1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản tại Công ty TNHH DACO

19 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 43,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI “NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN VẬN TẢI BẰNG ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KHO VẬN MIỀN NAM (SOTRANS) HÀ NỘI. 1.1 Tính cấp thiết của đề tài. Giao nhận vận tải là một hoạt động không thể thiếu của trao đổi mua bán hàng hóa,nó là một khâu đặc biệt quan trọng trong quá trình lưu thông,nhằm vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng.Kinh tế càng phát triển,lượng hàng hóa giao nhận ngày càng nhiều thì vận tải hàng hóa ngày càng có vai trò quan trọng,nó ảnh hưởng tới phạm vi mặt hàng,khối lượng và kim ngạch của một quốc gia,cũng như các doanh nghiệp.Với một tiềm năng phát triển rất lớn trong ngành,thị trường giao nhận Việt Nam đầy hứa hẹn khi chính thức ngày càng xuất hiện nhiều công ty không chỉ trong nước mà còn nhiều doanh nghiệp nước ngoài gia nhập.Chính sự hội nhập kinh tế toàn cầu hóa ,sự xuất hiện ngày càng nhiều của các công ty dẫn đến sự cạnh tranh lớn trong ngành.Do đó để tồn tại và phát triển các công ty cần phải tăng cường năng lực cạnh tranh của mình. Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải,Công ty Cổ phần Sotrans Hà Nội đã có mặt trên thị trường này từ khi nó còn là một lĩnh vực khá mới mẻ đối với Việt Nam.Qua những chặng đường trưởng thành và phát triển,Sotrans đã khẳng định được vị thế của mình ,nâng thương hiệu Sotrans lên tầm quốc tế.Ứng dụng thực tế trong bối cảnh hiện nay và sau quá trính thực tập tại Sotrans Hà Nội nhận thấy để tồn tại và phát triển tại thị trường giao nhận Việt Nam,công ty cần phải tăng cường các hoạt động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Nhằm đánh giá thực trạng giao nhận hàng hóa quốc tế bằng đường biển hiện nay,tìm ra điểm mạnh và điểm yếu của công ty từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty trong dịch vụ này,em đã quyết định chọn đề tài :”NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA QUỐC TẾ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KHO VẬN MIỀN NAM(SOTRANS) HÀ NỘI”. 1.2.Mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu lý luận: Hệ thống hoá cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh quá trình giao nhận vận tải bằng đường biển của doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu thực trạng: Tìm hiểu, phân tích, nhận dạng khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần Sotrans Hà Nội, so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Mục tiêu về giải pháp: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh bằng đường biển của công ty cổ phần Sotrans Hà Nội. 1.3 Phạm vi nghiên cứu Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về khả năng cạnh tranh dịch vụ giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tại công ty Sotrans Hà Nội. Không gian: Tại công ty cổ phần kho vận Sotrans Hà Nội. Thời gian: Sau thời gian thực tập tại công ty qua các số liệu thực tế năm 2013, 2014, 2015. Đề xuất giải pháp cho công ty trong những năm tiếp theo. 1.4 Phương pháp nghiên cứu. 1.4.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu sơ cấp 1.4.1.1. Phương pháp phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn là phương pháp hữu hiệu được áp dụng để tăng tính xác thực cho các thông tin thu thập được. Được tiến hành qua 4 bước: Bước 1: Xây dựng câu hỏi phỏng vấn Bước 2: Phỏng vấn đối tượng cần phỏng vấn Bước 3: Ghi chép lại thông tin Bước 4: Thu thập, phân tích và xử lý thông tin 1.4.1.2. Phương pháp quan sát Quan sát là phương pháp ghi lại có kiểm soát các sự kiện hoặc các hành vi ứng xử của con người. Phương pháp này thường được áp dụng với các phương pháp khác để kiểm tra độ chính xác của các dữ liệu thu được, có thể chia ra làm 2 loại Quan sát trực tiếp: Là tiến hành quan sát các sự kiện đang diễn ra Quan sát gián tiếp: Là quan sát kết quả hay tác động của hành vi chứ không trực tiếp quan sát hành vi. Ưu điểm: mang tính hiện thực cao

Trang 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Trong điều kiện và bối cảnh kinh tế ngày nay, kinh tế đối ngoại cũng như hoạt động ngoại thương đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Cùng với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới – WTO là một bước quan trọng phải có trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu Việc này đã mở ta cơ hội hội nhập cho nền kinh tế Việt Nam với các nền kinh tế tiến

bộ phát triển khác trên thế giới Nhưng bên cạnh đó là không ít các thách thức đặt ra đối với các doanh nghiệp – đặc biệt là các doanh nghiệp đã và đang có hoạt động thương mại quốc tế

Như một xu thế tất yếu, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở nước đa đang từng bước chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó trở thành công cụ đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế đất nước, hội nhập sâu - rộng vào nền kinh tế thế giới Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, chúng ta có điều kiện nắm bắt và tiếp cận những thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới đồng thời vẫn thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước

Ngành tự động hóa Việt Nam hiện nay đang có những bước phát triển đáng kinh ngạc, dần vươn lên trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước Đặc trưng của ngành là một trong những ngành kinh tế kỹ thuật yêu cầu áp dụng khai thác các sản phẩm công nghệ cao Hiện nay, hầu như toàn bộ các thiết bị phụ tùng hay máy móc phục vụ cho ngành tự động hóa ở nước ta đều phải nhập khẩu từ nước ngoài Quá trình nhập khẩu các thiết bị chuyên ngành phục vụ ngành tự động hóa là hoạt động đóng vai trò quan trọng, tác động trực tiếp tới chất lượng và quá trình hiện đại hóa cơ sở vật chất cho ngành Công ty TNHH DACO là công ty chuyên nhập khẩu và cung cấp các thiết bị

tự động hóa, phục vụ việc lắp đặt xây dựng hệ thống kinh doanh phục vụ cho các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam

Dù là một doanh nghiệp trẻ, thời gian hoạt đông chưa lâu, nhưng công ty TNHH DACO đã nhanh chóng tạo dựng được cho mình vị thế vững chắc, xây dựng uy tín và là đối tác đáng tin cậy của các doanh nghiệp trong nước cũng như quốc tế Để có nguồn cung thiết bị đảm bảo chất lượng nhằm phục vụ việc cung ứng, lắp đặt, hầu hết các thiết

bị, linh kiện đều được công ty nhập khẩu trực tiếp từ các đối tác uy tín từ thị trường nước ngoài Hoạt động nhập khẩu thiết bị, linh kiện tự động hóa của công ty trong những năm

Trang 2

qua đã và đang đạt được những thành tựu nhất định Song bên cạnh đó vẫn còn một số những hạn chế trong hoạt động kinh doanh của công ty Do thời gian công ty đi vào hoạt động là chưa lâu, hoạt động nhập khẩu thiết bị tự động hóa vẫn còn tương đối mới mẻ trên thị trường, công ty đã và đang vấp phải những khó khăn nhất định trong việc tìm kiếm thị trường nhập khẩu Bên cạnh đó là những khó khăn vướng mắc trong việc liên hệ đối với các đối tác hiện tại, những khó khăn về vốn, nhân lực

Để có thể đánh giá một cách chính xác thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị tự động hóa tại công ty, qua đó đưa ra các phương hướng, giải pháp phù hợp nhất nhằm duy trì những thành tựu công ty đang có, khắc phục những thiết sót còn tồn tại và phát triển dựa trên những thành công hiện tại, em quyết định lựa chọn tìm hiểu và nghiên

cứu sâu hơn về đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản tại Công ty TNHH DACO”.

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, em đã xem và tham khảo một số những đề tài, chuyên đề có liên quan tới đề tài khóa luận của mình Một số những đề tài

và chuyên đề mà em đã tham khảo như:

Đề tài: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu của công ty TNHH thương mại và điện tử Tuấn Linh (Khóa luận tốt nghiệp – Trần Thị Thoa – khoa Quản trị kinh

doanh – ĐH Kinh tế quốc dân) Khóa luận đã đề cập tới các cơ sở lý luận chung về hoạt động nhập khẩu nói chung, trình bày về thực trạng hoạt động nhập khẩu nói chung tại công ty TNHH thương mại và điện tử Tuấn Linh

Đề tài: Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu thép của công ty cổ phần xuất nhập khẩu khoáng sản MINEXPORT (Khóa luận tốt nghiệp – Vũ Ngọc Linh – khoa Kinh

doanh quốc tế - khóa 46 – ĐH Kinh tế quốc dân) Công trình đã đề cập tới cơ sở lý thuyết chung về hoạt động nhập khẩu Trình bày thực trạng nhập khẩu khoáng sản nói chung và đặc biệt là hoạt động nhập khẩu thép của công ty MINEXPORT

Đề tài: Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu mặt hàng thiết bị gia dụng từ thị trường Trung Quốc tại công ty SAIKO Việt Nam (Hoàng Thu Hiền- khoa thương mại

quốc tế - 2010 – ĐH Thương mại) Bên cạnh việc nêu được hệ thống cơ sở lý luận về hoạt động nhập khẩu, khóa luận đã đề cập tới những vấn đề, thành công và tồn tại trong hoạt động nhập khẩu của công ty, đặc điểm về mặt hàng, thị trường cũng đã được đề cập tới

Trang 3

Đề tài: Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu vật tư thiết bị sửa chữa đóng mới tàu thủy của tổng công ty công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng (Nguyễn Huyền Trang – K43E5

– ĐH Thương Mại) Đề tài đã trình bày được cơ sở lý thuyết về hoạt động kinh doanh nhập khẩu, chỉ ra đặc điểm của mặt hàng nhập khẩu và thực trạng nhập khẩu thiết bị

Đề tài: Nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu sản phẩm cứu hộ cứu nạn và khắc phục sự cố tràn dầu của công ty cổ phần Việt Nam APTES (Nguyễn Thanh Phương –

K43E4 – ĐH Thương mại)

Hiện nay tại nước ta, các doanh nghiệp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị tự động hóa chưa nhiều Đây được coi là một ngành mới và tương đối non trẻ trong nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy mà các đề tài liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu thiết

bị tự động hóa có tương đối ít Vì vậy, em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu

quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản tại Công ty TNHH DACO”.

1.3 Mục đích nghiên cứu

- Về lý luận:

Làm rõ được nội dung về lý thuyết nhập khẩu – kinh doanh nhập khẩu và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

- Về thực tiễn:

Nghiên cứu và làm rõ được thực trạng kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản tại công ty TNHH DACO Qua đó nhận xét được về hiệu quả kinh doanh nhập khẩu cũng như những khó khăn mà công ty hiện đang phải đối mặt Đồng thời đưa ra một số các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại công ty

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà khóa luận hướng tới là hiệu quả và các hoạt động kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu của công ty TNHH DACO

1.5 Phạm vi nghiên cứu

- Tiến hành nghiên cứu tại công ty TNHH DACO

- Nghiên cứu và phân tích đề tài dựa trên các dữ liệu trong giai đoạn 2012 – 2015 về thực trạng nhập khẩu đèn báo hiệu tại công ty

Trang 4

1.6 Phương pháp nghiên cứu

1.6.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Trong quá trình thực tập tại công ty TNHH DACO, để phục vụ đề tài nghiên cứu của mình, em có tiến hành nghiên cứu và thu thập

dữ liệu thứ cấp qua báo cáo tài chính, kinh doanh của công ty, cũng như một số các chứng từ liên quan tới hoạt động nhập khẩu thiết bị

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Để có thể nghiên cứu và làm rõ hơn thực tiễn hoạt động kinh doanh của công ty, song song với việc nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp, em cũng thực hiện một số các hình thức thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, nhằm làm rõ hơn thực trạng của công ty trong thực tiễn Qua đó có cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản của công ty

1.6.2 Phương pháp xử lý số liệu

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài sau khi thu thập số liệu, nhằm làm rõ mối tương quan giữa các số liệu em tiến hành phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh giữa các số liệu Trong bài viết cũng có sử dụng các bảng biểu thống kê để trình bày một cách khoa học nhất Qua đó có những phân tích đánh giá chính xác hơn

1.7 Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp có kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động nhập khẩu và hiệu quả kinh doanh nhập khẩu Chương 3: Thực trạng kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu từ thị trường Nhật Bản của

công ty TNHH DACO

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu đèn báo hiệu của

công ty TNHH DACO

Trang 5

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU VÀ HIỆU QUẢ KINH

DOANH NHẬP KHẨU

2.1 Khái niệm về nhập khẩu

2.1.1 Khái niệm về nhập khẩu

Trước xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế,việc mở cửa và hội nhập kinh tế là yêu cầu tất yếu và khách quan đối với mỗi quốc gia, nếu như quốc gia đó không muốn rơi vào tình trạng trì trệ và kém phát triển Một quốc gia có các hoạt động thương mại quốc tế phát triển sẽ kéo theo nên kinh tế quốc gia đó phát triển theo

Thương mại quốc tế bao gồm hai bộ phận cấu thành là hoạt động xuất khẩu và hoạt động nhập khẩu Hai hoạt động có mỗi quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau Hoạt động nhập khẩu góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa, đẩy mạnh xuất khẩu, còn hoạt động xuất khẩu sẽ giúp thu về nguồn ngoại tệ phục vụ nhập khẩu

Vậy, nhập khẩu là gì?

Nhập khẩu là hoạt động mua hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận

Theo khoản 2 - điều 28 - chương 2 luật Thương mại Việt Nam năm 2005 quy định:

“Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”

Hoạt động nhập khẩu được hiểu là quá trình mua hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở một quốc gia khác trên nguyên tắc thị trường thế giới nhằm mục đích phục vụ sản xuất trong nước hoặc tái xuất khẩu từ đó thu được lợi nhuận.

2.1.2 Các đặc điểm cơ bản về hoạt động nhập khẩu

Kinh doanh nhập khẩu mang những nét đặc trưng riêng, khác biệt so với kinh doanh nội địa Những đặc trưng này có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu của các chủ thế thực hiện

Trang 6

- Các phương thức giao dịch trên thị trường quốc tế rất phong phú: qua internet, giao dịch trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm Mọi hoạt động nhập khẩu đều phải tiến hành thông qua hội đồng kinh tế

- Về thị trường nhập khẩu: Thị trường nhập khẩu rất đa dạng Mỗi quốc gia có lợi thế so

sánh riêng trong sản xuất những mặt hàng đặc trưng của mình Do vậy, nhà nhập khẩu cũng có rất nhiều cơ hội để lựa chọn thị trường cung cấp cho mình Việc nhập khẩu hàng hóa từ các thị trường nước ngoài cần phải tính đến những lợi ích thu được cũng như những chi phí phải bỏ ra để tiếp cận và nhập khẩu từ thị trường đó

- Về môi trường pháp luật: Kinh doanh nhập khẩu chịu sự chi phối của hệ thống luật quốc

gia và và các công ước quốc tế, các tập quán thương mại quốc tế Giữa các nguồn luật này lại thường có sự mâu thuẫn xung đột với nhau Do đó khi tham gia kinh doanh nhập khẩu, mỗi doanh nghiệp cần nắm rõ nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu để tránh những tranh chấp có thể phát sinh

- Về phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức khác nhau được sử dụng trong hoạt

động thanh toán nhập khẩu như: Phương thức nhờ thu, phương thức chuyển tiền, phương thức tín dụng chứng từ Phổ biến nhất hiện nay là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Việc thanh toán hàng nhập khẩu lại thường sử dụng các loại ngoại tệ nên chịu tác động lớn của tỷ giá hối đoái Vì thế doanh nghiệp muốn kinh doanh nhập khẩu hiệu quả thì không thể không quan tâm đến các điều khoản thanh toán

- Để tránh rủi ro về hối đoái, ngoại tệ được dùng trong thanh toán của các giao dịch nhập khẩu thường là các ngoại tệ mạnh

- Điều kiện giao hàng phổ biến nhất được các bên thỏa thuận sử dụng trong hoạt động nhập khẩu là các điều kiện FOB và CIF Trong quá trình vận chuyển có thể xảy ra những rủi ro về hàng hóa Do đó, để đề phòng và giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro gây

ra, các bên có thể thỏa thuận mua bảo hiểm cho hàng hóa, chi phí bảo hiểm do người nhập khẩu hay người xuất khẩu chịu tủy theo điều kiện hợp đồng

2.1.3 Các hình thức nhập khẩu

2.1.3.1 Nhập khẩu trực tiếp

Nhập khẩu trực tiếp là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu, trong đó, doanh nghiệp phải trực tiếp làm mọi khâu của quá trình kinh doanh nhập khẩu, như tìm kiếm đối tác, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và phải bỏ vốn để tổ chức kinh doanh nhập khẩu

Trang 7

Khi sử dụng hình thức này, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình Hình thức nhập khẩu này có độ rủi ro cao hơn so với một số hình thức khác

2.1.3.2 Nhập khẩu ủy thác (nhập khẩu gián tiếp)

Nhập khẩu ủy thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và nhu cầu nhập khẩu một số loại hàng hóa nhưng lại không có quyền tham gia hoặc không có khả năng tham gia và tham gia không hiệu quả Khi đó sẽ doanh nghiệp sẽ ủy nhiệm cho các doanh nghiệp khác làm nhiệm vụ giao dịch trực tiếp và tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình

2.1.3.3 Nhập khẩu hàng đổi hàng

Nhập khẩu hàng đổi hàng cũng trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ yếu của buôn bán đối lưu, là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu Phương tiện thanh toán trong hoạt động này không phải là tiền mà chính là hàng hóa Mục đích từ hàng đổi hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh nhập khẩu, vừa xuất khẩu được hàng hóa ra thị trường nước ngoài Người nhập khẩu đồng thời cũng chính là người xuất khẩu

Hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu phải có giá trị tương đương nhau, đảm bảo điều kiện cân bằng về mặt giá cả, điều kiện giao hàng và tổng giá trị hàng hóa trao đổi

2.1.3.4 Nhập khẩu tạm nhập tái xuất

Tạm nhập tái xuất là hình thức doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa nhưng không phải

để tiêu thụ tại thị trường trong nước mà là để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm thu

về lợi nhuận Những mặt hàng này không được gia công hay chế biến tại nơi tái xuất Hàng hóa vừa phải làm thủ tục nhập khẩu, vừa phải làm thủ tục xuất khẩu sau đó

2.1.3.5 Nhập khẩu gia công

Là hình thức nhập khẩu theo đó bên nhập khẩu cũng chính là bên nhận gia công tiến hành nhập khẩu nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm về để tiến hành gia công theo hợp đồng ký giữa hai bên Hàng hóa nhập khẩu có thể do bên đặt gia công bán đứt cho bên nhận gia công hoặc do bên đặt gia công chuyển sang cho

2.1.4 Vai trò của hoạt động nhập khẩu đối với doanh nghiệp

Hoạt động nhập khẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia bởi những lợi ích to lớn mà nó đem lại:

- Nhập khẩu góp phần nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của

xã hội, cải thiện đời sống dân sinh

Trang 8

- Nhập khẩu góp phần thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng, sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế

- Nhập khẩu cung cấp nguyên vật liêu, máy móc, cá yếu tố cần thiết khác cho quá trình sản xuất của mỗi doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng hiệu quả cho doanh nghiệp

Hoạt động nhập khẩu còn đóng một vai trò vô cùng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn với doanh nghiệp bởi lý do cơ bản: mở rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng sản xuất tiêu dùng Nhập khẩu góp phần đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại của thế giới vào trong nước, phá vỡ triệt để nền kinh tế đóng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển các thành phần kinh tế

- Đối với mỗi doanh nghiệp: Trong quá trình mở cửa và hội nhập nền kinh tế các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế thế giới Các cơ hội và thách thức đặt ra cho các doanh nghiệp rất nhiều, nó là sự sống còn của nhiều doanh nghiệp, nếu như doanh nghiệp tìm kiếm được những đối tác đáng tin cậy thì sẽ tạo được đà phát triển hoạt động kinh doanh thuận lợi Thông qua hoạt động nhập khẩu doanh nghiệp nhanh chóng tiếp thu được khoa học kĩ thuật, từ đó có khả năng củng cố tổ chức sản xuất, nâng cao mẫu mã, chất lượng, uy thế và địa vị của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế Cũng thông qua hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp xuất nhanh chóng hoàn thiện sản phẩm của mình củng cố đội ngũ cán bộ công nhân viên nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên trong sản xuất để tạo lợi thế cạnh tranh

so với các đối thủ khác trên thị trường

2.2 Hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp

2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

Trước hết, ta cần xem xét và hiểu đúng về khái niệm hiệu quả kinh doanh Có nhiều khái niệm khác nhau để chỉ hiệu quả kinh doanh Có quan điểm cho rằng: "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng hàng hoá mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó" Thực chất quan điểm này đã đề cập tới khía cạnh phân bổ

có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Trên góc độ này rõ ràng phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất làm cho nền kinh tế có hiệu quả và rõ ràng xét trên phương diện lý thuyết thì đây là mức hiệu quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được trên giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Trang 9

Một số nhà quản trị học lại quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó

Manfred Kuhn cho rằng: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo

đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh

Quan điểm khác lại cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại

từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội xã hội chủ nghĩa Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình

độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục đích nhất định

Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động

kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá" Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả

Từ các quan điểm trên, có thể hiểu đúng: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp để thực hiện ở mức cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố

Tương tự như vậy, có thể hiểu hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là một đại lượng kinh

tế phản ánh mối tương quan giữa kết quả đạt được của một hoạt động kinh doanh nhập khẩu và toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

2.2.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

Việc phân loại hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp cũng dựa trên các cách thức phân loại hiệu quả kinh doanh nói chung Hiệu quả kinh doanh được phân loại theo các tiêu thức khác nhau để thuận tiện cho việc quản lý và nâng cao hiệu quả kinh doanh Tương ứng với mỗi tiêu thức, hiệu quả kinh doanh sẽ được phân chia thành các loại khác nhau

2.2.2.1 Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và hiệu quả kinh doanh tương đối

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được phân chia thành hiệu quả kinh doanh tuyệt đối và tương đối dựa trên phương pháp tính hiệu quả

Trang 10

Hiệu quả kinh doanh tuyệt đối cho biết lượng hiệu quả của từng phương án kinh doanh riêng biệt, từng thời kỳ kinh doanh, từng doanh nghiệp Đó là mức chênh lệch giữa kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Hiệu quả kinh doanh tương đối cho biết trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất, trình độ

tổ chức quản lý của doanh nghiệp Thực chất, đó là sự so sánh giữa các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối khác nhau của doanh nghiệp

2.2.2.2 Hiệu quả kinh doanh tổng hợp và hiệu quả kinh doanh bộ phận

Hiệu quả kinh doanh tổng hợp: là hiệu quả kinh doanh tính chung cho toàn doanh nghiệp, nó phản ánh một cách khái quát về mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh và chi phí để thực hiện mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra trong một giai đoạn nhất định Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có tác động thiết thực tìm ra được hướng giảm chi phí hiệu quả nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

Hiệu quả kinh doanh bộ phận: là hiệu quả kinh doanh tính riêng cho từng bộ phận hoặc từng yếu tố sản xuất như: vốn, lao động, máy móc thiết bị Nó chỉ phản ánh hiệu quả kinh doanh ở từng mặt hoạt động của doanh nghiệp mà không phản ánh được hiệu quả của toàn doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu phải quan tâm đến việc nghiên cứu các biện pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh

2.2.2.3 Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh doanh cá biệt hay hiệu quả tài chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá và xem xét về mặt kinh tế tài chính, được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu thu – chi trực tiếp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó biểu hiện mối quan hệ giữa lợi ích mà doanh nghiệp nhận được trong hoạt động kinh doanh với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu được lợi ích đó

Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh

tế quốc dân, đó là sự đóng góp vào quá trình phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, tăng năng suất lao động xã hội, bổ sung vào tích lũy ngoại tệ, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, giải quyết vấn đề việc làm

2.2.3 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu

Hoạt động kinh doanh nhập khẩu góp phần làm cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, giảm tỉ lệ thất nghiệp, tạo sự ổn định cho nền kinh tế

Ngày đăng: 04/05/2016, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w