Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột PPDH BTNB là PPDH tích cực, thíchhợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểuhọc khi HS đang ở giai đoạn bắt đ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là vấn đề quantrọng, cấp bách diễn ra sôi nổi về lí luận cũng như thực tiễn Định hướng đổi mớiPPDH được nghị quyết TW lần 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nết tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến, các PPDH hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh (HS)” Từ định hướng này và đáp ứng yêu cầu của xã hội,
Đảng ta đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27 tháng 3 năm 2015 của Thủtướng Chính Phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa (SGK)
phổ thông Chương trình mới, SGK mới lấy HS làm trung tâm, phát huy tính chủ
động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của HS; tăng cường tính tương tác trong dạy
và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo đòi hỏi phải cóPPDH tích cực để thực hiện được mục tiêu đó
Phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột (PPDH BTNB) là PPDH tích cực, thíchhợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểuhọc khi HS đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hìnhthành khái niệm cơ bản về khoa học tập trung phát triển khả năng nhận thức của HS,giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ, từ đó khám phá ra bản chấtcủa vấn đề Phương pháp này giúp các em hiểu rõ câu trả lời mình tìm được và quantrọng hơn các em biết cách tự tìm ra tri thức, HS trở thành chủ thể của việc tìm kiếmtri thức phát huy hết khả năng của mình Qua đó HS sẽ hình thành khả năng suy luậntheo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việckhi trưởng thành Tạo lập cho HS thói quen làm việc như các nhà khoa học và niềmsay mê sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề
Môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học là môn có chương trình nội dung phù hợp đểvận dụng PPDH BTNB Kiến thức được đánh giá là nhẹ nhàng, thực tế, gần gũi với
HS Nhiều nội dung áp dụng dễ kiếm mẫu vật có thể làm thí nghiệm hoặc quan sátthực tế Bước đầu hình thành cho HS phương pháp học tập mang tính chất tìm tòi
nghiên cứu rèn luyện nếp tư duy sáng tạo Thực tiễn trong dạy học môn Tự nhiên và
Trang 2Xã hội ở trường Tiểu học cho thấy, giáo viên (GV) còn gặp nhiều khó khăn trong việc
sử dụng PPDH Các PPDH truyền thống vẫn chiếm ưu thế, HS học tập còn thụ động,không phát huy tính tích cực, tự giác, pháp triển tư duy cho các em Việc vận dụngPPDH BTNB, PPDH tích cực vẫn chưa thực sự được áp dụng nhiều và hiệu quả
Xuất phát từ lí luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Sưu tầm và thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 ở tiểu học theo phương pháp dạy học Bàn tay nặn bột”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Khảo sát được thực trạng sử dụng PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và
Xã hội lớp 1, 2, 3 ở một số trường Tiểu học
- Sưu tầm được các bài dạy học theo PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên
và Xã hội đã triển khai ở tiểu học
- Thiết kế được một số bài dạy học theo PPDH BTNB trong dạy học môn Tựnhiên và Xã hội ở lớp 1, 2, 3
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tác dụng của việc sử dụng PPDH BTNB
và sự hợp lí của các bài thiết kế theo PPDH này trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hộilớp 1, 2, 3 ở tiểu học
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của PPDH BTNB.
- Khảo sát thực trạng sử dụng PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xãhội của GV ở một số trường Tiểu học
- Sưu tầm các bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 đã được thiết kếtheo PPDH BTNB
- Thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 theo PPDH BTNB
- Thực nghiệm sư phạm dạy học theo PPDH BTNB
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lí luận của PPDH BTNB
- Thực tiễn của việc sử dụng PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xãhội ở tiểu học
- Sưu tầm các bài dạy học theo PPDH BTNB đã được sử dụng ở tiểu học
- Vận dụng PPDH BTNB trong thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xãhội lớp 1, 2, 3
Trang 3- Đánh giá tác dụng của PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp
1, 2, 3 ở tiểu học
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
PPDH BTNB trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình giáo dục và dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1, 2, 3
- GV và HS khối lớp 1, 2, 3
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dung nghiên cứu để thu thậpthông tin, tổng hợp các vấn đề mà xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở
trường Tiểu học để thu thập thông tin cần thiết cho đề tài
6.2.2 Phương pháp điều tra: Điều tra được tiến hành theo mẫu phiếu hỏi để thu được
những thông tin làm rõ việc vận dụng dạy học Bàn tay nặn bột trong tổ chức cho HSkhám phá nội dung môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
6.2.3 Phương pháp thực nhiệm sư phạm: Từ kết quả tìm hiểu tài liệu và các bài viết
có liên quan về PPDH BTNB, tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để thửnghiệm một số tiết dạy vào thực tế sư phạm với mục đích khẳng định tính hiệu quả,tính khả thi của vấn đề nghiên cứu
6.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng thống kê toán học để tổng hợp kết quả
điều tra nhằm chứng minh độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Sưu tầm và thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 theoPPDH BTNB và tiến hành thực nghiệm tại trường Tiểu học Thanh Lãng A (TT ThanhLãng huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc)
8 Giả thuyết khoa học
Nếu trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội GV biết sưu tầm, thiết kế
và vận dụng PPDH BTNB theo một quy trình hợp lí và phù hợp với điều kiện cụ thể ởtrường Tiểu học trong dạy học một số nội dung trong chương trình môn Tự nhiên và
Trang 4Xã hội thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS, phát triển tư duy hệthống và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học
9 Cấu trúc của đề tài
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
+ Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
+ Chương 2: Sưu tầm và thiết kế một số bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp
Trang 5PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1 Đặc điểm tâm lý của HS tiểu học
1.1.1.1 Đặc điểm hoạt động nhận thức của HS tiểu học
HS tiểu học thuộc lứa tuổi từ 6 đến 11 tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5) Điều kiện sống
và hoạt động của HS tiểu học có những thay đổi lớn, do đó đặc điểm tâm lý nói chung
và đặc điểm nhận thức của các em cũng có những thay đổi cơ bản
Tri giác của các em HS đầu tiểu học còn thiên về cảm xúc, việc tri giác thiếu mụcđích, kế hoạch rõ ràng, tri giác vẫn thường gắn với hoạt động HS cuối cấp tiểu học đãbiết tìm các dấu hiệu đặc trưng, chi tiết để đi đến so sánh, tổng hợp, xác định mối liên
hệ giữa các sự vật Tri giác của các em mang tính mục đích, phương hướng rõ ràng,khả năng quan sát tinh tế, nhạy bén, tìm ra được những nét đặc thù của đối tượng Tuynhiên tri giác về thời gian, không gian cũng như ước lượng về thời gian, không giancủa các em còn hạn chế
HS tiểu học mang lối tư duy trực quan cụ thể, lấy các đối tượng cụ thể thay chođịnh nghĩa về đối tượng Hoạt động phân tích, tổng hợp của các em còn sơ đẳng Các
em thường gặp một số khó khăn nhất định khi cần phải xác định mối quan hệ nhânquả; dễ bị nhầm lẫn mối quan hệ nguyên nhân – kết quả
Ngôn ngữ của HS tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng.Chỉ khi bước vào tiểu học các em mới được làm quen với hình thức mới của hoạt độngngôn ngữ đó là ngôn ngữ viết Nhờ tham gia các hoạt động trong và ngoài nhà trường,tiếp xúc rộng rãi với những người xung quanh và tiếp thu tri thức các môn học mà vốn
từ ngữ của các em trở nên phong phú, chính xác Trong quá trình học tập ở trường Tiểuhọc, các em sẽ được học các quy tắc ngữ pháp cơ bản và rèn luyện cách phát âm, dùng
từ, trên cơ sở đó khả năng ngôn ngữ và năng lực nhận thức của trẻ được phát triển
Ở lứa tuổi này tưởng tượng của HS tiểu học đã phát triển và phong phú hơn trẻmẫu giáo Song quá trình tưởng tượng của trẻ còn tản mạn và ít có tổ chức Hình ảnhtưởng tượng chưa được gọt giũa, còn hay thay đổi, chưa bền vững Càng về nhữngnăm cuối bậc tiểu học, vốn tri thức và kinh nghiệm phong phú hơn nên tưởng tượngcủa trẻ càng hiện thực hơn
Trang 6Cùng với đó, HS tiểu học có trí nhớ trực quan phát triển, chiếm ưu thế hơn từngữ lô-gic Dần dần cùng với quá trình học tập lên các lớp cao hơn việc ghi nhớ có ýthức hình thành và phát triển, các em dần hiểu được mối liên hệ có ý nghĩa bên trongcác tài liệu các em cần ghi nhớ Trí nhớ của HS phát triển phụ thuộc vào nội dung vàPPDH Cần chú ý đặc biệt tới việc hình thành kiểu hoạt động học tập mới, phù hợp vớinhững nguyên tắc của cách dạy học dựa trên cơ sở khái quát nội dung để phát triểntoàn bộ trí tuệ, nhân cách trong đó có trí nhớ của HS
Khả năng chú ý có chủ định của HS tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ýmột cách có ý chí chưa mạnh HS cấp đầu tiểu học thường chú ý khi có động cơ gần,cấp cuối tiểu học các em đã có thể duy trì chú ý có chủ định ngay cả khi có động cơ
xa Chính vì vậy, HS các lớp 1, 2, 3 thường quên những điều GV dặn dò vào cuối buổihọc, thường bỏ sót chữ cái trong từ… HS tiểu học có khả năng phát triển chú ý có chủđịnh trong quá trình học tập Chính quá trình học tập đòi hỏi HS phải rèn luyện thườngxuyên chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí [12]
1.1.1.2 Đặc điểm nhân cách của HS tiểu học
Nhân cách của HS tiểu học là nhân cách đang được hình thành Trong giai đoạnnày, các em lớn dần, hoàn thiện về cơ thể, đồng thời phát triển về tâm lý Nhu cầunhận thức của các em là nhu cầu tinh thần Nhu cầu tham quan, đọc sách cũng tăng lênvới sự phát triển của kỹ năng quan sát, kỹ năng đọc Lúc đầu là nhu cầu có tính chấtchung, sau đó là nhu cầu có tính chọn lọc theo nhu cầu, sở thích của các em
Ở lứa tuổi này dễ nhận ra tính xung động trong hành vi của các em Do vậy màhành vi của HS tiểu học dễ có tính tự phát, dễ có những phản ứng nhanh chóng, dễ viphạm nội dung và bị xem là “vô kỷ luật” Các em rất hồn nhiên trong quan hệ với mọingười, với thầy cô, với người lớn, với bạn bè
HS tiểu học rất hồn nhiên nên các em rất cả tin, trẻ thường tin tuyệt đối vào thầy
cô, tin vào sách, tin vào người lớn Đặc biệt tính bắt chước của các em vẫn còn đậmnét Các em bắt chước hành vi, cử chỉ của GV, của những người được các em coi nhưthần tượng, kể cả những nhân vật trong truyện, trong phim ảnh Tính cách của HS tiểuhọc có nhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh, thích hoạt động và thích làm việc
gì đó phù hợp với mình, nên có thể sớm hình thành ở các em thói quen đối với laođộng HS tiểu học thường thể hiện cảm xúc mạnh mẽ, dễ xúc động, khó kiềm chế, khó
Trang 7làm chủ tình cảm của mình Tình cảm của HS tiểu học thường chưa bền vững Tìnhcảm đạo đức phát triển mạnh mẽ
Tóm lại, HS tiểu học là độ tuổi nhiều xúc cảm nhiều tình cảm mới đang đượchình thành nhưng chưa bền vững Vì thế, trong dạy học và giáo dục GV cần chú ý đầy
đủ những đặc điểm này để hình thành những tình cảm tích cực phong phú, đa dạng chocác em [12]
1.1.2 Khái quát về môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
1.1.2.1 Mục tiêu môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
Môn Tự nhiên và Xã hội là một bộ phận của hệ thống các môn học chính khóatrong chương trình tiểu học Cũng như các môn học khác ở tiểu học, mục tiêu môn Tựnhiên và Xã hội được thể hiện ở các mục tiêu thành phần sau:
* Kiến thức
Có một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực về:
- Con người và sức khoẻ (cơ thể người, cách giữ vệ sinh cơ thể và phòng tránhbệnh tật, tai nạn)
- Một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên và xã hội
* Kĩ năng
Bước đầu hình thành và phát triển những kĩ năng:
- Tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, ứng xử hợp lí trong đời sống để phòngtránh một số bệnh tật và tai nạn
- Quan sát, nhận xét, nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, biết cách diễn đạt những hiểubiết của mình về các sự vật, hiện tượng đơn giản trong Tự nhiên và Xã hội
* Thái độ
Hình thành và phát triển những thái độ và hành vi:
- Có ý thức thực hiện các quy tắc giữ vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình vàcộng đồng
- Yêu thiên nhiên, gia đình, trường học, quê hương [2]
1.1.2.2 Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
Nội dung chương trình môn Tự nhiên và Xã hội được cấu trúc đồng tâm từ lớp 1đến lớp 3 theo ba chủ đề lớn: Con người và sức khỏe, Xã hội, Tự nhiên Các chủ đềnày được mở rộng và nâng cao theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức
Trang 8tạp, giúp HS có cách nhìn về con người, thiên nhiên và cuộc sống xung quanh dướidạng tổng thể đơn giản.
Lớp 1:
* Gồm 3 chủ đề lớn:
- Chủ đề Con người và sức khỏe: gồm 9 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Xã hội: gồm 10 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Tự nhiên: gồm 13 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.
Môn Tự nhiên và Xã hội ở lớp 1 dạy 1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết
* Nội dung của các chủ đề:
- Con người và sức khoẻ:
+ Cơ quan vận động: cơ, xương, khớp xương; một số cử động vận động, vai trò
của cơ và xương trong cử động vận động; phòng cong vẹo cột sống; tập thể dục và vậnđộng thường xuyên để cơ, xương phát triển
+ Cơ quan tiêu hoá: nhận biết trên sơ đồ; vai trò của từng bộ phận trong hoạt
động tiêu hoá; ăn sạch, uống sạch, phòng nhiễm giun
- Xã hội:
+ Gia đình: công việc của các thành viên trong gia đình; cách bảo quản và sửdụng một số đồ dùng trong nhà; giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở và khu vệ sinh,chuồng gia súc; an toàn khi ở nhà (phòng tránh ngộ độc)
+ Trường học: các thành viên và công việc của họ; cơ sở vật chất của nhà trường;giữ vệ sinh trường học; an toàn khi ở trường
+ Huyện hoặc quận nơi đang sống: Cảnh quan tự nhiên; Nghề chính của nhândân; Các đường giao thông và phương tiện giao thông; Một số biển báo trên đường bộ,đường sắt; An toàn giao thông (quy tắc đi những phương tiện giao thông công cộng)
Trang 9- Chủ đề Xã hội: gồm 12 bài mới, 1 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Tự nhiên: gồm 10 bài mới, 2 bài ôn tập và kiểm tra.
Môn Tự nhiên và Xã hội lớp 2 dạy 1 tiết/tuần x 35 tuần = 35 tiết
* Nội dung của các chủ đề:
- Con người và sức khoẻ:
+ Cơ quan vận động: cơ, xương, khớp xương; một số cử động vận động, vai tròcủa cơ và xương trong cử động vận động; phòng cong vẹo cột sống; tập thể dục và vậnđộng thường xuyên để cơ, xương phát triển
+ Cơ quan tiêu hoá: nhận biết trên sơ đồ; vai trò của từng bộ phận trong hoạtđộng tiêu hoá; ăn sạch, uống sạch, phòng nhiễm giun
- Xã hội:
+ Gia đình: công việc của các thành viên trong gia đình; cách bảo quản và sửdụng một số đồ dùng trong nhà; giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở và khu vệ sinh,
chuồng gia súc; an toàn khi ở nhà (phòng tránh ngộ độc)
+ Trường học: các thành viên và công việc của họ; cơ sở vật chất của nhà
trường; giữ vệ sinh trường học; an toàn khi ở trường
+ Huyện hoặc quận nơi đang sống: cảnh quan tự nhiên; nghề chính của nhân dân;các đường giao thông và phương tiện giao thông; một số biển báo trên đường bộ,đường sắt; an toàn giao thông (quy tắc đi những phương tiện giao thông công cộng)
- Chủ đề Con người và sức khỏe: gồm 16 bài mới, 2 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Xã hội: gồm 18 bài mới, 3 bài ôn tập và kiểm tra.
- Chủ đề Tự nhiên: gồm 29 bài mới, 2 bài ôn tập và kiểm tra.
Môn tự nhiên và xã hội lớp 3 dạy 2 tiết/tuần x 35 tuần = 70 tiết
* Nội dung các chủ đề:
- Con người và sức khoẻ:
Trang 10+ Cơ quan hô hấp: nhận biết trên sơ đồ; tập thở sâu; thở không khí trong sạch;phòng một số bệnh lây qua đường hô hấp).
+ Cơ quan tuần hoàn: nhận biết trên sơ đồ; hoạt động lao động và tập thể dục thểthao vừa sức
+ Cơ quan bài tiết nước tiểu: nhận biết trên sơ đồ; giữ vệ sinh
+ Cơ quan thần kinh: nhận biết trên sơ đồ; ngủ, nghỉ ngơi và học tập, làm việcđiều độ
- Xã hội:
+ Gia đình: mối quan hệ họ hàng nội, ngoại (cô dì, chú bác, cậu và các anh chị
em họ), quan hệ giữa sự tăng số người trong gia đình và số người trong cộng đồng, antoàn khi ở nhà (phòng cháy khi đun, nấu)
+ Trường học: một số hoạt động chính ở nhà trường Tiểu học, vai trò của GV và
HS trong các hoạt động đó; an toàn khi ở trường (không chơi các trò chơi nguy hiểm).+ Tỉnh hoặc thành phố nơi đang sống: một số cơ sở hành chính, giáo dục, y tế,kinh tế…; làng quê và đô thị; giữ vệ sinh nơi công cộng; an toàn giao thông (quy tắc đi
Tác giả Chu Hồng Vân (Phương pháp Bàn tay nặn bột dành cho HS tiểu học, GD– ĐT) thì mô tả PPDH BTNB là cách thức GV tổ chức cho HS tự nghiên cứu để tìm ra
Trang 11cách lý giải thuyết phục cho những kiến thức trong chương trình học thông qua việc đềxuất, thảo luận và thực hiện các phương án thí nghiệm [3].
Trong cuốn sách “Tài liệu học tập Phương pháp dạy học Tự nhiên xã hội và khoahọc” của trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh do giảng viên Kim Thị Hân và Đỗ Thị
Loan viết thì cho rằng: PPDH BTNB là phương pháp dưới sự giúp đỡ của GV, chính
HS tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra, để hình thành kiến thức cho mình [2].
Trên cơ sở các khái niệm trên, người nghiên cứu nhận định: PPDH BTNB làcách thức tổ chức dạy học trong đó GV đưa ra các tình huống hay vấn đề; HS nghiêncứu, tự giải quyết tình huống/vấn đề bằng cách tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiêncứu tài liệu hay điều tra… để chính các em tự tìm ra tri thức khoa học
Thuật ngữ “Bàn tay nặn bột”
Bàn tay nặn bột được hiểu đơn giản là GV đưa ra cho HS “bột”, yêu cầu các emlàm ra một cái “bánh” Để làm ra cái bánh theo một khuôn mẫu, người ta phải tự tay phachế, tự tay nặn bột Nhưng với HS trong PPDH BTNB, để làm ra được “cái bánh” thìngoài việc tự tay nặn bột, các em phải biết thiết kế nó theo ý nghĩ sáng tạo của mình màkhông dựa vào một khuôn đúc nào cả Có nghĩa là GV cung cấp cho HS các nguyên vậtliệu cần thiết như các dụng cụ thí nghiệm, các đồ dùng dạy học…; HS phải phán đoán,lập kế hoạch, tiến hành thí nghiệm để tìm ra tri thức và chân lí khoa học [1]
1.1.3.2 Đặc trưng của PPDH BTNB
- Trẻ em, một nhà nghiên cứu… được đỡ đầu tức là cũng giống như một nhànghiên cứu thực sự, các em có thể tiến hành những nghiên cứu dẫn đến sự hiểu biết.Nhưng các em cần được hướng dẫn và giúp đỡ bởi các câu hỏi của GV và hoạt độngtrong khuôn khổ một đề tài đã được xây dựng chứ không phải chỉ lựa chọn theo các
“cơ hội” Việc phát hiện, tiếp thu kiến thức của HS thông qua việc GV giúp HS tự đilại chính con đường mà các nhà khoa học đã nghiên cứu tìm ra chân lý (kiến thức)
- Dạy học theo PPDH BTNB giúp HS biết cách tự học, tự khám phá, tìm hiểunghiên cứu cuộc sống xung quanh
- Dạy học theo PPDH BTNB nhằm tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, say
mê khoa học của HS
Trang 12- Giúp HS rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói, làm việc nhóm,trao đổi và khả năng viết cho HS.
- PPDH BTNB đặt HS làm trung tâm của quá trình nhận thức, các em tự tìm câutrả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm,quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…
- Có sự tham gia của những dụng cụ nhưng những dụng cụ đó không đắt tiền Đó
là những vật dụng hành ngày và vài vật liệu đơn giản Thí nghiệm tiến hành đơn giản
và không cần có hiểu biết kỹ thuật gì đặc biệt
- Trong quá trình nghiên cứu, HS phải sử dụng các giác quan để tìm ra tri thứcmới HS huy động cả năm giác quan: xúc giác cũng như thị giác, thính giác và có cảkhứu giác và vị giác để phát triển trong các em sự tiếp xúc kì diệu với thế giới baoquanh, để các em khám phá và tìm hiểu nó
- Có vở ghi chép cá nhân: vở ghi chép cho phép HS ghi lại những ý tưởng củamình, những điểm đã được sửa chữa lại, đánh dấu được tiến trình nghiên cứu Vở ghichép được HS lưu giữ lại trong suốt thời gian học tiểu học và cuối cấp học sẽ hìnhthành một tập ghi nhớ đặc biệt quý báu dành cho các em [3]
1.1.3.3 Các nguyên tắc cơ bản của PPDH BTNB
Dưới đây là 10 nguyên tắc cơ bản của PPDH BTNB được đề xuất bởi Viện Hànlâm Khoa học và Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp
* Nguyên tắc về tiến trình sư phạm:
- HS quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với
đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó
- Trong quá trình tìm hiểu, HS lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thểthảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếuchỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên
- Những hoạt động do GV đề xuất cho HS được tổ chức theo tiến trình sư phạmnhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình họctập được nâng cao lên và dành cho HS một phần tự chủ khá lớn
- Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sựliên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốtthời gian học tập
Trang 13- HS bắt buộc có mỗi em một quyển vở thí nghiệm do chính các em ghi chéptheo cách thức và ngôn ngữ của chính các em.
- Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của HS các khái niệm khoa học và kĩthuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói
* Những đối tượng tham gia:
- Các gia đình hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học
- Ở địa phương, các đối tác khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiêncứu…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
- Ở địa phương, các viện đào tạo GV (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sưphạm) giúp các GV kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy [3]
1.1.3.6 Tiến trình dạy học theo PPDH BTNB
Tiến trình sư phạm của PPDH BTNB theo 5 bước cụ thể sau đây
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do GV chủđộng đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn,gần gũi dễ hiểu đối với HS Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề.Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ.Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đềxuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể) Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà HS sẽđược học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâuthuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của HS nhằm chuẩn
bị tâm thế cho HS trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức GV phải dùng câu hỏi mở,tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêuvấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy họccủa GV càng dễ thực hiện thành công
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của PPDH BTNB.Bước này khuyến khích HS nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trướckhi được học kiến thức Hình thành biểu tượng ban đầu, GV có thể yêu cầu HS nhắclại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học Khi yêu cầu HStrình bày biểu tượng ban đầu, GV có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của HS, có
Trang 14thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiệnsuy nghĩ.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của HS, GV giúp HS đềxuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liênquan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay mô đun kiến thức)
Ở bước này GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt tronglớp để giúp HS so sánh, từ đó giúp HS đặt câu hỏi liên quan đến nội dung bài học Đây
là một bước khá khó khăn vì GV cần phải chọn lựa các biểu tượng ban đầu tiêu biểutrong số hàng chục biểu tượng của HS một cách nhanh chóng theo mục đích dạy học,đồng thời linh hoạt điều khiển thảo luận của HS nhằm giúp HS đề xuất các câu hỏi từnhững sự khác biệt đó theo ý đồ dạy học Việc chọn lựa các biểu tượng ban đầu khôngtốt sẽ dẫn đến việc so sánh và đề xuất câu hỏi của HS gặp khó khăn
Đối với các biểu tượng ban đầu được HS biểu hiện bằng lời, GV cần chọn lựamột số ý kiến tiêu biểu và ghi chú lên bảng GV khuyến khích các HS có ý kiến khác
so với các ý kiến đã được nêu bằng cách đưa ra các gợi ý như: "Em nào có ý kiến khácvới ý kiến trên?"; "A, em có suy nghĩ khác bạn B, C, D không?"; "Ngoài các ý kiếnvừa rồi, em nào có ý kiến khác?"… Những gợi ý như vậy vừa kích thích các HS có ýkiến khác nêu lên quan điểm của mình đồng thời tránh mất thời gian với các ý kiếntrùng nhau của các HS Đối với biểu tượng ban đầu được HS đưa ra bằng hình vẽtrong vở thí nghiệm, GV có thể chọn một số HS có biểu tượng ban đầu tiêu biểu đểyêu cầu vẽ lại trên bảng hoặc mượn một số cuốn vở rồi vẽ lại nhanh trên bảng hình vẽcủa HS hoặc nhận xét nhanh rồi ghi chú những điểm đặc trưng đó Tùy thuộc vào thờigian, điều kiện thực tế mà GV lựa chọn phương án thích hợp
Đối với các biểu tượng ban đầu phức tạp, nên cho HS làm việc theo nhóm haingười hoặc nhóm nhỏ sau khi làm việc cá nhân (với thời gian ngắn) để chọn lọc lại ýtưởng Với cách làm như trên, GV yêu cầu HS làm việc cá nhân (viết, vẽ ý kiến banđầu vào vở thí nghiệm), sau đó GV yêu cầu HS trao đổi theo nhóm hai người hoặc cảnhóm, rồi vẽ chung cho một hình vẽ phóng to cho cả nhóm trên một tờ giấy khổ lớn(cỡ A2 hoặc A3) cho cả nhóm GV lưu ý thêm với HS cần ghi chú những điểm khôngthống nhất nếu có các ý kiến chưa đồng thuận, còn tranh cãi Trong trường hợp này,việc vẽ hay viết các ý kiến ban đầu mất thời gian lâu hơn, vì vậy chỉ áp dụng đối với
Trang 15các kiến thức phức tạp và khi có nhiều thời gian Thời gian cho hoạt động viết, vẽ biểutượng ban đầu trong những trường hợp này nên thực hiện tối đa 5 phút sau khoảng 2phút làm việc cá nhân.
* Một số chú ý khi lựa chọn biểu tượng ban đầu:
- Không chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu đúng hoặc sai với câu hỏi
- Nên lựa chọn các biểu tượng vừa đúng vừa sai, chỉ cần chọn một biểu tượngban đầu đúng với câu hỏi (nếu có)
- Tuyệt đối không có bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai của các ý kiếnban đầu (biểu tượng ban đầu) của HS
- Giữ nguyên các biểu tượng ban đầu này để đối chiếu và so sánh sau khi hìnhthành kiến thức cho HS ở bước 5 của tiến trình phương pháp
* Lưu ý khi so sánh, phân nhóm biểu tượng ban đầu của HS:
- Phân nhóm biểu tượng ban đầu chỉ mang tính tương đối
- Không nên đi quá sâu vào chi tiết vì càng chi tiết thì càng mất thời gian
- GV nên gợi ý, định hướng cho HS thấy những điểm khác biệt giữa các ý kiếnliên quan đến các kiến thức chuẩn bị học
- GV tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu, nhận xét của HS để quyết định phânnhóm biểu tượng ban đầu
- GV nên khéo léo giải thích cho HS đưa ra ý kiến về đặc điểm khác biệt nhưngkhông liên quan đến bài học
* Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu:
- Từ các câu hỏi được đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS, đề nghị các em đề xuấtthí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó
- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà HS có thể đề xuất cácphương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu Các phương án thí nghiệm mà HS đề xuất
có thể rất phức tạp và không thể thực hiện được nhưng GV cũng không nên nhận xéttiêu cực để tránh làm HS ngại phát biểu
- Nếu ý kiến của HS nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặc diễnđạt chưa rõ thì GV nên gợi ý và từng bước giúp HS hoàn thiện diễn đạt
- Sau khi HS đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, GV nêu nhậnxét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn Trường hợp
Trang 16HS không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu thích hợp, GV cóthể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà HS chưa nghĩ ra
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà HS nêu ra, GV khéo léonhận xét và lựa chọn thí nghiệm để HS tiến hành Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trựctiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật cóthể làm cho mô hình hoặc cho HS quan sát tranh vẽ Đối với phương pháp quan sát,
GV cho HS quan sát vật thật trước, sau đó mới cho HS quan sát tranh vẽ khoa học hay
mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật
Khi tiến hành thực hiện thí nghiệm, GV nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệmhoặc yêu cầu HS cho biết mục đích thí nghiệm chuẩn bị tiến hành để làm gì? Lúc này
GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động
Tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức Làm lần lượt các thínghiệm nếu có nhiều thí nghiệm Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại để HSrút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) GV lưu ý HS ghichép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô tả bằng lời hay vẽ sơđồ), ghi chú lại kết quả thực hiện thí nghiệm, kết luận sau thí nghiệm vào vở thínghiệm Đối với các thí nghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, GV nên thiết kế mộtmẫu sẵn để HS điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm Khi HS làm thí nghiệm,
GV bao quát lớp, quan sát từng nhóm Nếu thấy nhóm hoặc HS nào làm sai theo yêucầu thì GV chỉ nhắc nhở trong nhóm đó hoặc với riêng HS đó, không nên thông báolớn tiếng chung cho cả lớp vì làm như vậy sẽ phân tán tư tưởng và ảnh hưởng đếncông việc của các nhóm HS khác GV chú ý yêu cầu HS thực hiện độc lập các thínghiệm trong trường hợp các thí nghiệm được thực hiện theo từng cá nhân Nếu thựchiện theo nhóm thì cũng yêu cầu tương tự như vậy
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần đượcgiải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưachuẩn xác một cách khoa học
GV có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để HS ghi vào vở coi như làkiến thức của bài học Trước khi kết luận chung, GV nên yêu cầu một vài ý kiến của
HS cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút ra kiến thức của bài học) GV khắc
Trang 17sâu kiến thức cho HS bằng cách cho HS nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu(biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm ban đầusai lệch, sau quá trình thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, chính HS tự phát hiện ra mìnhsai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp đặt Chính HS tự phát hiệnnhững sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động Nhữngthay đổi này sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức
Nếu có điều kiện, GV có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài học để phátcho HS dán vào vở thí nghiệm hoặc tập hợp thành một tập riêng để tránh mất thời gianghi chép Vấn đề này hữu ích cho HS các lớp nhỏ tuổi (lớp 1, 2, 3) Đối với các lớp 4,
5 thì GV nên tập làm quen cho các em tự ghi chép, chỉ in tờ rời nếu kiến thức phức tạp
và dài
1.1.3.7 Ưu điểm của PPDH BTNB
Là một PPDH tích cực dựa trên nghiên cứu thí nghiệm, áp dụng cho việc giảngdạy các môn thuộc khoa học tự nhiên, PPDH BTNB chú trọng đến việc hình thànhkiến thức cho HS thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hayđiều tra, để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống.Cũng như các PPDH tích cực khác, PPDH BTNB luôn coi HS là trung tâm của quátrình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sựgiúp đỡ của GV
Mục tiêu của PPDH BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu vàsay mê khoa học của HS Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, PPDH BTNBcòn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kĩ năng diễn đạt bằng nhiều hình thức khác nhau:lời nói, bài viết, sơ đồ, hình vẽ… Ngoài ra, một trong những công cụ quan trọng củatrẻ trong quá trình học tập với PPDH BTNB là quyển vở thí nghiệm Đây là phươngtiện để trẻ em có thể tự đánh giá sự tiến bộ của bản thân cũng như rèn các kĩ năng thểhiện sự hiểu biết bằng nhiều cách khác nhau: viết chữ, vẽ hình, lập sơ đồ hay bảngbiểu… Đây cũng là một trong những yêu cầu của dạy học liên môn: rèn ngôn ngữ chotrẻ thông qua những môn học không có nhiệm vụ chính là dạy tiếng mẹ đẻ Và đâycũng chính là ưu điểm vượt trội của PPDH BTNB so với những PPDH khác
Dạy học bằng PPDH BTNB khơi gợi óc tưởng tượng, tính tò mò ở trẻ Đây làtiền đề của sự sáng tạo và phát triển tư duy khoa học, đồng thời là một động cơ để mộtcon người – bắt đầu là một đứa trẻ học tập không ngừng trong suốt cuộc đời mình [1]
Trang 181.2.1.2 Phạm vi khảo sát thực tiễn
Người nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin chủ yếu điều tra GV và HS ở 3trường Tiểu học thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc (danh sách xem bảng 1.2) vàtổng kết các tài liệu, báo cáo có liên quan đến việc sử dụng PPDH BTNB hiện nay ởtiểu học
1.2.1.3 Nội dung khảo sát thực tiễn
Những thông tin cần thu thập qua điều tra có liên quan đến việc dạy học môn Tựnhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 bao gồm:
Bảng 1.1: Tổng hợp nội dung điều tra thực tiễn
Nội dung điều tra
Cách thức điều tra Nghiên
cứu tài liệu
Phiếu điều tra
Quan sát, dự giờ
Phỏng vấn
Những thuận lợi khi sử dụng PPDH
1.2.1.4 Phương pháp khảo sát thực tiễn
* Nghiên cứu tài liệu:
Trang 19Nghiên cứu giáo án của GV, SGK, sách GV, sách thiết kế môn Tự nhiên và Xãhội, sách giáo trình và tài liệu có liên quan…
* Điều tra:
Người nghiên cứu thiết kế phiếu điều tra, mỗi phiếu gồm 6 câu hỏi, tổng là 100phiếu và gửi cho GV ở các trường Tiểu học theo danh sách sau:
Bảng 1.2: Danh sách phát phiếu điều tra gửi cho GV ở các trường Tiểu học
1 Tiểu học Thanh Lãng B TT Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 30
2 Tiểu học Thanh Lãng A TT Thanh Lãng – Bình Xuyên – Vĩnh Phúc 40
3 Tiểu học Tân Phong Xã Tân Phong – Bình Xuyên
Bảng 1.3: Danh sách quan sát, dự giờ các bài dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở
trường Tiểu học
1 Con mèo Nguyễn Thị Hằng Tiểu học Thanh Lãng A 23-3-2016
2 Một số loài vật
sống trên cạn Nguyễn Thị Tâm Tiểu học Thanh Lãng A 25-3-2016
3 Chim Nguyễn Thị Hải Yến Tiểu học Thanh Lãng A 26-3-2016
* Phỏng vấn:
Phỏng vấn sau dự giờ: Trao đổi với GV giảng dạy sau dự giờ về thuận lợi và khókhăn khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học và mức độ sử dụng PPDH BTNB trong dạyhọc Tự nhiên và Xã hội
Phỏng vấn GV ngoài giờ lên lớp: Trao đổi trực tiếp với một số GV để thu thập cácthông tin có liên quan đến thuận lợi và khó khăn khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Bảng 1.4: Danh sách GV tham gia phỏng vấn
công tác
Ngày phỏng vấn
Trang 201 Nguyễn Thị Thắm Tiểu học Thanh Lãng A 9 25-3-1016
2 Nguyễn Thị Tâm Tiểu học Thanh Lãng A 4 25-3-2016
3 Nguyễn Hồng Phương Tiểu học Thanh Lãng A 6 26-3-2016
4 Nguyễn Thị Nhung Tiểu học Thanh Lãng B 17 26-3-2016
1.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng
1.2.2.1 Những thuận lợi khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phỏng vấn GV và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra kết luận sau:
- Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang thực hiện đổi mới căn bản và toàn diệnnền giáo dục, trong đó đổi mới phương pháp dạy học là một trong các nhiệm vụ cấpbách Cùng với các phương pháp dạy học tích cực khác đang được triển khai, PPDHBTNB đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đầu tư nghiên cứu, biên soạn tàiliệu, tổ chức tập huấn để tưng bước triển khai áp dụng trong các trường Tiểu học
- PPDH BTNB là một phương pháp có tiến trình dạy rõ ràng, dễ hiểu, có thể ápdụng được ở điều kiện của Việt Nam Đội ngũ cán bộ quản lý và GV luôn nhiệt tình,ham học hỏi là điều kiện tốt thúc đẩy việc áp dụng PPDH BTNB vào trong dạy họccác môn khoa học ở trường Tiểu học
- Qua quá trình thử nghiệm, áp dụng PPDH BTNB vào trong các lớp học, có thểnhận thấy sự ham thích của HS Các em hứng thú với những hoạt động tìm hiểu kiếnthức mới Điều này chứng tỏ HS luôn ham thích được học tập, hăng say tìm tòi vàsáng tạo
1.2.2.2 Những khó khăn khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phỏng vấn GV và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra kết luận sau:
- Về điều kiện, cơ sở vật chất:
Trong các lớp học hiện nay, bàn ghế được bố trí theo dãy, nối tiếp nhau, khôngthuận lợi cho việc tổ chức học theo nhóm Trong khi đó, phần lớn các trường học chưa
có phòng học học bộ môn và phòng thí nghiệm để thuận lợi cho việc giảng dạy các bộmôn khoa học
Trang thiết bị nói chung trong các lớp học chưa đầy đủ phục vụ cho việc tổ chứccác hoạt động dạy học, nhất là còn thiếu các phương tiện hỗ trợ hoạt động báo cáo,thảo luận của HS như máy tính, projector, máy chiếu sách, flip chart, máy chiếu bản
Trang 21trong Dụng cụ thí nghiệm còn chưa đồng bộ và thiếu chính xác Nguồn tài liệu bổtrợ cho hoạt động tìm tòi – khám phá của HS còn hạn chế.
Mặt khác, số HS trên một lớp quá đông nên việc tổ chức học tập theo nhóm rấtkhó khăn Điều này cũng gây khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động tham quan, dãngoại, điều tra tế cho HS
- Về đội ngũ GV:
Trình độ GV hiện nay chưa đồng đều cả về chuyên môn và năng lực sư phạm.Kiến thức chuyên sâu về khoa học của một bộ phận không nhỏ GV còn hạn chế Vìvậy, GV thường gặp nhiều khó khăn trong việc trả lời, giải đáp các câu hỏi cũng nhưkhó khăn trong việc lí giải thấu đáo các thắc mắc của HS nêu ra trong quá trình học.Đây là một trở ngại rất lớn trong việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực nóichung và PPDH BTNB nói riêng
Năng lực sư phạm của GV trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới nóichung còn hạn chế Điều đó thể hiện ở việc GV thường gặp nhiều khó khăn trong việcnêu ra tình huống mở đầu cho mỗi bài dạy trong PPDH BTNB Thường thì tình huốngđưa ra phải gắn với nội dung bài dạy, làm sao đảm bảo được vấn đề khơi sự tò mò,ham thích trước vấn đề sắp học nhưng vẫn "giấu kín được kết quả của bài học" Đây làviệc làm gây nhiều lúng túng cho người dạy Trong tiến trình dạy học, ở một số bàihọc, GV không có đủ kiến thức, khả năng để tìm ra một số thí nghiệm chứng minh chokiến thức bài học trong trường hợp HS không tự nêu ra được thí nghiệm kiểm chứngcho biểu tượng ban đầu của mình
Trang 22học mới, khi mà ở đó GV phải tổ chức cho HS hoạt động nên nhiều khi không thể chủđộng hoàn toàn về mặt thời gian Trong quá trình HS hoạt động, thường có nhiều diễnbiến bất ngờ mà GV có thể không lường trước được dẫn đến có thể không hoàn thànhtất cả các khâu trong một tiết học và vì thế mà giờ dạy lại không được đánh giá cao.Công tác kiểm tra, đánh giá kiến thức của HS hiện nay cũng là một vấn đề gâycản trở đến việc đổi mới phương pháp dạy học Các bài thi và kiểm tra hiện nay chủyếu vẫn là kiểm tra sự ghi nhớ và vận dụng lí thuyết của HS "Thi gì, học nấy" luôn làtiêu chí lựa chọn của đại đa số mọi người trên thế giới Chính vì vậy mà các phươngpháp dạy học tích cực nói chung và PPDH BTNB nói riêng chưa có được "chỗ đứng"vững chắc trong mỗi GV, HS và trong cả nền giáo dục Việt nam khi mà công tác kiểmtra, đánh giá, thi cử chưa đổi mới theo hướng đánh giá kĩ năng và sự sáng tạo của HS.
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan, có thể rút ra các kết quả sau:
- Về vai trò: Nhận xét qua phiếu điều tra:
Bảng 1.5 Đánh giá của GV về vai trò của PPDH BTNB
sử dụng là 9% (bảng 1.8 ) Điều nay cho thấy sự mâu thuẫn giữa nhận thức của GV vềvai trò của môn học với việc vận dụng môn học trong thực tiễn
Trang 23Bảng 1.6: Nhận thức của GV về đặc trưng của PPDH BTNB
Đặt người học vào vị trí của một
Rèn luyện năng lực cộng tác trong
về bản chất của PPDH BTNB Như vậy ở đây đã có sự mâu thẫn giữa nhận thức vớiviệc vận dụng phương pháp này của GV trong dạy Tự Nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3
Nhận xét qua phỏng vấn:
Trên thực tế, thông qua phỏng vấn, trò chuyện trực tiếp với GV, người nghiêncứu nhận thấy phần lớn GV chưa hiểu biết sâu sắc về PPDH BTNB Họ chỉ hiểu đơngiản đây là một phương pháp cho HS được thực hành nhiều GV chưa hiểu đây làPPDH tạo điều kiện cho HS tiếp cận dần với các khái niệm khoa học, kĩ thuật thực
Trang 24hành kèm theo sự vững vàng trong diễn đạt nói và viết và nó đặt người học vào vị trícủa một nhà nghiên cứu khoa học thực thụ.
- Về ý nghĩa:
Nhận xét qua nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn GV:
Phần lớn GV đều hiểu được ý nghĩa quan trọng của việc vận dụng PPDH BTNBtrong dạy học Tự nhiên và Xã hội ở tiểu học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học,thay đổi tư duy, nhận thức của HS Giúp HS phát huy tính tích cực chủ động HS làngười tự tìm ra tri thức dưới sự hướng dẫn của GV
1.2.2.4 Nhận thức của GV về sự cần thiết khi sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra các kết quả sau:
Bảng 1.7 Đánh giá của GV về sự cần thiết của PPDH BTNB
sử dụng là 9% (bảng 1.8) Điều nay cho thấy sự mâu thuẫn giữa nhận thức của GV về
sự cần thiết của môn học với việc vận dụng môn học trong thực tiễn
Qua phiếu điều tra và nghiên cứu các tài liệu liên quan đều cho thấy: Phần lớn
GV đều cho rằng việc áp dụng PPDH BTNB vào dạy học Tự nhiên và Xã hội là rấtcần thiết Tuy nhiên, việc vận dụng vào thực tế giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn, hạnchế Vấn đề khó khăn với nhiều GV là từ nội dung bài học GV phải tạo cho HS niềmđam mê, hứng thú nghiên cứu khoa học không chỉ với các hoạt động trong bài học mà
còn trong cuộc sống của các em
1.2.2.5 Mức độ sử dụng PPDH BTNB ở tiểu học
Qua phiếu điều tra và tổng hợp các tài liệu liên quan có thể rút ra các kết quả sau:
Bảng 1.8: Mức độ sử dụng các PPDH trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
Trang 25T pháp Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi
Một số PPDH hiện nay được xem là các PPDH hiệu quả nhằm phát huy tính tíchcực học tập của HS như PPDH BTNB, động não song mức độ vận dụng còn rất hạn chế
Nhận xét qua quan sát dự giờ và phỏng vấn GV:
Qua quan sát và dự giờ một số tiết dạy của GV và phỏng vấn GV sau tiết dạy,người nghiên cứu nhận thấy hầu hết GV có nghiên cứu và sử dụng PPDH BTNB trongdạy học Tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, việc vận dụng từng PPDH BTNB chưa linhhoạt, còn dập khuôn, dẫn đến hiệu quả chưa cao
Nhận xét qua nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu giáo án giảng dạy cho thấy việc xác định mục tiêu, nội dung, cácphương pháp dạy học thường phụ thuộc vào hướng dẫn trong SGK, SGV và sách thiết
kế môn học
Tổng hợp các báo cáo về PPDH BTNB ở tiểu học cho thấy PPDH BTNB khôngđược GV sử dụng thường xuyên mà rất ít, việc sử dụng PPDH BTNB trong môn Tựnhiên và Xã hội chỉ được GV áp dụng trong các tiết dạy chuyên đề của tổ chuyên mônhay tiết dạy có người dự giờ
Trang 27CHƯƠNG 2 SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ
XÃ HỘI LỚP 1, 2, 3 Ở TIỂU HỌC VẬN DỤNG PPDH BTNB
2.1 SƯU TẦM VÀ THIẾT KẾ CÁC BÀI DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1 VẬN DỤNG PPDH BTNB
2.1.1 Danh mục các bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 vận dụng PPDH BTNB
3 24 Cây gỗ - Bài soạn tự thiết kế.
http://123doc.org/document/2500631-giao-an-6 28 Con muỗi - Bài soạn tự thiết kế
2.1.2 Các bài dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 vận dụng PPDH BTNB
Phân tích tiến trình dạy học theo PPDH BTNB
Bài 32: Gió
Trang 28Phần 1: Chuẩn bị
- Xác định mục tiêu bài học:
+ Nhận biết và mô tả cảnh vật xung quanh khi trời có gió.
+ Nêu một số tác dụng đối với đời sống con người.
- Dự kiến các hình thức tổ chức HS hoạt động (nhóm, cá nhân ) trong quá trình tổchức HS học tập bằng PPDH BTNB
+ Làm việc cá nhân: Khi cho HS bộc lộ biểu tượng ban đầu ghi vào vở Ghi chép khoa học + Làm việc nhóm: ở bước tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- Dự kiến và chuẩn bị các đồ dùng, phương tiện học tập:
+ Chuẩn bị của GV: Sưu tầm các bức tranh về gió mạnh, gió nhẹ, các bức tranh trong
SGK (trang 66, 67), bảng phụ, bút dạ
+ Chuẩn bị của HS: Vở Ghi chép khoa học.
Phần 2: Tiến hành
Quy trình dạy học theo PPDH BTNB áp dụng vào môn Tự nhiên và Xã hội gồm có 4 bước:
Bước 1: Đưa ra tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát:
- GV tổ chức cho HS hát bài “cho tôi đi làm mưa với”
Câu hỏi nêu vấn đề:
- Sau khi hỏi HS trong bài hát có những ai? (2 HS trả lời: chị gió và em bé)
- Gió có lợi ích gì? (HS kể)
- GV giảng: Qua bài hát vừa rồi chúng ta đã biết gió có nhiều lợi ích, gần gũi vớichúng ta Vậy làm thế nào để biết có gió? (câu hỏi nêu vấn đề của bài học)
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS
- GV cho HS làm việc cá nhân: ghi lại những hiểu biết ban đầu của mình vào vở Ghichép khoa học về dấu hiệu nhận biết khi trời có gió (bằng quan sát và cảm nhận)
- Sau đó, HS thảo luận nhóm 4 thống nhất ý kiến rồi ghi vào bảng nhóm
- GV cho các nhóm báo cáo kết quả (Đại diện nhóm treo kết quả và trình bày)
- GV ghi nhận kết quả không nhận xét đúng sai
HS đã được bộc lộ hiểu biết ban đầu của các em về dấu hiệu nhận biết khi có gióthông qua việc HS được làm việc cá nhân và thảo luận nhóm
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thiết kế phương án thực nghiệm.
- Đề xuất câu hỏi:
Trang 29+ GV tập hợp các biểu tượng ban đầu của HS thành các nhóm, hướng đẫn HS so sánh
sự giống và khác nhau của các ý kiến ban đầu để các em đề xuất câu hỏi
+ GV cho HS làm việc theo nhóm 4 tổng hợp các ý kiến cá nhân để đặt câu hỏi theo
nhóm
+ GV chốt các câu hỏi của các nhóm (những câu hỏi phù hợp với nội dung bài học)
* Có phải khi có gió cây cối lay động
* Có phải khi có gió những vật nhẹ bị thổi bay?
* Có gió thổi ta thấy mát, dễ chịu vào mùa hè?
* Làm thế nào để biết có gió?
- Thiết kế phương án thực nghiệm
+ GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm 4, đề xuất phương án thực nghiệm tìm
tòi-nghiên cứ (HS có thế đề xuất các phương án sau: Quan sát tranh, tòi-nghiên cứu tài liệu,làm thí nghiệm, tra cứu trên mạng)
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- GV khéo léo nhận xét các ý kiến của HS và thống nhất phương án phù hợp nhất làquan sát tranh để biết được dấu hiệu khi có gió
- GV tổ chức cho HS tiến hành thực nghiệm quan sát tranh trong SGK và một số tranh
GV sưu tầm được Thảo luận nhóm và thống nhất ý kiến ghi kết quả vào bảng nhóm
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
- GV tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả (HS dán kết quả và trình bày trên bảng)
- GV cho HS rút ra dấu hiệu nhận biết khi có gió (2, 3 HS trả lời)
- GV đưa ra kết luận: Khi trời lặng gió, cấy cối đứng im
Gió nhẹ làm cho cây cỏ lay động Gió mạnh làm cho cây cối nghiêng ngả
- GV hướng dẫn HS so sánh lại với biểu tượng ban đầu để các em khắc sâu kiến thức.Sau đó, HS chỉnh sửa và ghi kết quả vào vở Ghi chép khoa học
- GV cho HS kể những lợi ích và tác hại của gió
- GV cho HS quan sát tranh để các em biết thêm một số lợi ích và tác hại của gió đem lại
TỔNG KẾT KIẾN THỨC:
Nhận biết khi trời có gió: Khi trời lặng gió, cây cối đứng im Gió nhẹ làm cho cây cỏlay động Gió mạnh làm cho cây cối nghiêng ngả
Trang 30Bài 22: Cây rau
I Mục tiêu
1 Kiến thức
- Biết được các bộ phận chính của cây rau.
- Kể được tên và nêu ích lợi của một số cây rau
2 Kĩ năng
- Chỉ được các bộ phận chính của cây rau trên hình vẽ hoặc vật thật
- Rèn luyện kĩ năng quan sát cho HS.
3 Thái độ
- HS bước đầu có ý thức ăn rau, chăm sóc và bảo vệ chúng
- HS yêu thích môn học, thích khám phá thiên nhiên
II Thiết bị dạy học
1 Chuẩn bị của GV: Cây rau cải, giáo án, giấy A3.
2 Chuẩn bị của HS: Một số loại cây rau sưu tầm được, vở Ghi chép khoa học, bút dạ,
bút màu
III Tiến trình dạy học cụ thể
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- GV Yêu cầu HS kể tên các loại rau mà
các em biết và nêu tác dụng của nó
- GV hỏi: Em biết gì về các bộ phận của
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS
- Yêu cầu HS làm việc cá nhân mô tả
những hiểu biết của mình về cây rau
- Yêu cầu HS thảo luận nhóm 4 và thống
nhất ý kiến vẽ cây rau và chú thích các
bộ phận của cây rau đó vào giấy A3
- GV cho các nhóm dán kết quả lên bảng
và yêu cầu đại diện các nhóm lên trình
bày kết quả thảo luận
- GV ghi nhận kết quả của HS không
- HS ghi chép những hiểu biết của mình
về cây rau vào vở Ghi chép khoa học
- HS lắng nghe
- HS tiến hành thảo luận
- Các nhóm lên dán kết quả rồi cử đạidiện lên trình bày
Trang 31Hoạt động của GV Hoạt động của HS
nhận xét đúng sai
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thiết kế phương án thực nghiệm
- GV tập hợp thành các nhóm biểu tượng
ban đầu rồi hướng dẫn HS so sánh sự
giống và khác nhau của các ý kiến ban
đầu Sau đó, giúp các em đưa ra câu hỏi
- Nêu câu hỏi đề xuất:
+ Cây rau có nhiều lá hay ít lá?
+ Cây rau có rễ không?
+ Cây rau có những bộ phận nào?
- GV yêu cầu HS đề xuất phương án để trả
lời cho các câu hỏi thắc mắc của các em
- Dự kiến các phương án HS có thể đềxuất:
+ Tra cứu trên mạng
+ Lên thư viện tìm tài liệu
+ Hỏi anh chị
+ Quan sát vật thật
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- GV khéo léo nhận xét các ý kiến của
HS và thống nhất phương án phù hợp
nhất là quan sát vật thật
- GV yêu cầu các nhóm lên lấy cây rau
và tiến hành thảo luận nhóm thống nhất ý
kiến vẽ ra giấy và chỉ rõ các bộ phận của
cây rau
- HS lắng nghe
- HS tiến hành quan sát và thảo luậnnhóm
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
- GV cho các nhóm dán kết quả của
nhóm lên bảng và đại diện nhóm lên
trình bày
- GV cho HS nhận xét và rút ra kiến thức
bài học
- GV cầm cây rau cải chỉ và giới thiệu
cho HS biết về các bộ phận chính của
cây rau
- Các nhóm trưng bày và đại diện nhómlên chỉ rõ và nói rõ các bộ phận của câyrau
- 2, 3 HS rút ra kiến thức bài học:
Cây rau gồm có 3 bộ phận chính đó làthân, lá, rễ
- HS lắng nghe và ghi kết luận vào vở
Trang 32Hoạt động của GV Hoạt động của HS
- GV hướng dẫn HS so sánh lại với các
ban đầu để khắc sâu kiến thức
- GV cho HS thực hành chỉ và nói rõ các
bộ phận chính của cây rau
- HS so sánh lại với các ý kiến ban đầucủa mình để khắc sâu kiến thức
- 4 HS lên cầm cây rau sưu tầm được chỉ
và nói rõ các bộ phận chính của cây rau
TỔNG KẾT KIẾN THỨC:
Cây rau có ba bộ phận đó là rễ, thân, lá
Trang 33
Bài 23: Cây hoa
I Mục tiêu
1 Kiến thức
Giúp HS biết:
- Kể tên một số cây hoa và nơi sống của chúng
- Biết được các bộ phận chính của cây hoa
- Nói được ích lợi của việc trồng hoa
2 Kĩ năng
- Quan sát, phân biệt các cây hoa
- Chỉ và nói được các bộ phận chính của cây hoa trên hình vẽ hoặc vật thật
3 Thái độ
- Có ý thức chăm sóc và bảo vệ cây hoa Không ngắt hoa ở nơi công cộng
- Yêu thích môn học, thích khám phá thiên nhiên
II Thiết bị dạy học
1 Chuẩn bị của GV: Một số cây hoa sưu tầm được, giấy A3, giáo án, tranh khoa học
về các bộ phận chính của cây hoa
2 Chuẩn bị của HS: Vở Ghi chép khoa học, bút màu.
III Tiến trình dạy học cụ thể
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- GV cho HS lần lượt kể tên một số cây
hoa mà các em biết
- GV nêu: Các cây hoa rất khác nhau, đa
dạng về đặc điểm bên ngoài như màu
sắc, hình dạng, kích thước Nhưng các
cây hoa đều có chung về mặt cấu tạo
Vậy cấu tạo của cây hoa gồm những bộ
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS
- Bằng hiểu biết và trí tưởng tượng của
mình các em hãy vẽ, viết về cây hoa vào
vở Ghi chép khoa học
- Yêu cầu HS làm việc theo theo nhóm 4
- HS vẽ, viết những hiểu biết của mình
về cây hoa Nêu tên và chỉ rõ các bộphận chính của cây hoa
- Các nhóm tiến hành thảo luận
Trang 34Hoạt động của GV Hoạt động của HS
thống nhất ý kiến vẽ cây hoa và chỉ rõ
các bộ phận của chúng
- GV quan sát nhanh để tìm các hình vẽ
đúng và cần phải chú trọng đến các hình
vẽ sai
- GV cho các nhóm dán kết quả lên bảng
và yêu cầu đại diện các nhóm lên trình
ban đầu rồi hướng dẫn HS so sánh sự
giống và khác nhau của các ý kiến ban
đầu
- GV yêu cầu HS đưa ra các câu hỏi nghi
vấn, điều còn băn khoăn liên quan đến
các bộ phận của cây hoa
- HS so sánh đưa ra điểm giống và khácnhau của các biểu tượng ban đầu
- HS nêu câu hỏi đề xuất:
+ Có phải cây hoa nhiều lá không ?+ Cây hoa có nhiều bông hoa hay ít bônghoa?
+ Có phải cây hoa có nhiều rễ?
+ Có phải thân cây hoa có gai?
+ Có phải tất cả lá cây hoa có răng cưa?+ Cây hoa có những bộ phận nào?
- GV yêu cầu HS đề xuất phương án để trả
lời cho các câu hỏi đề xuất của các em
Trang 35Hoạt động của GV Hoạt động của HS
giấy đã chuẩn bị sẵn
- Yêu cầu nhóm quan sát cây hoa sau đó
tiến hành vẽ và cho biết các bộ phận
chính của cây hoa ra giấy
- HS tiến hành quan sát, vẽ cây hoa ragiấy và nêu rõ các bộ phận chính của câyhoa
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
- GV cho các nhóm trưng bày và trình
bày bài của nhóm trên bảng
- GV yêu cầu HS đưa ra kết luận về các
bộ phận chính của cây hoa
- GV giới thiệu về các bộ phận chính của
cây hoa với hình vẽ khoa học
- GV ghi kết luận lên bảng: Cây hoa có
các bộ phận chính là rễ, thân, lá và hoa
- GV hướng dẫn HS so sánh lại với các
biểu tượng ban đầu để khắc sâu kiến
thức
- GV cho HS thực hành chỉ và nói tên
các bộ phận chính của cây hoa mà GV
- 2, 3 HS nhắc lại và ghi kết luận vào vở
- HS so sánh lại với biểu tượng ban đầu
Trang 36Bài 24: Cây gỗ
I Mục tiêu
1 kiến thức
Giúp HS biết:
- Kể được tên một số cây gỗ và nơi sống của chúng
- Biết được các bộ phận chính của cây gỗ
- Nói được ích lợi của việc trồng cây gỗ
2 Kĩ năng
- Quan sát, phân biệt và nói tên các bộ phận chính của cây gỗ
- Chỉ và nói được các bộ phận chính của cây gỗ trên hình vẽ hoặc vật thật
3 Thái độ
- Yêu thích môn học, có ý thức bảo vệ và trồng cây xanh
II Thiết bị dạy học
1 Chuẩn bị của GV: Máy chiếu, máy tính, giáo án điện tử, tranh ảnh, một số cây gỗ
sưu tầm được, giấy A3
2 Chuẩn bị của HS: Vở Ghi chép khoa học, bút màu, vở Ghi chép khoa học
III Tiến trình dạy học cụ thể
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- GV: Tiết trước cô đã dặn các con về
hỏi bố mẹ về cây gỗ và sưu tầm tranh
ảnh cây gỗ rồi Bây giờ ai xung phong kể
cho cô và cả lớp nghe
- GV cho HS lần lượt kể tên một số cây
gỗ mà em biết
- GV: Các cây gỗ rất khác nhau, đa dạng
về đặc điểm bên ngoài như màu sắc, hình
dạng, kích thước nhưng cây gỗ đều có
chung về mặt cấu tạo Vậy cây gỗ gồm
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS
- Yêu cầu HS làm việc cá nhân vẽ vào vở
Ghi chép khoa học mô tả cây gỗ về cấu tạo
- HS vẽ theo suy nghĩ cá nhân ban đầu vềcác bộ phận chính của cây gỗ
Trang 37Hoạt động của GV Hoạt động của HS
- Yêu cầu HS thảo luận nhóm 6, thống
nhất ý kiến vẽ và chỉ rõ cấu tạo cây gỗ
vào giấy A3
- GV yêu cầu các nhóm dán hình vẽ lên
bảng và trình bày kết quả của nhóm mình
- GV ghi nhận kết quả không nhận xét
đúng sai
- Các nhóm tiến hành vẽ và ghi chú cấutạo của cây gỗ theo vốn hiểu biết của cácem
- Các nhóm trưng bày và trình bày bàilàm của nhóm
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thiết kế phương án thực nghiệm
- GV tập hợp các ý kiến ban đầu của HS
thành các nhóm biểu tượng ban đầu,
hỏi phù hợp với bài học
- HS chỉ ra điểm giống và khác nhau củacác biểu tượng ban đầu
- HS có thể đưa ra các câu hỏi:
+ Lá cây gỗ như thế nào? (xum xuê)+ Cây gỗ có thân cứng hay mềm? (cứng)+ Cây gỗ có nhiều rễ không? (nhiều)+ Cây gỗ cao hay thấp? (có cây cao, câythấp)
+ Các bộ phận chính của cây gỗ có phải
là rễ, thân, lá không?
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- GV nhận xét các ý kiến và đưa ra
phương án hợp lý là quan sát cây gỗ thật
- GV phát cho mỗi nhóm một cây gỗ có
kích thước hợp lí Yêu cầu các nhóm
quan sát, thảo luận và thống nhất ý kiến
vẽ và ghi để mô tả các bộ phận chính của
cây gỗ
- HS lắng nghe
- Các nhóm tiến hành quan sát, thảo luận
để cho biết các bộ phận chính của câygỗ
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
- GV tổ chức cho các nhóm dán kết quả
lên bảng và trình bày trước lớp
- GV yêu cầu HS cho biết các bộ phận
chính của cây gỗ
- GV giới thiệu các bộ phận chính của cây
- Đại diện các nhóm lần lượt lên trìnhbày bài làm của nhóm mình
- 2, 3 HS nêu
- HS quan sát, lắng nghe
Trang 38Hoạt động của GV Hoạt động của HS
gỗ kết hợp với hình vẽ khoa học: Cây gỗ
có các bộ phận chính là rễ, thân, lá
- Hướng dẫn HS so sánh lại với biểu
tượng ban đầu để khắc sâu kiến thức
- Yêu cầu HS chỉ rõ và nói tên các bộ
phận chính của cây gỗ
- HS so sánh lại với các ý kiến ban đầucủa mình để khắc sâu kiến thức
- 3 HS cầm cây gỗ thật GV đưa cho, chỉ rõ
và nói tên các bộ phận chính của cây gỗ
TỔNG KẾT KIẾN THỨC:
Cây gỗ có các bộ phận chính là rễ, thân, lá
Trang 39
Bài 26: Con gà
I Mục tiêu
1 Kiến thức
- Biết tên các bộ phận chính bên ngoài của con gà
- Biết được tác dụng của các bộ phận chính bên ngoài của con gà như: chân giúp gà dichuyển, cánh giúp gà bay được một đoạn ngắn, chân và mỏ giúp gà bới tìm thức ăn
- Biết được ích lợi của con gà
2 Kĩ năng
- Quan sát, chỉ được các bộ phận chính bên ngoài của con gà trên hình vẽ hay vật thật
- Phân biệt được con gà trống và gà mái về tiếng kêu
3 Thái độ
- Yêu quý, có ý thức chăm sóc con gà
II Thiết bị dạy học
1 Chuẩn bị của GV: Tranh ảnh về gà trống, gà mái, gà con, giấy A3.
2 Chuẩn bị của HS: Vở Ghi chép khoa học, bút màu, SGK.
III Tiến trình dạy học cụ thể
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
- GV hỏi: Em hãy kể tên các loại gà mà
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu của HS
- Yêu cầu HS làm việc cá nhân mô tả các
bộ phận của con gà
- Yêu cầu HS thảo luận theo nhóm 6 vẽ và
chỉ rõ các bộ phận bên ngoài của con gà
- Yêu cầu các nhóm lên trình bày và
trưng bày kết quả thảo luận
- GV ghi nhận kết quả của HS không
nhận xét đúng sai
- HS ghi chép hoặc vẽ những hiểu biếtcủa mình vào vở Ghi chép khoa học
- HS trao đổi trong nhóm
- HS cử đại diện lên báo cáo kết quả
- HS nghe
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thiết kế phương án thực nghiệm
- GV tập hợp các ý kiến đầu của HS
thành các nhóm biểu tượng ban đầu,
- HS so sánh điểm giống và khác nhaugiữa các biểu tượng ban đầu
Trang 40Hoạt động của GV Hoạt động của HS
+ Quan sát tranh vẽ khoa học
Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- GV khéo léo nhận xét các phương án
của các em và thống nhất phương án phù
hợp nhất là quan sát tranh
- Yêu cầu HS làm việc theo nhóm 4 quan
sát tranh, thảo luận và mô tả các bộ phận
bên ngoài của con gà ra giấy
- HS lắng nghe
- HS lấy tranh về con gà, giấy, tiến hànhquan sát và thảo luận chỉ rõ các bộ phậnbên ngoài của nó
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
- GV cho các nhóm dán kết quả trên
bảng và trình bày bài làm của nhóm
mình
- GV yêu cầu HS nêu các bộ phận bên
ngoài của con gà
- GV giới thiệu các bộ phận chính bên
ngoài của con gà kết hợp với hình vẽ
khoa học: Con gà có 4 bộ phận chính đó
là đầu, mình, lông, chân
- GV hướng dẫn HS so sánh lại với biểu
- Các nhóm báo cáo kết quả Đại diệnnhóm lên trình bày
- 2, 3 HS phát biểu ý kiến
- HS nghe và chỉ trên hình ảnh và nhắclại tên các bộ phận bên ngoài của con gà
- HS so sánh lại với biểu tượng ban đầu