ, thạc sĩ - 3,42%; đại học - 76,02%; cao đẳng - 5,7 % Trình độ lý luận chính trị cử nhân và cao cấp - 52,91 % [7, tr.694]
Mô hình ban tuyên giáo cấp xã đã và đang được kiện toàn Tính đến ngày tháng 7- 2008, cả nước có 42 tỉnh, thành phố đã thành lập được ban tuyên giáo cấp xã, trong đó
có 5.645 cán bộ chuyên trách, còn lại là kiệm nhiệm Đây là bước phát triển mới về tổ chức bộ máy cán bộ tuyên giáo Hiện nay, Trung ương chưa có quy định về bộ máy, tổ chức và cán bộ đối với ban tuyên giáo cấp xã Nhưng xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, các