1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.

23 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 210,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau:+ Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn. Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quá tŕnh thực hiện đầu tư.Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đăi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lao động, giải quyết lao động dôi dư…

Trang 1

Đề tài 1: Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.

Bản thảo hoàn chỉnh của đề tài

tư Có thể nói đầu tư là yếu tố quan trọng trong nền kinh tế, đầu tư không chỉ là cơ sở đểnâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế mà cũng nâng cao trình độ khoa học côngnghệ, hiện đại hoá đất nước Nó vừa phụ thuộc lại vừa có tác động lớn đến nền kinh tếcủa một quốc gia Sự tác động đó là tích cực hay tiêu cực lại phụ thuộc vào nhận thức củanhà nước, nhân dân, và các thành phần kinh tế về vấn đề đầu tư có đúng đắn hay không,

và làm sao để có các giải pháp cho hoạt động đầu tư hiệu quả Muốn vậy trước hết phảixem xét tới một số khía cạnh quan trọng liên quan đến đầu tư, cụ thể là sự chi tiêu chođầu tư thế nào là hợp lý, bên cạnh đó nhà nước đã và đang có những hoạt động nào đểkích thích đầu tư dựa trên những nghiên cứu về lý thuyết Có vậy, sự chi tiêu cho đầu tưmới đem lại hiệu quả, tạo đà cho nền kinh tế phát triển tốt Điều này có ý nghĩa đặc biệtcần thiết cho một nước đang phát triển như Việt Nam Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc

tế, Việt Nam đang đứng trước nhiều thử thách trong việc thu hút các nguồn lực trong vàngoài nước để đưa đất nước phát triển đi lên Ý thức được điều trên trong những năm vừaqua nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc thu hút vốn đầu tư và hiệuquả sử dụng vốn đầu tư nhằm đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững

Có thể nói vần đề đầu tư, kích cầu đầu tư nhất là kích cầu đầu tư nước ngoài đang là mộttrong những vấn đề rất được quan tâm hiện nay

Trang 2

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư.

1 Một số khái niệm cơ bản.

1.1.Đầu tư:

- Khái niệm:

Là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động đó nhằm thu vềcho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra đểđạt các kết quả đó

- Đặc điểm của đầu tư phát triển:

Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau:

+ Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn.Vốn đầu tư nằm khê đọng lâu trong suốt quá tŕnh thực hiện đầu tư

Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểmquốc gia Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đăi ngộ cần tuân thủ một kếhoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư,đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án”tạo ra như việc bố trí lao động, giải quyết lao động dôi dư…

+ Thời kỳ đầu tư kéo dài Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đếnkhi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công tŕnh đầu tư phát triển có thờigian đầu tư kéo dài hàng chục năm

+ Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài Thời gian này tính từ khi dưacông tŕnh vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động và đào thải công tŕnh Nhiềuthành quả đầu tư phát huy kết quả lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp AiCập, Nhà thờ La Mă ở Rôm, Vạn Lư Trường Thành ở Trung Quốc, ĂngCoVát ở Cam-pu-chia… Trong suốt quá tŕnh vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt,

cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xă hội…

+ Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công tŕnh xây dựngthường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó, quá tŕnh thực hiệnđầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố

về tự nhiên, kinh tế xă hội vùng

+ Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéodài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài… nên mức độ rủi ro của hoạtđộng đầu tư phát triển thường cao Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó, cónguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư như quản lư kém, chất lượng sản phẩmkhông đạt yêu cầu… có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sảnphẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế…

1.2 Chi tiêu đầu tư:

Thực chất là các khoản chi tiêu cho các nhu cầu đầu tư của nhà nước, doanhnghiệp và các đơn vị kinh tế bao gồm đầu tư vốn cố định và đầu tư vốn lưu động Chi

Trang 3

tiêu đầu tư là quá trinh nhà đầu tư quyết định thời điểm thực hiện đầu tư và kết hợp cácnguồn lực với tỉ lệ như thế nào để quá trình thực hiện đầu tư đạt được kết quả cao nhất.

1.3 Các nguồn lực đầu tư:

Nguồn lực đầu tư bao gồm:Vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động trí tuệ

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư.

2.1 Lợi nhuận kỳ vọng

- Lợi nhuận kỳ vọng là một nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu đầu tư Là

phần lợi ích mà nhà đầu tư mong muốn có được sau khi kết thúc quá trình đầu tư Nhữngkết quả này có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn), tài sản trí tuệ (trình độ vănhoá, chuyên môn, quản lý, khoa học ), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá,bệnhviện,trường học) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động caohơn trong nền sản xuất xã hội

- Theo lý thuyết của Keynes, Lợi nhuận kỳ vọng là một trong hai nhân tố cơ bảnảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Nếu Lợi nhuận kỳ vọng lớn hơn lãisuất vay thì nhà đầu tư sẽ quyết định đầu tư và ngược lại Theo ông, tỷ suất lợi nhuận vốncận biên giảm dần do vậy việc so sánh giữa tỷ suất lợi nhuận vốn cận biên và lãi suất vay

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định đầu tư của nhà đầu tư

- Mặt khác, cũng theo ông thì hiệu quả biên của vốn đầu tư phụ thuộc vào tỷ suấtđầu tư mới Hiệu quả biên của vốn đầu tư được tính bằng tỷ lệ hoàn vốn dự kiến thu được

từ 1 đồng vốn đầu tư tăng thêm do đó vốn đầu tư càng tăng thì hiệu quả biên của vốngiảm dần Điều này có thể giải thích do 2 nguyên nhân sau:

+ Khi tăng chi tiêu đầu tư, nhu cầu vốn đầu tư sẽ tăng Cầu về vốn tăng dẫn đến sự giatăng của lãi suất cho vay (giá của đồng vốn) Nếu các yếu tố khác không đổi thì khi đó,lợi nhuận giảm nên hiệu quả biên của vốn đầu tư giảm

+ Xuất phát từ phương diện cung sản phẩm cho thị trường, khi gia tăng đầu tư và kết quảđầu tư đã đi vào hoạt động, phát huy kết quả trong thực tiễn thì cung sản phẩm sẽ tăng,nghĩa là có nhiều sản phẩm được cung ứng vào nền kinh tế Cung tăng giá sản phẩm sẽgiảm, chi phí sản xuất coi như ổn định, lúc đó hiệu quả biên của vốn đầu tư sẽ giảm

- Theo Keynes, tỷ suất vốn cận biên là một đại lượng khó xác định do vậy triểnvọng của dự án rất khó xác định nếu nhà đầu tư quyết định dựa trên cơ sở kỳ vọng vàhiệu quả của khoản đầu tư Tuy nhiên, chính đại lượng đó là động lực thúc đẩy các nhàđầu tư quyết định đầu tư

- Chính vì hiểu được tỉ suất lợi nhuận có xu hướng giảm nên các doanh nghiệpthường xuyên phải linh động thay đổi hình thức quản lý cũng như quy mô đầu tư sao chophù hợp nhất

Các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư không căn cứ vào tỉ suất lợi nhuận theocách tính thông thường mà dựa vào tỉ suất lợi nhuận biên của vốn Họ chỉ tiếp tục đầu

tư khi mà tỉ suất lợi nhuận biên của vốn còn lớn hơn tỉ lệ lãi suất tiền vay Có nghĩa làphải thấu được cái lợi chắc chắn trước mắt thì họ mới quyết định mở rộng đầu tư.Trong thực tế tỉ suất lợi nhuận là đại lượng khó xác định nhưng chính đại lượng khóxác định này lại là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư Bởi lẽ tỉ suất

Trang 4

lợi nhuận chỉ là mong muốn của họ đạt được sau khi kết thúc quá trình đầu tư Nênkhông thể dự đoán chính xác đại lượng này bằng bao nhiêu khi mà hoạt động đầu tưchưa xảy ra.

-Một số yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận kì vọng: cung cầu hàng hóa, mức độ rủi

ro, các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất, thuế

2.2 Tỷ lệ lãi suất thực tế.

Vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động đầu tư, do đó với tư cách là chi phí

sử dụng vốn (hay giá của vốn) thì lãi suất ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu tài chính của dự

án Các nhà đầu tư thường vay tiền để đầu tư và lãi suất phản ánh giá của khoản tiền vaymượn đó Nếu giá vay tiền (giá của vốn) cao hơn tỉ suất lợi nhuận bình quân thì nhà đầu

tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư và ngược lại

Cần phân biệt các loại lãi suất: lãi suất cơ bản (do ngân hàng nhà nước quyđịnh,các tổ chức tài chính không được cho vay với lãi suất lớn hơn 150% so với lãi suất

cơ bản); lãi suất cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng, cho vay đầu tư tài chính, lãi suất táicấp vốn Sự chênh lệch giữa các loại lãi suất góp phần điều tiết sự phân bổ vốn trong nềnkinh tế

- Lãi suất danh nghĩa là lãi suất được công bố đối với một khoản vay hoặcmột khoản đầu tư Lãi suất danh nghĩa phụ thuộc trước hết vào cung – cầu vốn vay trênthị trường Cung vốn chính là tổng tiết kiệm quốc dân, được xác định bằng tổng thu nhậpquốc dân trừ đi tiêu dùng Lãi suất được điều chỉnh để tạo ra sự cân bằng trên thị trườngvốn Ngoài ra lãi suất cũng chịu ảnh hưởng của sự điều tiết của ngân hàng nhà nướcthông qua chính sách tiền tệ như lãi suất cơ bản, nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất chiếtkhấu, tỉ lệ dự trữ bắt buộc

- Lãi suất thực tế (lãi suất hiệu quả) là lãi suất thực sự thu được từ một khoản đầu

tư hoặc phải trả cho một khoản vay sau khi tính đến tác động của lãi suất ghép

- Lãi suất thực tế không chỉ phụ thuộc vào lãi suất danh nghĩa mà còn phụ thuộcvào tỉ lệ lạm phát

Trong đó: r là lãi suất thực tế; i là lãi suất danh nghĩa; π là tỷ lệ lạm phát

- Chủ đầu tư sẽ chỉ quyết định đầu tư khi IRR của dự án lớn hơn lãi suất thực tế Do đó

khi lãi suất tăng sẽ có ít dự án đầu tư hơn, nhu cầu đầu tư sẽ giảm

Đồ thị:

D i

I O

i0

i1

I0

I1

Trang 5

2.3 Tốc độ phát triển của sản lượng quốc gia

- Đầu tư có mối quan hệ trực tiếp tới sự gia tăng sản lượng Nhu cầu về việc thayđổi sản lượng ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm qui mô vốn đầu tư

Ví dụ: Khi GDP tăng nhanh sẽ làm tăng thu nhập của người dân, do đó vừa kích thíchtiêu dùng lại vừa làm tăng tiết kiệm Khi tiêu dùng tăng thì tổng cầu cũng tăng; tiết kiệmtăng thì cung vốn tăng làm giảm lãi suất, kích thích đầu tư

Hơn nữa, khi toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo ra tâm lí hướng về đầu tư Quátrình này sẽ tạo ra hiệu ứng “số nhân”, tức là: một sự tăng thêm ban đầu trong sản lượng

sẽ làm đầu tư và sản lượng tiếp tục tăng thêm nhiều lần

- Tốc độ tăng sản lượng và tốc độ tăng vốn đầu tư không giống nhau, vấn đề nàyđược đề cập trong lý thuyết gia tốc đầu tư

Theo lý thuyết này, để sản xuất ra một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốnđầu tư nhất định Tương quan giữa sản lượng và vốn đầu tư có thể được biểu diễn theocông thức:

x = Kt / Yt (*) Trong đó: K: vốn đầu tư tại thời kỳ nghiên cứu

Y: sản lượng tại thời kì nghiên cứu

x: hệ số gia tốc đầu tư

Từ công thức thức trên ta suy ra: K = x * Y

Như vậy nếu x không đổi thì khi qui mô sản lượng sản xuất tăng dẫn đến nhu cầuvốn đầu tư tăng theo và ngược lại Theo công thức trên thì sản lượng phải tăng liên tụcmới làm cho đầu tư tăng cùng tốc độ hoặc không đổi so với thời kì trước

* Đặc điểm của lí thuyết gia tốc đầu tư:

- Phản ánh quan hệ giữa sản lượng với đầu tư Nếu x không đổi trong kì kế hoạch thì có thể sử dụng công thức để lập kế hoạch khá chính xác

- Phản ánh sự tác động của tăng trưởng kinh tế đến đầu tứ Khi kinh tế tăng trưởng cao,sản lượng nền kinh tế tăng, cơ hội kinh doanh lớn, dẫn đến tiết kiệm tăng cao và đầu tưtăng nhiều

Tại thời điểm t: Kt = x Yt (1)

Tại thời điểm (t-1): Kt-1 = x Yt-1 (2)

Lấy (1) trừ (2) ta có :

Kt –Kt-1 = x Yt – x Yt-1 = x.(Yt –Yt-1)

Trang 6

Trong đó: (Yt –Yt-1) là đầu tư ròng và bằng (It – D), với D là khấu hao

Do đó, (It – D) = (Yt –Yt-1) = x (Yt – Yt-1) = x ∆Y

Và đầu tư ròng : ∆I = x.∆Y

Như vậy theo lí thuyết này thì đầu tư ròng là hàm của sự gia tăng sản lượng đầu ra.Nếu sản lượng tăng, đầu tư ròng tăng (lớn hơn x lần) Nếu sản lượng giảm, đầu tư thuần

Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tục được hoàn thiện qua thời gian Theo lí thuyết đầu

tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được xác định như là một hàm của mức sản lượnghiện tại và quá khứ, nghĩa là quy mô đầu tư mong muốn được xác định trong thời giandài hạn

2.4 Chu kì kinh doanh:

Chu kì kinh doanh là những dao động của nền kinh tế xung quanh xu thế tăngtrưởng dài hạn, bao gồm cả những thời kì tăng trưởng nhanh xen kẽ với những thời kì suythoái của nền kinh tế

-Mỗi thời kỳ khác nhau của chu kỳ kinh doanh sẽ phản ánh các mức chi tiêu đầu tư khácnhau

+ Khi Chu kì kinh doanh ở thời kì tăng trưởng nhà đầu tư sẽ mở rộng quy mô

Theo lý thuyết tính kinh tế của quy mô, trong những điều kiện nhất định thì việcgia tăng quy mô sản lượng sản xuất ra có thể giúp cho chủ đầu tư tiết kiệm chi phí sảnxuất, gia tăng đầu tư

Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh ở vào thời kỳ đi lên, quy mô của nền kinh tế mởrộng, nhu cầu đầu tư của toàn bộ nền kinh tế cũng như của các doanh nghiệp tư nhân gia

0

t

Hình 2 Chu kỳ kinh

doanh

Trang 7

tăng Ngược lại, khi chu kì kinh doanh ở vào thời kì đi xuống, qui mô nền kinh tế thuhẹp, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế và các doanh nghiệp tư nhân thu hẹp lại.

+ Khi Chu kì kinh doanh ở vào thời kì suy thoái thì nhà đầu tư sẽ cắt giảm đầu tư Tuynhiên đây cũng là giai đoạn để Doanh Nghiệp đương đầu thử thách bằng cách đa dạnghóa sản phẩm hoặc chuyển hướng đầu tư

Khi nền kinh tế đi xuống thì tổng đầu tư giảm, nhưng xét từng nhà đầu tư lại chưachắc đã giảm Không phải lúc nào sự tăng hay giảm chi tiêu của các doanh nghiệp cũngthuận chiều với xu hướng lên xuống của chu kì kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế Bởi

vì mặc dù nền kinh tế suy thoái nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư phát triển sản phẩmmới thay thế sản phẩm cũ khi sản phẩm cũ đã mất chỗ đứng trên thị trường hoặc đã kếtthúc một chu kì sống, hoặc cũng có một số doanh nghiệp đầu tư vào các thị trường ngoàinước trong khi nền kinh tế của quốc gia đang trên đà đi xuống

2.5 Đầu tư của Nhà nước

Tổng đầu tư nhà nước là tổng phần vốn đầu tư của chính phủ vào trong nền kinh

tế Đầu tư của nhà nước bao gồm: đầu tư cơ sở hạ tầng và đầu tư của doanh nghiệp nhànước

- Các dự án đầu tư từ nguồn vốn của nhà nước không nhằm mục đích thu lợi màtác dụng trợ giúp, điều tiết, định hướng cho đầu tư của toàn xã hội Thông qua ngân sách,chính phủ có thể đầu tư phát triển mạng lưới giao thông, viễn thông, cơ sở hạ tầng, cáckhu công nghiệp…điều này nhằm cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các cá nhân,

tổ chức, doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành theo quy hoạch của chính phủ, hướngnền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, nguồnvốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanhnghiệp nhà nước

Ở nước ta hiện nay các doanh nghiệp nhà nước vấn giữ vai trò chủ đạo trong nềnkinh tế, nguồn vốn của họ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội,tổng vốn vay từ các ngân hàng thương mại và từ nước ngoài Vì vậy mỗi động thái tronghoạt động đầu tư của các doanh nghiệp này đều có tác động ít nhiều đến các hành vi củacác chủ đầu tư khác trong nền kinh tế Nói cách khác, đầu tư nhà nước dẫn đường chođầu tư của tư nhân, của các doanh nghiệp đi sau

- Đầu tư nhà nước chịu ảnh hưởng của các yếu tố như thâm hụt ngân sách, nợnước ngoài, các quy hoạch kinh tế xã hội, tỷ lệ thất thoát, tham nhũng, tốc độ giải ngânvốn, các thủ tục khi sử dụng vốn nhà nước

2.6 Các nhân tố ảnh hưởng khác

- Môi trường đầu tư:

Có thể nói môi trường đầu tư như một chất xúc tác ban đầu cho quyết định bỏ vốncủa nhà đầu tư, sự cải thiện môi trường đầu tư có ảnh hưởng vô cùng quan trọng và tácđộng tích cực đến nền kinh tế, làm tăng nguồn vốn đầu tư và tăng chi tiêu đầu tư toàn xã

Trang 8

hội Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệuquả đầu tư Có thể nói đến hai khái niệm:

+ Môi trường cứng: bao gồm các yếu tố liên quan đến cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục

vụ cho sự phát triển kinh tế, ví dụ như hệ thống thông tin liên lạc, cơ sở hạ tầng giaothông,…

+ Môi trường mềm: bao gồm hệ thống thủ tục hành chính, dịch vụ pháp lý liênquan đến hoạt động đầu tư, hệ thống tài chính – ngân hàng…

Cơ sở hạ tầng ở đây mang tính tiên phong, định hướng, xúc tác cho các hoạt độngđầu tư, nó mở đường cho các hoạt động kinh tế xã hội phát triển Vì vậy cần chú ý đếncông tác đầu tư chuẩn bị hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút các nhà đầu tư, tạo cho họ sựtin cậy để bỏ vốn đầu tư

Một môi trường đầu tư ổn định cả về kinh tế, xã hội và chính trị sẽ thúc đẩy cácnhà đầu tư bỏ vốn để đầu tư phát triển Trong đó, việc đưa ra các chính sách nhằm tănglòng tin cho các nhà đầu tư cần được chính phủ quan tâm Chính sách và hành vi củachính phủ có ảnh hưởng mạnh thông qua tác động của nó đến chi phí, rủi ro và các ràocản cạnh tranh

- Lợi nhuận thực tế:

+ Lợi nhuận thực tế là yếu tố quyết định đến qui mô đầu tư

+ Lợi nhuận thực tế ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư theo tỉ lệ thuận

- Dự báo cung cầu thị trường về sản phẩm của dự án đầu tư trong tương lai:

+ Cầu tăng sẽ kích thích các doanh nghiệp bỏ thêm vốn sản xuất đầu tư tăng.+ Cung thị trường gồm cung đầu vào và cung đầu ra Doanh nghiệp thường chọnngành sản xuất thuận lợi về cung đầu vào để giảm bớt chi phí sản xuất

- Rủi ro đầu tư: Các quyết định đầu tư luôn tiềm ẩn sự rủi ro.

Rủi ro có 2 loại: + Rủi ro có thể đa dạng hóa

+ Rủi ro không thể đa dạng hóa

- Công nghệ và đổi mới:

+Tỉ lệ tăng trưởng của sản lượng tỉ lệ thuận với tiến bộ của công nghệ và tỉ lệ tăngtrưởng của vốn và lao động

+Công nghệ càng phát triển thì càng thu hút được đầu tư

- Yếu tố thời gian:

+ Thời gian ở đây chính là thời gian để nhà đầu tư thu hồi vốn và có lãi

+ Các nhà đầu tư có xu hướng đầu tư vào những ngành thương mại, dịch vụ,những ngành cần ít vốn mà thời gian thu hồi vốn nhanh

3 Kích cầu đầu tư:

3.1 Khái niệm.

- Cầu đầu tư: Cầu đầu tư là lượng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế đối với hoạt động đầu

- Kích cầu đầu tư: Kích cầu đầu tư là tổng hợp tất cả các biện pháp chính sách, các công

cụ pháp lý được sử dụng một cách có hệ thống và đồng bộ nhằm thu hút ngày càng nhiều

Trang 9

vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội trong một giaiđoạn hay thời kì nhất định.

- Một số hoạt động kích cầu đầu tư:

+ Tạo điều kiện huy động các nguồn vốn đầu tư

+ Tạo điều kiện thuận lợi và quản lí các dự án đầu tư cho có hiệu quả

3.2 Mục tiêu của hoạt động kích cầu đầu tư:

- Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi tiêu dùngcông cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế

- Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai Kích cầuthường chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy.Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng thái bẫy thanh khoản, làkhi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất đã quá thấp

- Làm tăng tổng cầu trong nền kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm, nhằm thực hiệnmục tiêu phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay một địa phương

3.3 Ý nghĩa của kích cầu đầu tư:

Kích cầu đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là mộtnước đang phát triển như Việt Nam Ở các nước dang phát triển hiện nay tồn tại "cáivòng luẩn quẩn" với đặc điểm là: thu nhập thấp – tích lũy thấp – trình độ công nghệ lạchậu – năng suất thấp, và cần các biện pháp kích cầu đầu tư để phá vỡ nó, tạo điều kiệnthúc đẩy phát triển kinh tế xã hội

Có những biện pháp kích cầu đầu tư cụ thể và thích hợp sẽ làm tăng lượng vốn đầu

tư toàn xã hội, tăng nhu cầu đầu tư xây dựng và cải thiện mức sống của người dân Đầu

tư tăng sẽ làm tăng tổng cung, kích cầu tiêu dùng Đầu tư vừa là yếu tố duy trì sự ổn định,vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế Vốn đầu tư được sử dụng hiệu quả sẽ cótác động đến tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu theo ngành, vùng lãnh thổ

và theo thành phần kinh tế Đầu tư nước ngoài còn thu hút khoa học công nghệ hiện đại,làm thay đổi bộ mặt của toàn bộ nền kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội Như vậy kíchcầu đầu tư có tác dụng rất quan trọng ở mỗi quốc gia, và mang tính tất yếu trong chiếnlươc phát triển kinh tế xã hội dài hạn

Trang 10

Chương 2: Thực trạng kích cầu đầu tư ở Việt Nam

1 Đánh giá tình hình chi tiêu đầu tư của Việt Nam.

Trên góc độ nền kinh tế, vốn đầu tư phát triển có thể huy động từ hai nguồn:nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Trong đó mỗi nguồn lạiđược chia thành các nguồn nhỏ hơn Nguồn vốn đầu tư trong nước bao gồm nguồn vốnNhà nước, nguồn vốn từ khu vực tư nhân và nguồn vốn khác Vốn đầu tư nước ngoài lạibao gồm vốn FDI, vốn tài trợ phát triển chính thức, vốn vay thương mại, vốn ngoại tệthông qua phát hành trái phiếu Chính phủ ra nước ngoài

Trong những năm vừa qua Việt Nam đã có những thành tựu rất đáng hy vọngtrong hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển Tổng vốn đầu tư toàn xã hội liên tục tăngtrưởng mạnh về qui mô Đây chính là yếu tố quyết định nhất tới những thành tựu về kinh

tế của nước ta trong giai đoạn vừa qua Điều này được thể hiện qua số liệu thông kê vốnđầu tư phát triển giai đoạn 1996-2005:

Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005.

Vốn đầutư/GDP

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong chi tiêu cho đầu tư phát triển, khoản chi tiêu của chính phủ Nước ta luônchiếm một tỷ trọng lớn nhất, là một nguồn quan trọng nhất trong đầu tư phát triển Nguồnvốn này bao gồm nguồn vốn của Ngân sách Nhà nước nguồn vốn tín dụng đầu tư pháttriển và nguồn vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp Nhà nước Theo số liệu thống kê, tổngchi đầu tư phát triển đã đạt 85,7 ngàn tỷ (2006), dự toán năm 2007 là 99,5 ngàn tỷ, với đàthực hiện vượt dự toán như hàng năm thì chi đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nướcchắc chắn sẽ vượt ngưỡng 100 ngàn tỷ đồng trong năm 2007

Vốn Ngân sách Nhà nước gia tăng liên tục qua các năm và luôn chiếm tỷ trọngvao trong các nguồn vốn đầu tư phát triển Sở dĩ có được kết quả này là vì trong nhữngnăm gần đây, quy mô Ngân sách Nhà nước không ngừng tăng lên nhờ mở rộng nhiềunguồn thu khác nhau mà chủ yếu là thông qua huy động thuế và phí (chiếm 90%), trungbình tăng 17% năm Tỷ lệ động viên GDP vào Ngân sách Nhà nước bình quân đạt 23,5%,

Trang 11

nhờ đó chi cho đầu tư phát triển cũng tăng lên Tỷ lệ chi đầu tư phát triển trong tổngNgân sách bình quân năm đạt khoảng 29.8%.

Đặc điểm nổi bật về đầu tư trong nước giai đoạn 2006-2010 là sự tăng lên mạnh

mẽ của đầu tư từ khu vực tư nhân và dân cư Do tác động tích cực của luật doanh nghiệp,đầu tư của khu vực tư nhân diễn ra mạnh mẽ Tỷ trọng đầu tư của khu vực này tăng liêntục và đã cao hơn cả tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước.Tốc độ tăng bìnhquân năm của nguồn vốn này khỏang 12,25% năm

Trong cơ cấu vốn đầu tư giai đoạn 2006-2010 vốn tư nhân và dân cư là nguồnchiếm tỷ trọng cao nhất Điều này đã cho thấy đây thực sự là nguồn vốn quan trọng, cóthể khai thác với khối lượng đáng kể của nền kinh tế song việc khai thác tiềm năng nàythật sự còn rất nhiều điều đáng bàn Theo tổng cục thống kê, hiện chỉ có khoảng 1,53 tỷUSD từ khu vực này dùng trực tiếp cho các dự án đầu tư và lại chủ yếu là ngắn hạn trongtổng số vốn khê đọng trong dân khoảng 8 tỷ USD

Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội theo nguồn huy động minh họa trong bảng 2

Bảng 2 Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2006 – 2010

5 Vốn đầu tư của dân cư và doanh

nghiệp tư nhân

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng vốn đầu tư của nhà nước tuy có xu hướng giảmdần nhưng vẫn còn ở mức rất cao Xem xét trong trường hợp cụ thể là vốn đầu tư củadoanh nghiệp nhà nước thì tỷ trọng chỉ giảm nhẹ từ 13,6% năm 2006 xuống còn 8,2%năm 2010 Quá trình chuyển dịch cơ cấu đầu tư giai đoạn 2006 – 2010 của các doanhnghiệp tư nhân và dân cư hầu như không có tiến triển nào đáng kể xét về tỷ trọng trong

Ngày đăng: 04/05/2016, 21:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Chu kỳ kinh - Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh  hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.
Hình 2. Chu kỳ kinh (Trang 6)
Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005. - Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh  hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.
Bảng 1 Vốn đầu tư phát triển ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2005 (Trang 10)
Bảng 2. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2006 – 2010 - Phân tích các nhân tố cơ bản ảnh  hưởng đến chi tiêu đầu tư? Vận dụng để giải thích những biện pháp kích cầu đầu tư ở nước ta.
Bảng 2. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2006 – 2010 (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w