Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng trên các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong vùng nghiên cứu của xã Cao Trĩ năm 2013 .... Từ những vấn đề thực tế nêu trên, được đư
Trang 1- -
HOÀNG THỊ BÍCH
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP XÃ CAO TRĨ –
HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Quang Thi
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với kiến thức khoa học Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lí luận, phương pháp
làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, em đã tiến hành nghiên
cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
Trong suốt quá trình thực tập, em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy
cô giáo và anh chị nơi em thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Quản lý Tài nguyên và các thầy, cô giáo
bộ môn và đặc biệt là thầy giáo ThS Nguyễn Quang Thi người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều song bản khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để bài khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 5 năm 2014
Sinh Viên
Hoàng Thị Bích
Trang 3BVTV Bảo vệ thực vật
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
FAO Food and Agricuture Organnization - Tổ chức nông lương
Liên hiệp quốc GIS Geographic Information Systems - Hệ thống thông tin địa lý
UBND Ủy ban nhân dân
VH Very high (rất cao)
VL Very Low (rất thấp)
Trang 4Bảng 2.2: Phân bố diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các vùng trên cả
nước 21
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất xã Cao Trĩ năm 2013 41
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Cao Trĩ năm 2013 43
Bảng 4.3 Các LUT sản xuất nông nghiệp của xã Cao Trĩ 46
Bảng 4.4: Diện tích, năng suất trung bình, sản lượng của một số cây trồng 49
Bảng 4.5: Hiệu quả kinh tế của cây trồng hàng năm tính trên 1 ha 51
Bảng 4.6: Hiệu quả kinh tế của LUT cây ăn quả tính trên 1 ha 52
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh tế của cây trồng hàng năm tính trên 1 ha 53
Bảng 4.8: Bảng phân cấp hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tính bình quân/1ha 55
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 57
Bảng 4.10 Hiệu quả xã hội của các LUT 58
Bảng 4.11 Hiệu quả môi trường của các LUT 60
Trang 5Hình 4.1 Cơ cấu sử dụng đất của xã Cao Trĩ năm 2013 42 Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nhiệp của xã Cao Trĩ năm 2013 44
Trang 6PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp 4
2.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành đất 4
2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp 5
2.2 Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới 5
2.2.1 Khái quát chung 5
2.2.2 Một số phương pháp nghiên cứu trên thế giới 6
2.3 Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất đai tại Việt Nam 10
2.4 Sử dụng đất và những quan điểm sử dụng đất 11
2.4.1 Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 11
2.4.2 Vấn đề suy thoái tài nguyên đất và quan điểm sử dụng đất bền vững 15
2.4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 20
2.4.4 Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 27
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 27
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.3.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 27
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cao Trĩ 27
Trang 73.3.5.Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ 28
3.3.6 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 28
3.3.7 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã Cao Trĩ 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 28
3.4.1 Phương pháp phân vùng nghiên cứu 28
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp 29
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp 29
3.4.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 29
3.4.5 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất 29
3.4.6 Phương pháp đánh giá tính bền vững 30
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của xã Cao Trĩ 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiêncủa xã Cao Trĩ 31
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Cao Trĩ 36
4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cao Trĩ 40
4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của xã Cao Trĩ 40
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 của xã CaoTrĩ 43
4.3 Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Cao Trĩ 45 4.3.1 Các loại hình sử dụng đất của xã 45
4.3.2 Mô tả các loại hình sử dụng đất 46
4.3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng trên các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong vùng nghiên cứu của xã Cao Trĩ năm 2013 49
4.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 50
4.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 50
4.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 58
4.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 59
4.5 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ 62
Trang 84.6 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững 64
4.6.1 Nguyên tắc lựa chọn 64
4.6.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 64
4.6.3 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 64
4.7 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã Cao Trĩ 65
4.7.1 Nhóm giải pháp về chính sách 65
4.7.2 Nhóm giải pháp khoa học kỹ thuật 66
4.7.3 Nhóm giải pháp thị trường 66
4.7.4 Giải pháp đối với đất trồng cây hàng năm 66
4.7.5 Giải pháp đối với cây trồng lâu năm (cây ăn quả) 67
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá Đất đai là nền tảng để
con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là
đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc
biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực thực phẩm nuôi sống con người Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Trong những năm qua nền nông nghiệp nước ta
đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội
của đất nước Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu Tuy nhiên đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp
có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa
kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy, việc đánh giá tiềm năng đất đai để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu
đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền
kinh tế nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá tiềm năng
đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao
giờ hết
Trang 10Xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là một xã miền núi, do đó địa hình của xã mang đặc trưng miền núi, bị chia cắt mạnh, có dộ dốc lớn Xã Cao Trĩ là một xã thuần nông nên nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính Hiện nay, trên địa bàn xã quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đã gây áp lực mạnh tới việc sử dụng đất đai, chuyển
đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao động đặc biệt là việc chuyển diện tích đất
nông nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác đòi hỏi xã Cao Trĩ phải phát huy được thế mạnh về tiềm năng đất đai cũng như lao động của mình Đồng thời để đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của tỉnh, Cao Trĩ cần phải có những định hướng lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện đặc biệt phải quan tâm đến vấn đề sản xuất nông nghiệp Đánh giá tiềm năng đất đai để biết được quỹ đất và khả năng hiện có từ đó chỉ ra phương hướng sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là việc làm cần thiết
Từ những vấn đề thực tế nêu trên, được được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: Th.s Nguyễn Quang Thi,
em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp có
hiệu quả
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng sử dụng của nhóm đất nông nghiệp
- Đánh giá được hiện trạng các loại hình sử dụng đất
- Lựa chọn được các loại hình sử dụng đất có hiệu quả
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu tài liệu thu thập được phải đảm bảo khách quan, trung thực, chính xác
Trang 11- Các nội dung nghiên cứu phải cụ thể, thực tế, phản ánh đúng thực trạng khu vực nghiên cứu và có thể sử dụng tốt cho việc định hướng sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài
- Đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu học tập tốt cho các bạn sinh viên
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đề tài hoàn thiện sẽ là tài liệu cụ thể mang tính định hướng quan trọng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại địa phương nghiên cứu
- Đưa ra được các giải pháp cụ thể về sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương nghiên cứu
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả đất đai, từ đó định hướng và đề xuất những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao và bền vững, phù hợp với
điều kiện của địa phương
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành đất
2.1.1.1 Khái niệm về đất
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là
đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển Đất là lớp phủ
thổ nhưỡng, là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển Sự tác động qua lại của bốn quyển trên
và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản
Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Đôkutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của năm yếu tố là: Khí hậu, đá
mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian Đất được xem như một thể sống, nó luôn
vận động, biến đổi và phát triển (Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thế Hùng -
Giáo trình đất, Nhà xuất bản Nông nghiệp; 1999)[9].
Theo các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng:“
Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng gồm: lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, mặt nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất theo chiều nằm ngang - trên bề mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật, cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết sức to lớn
đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người (Hội khoa học đất
Việt Nam (2000), Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp Hà Nội)[6]
2.1.1.2 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất sản xuất nông nghiệp khác
Trang 132.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất C.Mác đã
nhấn mạnh “Đất là mẹ, lao động là cha của mọi của cải vật chất xã hội”, “Đất
là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật
chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” Thực tế cho thấy, trong quá
trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển mọi nền văn
minh vật chất, văn hóa tinh thần, các thành tựu khoa học công nghệ đều được
xây dựng trên nền tảng cơ bản - sử dụng đất Trong sản xuất nông lâm nghiệp đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ
yếu, đặc biệt và không thể thay thế Ngoài vai trò là cơ sở không gian, đất còn
có hai chức năng đặc biệt quan trọng:
- Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình
sản xuất: Là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào
cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng
nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng
và phát triển Như vậy, đất gần như trở thành một công cụ sản xuất Năng suất
và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất Trong tất cả các
tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này
2.2 Tình hình đánh giá đất đai trên thế giới
2.2.1 Khái quát chung
Trong đánh giá đất, đất đai được định nghĩa là một vùng đất mà đặc tính
của nó được xem như bao gồm những đặc trưng tự nhiên quyết định đến khả
năng khai thác được hay không và ở mức độ nào của vùng đất đó Thuộc tính
của đất gồm có khí hậu, thổ nhưỡng và lớp địa chất bên dưới, thủy văn, giới
động vật, thực vật và những tác động quá khứ cũng như hiện tại của con người
Các phương pháp đánh giá đất đai được rất nhiều nhà khoa học và các
tổ chức quốc tế quan tâm, do vậy nó trở thành một trong những chuyên ngành
nghiên cứu quan trọng và nó gắn liền với công tác quy hoạch sử dụng đất, trở
nên gần gũi với người sử dụng đất
Trang 14Các nhà thổ nhưỡng học đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính cấu tạo, các quy luật và quá trình hình thành đất, điều tra và lập các bản đồ đất toàn thế giới với tỷ lệ 1/5.000.000 Đồng thời từ thực tế lao động sản xuất trên đồng ruộng các nhà khoa học và cả những người nông dân đã đi sâu nghiên cứu, xem xét nhiều khía cạnh có liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất trên từng vạt đất Nói cách khác là họ tiến hành đánh giá đất đai
Như vậy việc đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên và xã hội Cho nên đánh giá đất
đai không chỉ là lĩnh vực khoa học tự nhiên mà còn là kinh tế, kỹ thuật nữa
Trong đánh giá, phân hạng đất những tính chất của đất đai có thể đo lường và ước lượng được Có rất nhiều đặc điểm, tính chất đất nhưng khi
đánh giá tùy theo khu vực nghiên cứu cần lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá đất
thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa tới đất đai của vùng nghiên cứu
Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng ngoài thực tế sản xuất nông nghiệp
2.2.2 Một số phương pháp nghiên cứu trên thế giới
Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung
và phương pháp đánh giá đất của mình Có nhiều phương pháp khác nhau nhưng nhìn chung có hai khuynh hướng: Đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên
có xem xét tới những điều kiện kinh tế - xã hội và đánh giá kinh tế đất có xem xét tới những điều kiện tự nhiên Dù là phương pháp nào thì cũng phải lấy đất
đai làm nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá, kết quả được thể hiện bằng
các bản đồ, báo cáo và các số liệu thống kê
2.2.2.1 Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ)
Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX và hoàn thiện vào năm 1986 để phục vụ cho đánh giá đất và thống kê chất lượng đất đai nhằm mục đích xây dựng chiến lược quản lý và sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất
Trang 15trên lãnh thổ thuộc Liên bang Xô Viết Kết quả đánh giá đất đã giúp cho việc hoạch định chiến lược sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất đai trên phạm
vi toàn Liên bang và phân vùng nông nghiệp tự nhiên (Nông thị thu Huyền – Giáo trình đánh giá đất)[17]
Thống kê các đặc tính cơ bản của đất đai để hướng cho các mục đích sử dụng và bảo vệ đất hợp lý Tuy nhiên, đối với các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chưa đi sâu một cách cụ thể từng loại sử dụng, phương pháp mới chỉ tập trung chủ yếu vào đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai và chưa có những quan tâm cân nhắc tới các điều kiện kinh tế, xã hội
2.2.2.2 Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh
Đánh giá đất đai ở Anh được áp dụng theo hai phương pháp dựa vào việc
thống kê sức sản xuất tiềm năng và sức sản xuất thực tế của đất
- Phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của
đất phụ thuộc vào ba nhóm nguyên nhân chính sau đây:
+ Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất + Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục
được như các công trình tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn
+ Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm là có thể khắc phục được như: cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất
- Theo phương pháp thứ hai, việc đánh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân nhiều nằm ở trên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên
đất tiêu chuẩn Tuy nhiên, phương pháp này gặp khó khăn vì sản lượng năng
suất còn phụ thuộc vào cây trồng được chọn và khả năng của người sử dụng (Nông thị thu Huyền – Giáo trình đánh giá đất)[17]
2.2.2.3 Phương pháp đánh giá đất đai ở Canada
Canada đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm Trong nhóm cây ngũ cốc lấy cây lúa mì làm tiêu chuẩn và khi có nhiều loại cây thì dùng hệ số quy đổi ra lúa mì Trong đánh giá đất đai các chỉ tiêu thường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ độ
độc trong đất, xói mòn và đá lẫn Trên cơ sở đó, đất Canada được chia làm 7
Trang 16nhóm rất chi tiết và thích nghi cao tới không gian sản xuất được ( Nông thị thu Huyền – Giáo trình đánh giá đất) [17]
2.2.2.4 Phương pháp đánh giá đất đai ở Ấn Độ
Tại Ấn Độ, một số bang đã tiến hành đánh giá đất đai, áp dụng phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng hương trình toán học sau:
Y=F(A).F(B).F(C).F(X) Trong đó: Y- Biểu thị sức sản xuất của đất
2.2.2.5 Phương Pháp đánh giá đất đai vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi
Các nhà khoa học Bỉ đã nghiên cứu và đề xuất công tác đánh giá đất đai vùng nhiệt đới ẩm châu Phi bằng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc vào một số tính chất sức sản xất của đất, mà sức sản xuất của đất lại chịu ảnh hưởng của các đặc trưng thổ nhưỡng sau:
- Sự phát triển của phẫu diện đất, thể hiện qua sự phân tầng phát sinh rõ ràn, cấu trúc đất, thành phần khoáng và sự phân bố khoáng sét trong tầng đất, khả năng trao đổi cation
- Sự có mặt của tầng đất chặt trong phẫu diện đất
- Màu sắc của đất và điều kiện thoát nước
- Độ chua và độ no bazơ
- Mức độ phát triển của tầng mùn
Tất cả các đặc tính trên được thể hiện bằng các phương trình toán học
và từ đó sẽ tính toán được mức sản xuất của đất đai (Nông thị thu Huyền – Giáo trình đánh giá đất)[17]
Trang 172.2.2.5 Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Đánh giá đất, phân hạng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất, tổ
chức Nông - Lương của Liên hợp quốc - FAO đã tập hợp các nhà khoa học
đất và chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kinh nghiệm và
kết quả đánh giá đất của các nước, xây dựng nên tài liệu “ Đề cương đánh giá
đất đai ” (FAO -1976) Tài liệu này được nhiều nước trên thế giới quan tâm,
thử nghiệm và vận dụng vào công tác đánh giá đất đai ở nước mình và được công nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp
Tài liệu này đã đưa ra hàng loạt các khái niệm dùng trong đánh giá đất
đai như chất lượng đất đai, đơn vị đất đai và bản đồ đơn vị đất đai, loại hình
- Đánh giá đất đai cho đồng cỏ chăn thả (Land evaluation for grazing, 1989)
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng
đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, 1992)
Đề cương đánh giá đất đai của FAO mang tính khái quát toàn bộ những
nguyên tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành quy trình đánh giá đất đai cùng với những gợi ý và ví dụ minh họa giúp cho các nhà khoa học đất ở các nước khác nhau tham khảo Tùy theo điều kiện sinh thái đất đai và sản xuất của từng nước để vận dụng những tài liệu của FAO cho phù hợp và có kết quả tại nước mình
Nguyên tắc đánh giá đất đai của tổ chức FAO là đánh giá đất đai phải gắn Mục đích của đánh giá đất theo FAO là nhằm tăng cường nhận thức và hiểu biết về phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới
và giữ gìn nguồn tài nguyên đất đai không bị thoái hóa, sử dụng đất được lâu
Trang 18bền.( Nông thi thu Huyền – Giáo trình đánh giá đất)[17]
* Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO
- Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất
- Xây dựng hệ thống cấu trúc phân hạng đất đai
đất (LUT)
Đánh
giá khả năng thích
hợp
Xác định hiện trạng KT
- XH và môi
trường
Xác định loại hình
sử dụng
đất thích
hợp nhất
Quy hoạch
sử dụng
đất
Áp dụng của việc
2.3 Tình hình nghiên cứu và đánh giá đất đai tại Việt Nam
Khái niệm và công việc đánh giá đất, phân hạng đất cũng đã có từ lâu ở Việt Nam.Trong thời kỳ phong kiến, thực dân, để tiến hành thu thuế đất đai,
đã có sự phân chia “ Tứ hạng điền - lục hạng thổ”
Những năm gần đây, công tác quản lý đất đai trên toàn quốc đã và đang
được đẩy mạnh theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông lâm
nghiệp bền vững Chương trình xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội từ cấp quốc gia đến vùng và tỉnh huyện đòi hỏi ngành quản lý đất
đai phải có những thông tin và dữ liệu về tài nguyên đất và khả năng khai
thác, sử dụng hợp lý lâu bền đất sản xuất nông lâm nghiệp Công tác đánh giá
đất không thể chỉ dừng lại ở mức độ phân hạng chất lượng tự nhiên của đất mà
phải chỉ ra được các loại hình sử dụng đất thích hợp cho từng hệ thống sử dụng
đất khác nhau với nhiều đối tượng cây trồng nông lâm nghiệp khác nhau
Vì vậy các nhà khoa học đất cùng với các nhà quy hoạch quản lý đất đai trong toàn quốc tiếp thu nhanh chóng tài liệu đánh giá đất của FAO, những kinh nghiệm của các chuyên gia đánh giá đất quốc tế để ứng dụng từng bước cho công tác đánh giá đất ở Việt Nam Gần 10 năm qua, hàng loạt các dự án nghiên cứu, các chương trình thử nghiệm ứng dụng quy trình đánh giá đất theo FAO được tiến hành ở cấp từ vùng sinh thái đến tỉnh- huyện và tổng hợp
Trang 19thành cấp quốc gia đã được triển khai từ Bắc đến Nam và đã thu được kết quả khả quan Các nhà khoa học đất trên toàn quốc đã hoàn thành nghiên cứu
đánh giá đất nghiên cứu phục vụ cho quy hoạch tổng thể và quy hoạch sử
dụng đất ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (1991-1995) Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã kịp thời tổng kết và vận dụng các kết quả bước đầu của chương trình đánh giá đất ở Việt Nam để xây dựng tài liệu “ Đánh giá đất và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững” (thời kỳ 1996 - 2000 và 2010) Từ những năm 1996
đến nay, các chương trình đánh giá đất cho các vùng sinh thái khác nhau, các
tỉnh đến các huyện trọng điểm của một số tỉnh đã được thực hiện và là những
tư liệu, thông tin có giá trị cho các dự án quy hoạch sử dụng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở cấp cơ sở [5]
Có thể khẳng định rằng: nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO
đã được vận dụng có kết quả ở Việt Nam, phục vụ hiệu quả cho chương trình
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội trong giai đoạn mới cũng như cho các dự án quy hoạch sử dụng đất ở các địa phương Các cơ quan nghiên cứu đất ở Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng các phương pháp đánh giá đất của FAO vào các vùng sản xuất nông lâm nghiệp khác nhau phù hợp với các điều kiện sinh thái, cấp tỷ lệ bản đồ, đặc biệt với các điều kiện kinh tế - xã hội, để nhanh chóng hoàn thiện các quy trình đánh giá đất và phân hạng thích hợp đất đai cho Việt Nam [7]
ổn đinh và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và
mục tiêu sử dụng đất hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất Vì vậy,
sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất
và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai “Với vai trò là
Trang 20nhân tố của của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh[14]
2.4.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
* Yếu tố điều kiện tự nhiên
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất… vừa bị chi phối bởi các
điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, vừa bị kiềm chế bởi các điều kiện,
quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy, những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đến việc sử dụng đất là:
Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất đai, khí hậu thời tiết,
nước… có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
- Điều kiện khí hậu: Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian, biên độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm… trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển[6]
- Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với
mực nước biển, độ dốc hướng dốc… thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa
Trang 21Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt
độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Các yếu tố này ảnh hưởng rất
lớn đến khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy cần tuân theo các quy luật của tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường[6]
* Yếu tố về kinh tế - xã hội
Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý chính sách, môi trường và chính sách đất đai, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ, trình độ quản
lý, sử dụng lao động Trong đó các nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết
định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói
riêng Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất
đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất[6]
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác
động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, khống chế
phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Nền kinh tế
và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao
Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tới việc sử dụng đất được đánh giá
bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh
tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất Tuy nhiên nếu có chính sách
ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải tạo và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến
tình trạng đất đai không những bị sử dụng không hợp lý mà còn bị hủy hoại
Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế-xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ vào những yêu cầu thị trường của xã hội xác định sử dụng
đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu hợp lý nhất, với diện tích đất nông nghiệp có hạn để
mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất được bền vững Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được
Trang 22trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu
tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả
2.4.1.3 Cơ cấu cây trồng trong sử dụng đất
Trong lịch sử phát triển lâu đời của sản xuất nông nghiệp thì các hệ thống canh tác đã được hình thành, phát triển thay thế lẫn nhau Có những
hệ thống canh tác hiệu suất rất thấp nhưng vẫn tồn tại, có những hệ thống canh tác hiện đại được đưa vào nhưng trong môi trường sản xuất không thích hợp nên phải nhường chỗ cho những hệ thống cũ Hiện nay, các hệ thống này tồn tại xen kẽ nhau và mỗi một hệ thống phù hợp với từng điều kiện của mỗi vùng
Cơ cấu cây trồng là thành phần của cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp và
là giải pháp kinh tế quan trọng của phân vùng sản xuất nông - lâm nghiệp Nó
là thành phần các giống là loại cây được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp
lý nhất các nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã hội
Cơ cấu cây trồng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển chăn nuôi, phải kết hợp chặt chẽ với lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, đồng thời tạo cơ sở cho ngành nghề khác phát triển Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nếu bố trí một cơ cấu thích hợp sẽ giảm bớt sự căng thẳng thời vụ và hạn chế lao
động nhàn rỗi theo các chu kỳ sinh trưởng khác nhau, không trùng nhau theo
cây trồng vật nuôi với các hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối luân canh, trồng theo băng, canh tác phối hợp, mô hình nông - lâm kết hợp
Cơ cấu cây trồng về diện tích là tỷ lệ các loại cây trên một diện tích canh tác Tỷ lệ này một phần nào đó nói lên trình độ thâm canh sản xuất của từng vùng Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp phản ánh trình độ phát triển nông nghiệp thấp Tỷ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có sản phẩm có giá trị và xuất khẩu thấp chứng tỏ sản xuất ở vùng đó kém phát triển và ngược lại
Tóm lại, hệ thống cây trồng bền vững là hệ thống có khả năng duy trì
Trang 23sức sản xuất của cơ cấu cây trồng đó khi chịu tác động của những điều kiện bất lợi Để xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả tối ưu trong sử dụng đất thì ta phải căn cứ vào một số điều kiện cụ thể trong không gian và thời gian nhất định
2.4.2 Vấn đề suy thoái tài nguyên đất và quan điểm sử dụng đất bền vững
2.4.2.1 Vấn đề suy thoái
Việt Nam quá trình thoái hoá đất đang diễn ra một cách đáng báo động Các loại hình thoái hoá và những vấn đề môi trường đất Việt Nam được thể hiện rất đa dạng và phong phú Theo thống kê, trên 50% diện tích đất đồng bằng và gần 70% diện tích đất đồi núi là những đất “có vấn đề” về môi trường
đất (Lê Văn khoa – sinh thái môi trường)[13] Được thể hiện qua bảng 2.1
Các loại đất “có vấn đề” ở Việt Nam thể hiện qua một số loại đất như
đất quá dốc (độ dốc ≥ 250
), đất bạc màu, đất bị lầy thụt, đất mặn, đất trơ sỏi
đá Trong đó đất dốc và đất bạc màu xuất hiện chủ yếu ở vùng trung du và
vùng núi trên quy mô diện tích hàng triệu ha đã làm hạn chế khả năng sản xuất của đất Nguyên nhân chính dẫn đến thoái hoá đất và các đặc tính của một số loại đất “có vấn đề” là:
Bảng 2.1: Phân bố các loại đất “có vấn đề” ở Việt Nam
Núi cao
(Nguồn: Sinh thái môi trường đất – Lê Văn Khoa )
- Sử dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật quá mức: việc sử dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật là chìa khoá của sự thành
Trang 24công trong cách mạng xanh, trong nền nông nghiệp thâm canh cao để đảm bảo nhu cầu về lương thực, thực phẩm Tuy nhiên trong những năm gần đây con người đã lo ngại về ảnh hưởng của phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường và sức khoẻ con người, làm cho đất giảm độ phì, chai cứng và dẫn đến suy thoái môi trường đất
Việc sử dụng liên tục các loại phân bón hoá học, không kèm bón vôi và bón đủ lượng phân hữu cơ đã làm cho đất ngày càng chua, làm mất cân bằng dinh dưỡng trong hệ thống đất- cây trồng, tăng độc tố Al3+, Fe3+, Mn2+
- Chặt phá rừng: Chiến tranh phá hoại, chặt rừng lấy gỗ, khai hoang, cháy rừng đã làm cho độ che phủ của rừng bị phá huỷ và giảm sút nhanh chóng Nếu như độ che phủ rừng năm 1943 là 42,6% thì đến năm 2008 là 39% Tình trạng đó đã gây ra thiên tai và xói mòn nghiêm trọng Khí hậu nhiều nơi có nhiều biến động thất thường, tài nguyên nhiều vùng đã bị cạn kiệt, đất đai bị xói mòn thoái hoá gây trở ngại lớn đối với sản xuất và đời sống [19]
- Nương rẫy du canh: Canh tác nương rẫy là hình thức hoạt động sản xuất chủ yếu và cũng là cách sử dụng đất cổ truyền của người dân vùng núi ở Việt Nam Người dân chặt đốt cây cối, làm rẫy, tỉa ngô, gieo lúa Sau 3 đến 4
vụ trồng trọt, bỏ hoá đất cho cây cối mọc lại để độ phì đất được phục hồi rồi quay trở lại tiếp tục canh tác Tuy nhiên, ngày nay do dân số tăng nhanh, rừng
bị phá mạnh, đất rừng nhiều nơi không còn nữa nên không còn thời gian cho
đất nghỉ ngơi, đất đai bị khai thác kiệt màu gây tác hại ghê gớm[19]
- Chăn thả tự do: Hình thức chăn nuôi rất phổ biến ở vùng núi là thả rông Tập quán chăn thả tự nhiên hàng đàn gia súc trâu, bò, ngựa, dê của nhiều dân tộc ít người đã diễn ra từ rất lâu đời Chỉ có 3- 4 tháng ngày mùa người ta mới bắt về để cày kéo hoặc chuyên trở ngô, lúa Còn lại 8 – 9 tháng trong năm chúng được tự do đi lại kiếm ăn không cần có người trông coi, phá huỷ đất đai làm cho nhiều cánh rừng, nương lúa, bãi ngô bị hư hại, dần dà biến thành những trảng cỏ nghèo nàn, đất đai bị xói lở, chai cứng Do vậy hướng về một một nền chăn thả có kiểm soát (chăn thả có người trông coi, có chuồng trại nuôi nhốt) có thể làm giàu và làm tăng được độ màu mỡ cho đất[6]
- Chọn cách trồng không đúng: Mỗi loài cây đòi hỏi một cách trồng khác nhau Chọn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật không phù hợp ảnh hưởng to lớn
đến năng suất, môi trường đất và dẫn đến nhiều nơi trở thành hoang mạc hoá
Trang 25Điển hình là biện pháp trồng thuần, trồng chay, trồng không có biện pháp giữ đất,
giữ nước nhất là trên đất dốc để cho hạt mưa và dòng nước chảy va đập vào đất kéo trôi các chất màu mỡ của đất làm cho đất thoái hoá nhanh chóng[19]
Do đó việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững tại nhiều vùng trên thế giới trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng
sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội” (FAO, 1994) FAO đã đưa các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thảo mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp sản xuất nông nghiệp
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo
được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân
bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa - xã hội của các cộng đồng sống
ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân
Vào năm 1991 ở Nairobi đã tổ chức hội thảo về “Khung đánh giá việc quả lý đất đai” đã đưa ra định nghĩa quản lý bền vững đất đai bao gồm các
Trang 26công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
- Giảm tối thiểu mức rủi do trong sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước (bảo vệ)
- Có hiệu quả lâu dài (tính lâu bền)
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)
Rõ ràng quản lý bền vững đất đai phải bao gồm một tổ hợp để đồng thời duy trì và nâng cao được sản lượng (hiệu quả sản xuất), giảm được rủi
ro (an toàn) bảo vệ được tiềm năng nguồn lực tự nhiên, ngăn ngừa thoái hóa
đất và ô nhiễm môi trường nước (bảo vệ) Hiệu quả là lợi ích lâu dài (lâu
bền) được xã hội chấp nhận phù hợp với lợi ích của các bên tham gia quản
lý, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng (tính chấp nhận)
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững
và là những mục tiêu cần phải đạt được Chúng có mối quan hệ với nhau, nếu thực tế diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu nêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt được một hoặc một vài mục tiêu mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Vận dụng các nguyên tắc trên, ở Việt nam một loại hình sử dụng đất
được xem là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị
trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ phẩm (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả… và tàn dư để lại)
Về chất lượng, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy vào mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó
Trang 27thì nguy cơ người sản xuất sẽ không có lãi, lãi suất phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ
màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất Giữ đất được thể thiện bằng giảm thiểu liều lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý
sử dụng bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phầm loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm…
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng sinh thái
Bền vững là một khái niệm động, bền vững ở nơi này có thể không bền vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này, có thể không bền vững ở thời điểm khác Đo lường trực tiếp tính bền vững là một khó khăn nhưng
sự đánh giá đó có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và chiều hướng của các quá trình chi phối đến chức năng một hệ canh tác nhất
định, ở một địa phương cụ thể Nguyên tắc chung khi đánh giá tính bề
Trang 28+ Dựa trên quy trình và dữ liệu khoa học, những chỉ số và tiêu chuẩn phản ánh nguyên nhân và kết quả, các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh hết
được các mặt bền vững và không bền vững của một hệ thống đạt mức tối
đa Song trong thực tế không có một hệ thống lý tưởng như vậy, mỗi một
hệ thống chỉ đạt được một số mặt nào đó ở một mức độ nhất định tùy theo từng mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau và nhận được sự đánh giá khác nhau xem xét cho từng trường hợp
Tóm lại: Khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được
thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích
mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không làm suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người
2.4.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
2.4.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới là 510 triệu Km2 trong đó đại dương chiếm 361 triệu Km2 (71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu Km2 (29%) Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu
ha, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới được phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu á chiếm 26%, Châu âu chiếm 13%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000 m2 Đất trồng trọt trên toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai, 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% (đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác) Diện tích đất
đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng
1.500 triệu ha), được đánh giá là:
- Đất có năng suất cao: 14%
- Đất có năng suất trung bình: 28%
- Đất có năng suất thấp: 58%
Trang 29Nguồn tài nguyên đất trên thế giới hàng năm luôn bị giảm, đặc biệt là đất nông nghiệp mất đi do chuyển sang mục đích sử dụng khác Mặt khác dân số ngày càng tăng, theo ước tính mỗi năm dân số thế giới tăng từ 80 - 85 triệu người Như vậy, với mức tăng này mỗi người cần phải có 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực, thực phẩm Đứng trước những khó khăn rất lớn đó thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất của đất nông nghiệp là hết sức cần thiết
2.4.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Diện tích đất canh tác Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới, đất canh tác chỉ khoảng 0,12 ha/người Trong khi những mảnh đất màu mỡ cứ ít đi, nhường chỗ dần cho những khu công nghiệp, sân golf thì mỗi năm dân số tăng khoảng
1 triệu người Đất nông nghiệp không thể phục hồi hoặc có thể thì rất ít Tuy trước mắt Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu lương thực khá ổn định, an ninh lương thực cấp quốc gia chưa phải là điều đáng lo ngại Nhưng cứ với tốc độ chuyển đổi đất như hiện nay sẽ đặt cho tương lai nhiều thách thức Đất sản xuất nông nghiệp ở nước ta được phân bố qua bảng sau:
Bảng 2.2: Phân bố diện tích đất sản xuất nông nghiệp của
các vùng trên cả nước
Trung du và miền núi phía Bắc 1423,2 15,1
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung 1758,3 18,7
(Nguồn: Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, năm 2009)
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.105,10 ha, với diện tích đất nông nghiệp là 25.127,3 ha chiếm 75,9% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó
đất sản xuất nông nghiệp là 9.598,8 ha chiếm 38,2% diện tích đất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp là 14.757,8 ha chiếm 58,73% diện tích đất nông nghiệp Với các vùng đất nông nghiệp trù phú như đồng bằng sông Hồng rộng
Trang 30802,6 ha, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2560,6 ha, nhưng hiện chúng đều bị chia nhỏ, manh mún Mặt khác, đất nông nghiệp đang bị chuyển đổi tùy tiện sang các mục đích phi nông nghiệp khác diện tích ngày càng bị thu hẹp dần
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của 130 triệu dân vào năm 2035, Việt Nam phải cần tới 36 triệu tấn thóc Muốn đạt được con số trên, nước ta phải duy trì tối thiểu 3 triệu hecta
đất lúa 2 vụ để có thể gieo trồng bình quân 6 triệu hecta/năm Trong khi đó,
một số tỉnh Đồng bằng sông Hồng, miền Trung, Đông Nam Bộ đang phải đối mặt với tình trạng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Theo thống kê, mỗi năm bà con mất tới 73.000 ha đất, chưa kể kỹ thuật sản xuất lạc hậu, sâu bệnh, thiên tai phá hoại, biến đổi khí hậu khiến nguy cơ tổng sản lượng lương thực của nước ta sẽ giảm khoảng 5 triệu tấn vào năm 2030 rất dễ xảy ra
Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn Do đó việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta
2.4.3.3 Tình hình sử dụng đất tại tại tỉnh Bắc Kạn
Tỉnh Bắc Kạn thuộc vùng miền núi phía Bắc, với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 485.941 ha, chiếm 1,47% diện tích của cả nước
Với 485.941 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất nông nghiệp
là 413.713 ha (Chiếm 85,14% tổng diện tích tự nhiên), diện tích đất chuyên dùng là 12.633 ha (Chiếm 2,6% tổng diện tích tự nhiên), diện tích đất ở là 3.344 ha (Chiếm 0,69% tổng diện tích tự nhiên); Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 10,45% Là một tỉnh chủ yếu là sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nên thu nhập của người dân thấp Trong những năm gần đây với tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh đã làm cho diện tích đất nông nghiệp của toàn tỉnh ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, việc đánh giá khả năng sử dụng của đất đai nhằm đưa ra được biện pháp và phương hướng sử dụng đất
đai hợp lý, hiệu quả là rất cần thiết Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn, do
đó cần có những biện pháp thích hợp khai thác phần diện tích này Cần
khuyến khích người dân thâm canh, luân canh tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất nhằm dần dần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
Trang 312.4.4 Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
2.4.4.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc mang lại Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu ngày càng cao của con người mà ta phải xem xét kết quả phải tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó
Để xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận điểm của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống sau:
- Thứ nhất: bản chất của hiệu quả là yêu cầu tiết kiệm thời gian, thể hiện trình độ nguồn lực của xã hội Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian
là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định
động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh
xã hội và nâng cao đời sống của con người qua mọi thời đại
- Thứ hai: Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống thì nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người với con người trong quá trình sản xuất Hệ thống sản xuất xã hội bao gồm trong nó các quá trình sản xuất, các phương tiện bảo tồn và tiếp tục đời sống xã hội, đáp ứng các nhu cầu xã hội, nhu cầu của con người là những yếu tố khách quan phản ánh mối quan hệ nhất định của con người đối với môi trường bên ngoài Đó là quá trình trao đổi vật chất giữa sản xuất xã hội và môi trường
- Thứ ba: hiệu quả kinh tế là mục tiêu nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà là mục tiêu xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế Trong quy hoạch và quản lý kinh tế nói chung hiệu quả là quan hệ so sánh tối ưu giữa đầu vào và
đầu ra, là lợi ích lớn hơn thu được với một chi phí nhất định, hoặc một kết quả
nhất định với chi phí nhỏ hơn
Trang 32Như vậy, bản chất của hiệu quả được xem là: việc đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội; việc bảo tồn tài nguyên, thiên nhiên và nguồn lực để phát triển bền vững
* Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một chỉ tiêu so sánh mức độ tiết
kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội
Hiệu quả kinh tế phải đạt được 3 vấn đề sau:
+ Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều phải tuân theo quy luật tiết kiệm thời gian
+ Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết
hệ thống
+ Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó:
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là: Với một diện tích nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vật chất xã hội (Phạm Vân Đình
và cs, 2001)
* Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả thu được về
mặt xã hội mà sản xuất mang lại với các chi phí sản xuất xã hội bỏ ra Loại hiệu quả này đánh giá chủ yếu về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại
“Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp”
Trang 33Từ những quan niệm trên cho thấy, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội mà nó mang lại Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả
xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của
môi trường đối với hoạt động sản xuất Từ các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường Đó có thể là
ảnh hưởng tích cực đồng thời có thể là ảnh hưởng tiêu cực Thông thường,
hiệu quả kinh tế thường mâu thuẫn với hiệu quả môi trường Chính vì vậy khi xem xét cần phải đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh tế, nếu không thường sẽ bị thiên lệch và có những kết luận không tích cực
Xét về khía cạnh hiệu quả môi trường, đó là việc đảm bảo chất lượng
đất không bị thoái hóa, bạc màu và nhiễm các chất hóa học trong canh tác
Bên cạnh đó còn có các yếu tố như độ che phủ, hệ số sử dụng đất, mối quan
hệ giữa các hệ thống phụ trợ trong sản xuất nông nghiệp như: chế độ thủy văn, bảo quản chế biến, tiêu thụ hàng hóa
2.4.4.2 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 – 5 tỷ ha Nhân loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có khoảng 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng vụ tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp” (FAO, 1976)
Để nắm vững số lượng và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành lập
bản đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều tra hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất hợp lý là điều rất quan trọng mà các quốc gia đặc biệt quan tâm nhằm ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người,
đồng thời nhằm hướng dẫn về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn
tài nguyên này được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì sản xuất trong tương lai
Trang 34Phát triển nông nghiệp bền vững có tính chất quyết định trong sự phát triển chung của toàn xã hội Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp xúc đúng đắn về môi trường để giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau này
2.4.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất đai tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Do đó tiêu chuẩn đánh giá việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nông – lâm nghiệp là mức độ tăng thêm các kết quả sản xuất trong điều kiện nguồn lực hiện có hoặc mức độ tiết kiệm về chi phí các nguồn lực khi sản xuất ra một khối lượng nông – lâm sản nhất định
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường
“Hiệu quả sử dụng đất có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông – lâm nghiệp,sử dụng đất phải tuân theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào ba tiêu chuẩn chung là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường” (FAO, 1994)
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở kinh tế của nông hộ, nông trại phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức bản địa và nội lực của địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải phải đảm bảo ổn định về xã hội, an ninh quốc phòng
Trang 35PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, đất đai, các loại hình sử dụng đất của xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
- Tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Các yếu tố kinh tế - xã hội, môi trường tác động đến sử dụng đất nông nghiệp của xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên địa bàn xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
bao gồm các loại đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Xã Cao Trĩ - huyện Ba Bể – tỉnh Bắc Kạn
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ 20/1/2013 đến 30/4/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, hệ thống thủy văn…
- Đặc điểm kinh tế - xã hội bao gồm: dân số, lao động, hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp, tình hình phát triển các ngành nghề, tình hình đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, văn hóa phúc lợi…
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Cao Trĩ
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của xã gồm các loại đất: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 của xã, gồm các loại
đất: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản
Trang 363.3.3 Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã Cao Trĩ
- xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Diện tích, năng suất, sản lượng trên các loại hình sử dụng đất trong vùng nghiên cứu
3.3.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các kiểu sử dụng đất
và loại hình sử dụng đất
- Đánh giá tổng hợp các loại hình sử dụng đất
3.3.5.Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ
- Những căn cứ để định hướng sử dụng đất
- Quan điểm và định hướng sử dụng đất nông nghiệp
3.3.6 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững
- Các nguyên tắc và tiêu chuẩn lựa chọn
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất
3.3.7 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã Cao Trĩ
- Các nhóm giải pháp về chính sách, khoa học kỹ thuật, thị trường
- Các giải pháp đối với cây hàng năm, lâu năm (cây ăn quả)
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp phân vùng nghiên cứu
Để có cơ sở cho việc điều tra, khảo sát, đánh giá hiệu quả sử dụng đất
trên địa bàn xã Cao Trĩ, căn cứ vào điều kiện đất đai, địa hình và hệ thống
canh tác trên địa bàn xã Chia xã thành 3 vùng ngiên cứu như sau:
- Vùng 1: Phía Đông xã, chủ yếu là đồi núi, có địa hình cao, độ dốc chủ yếu
là 14 - 210, đất đai bị xói mòn, chủ yếu trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả Gồm các thôn như Bản Piềng 1, Dài khao, Kéo Pựt, trong 3 thôn đó em chọn thôn Bản piềng làm địa điểm nghiên cứu
- Vùng 2: Phía Bắc xã, có địa hình đồi thấp xen với các cánh đồng nhỏ,
độ dốc chủ yếu từ 7 - 130
nên cơ cấu cây trồng khá đa dạng Gồm 2 thôn Phiêng Toản và Bản Piềng 2, và em chọn thôn Phiêng Toản làm địa điểm nghiên cứu
Trang 37- Vùng 3: Trung tâm xã, là thung lũng thấp, độ dốc chủ yếu từ 0 - 70, có những cánh đồng rộng hàng chục ha, chủ yếu trồng các loại cây hàng năm Gồm các thôn như Bản Ngù1, Bản Ngù 2, Nà Chả, trong 3 thôn đó em chọn thôn Bản Ngù 1 làm địa điểm nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp
Điều tra trực tiếp thông qua hệ thống số liệu hồ sơ, sổ sách, tài liệu đã được công bố
Thu thập dữ liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình sử dụng đất, các đặc điểm về kinh tế - xã hội từ UBND xã Cao Trĩ tài liệu dạng bản đồ, các
số liệu về thổ nhưỡng, phân loại đất, hạng đất đều được kiểm tra, bổ sung trên
cơ sở trực tiếp trên thực địa sau đó tiến hành xử lý nội nghiệp điều chỉnh bổ sung theo đúng thực tế
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu sơ cấp: Chủ yếu là các số liệu
chưa được công bố chính thức, nguồn chủ yếu từ các hộ nông dân trong vùng nghiên cứu, các cá nhân có kinh nghiệm sản xuất và các tổ chức có liên quan (Sử dụng phiếu điều tra nông hộ)
3.4.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm Microsoft office Excel để xử lý, tổng hợp, phân tích số liệu và đánh giá hiệu quả kinh tế
3.4.5 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất là tiêu chí đánh giá mức độ khai thác sử dụng đất
và được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
3.4.5.1 Hiệu quả kinh tế
- Tổng giá trị sản phẩm (T): T = p1.q1 + p2.q2 + + pn.qn
Trong đó:
+ q: Khối lượng của từng loại sản phẩm được sản xuất/ha/năm
+ p: Giá của từng loại sản phẩm trên thị trường tại cùng một thời điểm + T: Tổng giá trị sản phẩm của 1ha đất canh tác/năm
- Thu nhập thuần (N): N = T - Csx
Trong đó:+ N: Thu nhập thuần túy của 1ha đất canh tác/ năm
+ Csx: Chi phí sản xuất cho 1ha đất canh tác/năm
- Hiệu quả đồng vốn: Hv = T/ Csx
- Giá trị ngày công lao động: HLđ = N/Số ngày công lao động/ha/năm
Trang 38Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị) bằng tiền theo thời giá hiện hành và định tính (phân cấp) được tính bằng mức độ cao, thấp Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
3.4.5.2 Hiệu quả xã hội
- Đảm bảo an ninh lương thực
- Đáp ứng nhu cầu nông hộ
- Giá trị ngày công lao động nông nghiệp
- Yêu cầu về vốn đầu tư
- Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
- Mức độ giải quyết công ăn việc làm và thu hút lao động
3.4.5.3 Hiệu quả môi trường
- Hệ số sử dụng đất
- Tỷ lệ che phủ
- Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
- Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
3.4.6 Phương pháp đánh giá tính bền vững
- Bền vững kinh tế: Cây trồng có năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận
- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao đời sống của nhân dân
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ độ màu
mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 39PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của xã Cao Trĩ
4.1.1 Điều kiện tự nhiêncủa xã Cao Trĩ
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Cao Trĩ là một xã vùng cao nằm ở phía tây của huyện Ba Bể, tỉnh Băc Kạn, nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc Gia Ba Bể Cách trung tâm huyện lỵ 5km, có tổng diện tích đất tự nhiên 2424,98 ha phân bố ở 8 thôn bản
và có vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc giáp xã Nghiên loan, huyện Pác nặm
- Phía Đông giáp xã Thượng giáo, huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp xã Thượng giáo, huyện Ba Bể
- Phía Tây giáp Khang ninh, huyện Ba Bể
Bản đồ hành chính của xã Cao Trĩ - huyện Ba Bể
Trang 404.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Cao Trĩ có địa hình đồi núi cao, được chia cắt bởi các dãy núi đá vôi, những núi thấp thoai thoải tạo thành những cánh đồng bậc thang nhỏ hẹp
Xã có độ cao trung bình từ 400-1200m so với mặt nước biển, dốc từ Đông bắc xuống Tây nam, độ dốc bình quân 250
- 300 Với địa hình địa mạo như vậy ảnh hượng rất lớn đến quá trình sử dụng
đất đai Đất nông nghiệp thường hay bị khô hạn vào đầu vụ xuân và vụ đông, có đến 2/3 diện tích đất trồng lúa thường bị ngập úng vào vụ đông
xuân Do đó cần tập trung nâng cao hệ số sử dụng đất, đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu và chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cho người dân
4.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu
Theo phân vùng khí hậu, xã Cao Trĩ chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu miền núi phía Bắc Theo trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn cho thấy các
đặc điểm khí hậu thể hiện hư sau:
- Nhiệt độ trung bình năm 21,80C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất 36,50C và nhiệt độ thấp nhất 8,50C
- Lượng mưa trung bình năm khoản 1500mm-2000mm, phân bố không
đồng đều giưa các mùa trong năm
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa khá lớn nhưng không đều thường tập trung vào các tháng 7, 8, 9 chiếm tới 80-85% lượng mưa cả năm, mưa lớn tập trung thường tạo nên lũ quét gây thiệt hại cho sản xuất, đời sóng và sinh hoạt của người dân
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
- Độ ẩm không khí trung bình trong năm 84,6% thấp hất 75% vào tháng
12 và cao nhất là 90%
- Gió có hai loại gió chính: Gió mùa Đông bắc và gió Đông nam
+ Gió mùa Đông bắc kèm theo khí hậu lạnh làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ Đông xuân thường xuất hiện vào tháng
12 năm trước đến tháng 3 năm sau