1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đường lối Đảng cộng sản Việt Nam

29 684 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 331 KB
File đính kèm đường lối đảng.rar (53 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn Pháp để tìm đường cách mạng giải phóng cứu nước?Nguyễn Ái Quốc là một vị lãnh tụ vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên trung đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam. Công lao lớn nhất của Người đối với cách mạng Việt Nam là tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam.Khi Nguyễn Ái Quốc sinh ra, Việt Nam đã hoàn toàn là thuộc địa của Pháp. Lúc này, nhiều phong trào đấu tranh nổ ra nhưng đều thất bại và bị dìm trong biển máu. Đời sống nhân dân lầm than cơ cực. Cứu nước, giải phóng dân tộc trở thành vấn đề bức tiết của toàn thể dân tộc.Ngày 5.6.1911, lấy tên là Văn Ba, với vai trò phụ bếp trên tàu Đô đốc La – tu – sơ – tơ – rê – vin, Người bắt đầu hành trình của mình. Người đã chọn nước Pháp để tìm đường cách mạng giải phóng cứu nước. Sở dĩ Người chọn như vậy vì: Trước tiên, với tư tưởng “muốn thắng kẻ thù thì phải hiểu rõ chúng”, người muốn sang Pháp để tìm hiểu về xã hội, con người Pháp, xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào giải phóng dân tộc. Thứ hai, người muốn sang Pháp để tìm hiểu cái gọi là “tự do, bình đẳng, bác ái” mà bọn thực dân rêu rao ở Đông Dương là gì.

Trang 1

1. Tại sao Nguyễn Ái Quốc lại chọn Pháp để tìm đường cách mạng giải phóng cứu nước?

- Nguyễn Ái Quốc là một vị lãnh tụ vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên trung đã cống hiến trọn đời cho sựnghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam Công lao lớn nhất của Người đối với cách mạng Việt Nam là tìm ra con đường cứunước đúng đắn, giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam

- Khi Nguyễn Ái Quốc sinh ra, Việt Nam đã hoàn toàn là thuộc địa của Pháp Lúc này, nhiều phong trào đấutranh nổ ra nhưng đều thất bại và bị dìm trong biển máu Đời sống nhân dân lầm than cơ cực Cứu nước, giải phóng dântộc trở thành vấn đề bức tiết của toàn thể dân tộc

- Ngày 5.6.1911, lấy tên là Văn Ba, với vai trò phụ bếp trên tàu Đô đốc La – tu – sơ – tơ – rê – vin, Người bắtđầu hành trình của mình Người đã chọn nước Pháp để tìm đường cách mạng giải phóng cứu nước Sở dĩ Người chọn như

vậy vì: Trước tiên, với tư tưởng “muốn thắng kẻ thù thì phải hiểu rõ chúng”, người muốn sang Pháp để tìm hiểu về xã

hội, con người Pháp, xem họ làm như thế nào rồi trở về giúp đồng bào giải phóng dân tộc Thứ hai, người muốn sang Pháp

để tìm hiểu cái gọi là “tự do, bình đẳng, bác ái” mà bọn thực dân rêu rao ở Đông Dương là gì.

- Hơn nữa, với cuộc cách mạng khoa học, nước Pháp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Sang Pháp,

Người có điều kiện để tìm hiểu và tích lũy tri thức.

2. Tác dụng của lao động sản xuất đối với Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm đường cứu nước?

Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước bằng con đường lao động đã tạo điều kiện cho Người tiếp thu chủ nghĩa Mác– Lenin

Sinh ra trong lúc nước mất nhà tan, chứng kiến cảnh lầm than cơ cực của nhân dân, Người sớm có ý chí đánh đuổithực dân Pháp Người khâm phục các vị tiền bối nhưng không đi theo con đường của họ vì NGười nhận thấy những hạnchế của các nhà yêu nước đương thời:

+ Phan Bội Chau chẳng khác nào “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”

+ Phan Chu Trinh thì “xin giặc rủ lòng thương”

+ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến

- Người chọn phương Tây vì phương tây có khoa học kĩ thuật phát triển và có tư tưởng dân chủ dân tộc

- Định hướng tới đầu tiên của người là nước Pháp vì người cho rằng “muốn đánh đuổi kẻ thù phải hiểu rõ kẻthù”

- Có thể nói Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước bằng con đường lao động đã tạo điều kiện thuận lợi chongười tiếp thu chủ nghĩa mác – leenin

- Cụ thể:

+ Người đã đi đến nhiều nước ở châu Âu, châu Mĩ, châu Phi… và làm nhiều nghề lao động khác nhau như phụ bếp,

cào tuyết, vẽ tranh… vừa kiếm sống vừa hoạt động Với những chuyến đi, cuộc khảo sát đó, Người hiểu nắm bắt, hiểu

rõ hơn về cách mạng thế giới, tích lũy được nhiều tri thức.

+ Đi bằng con đường lao động Người đã kết hợp tìm hiểu lí luận với khảo sát thực tế Cũng qua đó, Người nhận rõ bạn thù, hiểu rõ được bản chất của chủ nghĩa đế quốc Đây chính là cơ sở quan trọng để Người tiếp cận chủ nghĩa Mác

– Lê nin sau này Người rút ra kết luận: “Ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo độc ác; ở đâu người lao động cũng bịbóc lột, áp bức nặng nề ” và “dù màu da có khác nhau, trên đời này cũng chỉ có hai giống người: giống người bóc lột vàgiống người bị bóc lột, mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi – tình hữu ái vô sản”

+ Chính con đường lao động đã củng cố lòng yêu nước thương dân của NAQ, giúp Người hiểu sâu sắc hơn nỗi

thống khổ của nhân dân lao động Từ đó hối thúc Người sớm tìm ra được con đường cứu nước Người đã từng nói “suốtcuộc đời này tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn đến tột bậc là mong cho dân tộc được hạnh phúc tự do”

Trang 2

+ Bằng con đường lao động, Người đã tự lực tự cường vươn lên bằng chính sức mình Độc lập về kinh tế kéo theo

độc lập về chính trị, Người đã giữ vững được độc lập trong tư duy của mình nên Người đã tiếp thu được tư tưởng tiến bộcủa thời đại một cách tự nhiên Từ đây Người cũng hiểu rằng đấu tranh cách mạng cũng thế, phải biết vươn lên dựa vàosức mình là chính

+ Nhờ con đường lao động mà Người phát hiện ra rằng giai cấp công nhân và nhân dân lao động là lực lượng chủ

yếu của CMVN, giai cấp công nhân mới có đủ tư chất lãnh đạo cách mạng của nhân dân Vn

Chính vì những lí do trên, Người đã sớm tiếp xúc là tìm hiểu bản luận cương của Lê nin Người hiểu đây chính là

con đường cứu nước của cách mạng VN

3. Điều kiện khách quan để Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa MÁc?

 Tình hình xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp: Năm 1958 thực dân Pháp nổ sung tấn côngxâm lược Vn Sau chiến tranh thế giới I, thực dân Pháp tăng cường bóc lột nhân dân VN với một tốc độ, quy mô chưatừng có Đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Thực tiễn lịch sử Vn đặt ra hai yêu cầu, một là phải đánh đuổi thực dânPháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân Hai là xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ chonhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân, trong đó, chống đế quốc , giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu

Cách mạng Việt Nam đang lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước Trước sự xâm lược

của thực dân Pháp, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng phong kiến và tư sản diễn ra mạnh mẽ nhưphong trào Cần Vương (1885 - 1896), cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang 1884), phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạocủa tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nỏi (cuộc khởi nghĩa Yên Bái) vớinhiều phương thức và biện pháp khác nhau… nhưng cuối cùng đều thất bại Điều này chứng tỏ con đường cứu nước theo

hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc, cách mạng Vn lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đườnglối, về giai cấp lãnh đạo Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đường cách mạng mới, một giai cấp có đủ tư cáchđại diện cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ điđến thành công

 Thất bại của lớp người đi trước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Hoàng Hoa Thám… đã chứng minhmột khả năng bất thành, về khách quan đã giúp cho thế hệ mai sau không phải làm lại cuộc tìm đường cứu nước, giảiphóng dân tộc như các bậc tiền bối đã làm

 Yếu tố thời đại: chủ nghĩa Mác+ QTCS+CMT10Nga

Trong quá trình tìm đường cứu nước, NGuyễn Ái Quốc đã có mặt ở Châu Âu, châu Á, châu Mỹ… từ đó Người đãrút ra được những nhận thức đúng đắn về bạn và thù

Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga 1917, chủ nghĩa Mác – Lê nin từ lí luận đã trờ thành hiện thực, mởđầu cho một thời đại mới, thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc

Tại đại hội II quốc tế cộng sản 1920, NAQ đã đọc được “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê Nin,

mở ra cánh cửa để Người đến với chủ nghĩa Mác Lê Nin

Tại Đại hội Tua (12/1920), NAQ đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảngcộng sản Pháp và trở thành người cộng sản đầu tiên Sự kiện này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạtđộng cách mạng của Người – từ người yêu nước trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

4. Nhân tố quyết định việc Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác để tìm ra con đường đúng đắn Nhân tố quyết định: do nguyên nhân chủ quan.

a HCM:

Trang 3

- Tinh thần yêu nước: Nguyễn Ái Quốc đã kế thừa một cách xuất sắc những giá trị truyền thống văn hóa tốtđẹp của dân tộc, đó là truyền thống bất khuất, cần cù lao động, yêu hòa bình… mà nổi bật là truyền thống yêu nước, tinhthần đấu tranh quật khởi – đây chính là cơ sở để Người tìm đường cứu nước và tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê nin

- Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, lớn lên từ một miền quê có truyền thống đấu tranh bất khuất,lại được tiếp nhận sự giáo dục của gia đình theo tư tưởng yêu nước thương dân Tất cả đã hun đúc trong Người lòng cămthù giặc sâu sắc, niềm cảm thông với nỗi khổ của nhân dân

- Nguyễn Ái Quốc hội tụ đầy đủ những phẩm chất đặc biệt của một lãnh tụ chính trị thiên tài Người tuy rấtkhâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối như Phan Châu Trinh… nhưng không tán thành con đường cứu nướccủa các cụ Người đã thấy được những sai lầm trong phương pháp đấu tranh của họ, và người đã chọn hướng đi sang tây

âu để tìm đường cách mạng giải phóng cứu nước Đó là sự lựa chọn sáng suốt và đúng đắn Người nhận thức được rằng

“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

b.Xuất phát từ quá trình bôn ba tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc: người đi nhiều nơi (…), làm nhiều nghề

để sống (…), kiên trì chịu đựng mọi khó khăn Người tham gia vào các phong trào quần chúng,thấy được cảnh bất công, tànbạo của xã họi tư bản và vô cùng xúc động trước đời sống cực khổ của người dân lao động Từ đó người rút ra nhiều bài họckinh nghiệm, giúp NAQ chuyển mình từ một người yêu nước chân chính thành mọt người cộng sản, đến với chủ nghĩa mác

lê nin, tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc

c Giữa Chủ nghĩa yêu nước của NAQ, với CN M-L có cùng bản chất

 Mang tính cách mạng

 Đều mang tính dân chủ

 Tính nhân văn

 Nhằm giải phóng giai cấp, xã hội, con người một cách triệt để

Nên có thể hòa quyện với nhau một cách dễ dàng Đặc biệt, NAQ có nhạy cảm đặc biệt về chính trị, với chủ nghĩaMLN

5. Tại sao nói con đường NAQ lựa chọn là đúng đắn

- Khẳng định: con đường mà Nguyễn Ái Quốc lựa chọn là con đường cách mạng vô sản Vì sao đó là conđường đúng đắn là vì:

- Cách mạng vô sản là con đường triệt để nhất

 Nó đã được chứng minh qua thực tiễn – thắng lợi của cuộc cmạng Tháng Mười Nga

 Kết quả mà cách mạng vô sản mang lại: vì đại đa số quần chúng nhân dân lao động

- Các cuộc cách mạng tư sản (ở Mĩ, Anh, pháp) không đến nơi

- Cách mạng vô sản tập hợp được đông đảo lực lượng nhân dân lao động mà nòng cốt là liên minh công nhân– nhân dân thông qua chính đảng của mình

- Xu thế phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới

- Cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối, các con đường cứu nước trong nước đều lần lược thấtbại (phong trào cần vương, phong trào duy tân cải cách….)

Trang 4

khai thác và bóc lột nhân dân Điều này đã thúc đẩy nhân dân các nước tìm ra một phương pháp đấu tranh để chống lại cácnước tư bản, giải phóng mình để dành độc lập, tự do.

+ 1917 Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra thời đại mới –thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đạigiải phóng dân tộc Với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý luận đã trở thành hiệnthực Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân các nước, thúc đẩy sự ra đời của nhiều đảngcộng sản: ĐCS Mỹ (1919), ĐCS Anh, Pháp (1920)…

+ 3.1919, QTCS được thành lập, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế Tại đại hội II QTCS, Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin được công bố chỉ ra phương hướng đấutranh giải phóng các nước thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức tên lập trường cách mạng vô sản

+ Độc lập dân tộc và tự do dân chủ là nguyện vọng tha thiết của nhân dân ta, là bức thiết của dân tộc ta

+ Giữa 1929, phong trào công nhân VN phát triển mạnh, ý thức giai cấp, ý thức chính trị ngày càng rõ rết.Phong trào công nhân cùng phong trào yêu nước kết thành một làn sóng mạnh mẽ trong đó giai cấp công nhân trở thànhlực lượng tiên phong Thực tiễn trên đòi hỏi cấp thiết sự lãnh đạo thống nhất chặt chẽ của một chính đảng của giai cấpcông nhân Đáp ứng yêu cầu đó, chỉ trong vòng 4 tháng, 3 tổ chức cộng sản lần lượt ra đời, thể hiện bước tiến mới củacách mạng Vn Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực là thúc đẩy phong trào công nhân phát triển, ba tổ chức này đã hoạt độngriêng rẻ, công kích lẫn nhau, tranh giành quần chúng, làm ảnh hưởng xấu đến phong trào

2 Sự ra đời của Đảng là kết quả của một quá trình lựa chọn con đường cứu nước

- Từ khi bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, nhân dân cả nước đã liên tục anh dũng đứng lên chống giặc Cácphong trào yêu nước phát triển theo nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau Đầu thế kỉ XX và đặc biệt từ sau chiên tranhthế giới thứ nhất, phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị tư sản và tiểu tư sản thành thị diễn ra sôi nổi, mạnh

mẽ Tuy vậy, các phong trào đều lần lượt thất bại vì ko đáp ứng được những yêu cầu khách quan của sự nghiệp giải phóngdân tộc

- Tính chất thời địa đã thay đổi Con đường giải phóng mâu thuẫn xã hội, sự sắp xếp lực lượng, phương phápcách mạng, giai cấp lãnh đạo phải thay đổi Vai trò lịch sử thuộc về giai cấp vô sản Ở Vn, giai cấp vô sản đang hình thành

và chưa có đảng tiên phong của mình Phong trào công nhân chưa trở thành phong trào chính trị độc lập Cách mạng Vnđứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo

3 Đảng CS ra đời là kết quả tất yếu lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Vn, làsản phẩm của sự kết hợp giữa lý luận chủ nghĩa mác lê nin và tư tưởng HCM với phong trào yêu nước những năm đầu thế

kỉ XX

- Lý luận cách mạng: lý luận chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng HCM đóng vai trò là nền tảng tư tưởng và vũkhí tinh thần của Đảng Được soi bằng lý luận chủ nghĩa mác – Lenin, phong trào công nhân mới có khả năng đấu tranhchính trị và giành được thắng lợi

- Sự phát triển của phong trào DTDC nói chung đòi hỏi cần phải có một chính đảng vô sản lãnh đạo Trongkhi đó HVNCMTN đã tỏ ra bất cập Trước tình hình đó, hội đã chuyển thành ĐDCSD (6.1929) và ANCSĐ (8.1929)

Trang 5

- ĐCS được thành lập là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác Lenin với phong trào công nhân và phongtrào yêu nước của nhân dân ta Chính khát vọng giải phóng dân tộc và sự thất bại của phong trào yêu nước trước năm

1930 đã đặt ra yêu cầu phải có lãnh tụ chính trị mới

- Xét về phía phong trào công nhân, sự tham gia của phong trào công nhân cũng chính là sự tham gia phongtrào yêu nước vào việc thành lập Đảng, vì bản thân phong trào công nhân cũng là phong trào yêu nước Điển hình cho sựchuyển hóa từ phong trào yêu nước thành phong trào cộng sản là tổ chức Tân Việt dẫn đến sự hình thành ĐDCSLĐ(1.1930) Bản thân HVNCMTN ban đầu cũng là một tổ chức yêu nước

- Sự tác động giữa các yêu tố khác nhau đưa phong trào CMVN không ngừng phát triển dẫn đến điều kiện cho

sự ra đời của Dảng đã chính muồi

7. Tại sao vừa mới ra đời, Đảng đã lãnh đạo được cao trào 30-3 1?

Cao trào cách mạng 1930 – 1931 nổ ra rộng khắp và mạnh mẽ, gây một tiếng vang lớn và để lại nhiều bài học kinhnghiệm quý báu cho Đảng ta, nhất là đã giáng một đòn mạnh mẽ vào thực dân Pháp làm cho chúng vô cùng khiếp sợ Tạisao chỉ mới ra đời Mà Đảng Cộng sản Vn lại có thể phát động được một cao trào lớn như vậy? Đó là bởi những nguyên

Tuy mới ra đời nhưng Đảng đã nắm bắt ngay được quy luật phát triển khách quan của xã hội Việt Nam:

- Đảng đã xây dựng được hệ thống tổ chức thống nhất và cương lĩnh chính trị đúng đắn

- Đảng đã nhanh chóng phát triển tổ chức, cơ sở của mình trong nhiều nhà máy, xí nghiệ, khu mỏ, đồn điền ởnông thôn và thành phố

- Đảng đã phát động, lãnh đạo quần chúng đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và tay sai, đòi quyền dânchủ, dân sinh, có đường lối đúng đắn, khẩu hiệu đấu tranh thích hợp

- Hệ thống tổ chức của Đảng vững chắc, được quần chúng nhân dân tin yêu, ủng hộ và ăn sâu trong quầnchúng

- Đảng có nền tảng tư tưởng vững vàng, đúng đắn: chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Có thể nói việc Đảng CS VN ngay từ khi mới ra đời đã phát động được cao trào 30 - 31 đã đáp ứng được yêu cầu

và nguyện vọng của công nhân và nông dân trước tình hình mới Điều này thể hiện vai trò và vị trí quan trọng quyết địnhcủa Đảng đối với sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam

8. Tại sao nói phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là đỉnh cao của phong trào 30-31?|

- Vì : Phong trào cách mạng 1930 – 1031 đã diễn ra trên quy mô lớn, hình thức quyết liệt và triệt để Cụ thể:

- Về quy mô, PTCM đã diễn ra trong gần hai năm từ 30 đến 31, kéo dài từ Bắc đến Nam, cả thành thị lẫn nôngthôn Đó là các cuộc đấu tranh của công nhân ở các thành phố lớn như Nam Định, Hà Nội, Vinh – Bến Thủy… Nhiềucuộc biểu tình của nhân dân liên tục diễn ra ở Hà Nam, Hà Tĩnh, Nghệ An… Cuộc đấu tranh bắt đầu từ tháng 5, ban đầuchỉ có 54 cuộc đấu tranh, sau đó tăng dần gấp 7 lần vào tháng 9 và tháng 10

Trang 6

- Hình thức quyết liệt: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng cách mạng đã đấu tranh từ thấp đến cao, ngàycàng sôi nổi không ngại hi sinh quyết vùng lên chiến đấu giành độc lập tự do Từ những cuộc bãi công của công nhân cao

su Phú Riềng, diên cưa Bến Thủy…đến những cuộc biểu tình đòi giảm sưu cao thuế nặng của nhân dân Thái Bình, Nghệ

An , Hà Tĩnh… Khi bị thực dân Pháp trả lời bằng sung đạn, họ đã vùng lên chống lại bằng các cuộc biểu tình có vũ trang

hộ trợ: Nhân dân huyện Nam Đàn đốt huyện lị, phá nhà lao; nông dân Thanh Chương bao vây đồn điền Kí Việt… Điểnhình là cuộc biểu tình của nhân dân huyện Hưng Nguyên/ 12/9/30

 Phong trào có sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang (thô sơ), tất cả các giai cấp đều thamgia, đặc biệt các phong trào đều do giai cấp công nhân và nông dân đứng đầu

- Mang tính chất triệt để: dưới sự lãnh đạo của Đảng, quần chúng cách mạng ko còn mơ hồ về kẻ thù của dântộc và giai cấp như trước nữa mà nhằm thẳng vào hai đối tượng là thực dân pháp và địa chủ phong kiến Bằng sức mạnhquật khởi của mình qua đấu tranh đã khiến cho chính quyền địch ở nhiều địa phương thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

bị tê liệt, tan rã Trước tình hình đó một chính quyền mới mô phỏng theo Xô Viết ở NGa ra đời Tuy mới hình thành vàchỉ tồn tại được trong một thời gian ngắn nhưng chính quyền xô viết Nghệ Tĩnh đã tỏ rõ bản chất cách mạng và ưu việtcủa mình, đó là một chính quyền của dân, do dân và vì dân nên đã đem lại nhiều lợi ích căn bản cho nhân dân CỤ thể:+ Về chính trị - quân sự: ban bố thực hiện các quyền tự do, dân chủ, thành lập hội, công hội… thông qua các cuộcmitting, hội họp để truyên truyền, giáo dục ý thức chính trị cho quần chúng

+ Về kinh tế: chia lại ruộng đất cho nông dân, bãi bỏ các thứ thuế vô lí…

=> Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời đại diện cho lẽ phải, công bằng Đó là sự sáng tạo của quần chúng dưới sự lãnh đạocủa Đảng, chính quyền Xô Viết đã trở thành niềm cỗ vũ to lớn đối với phong trào cách mạng cả nước, chính quyền về taygiai cấp công nhân và nông dân ở một số huyện xã thuộc hai tỉnh Nghệ AN, Hà tĩnh – thành quả này chưa địa phương nào

ở nước ta làm được

- Mặc dù bị thực dân Pháp đàn áp dã man nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ Tĩnh vẫn tiếp tụcdâng cao, phát triển thành cuộc đấu tranh vũ trang làm sụp đổ và tan rã hàng mảng chính quyền của đế quốc và phongkiến

9. Tại sao Đảng chủ trương đòi dân sinh dân chủ trong thời kỳ 36-39?

Answer: Đảng chủ trương đòi dân sinh, dân chủ trong thời kỳ 36-39 vì:

Đây là chủ trương sáng tạo, phù hợp với sự phát triển của thực tiễn quốc tế và trong nước:

 Phù hợp với thực tiễn của quốc tế và thế giới:

Trang 7

+ Mặc dù phong trào cách mạng ở VN từ 1932 – 1935 có tạm thời lắng xuống nhưng ngọn lửa cách mạng vẫn âm ỉcháy Đầu năm 1936, các cơ sở, các tổ chức của Đảng và cơ sở cách mạng của quần chúng đã được khôi phục Tháng3.1935, Đại hội lần I của đảng ta họp ở Ma Cao – TQ đã chuẩn bị cho một cao trào cách mạng mới.

 Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và thế giới, đặc biệt dưới ánh sáng của chủ trươngchuyển hướng chiến lược của đại hội VII QTCS, trong những năm 36-39 BCH TW Đảng Cộng sản Đông Dương đã họphội nghị lần thứ II (7.36), III (3.37), IV (9.37), V (3.38)… đề ra những chủ trương đấu tranh đòi dân sinh dân chủ phù hợpvới tình hình cách mạng nước ta

 Về mặt chiến lược: Dân tộc dân chủ là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, Đảng không được xao lãng nhưng dotình thế trước mắt phải tập trung vào nhiệm vụ cụ thể là dân chủ dân sinh Đây là một phần của yêu cầu chiến lược lâu dài

và trong khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể trước mắt đó, đảng không ngừng phát triển lực lượng rèn luyện quần chúng đểtiến đến vấn đề giành chính quyền

Việc xây dựng tổ chức: chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranhcông khai và nửa công khai Nhằm mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng, giáo dục, tổ chức, lãnh đạo quần chúngbằng các hình thức và khẩu hiệu thích

Nhận thức mới của Đảng vể mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: Được thể hiện trong văn kiệnChung quanh vấn đề chính sách mới công bố tháng 10 năm 1936 Trong chính sách mới cho rằng : “ Cuộc dân tộc giảiphóng không nhất định phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng liên địa Nghĩa là không thể nói rằng muốn đánh đổ đế quốccần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa cần phải đánh đổ đế quốc Lý thuyết ấy có chỗkhông xác đáng.” Tức là với 2 nhiệm vụ này không nhất thiết phải song song tồn tại, mà phải tùy hoàn cảnh mà đặt nhiệm

vụ nào lên hàng đầu hoặc giải quyết các nhiệm vụ một cách liên tiếp, đồng thời xác định kẻ thù nào là nguy hiểm nhất đểtập trung lực lượng của dân tộc mà đánh cho toàn thắng

Tóm lại: chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và dân chủ, xác địnhmục tiêu trước mắt của CM, từ đó đề ra các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp hướng dẫn quần chúng đấutranh giành chính quyền, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh sau này Qua chủ trương

chuyển hướng đó thấy rõ sự lãnh đạo linh hoạt nhạy bén, kịp thời cửa Đảng ta nhằm lãnh đạo quần chúng cáchmạng từng bước thực hiện mục tiêu chiến lược đã đề ra

10. Giống và khác nhau giữa chính quyền Xô Viết và chính quyền dân chủ nhân dân?Tại sao Đảng chọn chính quyền dân chủ nhân dân?

Vì nnnd do nd tiến hành => bình đẳng, ko phân biệt tôn giáo => cq thuộc về tay nhân dân Nhà nước là đại diện, vìlợi ích của nhân dân

Cuộc chiến tranh thế giới và phong trào cách mạng thế giới sẽ đẻ ra một loạt các nc XHCN Đây là thời cơ rực rỡ

- Nắm bắt thời cơ, chuẩn bị đkiện để thực hiện khi có thời cơ =>> thành công

11. Tại sao Đảng chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh?

- Xuất phát từ hoàn cảnh nước ta và thế giới lúc bấy giờ:

* thế giới :+ 9/1939: chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ

+ 1940: phát xít Nhật nhảy vào xâm lược Đông Dương

Trang 8

trên cơ sở tình hình trong nước và quốc tế Đảng ta dự báo tình hình Đông Dương sẽ nhanh chóng tiến bước tới vấn

đề giải phóng dân tộc trên cơ sở nhận định đó, đảng đã triệu tập hội nghị trung ương lần 6 và 7 để đề ra và hoàn thiện chủtrương để cao nhiệm vụ đấu tranh dân tộc, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Giữa lúc đó Nguyễn Ái Quốc vềnước chủ trì hội nghị BCHTW lần 8 trong hội nghị này, đảng khẳng định tính chất cuộc cách mạng Đông Dương lúc này

là cách mạng dân tộc giải phóng , xác định nhiệm vụ cần thiết trước mắt của cách mạng là chống đế quốc tay sai, giànhđộc lập cho các dân tộc Đông Dương, kẻ thù trước mắt là pháp-nhật đảng ra quyết định giương cao hơn nữa ngọn cờ giảiphóng dân tộc và thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng Minh ( gọi tắt là mặt trận Việt Minh)với mục đích: Mặt trậnchủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, ,già trẻ, gái trai, không phân biệttôn giáo và xu hướng chính trị đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn== ngọn cờ tập hợp đồng đảoquần chúng, tổ chức và giáo dục họ trở thành lực lượng nòng cốt, hung hậu mạnh mẽ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,đoàn kết toàn dân, giác ngộ đồng đảo quần chúng cách mạng

- xuất phát từ điều kiện cách mạng khác nhau của 3 nước Đông Dương:

tại HN BCH TW lần 6 (1939) đã chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (gọi tắt làmặt trận phản đế Đông Dương), nhưng tại thời điểm này, mặt trận này không còn phù hợp nữa bởi điều kiện cách mạngcủa các nước thời điểm này đã diễn biến khác, thời cơ cách mạng cũng không đồng nhất, nhiệm vụ chủ yếu lúc này lại làgiành độc lập dân tộc cho các dân tộc Đông Dương Nên HNBCH TW lần 8 chủ trương tách mặt trận phản đế ĐôngDương thành 3 mặt trận riêng cho mỗi nước để kịp thời chỉ đạo cách mạng giải phóng dân tộc ở mỗi nước này: mặt trậnViệt Nam độc lập đồng mình, mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh, mặt trận Cao Miên độc lập đồng minh

- đóng góp của mặt trận Việt Minh đối với cách mạng tháng 8 năm 1945:

Mặt trận Việt Minh là mặt trận đoàn kết dân tộc do Đảng lãnh đạo đã có nhiều đóng góp cho cách mạng ViệtNam qua các thời kì lịch sử, đặc biệt là cách mạng tháng 8 năm 1945:

+mặt trận đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước xây dựng khối đoàn kết dân tộc, xây dựng lực lượng chính trị to lớncho cách mạng

+ mặt trận Việt Minh đóng góp to lớn trong việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, trong việc chỉ đạo phongtrào kháng Nhật cứu nước

+triệu tập và tiến hành thành công quốc dân đại hội tân trào tháng 8/1945 huy động nhân dân tham gia tổng khởinghĩa tháng 8

+sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Việt Minh tiếp tục củng cố khối đoàn kết toàn dân , lãnh đạo nhân dân xâydựng và bảo vệ chính quyền mới, chuẩn bị cho kháng chiến

12. Tác dụng của phong trào phá và cướp kho thóc của Nhật đối với sự nghiệp cách mạng

- từ cuối tháng 3 năm 1945 trở đi, cách mạng Việt Nam đã chuyển lên thành cao trào và những cuộc khởi nghĩatừng phần đã liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương

- Trong lúc nhân dân ta gấp rút chuẩn bị Tổng khởi nghĩa thì ở Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ đã xảy ra nạnđói khủng khiếp Hai triệu đồng bào ta bị chết đói Đó là hậu quả thảm khốc nhất của chính sách bóc lột, vơ vét, tích trữlương thực và gây chiến của bọn phát xít Nhật - Pháp Để giải quyết nạn đói và thúc đầy phong trào đi lên, hội nghị banthường vụ trung ương quyết định tiến hành phá kho thóc, giải quyết nạn đói Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”của Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân đẩytới cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên trong cả nước, Phong trào phá và cướp kho thóc của Nhật đã đem lại nhiều tácdụng cho sự nghiệp cách mạng:

Trang 9

- khẩu hiệu đã đáp ứng được nguyện vọng bức thiết của nhân dân lúc bấy giờ khi nạn đói đang diễn ra trầmtrọng, chính vì thế đã tạo nên một phong trào đấu tranh mạnh mẽ chưa từng có, tiêu biểu là tại Bắc Giang, Bắc Ninh, VĩnhYên, Phúc Yên, Phú Thọ, Ninh Bình, Hải Dương, ngoại thành Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,…đãphá được rất nhiều kho thóc của Nhật, Pháp Hàng triệu quần chúng đi phá kho thóc của địa chủ dưới nhiều hình thức.thóc được chia cho nông dân nhằm giải quyết nạn đói cũng như làm lương thực tích trữ cho cách mạng.

- đánh một đòn vào kinh tế của Nhật và Pháp, khi lương thực tích trữ của bọn chúng không còn, tạo khó khăncho chúng

- phong trào thổi bùng ngọn lửa đấu tranh của nhân dân, nên phòng trào diễn ra rầm rộ và tạo nên một phong tràomạnh mẽ trên quy mô rộng

- thúc đẩy phong trào cách mạng đi lên

- góp phần vào cao trào kháng nhật cứu nước=tạo sự chuẩn bị sẵn sàng trên tất cả các lĩnh vực, tạo niềm tin và ýchí quyết tâm cho nhân dân

- phong trào phá kho thóc, cứu đói dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những hình thức tập dượt quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

13. Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hoạt động của chúng ta đã dự báo thời cơ cách mạng nước ta

- Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, ban thường vụ trung ương Đảng họp tại làng đình bảng (từ sơn – bắc ninh,

ngày 12/3/1945 ban thường vụ đã ra chỉ thị: “nhật pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”

- ý nghĩa:

+ chỉ thị như một chương trình hành động một lời hiệu triệu, một ngọn cờ dẫn dắt toàn quan, toàn dân ta đẩy mạnhchuẩn bị cho tổng khỏi nghĩa dành chính quyền

+ sự lãnh đạo kịp thời, sáng tạo, đúng đắn của đảng ta trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình

- Chỉ thị dự báo thời cơ cách mạng:

Khi phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp, ngay đêm hôm đó, trung ương Đảng ta họp phiên mở rộng và ra chỉ

thị “Nhật –Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta Đảng ta đã dự báo 2 thời cơ có thể tạo ra một cơ hội vàng để nhân dân ta đứng dậy giành chính quyền cơ hội thứ nhất là quân Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương để đánh Nhật,

cơ hội thứ hai là phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh Cuối cùng khả năng thứ hai đã xảy ra, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh Do dự đoán được tình huống có thể xảy ra, Đảng ta đã chỉ đạo rất chính xác, tiến hành tổng khởi nghĩa tháng Tám.

Hành động của chúng ta dự báo thời cơ cách mạng: thông qua diễn biến của cao trào kháng nhật cứu nước

+ ở khu căn cứ Cao- bắc – lạng việt nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quân phối hợp với lực lượngchính trị của quần chúng giải phóng hàng loạt xã châu, huyện… thành lập chính quyền CM

+ Phong trào phá kho thóc của nhật giải quyết nạn đói

+ tại các nhà giam tù chính trị nổi dậy phá nhà lao vượt ngục ra ngoài hoạt động……

=== cao trào kháng nhật cứu nước tạo ra sự chuẩn bị sẵn sàng trên tất cả các lĩnh vực để tiến tới tổng khỏi nghĩadành chính quyền

- Hội nghị quân sự bắc kì họp ngày 15- 20/4/1945 nhằm đẩy mạng hơn nữa công tác chuẩn bị khởi nghĩa vụ trang

- 16/4/1945 ủy ban giải phóng dan tộc việt nam thành lập

= + kẻ thù đang suy yếu

+ quần chúng thống trị không thể chịu bị thống trị được nữa

+ đội tiền phong cách mạng tức đảng cộng sản đã sẵn sang lãnh đạo

+ các tầng lớp trung gian đã ngã về phía cách mạng

Trang 10

 tất cả đã sẵn sàng cho tổng khởi nghĩa.

14. Những hạn chế của luận cương chính trị và nguyên nhân của những hạn chế đó

Tháng 4.1930, sau thời gian học tập ở Liên Xô, Trần Phú được Quốc tế cộng sản cử về nước hoạt động

7.30, Trần Phú được bổ sung vào BCH TW Đảng

Từ 14 đến 30.10.30, hội nghị BCH TW họp lần thứ nhất tại Hương Cảng TQ do Trần Phú chủ trì Hội nghị đãthông qua luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo

Luận cương chính trị 10/30 là sự tiếp nối, cụ thể hóa cương lĩnh chính trị tháng 2.30, vạch ra đường lối cơ bản, cốtlõi cho cách mạng Đông Dương

Tuy nhiên, cương lĩnh cũng bộc lột một số hạn chế:

a Hạn chế:

- Nhiệm vụ: Luận cương tháng 10 -1930 chưa vạch rõ được mâu thuẫn cơ bản trong xã hội thuộc địa, quá coitrọng vấn đề giai cấp, cách mạng ruộng đất mà xem nhẹ nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập tự do cho dân tộc Trongkhi đó, với bối cảnh của nước Đông Dương lúc bấy giờ là một nước thuộc địa thì nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụcấp bách nhất, phải đặt lên hàng đầu

- Động lực cách mạng: giai cấp công – nông

 Đánh giá không đúng vai trò CM của tầng lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độnhất định của giai cấp tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo, phân hóa một số bộ phận trung tiểu địa chủ trong cách mạng giảiphóng dân tộc Do đó Luận cương không đề ra được một liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống

đế quốc xâm lược và tay sai

b Nguyên nhân

- Luận cương chưa tìm ra và nắm những những đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam

- Do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề giai cấp, dân tộc trong CM thuộc địa

- Chịu ảnh hưởng trực tiếp tử khuynh hướng “Tả” của Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản trong thờigian đó Luận cương tháng 10-1930 đã không chấp nhận những điểm mới, sáng tạo trong Chính cương của Nguyễn ÁiQuốc được nêu trong Đường Cách mệnh, Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt

15. Qua phong trào 36-39, Đảng đã thật sự trưởng thành

- Được thể hiện qua 4 nghị quyết của 4 hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương: Hội nghị

lần 2 (tháng 7-1936), Hội nghị lần 3 (3-1937), HN lần 4(9-1937), HN lần 5(3-1938)

- Chủ trương đấu tranh đòi quyền dân chủ, dân sinh: BCH TW xác định cách mạng ở Đông Dương vẫn là

“cách mạng tư sản dân quyền - phản đế và điền địa”, nhưng yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân dân ta lúc này là tự do,dân chủ, cải thiên đời sống

- Về kẻ thù cách mạng: bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng

- Xác định nhiệm vu trước mắt của CM: chống Phát xít, chống chiến tranh đế quốc, đòi tự do, dân chủ, cơm

Trang 11

- Xây dựng tổ chức: Phải chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấutranh công khai và nửa công khai Nhằm mở rộng quan hệ của Đảng với quần chúng, giáo dục, tổ chức, lãnh đạo quầnchúng bằng các hình thức và khẩu hiệu thích.

- Nhận thức mới của Đảng vể mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ: Được thể hiện trong vănkiện Chung quanh vấn đề chính sách mới công bố tháng 10 năm 1936 Trong chính sách mới cho rằng : “ Cuộc dân tộcgiải phóng không nhất định phải gắn kết chặt với cuộc cách mạng liên địa Nghĩa là không thể nói rằng muốn đánh đổ đếquốc cần phải phát triển cách mạng điền địa, muốn giải quyết vấn đề điền địa cần phải đánh đổ đế quốc Lý thuyết ấy cóchỗ không xác đáng.” Tức là với 2 nhiệm vụ này không nhất thiết phải song song tồn tại, mà phải tùy hoàn cảnh mà đặtnhiệm vụ nào lên hàng đầu hoặc giải quyết các nhiệm vụ một cách liên tiếp, đồng thời xác định kẻ thù nào là nguy hiểmnhất để tập trung lực lượng của dân tộc mà đánh cho toàn thắng

 Tóm lại: chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và dân chủ, xácđịnh mục tiêu trước mắt của CM, từ đó đề ra các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp hướng dẫn quầnchúng đấu tranh giành chính quyền, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh sau này

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời kỳ 1936-1939 phong trào đấu tranh cách mạng diên ra sôi nổi và đầy hiệu quả

Trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc, Đảng đã xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, một trong nhữngnhân tố quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng

Đảng ta đã khéo kết hợp các hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp bí mật, bất hợp pháp đểxây dựng lực lượng cách mạng Thông qua thực hiện đấu tranh Đảng đã xây dựng được đội quân chính trị quần chúngđông đảo có giác ngộ, có tổ chức

Uy tín của Đảng lan rộng, thấm sâu vào những tầng lớp quần chúng rộng rãi, đã động viên, giáo dục chính trị , xâydựng tổ chức, đoàn kết đấu tranh cho hàng triệu quần chúng

Mục tiêu sát hợp, đáp ứng nguyện vọng bức thiết của quần chúng nên phong trào đấu tranh rộng khắp, sôi nổi trongphạm vi cả nước

16. Phong trào 36-39 đã tổ chức, rèn luyện lực lượng cách mạng

 Cách mạng tháng Tám thành công là kết quả chuẩn bị của 15 năm lãnh đạo của Đảng từ khi ra đời Cóđược thành công này là do kết quả của quá trình lão đạo của Đảng về mọi mặ, trải qua nhiều bước phát triển mới đạt đếnthắng lợi cuối cùng Đảng và nhân dân đã trải qua nhiều cuộc tổng diễn tập như 30 – 31, 36 – 39, 39 – 45, trong đó cuộctổng diễn tập 36 – 39 được coi là cuộc tập dượt lần hai chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám

- Cao trào 30 – 31 mà đỉnh cao là Xô Viêt Nghệ Tĩnh kết thúc để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu Saucao trào 30 – 31 phong trào cách mạng nước ta rơi vào thoái trào cách mạng tạm thời Với sự lãnh đạo đúng đắn của ĐCSvới tình hình thế giới nhiều thuận lợi, phong trào cách mạng bùng lên mãnh liệt tạo thành cao trào 36 – 39

- Đây là cao trào dân chủ rộng khắp Trong thời kì này, Đảng đã tận dụng mọi điều kiện thuận lợi, phát độngphong trào dân chủ, thu hút đông đảo quần chúng tham gia Hình thức và phương pháp đấu tranh hết sức phong phú: côngkhai và bán công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp

Trang 12

- Qua thực tiễn, đội ngũ Đảng viên được tăng về cả số lượng lẫn chất lượng Đảng viên được tôi luyện rèngiũa trong thực tế để trưởng thành Chính điều này đã khiến cho số lượng Đảng viên tăng, tổ chức Đảng từ cơ sở đượckiện toàn đồng thời cũng làm tăng uy tín của Đảng trong quần chúng nhân dân.

- Với hình thức Mặt trận dân chủ Đông Dương, đông đảo quần chúng đã được tập hợp, giác ngộ Trong đó,công – nông là lực lượng nòng cốt Ngoài ra còn có sự tham gia của các lực lượng yêu nước và dân chủ như tiểu tư sản, tưsản, địa chủ… Một đội quân chính trị quần chúng được xây dựng hùng hậu trong cho phong trào đấu tranh về sau

 Bài học kinh nghiệm:

Qua ptrào 3 –39, Đảng csản Đông Dương cũng đã tích lũy đc những bài học kinh nghiệm:

- bài học về sự chỉ đạo của Đảng: Đảng nhận thức được nhiệm vụ chiến lược của cuộc cách mạng cả về quy

- bài học về xây dựng lực lượng:

+ Xây dựng lực lượng cách mạng đông đảo

17. Tại sao Đảng chủ trương hoà với quân Tưởng khi chúng vào miền Bắc nước ta?

- Cách mạng tháng Tám thành công, 2.9.1945 nước VNDCCH ra đời và đứng trước muôn vàn khó khăn, thửthách, nhất là nạn ngoại xâm:

- Về chính trị quân sự, lúc này quân đội các nước Đồng minh, dưới danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản lũlượt kéo vào nước ta

+ Từ vĩ tuyến 16 trở ra, 20 vạn quân Tưởng ồ ạt tràn vào nước ta nhằm thực hiện âm mưu “Diệt cộng, cầmHồ” Theo sau chúng là bọn Việt gian, phản động trong các tổ chức Việt Quốc, Việt Cách…

+ Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, núp dưới bong quân ANh, thực dân Pháp đã quay trở lại Đêm 22 rạng 23.9.45,đthực dân Pháp nổ sung tấn công trụ sở chính quyền cách mạng tại Sài Gòn, mở màn cho quá trình tái chiếm Việt Nam lầnhai

+ Lúc này trến đất nước ta còn khoảng 6 vạn quân Nhật đang nguyên vũ khí Hơn nữa, hơn nửa trong số đónghe theo lời quân Anh đã đứng về phía Pháp, chống lại lực lượng cmạng

+ Trong bối cảnh đó, các lực lượng phản động trong các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo cũng ngóc đầu dậy hoạtđộng chống phá cách mạng

+ Trong khi đó chính quyền của ta còn non trẻ, quân đội với số lượng ít, trang bị vũ khí còn thô sơ Chưa baogiờ đất nước ta lại có nhiều thế lực ngoại xâm và nội phản như vậy

- Về kinh tế, nền nông nghiệp nước ta vốn lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề Nạn đói 45 khiến hàngvạn người chết

- Về tài chính, ngân sách quốc gia hầu như trống rỗng

Trang 13

- Về văn hóa xã hội, do tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân phong kiến để lại nên có hơn 90% dân sốnước ta mù chữ Các tệ nạn xã hội hoành hành.

- Trước muôn vàn khó khăn sau cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt là nạn ngoại xâm và nội phảnđang âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh vạch rõ: tránh trường hợp một mình đốiphó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, phải triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong lòng hàng ngũ đối phương để phân hóa, cô lậpcao độ kẻ thù Trên cơ sở đó, ta chủ trương tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột với quân Tưởng, thực hiện nhân nhượng cónguyên tắc với chúng

18. Những biện pháp Đảng đưa ra để hoà với quân Tưởng?

- Trước muôn vàn khó khăn sau cách mạng tháng Tám thành công, đặc biệt là nạn ngoại xâm và nội phảnđang âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng, Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh vạch rõ: tránh trường hợp một mình đốiphó với nhiều kẻ thù cùng một lúc, phải triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong lòng hàng ngũ đối phương để phân hóa, cô lậpcao độ kẻ thù Trên cơ sở đó, ta chủ trương tạm thời hòa hoãn, tránh xung đột với quân Tưởng, thực hiện nhân nhượng cónguyên tắc với chúng

- Tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I (2.3.46) ta đồng ý nhường cho Việt Quốc, Việt Cách 70 ghếtrong Quốc hội, không thông qua bầu cử, một ghế Phó Chủ tịch nước (Nguyễn Hải Thần), 4 ghế bộ trưởng (Bộ ngoại giao,

bộ kinh tế, canh nông và bộ xã hội) Còn đối với hai bộ quan trọng là bộ nội vụ và bộ quốc phòng, Hồ Chí Minh mời hainhà yêu nước trung gian là cụ Huỳnh Thúc Kháng và luật sư Phan Anh

- 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” nhưng thực chất là tạm thời rút lui vào hoạtđộng bí mật, tiếp tục lãnh đạo đất nước, lãnh đạo chính quyền cmạng

- 7/1946, với sự giúp đỡ của Đảng csản, giới tri thức yêu nc thành lập Đảng xã hội VN

- Ta đồng ý cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện giao thông vận tải cho quân Tưởng, đồng

ý tiêu tiền quan kim quốc tệ trên thị trường

- Đối với các tổ chức phản cách mạng, chính quyền cách mạng dựa vào quần chúng nhân dân kiên quyết vạchtrần âm mưu và hoạt động của chúng Những kẻ phá hoại có đủ bằng chứng thì trừng trị theo pháp luật

- Chính nhờ chính sách nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng, Chính phủ, Hồ Chí Minh đã hạn chế các hoạtđộng phá hoại của quân trung hoa dân quốc và tay sai, tạo điều kiện để cả nước ta tập trung cho nhiệm vụ chống Pháp ởNam Bộ

19. Tại sao chúng ta hoà với Pháp?

Đầu năm 1946, thực dân Pháp đã chiếm được nhiều địa bàn chiến lược quan trọng ở Nam Bộ Pháp đang chuẩn bịcho việc tiến quân ra Bắc để thôn tính cả VIệt Nam Tuy nhiên do lực lượng còn ít, khoảng 3,5 vạn quân mà theo tínhtoán, Pháp phải cần tới 10 vạn Đồng thời ở miền Bắc có hai trở ngại lớn cho quân Pháp: quân Tưởng và phong trào đấutranh của nhân dân ta Vì thế Pháp chủ trương dùng biện pháp chính trị điều định với Trung Hoa Dân quốc để đưa quân ramiền Bắc trong hòa bình

Trong khi đó, ở Trung Quốc, phong trào cách mạng do Đảng csản lãnh đạo lên cao TRung Hoa Dân quốc muốn rútquân từ Bắc VN về nước để tập trung cho việc đối phó ở trong nước

Trên cơ sở đó, 28.2.1946, Hiệp ước Hoa – Pháp được kí kết tại Trùng Khánh – Trung Quốc Tho đó, Trung HoaDân quốc được Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của PHáp trên đất TQuốc và đc vận chuyển hàng hóa qua cảng HảiPhòng vào Vân Nam mà không phải đóng thuế Đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay Trung Hoa Dân quốc để giải giápquân đội Nhật

Trang 14

Hiệp ước Hoa – Pháp đặt nhân dân ta trước hai con đường cần phải lựa chọn: hoặc cầm súng chiến đấu chống thựcdân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc hoặc hòa hoãn, nhân nhượng với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó vớinhiều kẻ thù cùng một lúc Hơn nữa, lúc này thực lực của ta chưa đủ mạnh.

3.3.1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng họp do HCM chủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến”, chủ động hòa vớiPháp thông qua hai văn bản ngoại giao: Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946

Hiệp định Sơ bộ là văn bản ngoại giao đầu tiên của Chính phủ VN DCCH kí với Pháp Ở đó, Pháp đã công nhận

Vn là một quốc gia tự do, có chủ quyền Kí hiệp định Sơ bộ hòa hoãn với Pháp, ta đã tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vìphải chống lại nhiều kẻ thù một lúc, đẩy được 20 vạn quân Trung hoa Dân quốc cùng bọn tay sai ra khỏi nước ta, có thêmthời gian hòa bình để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chốngthực dân Pháp

Sau khi kí hiệp định Sơ bộ, ta nghiêm chỉnh chấp hành và tranh thủ thời gian để củng cố chính quyền xây dựngphát triển lực lượng cách mạng Về phía Pháp, chúng không thực hiện những cam kết với ta, vẫn tiếp tục gây xung đột vũtrang ở Nam Bộ, thành lập chính phủ Nam Kì tự trị do Nguyễn Văn Thinh cầm đầu với âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi VN

Do dã tâm phá hoại của Pháp, Hội nghị trù bị ở Đà Lạt diễn ra trên hai tuần và hội nghị chính thức diễn ra ởPhongtennoblo (6.7.46) không thu được kết quả nào Mối bang giao Pháp – Việt trở nên vô cùng căng thẳng, nguy cơ củamột cuộc chiến tranh sắp tới dần

Trong bối cảnh đó, với tư cách là thượng khách ở Pháp, HCM đã kí với Mu –tê Đại điện chính phủ Pháp bản Tạmước (14.9.46), nhân nhượng cho Pháp 1 số quyền lợi ktế - vhóa ở Vn

Bản Tạm ước thể hiện thiện chí hòa bình của Nhân dân Việt Nam, tạo điều kiện cho ta kéo dài thời gian hòa hoãncần thiết để xây dựng, củng cố lực lượng, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc khó tránh khỏi với thực dânPháp

 Như vậy, đứng trước tình thế hiểm nghèo trong năm đầu tiên sau cách mạng Tháng Tám, Đảng và chủ tịchHCM đã thực hiện một đường lối đối ngoại hết sức bình tĩnh, khôn khéo theo nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đểđưa con thuyền cách mạng Vn lướt qua thác ghềnh nguy hiểm

20. Giới thiệu những m ốc lịch sử (trong năm 1946) đàm phán hoà hoãn giữa ta với Pháp?

Cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta với Pháp diễn ra rất căng thẳng Ta yêu cầu Pháp phải công nhận quyền “độclập” dân tộc, trong khi Pháp chỉ công nhận quyền “tự trị” một khái niệm ta cương quyết phản đối Cuối cùng, Pháp đã phảiđồng ý với giải pháp do phái đoàn ta đưa ra “Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do

Ngày 6-3-1946, với sự có mặt của đại diện một số nước phái đoàn ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã ký vớiđại diện Chính phủ Pháp G.Xanh tơmi (Sainteny) bản Hiệp định sơ bộ Nội dung chính của Hiệp định là:

- Chính phủ Pháp công nhận nước VNam dân chủ cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quânđội, tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên Hiệp Pháp

- Chính phủ Việt Nam chấp nhận Pháp đưa 15.000 quân ra miền Bắc để thay thế nhiệm vụ của quân Tưởng.Quân Pháp sẽ rút dần mỗi năm 1/5 quân số khỏi khu vực này và sẽ hoàn tất việc rút quân trong vòng 5 năm

- Hai bên ngừng xung đột, giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ Tiếp tục mở các cuộc điều đình thương lượng vềcác vấn đề ngoại giao của Việt Nam , tương lai của Đông Dương, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở ViệtNam

- Sau khi kí hiệp định sơ bộ ta nghiêm chỉnh chấp hành nhưng Pháp lại vi phạm lệnh ngừng bắn ở Nam Bộ

- 1/6/1946 Pháp tlập chính phủ Nam kì tự trị hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam

- 19/4/1946 – 11/5/1946 Hội nghị trù bị giữa chính phủ Pháp – Việt Nam ở Đà Lạt họp trao đổi những vấn đềđược đề cập tại đàm phán chính thức ở Pari nhưng không có kết quả

Ngày đăng: 04/05/2016, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w