Văn hoá chính trị còn là nhu cầu và thói quen tham gia một cách tự giác, chủ động vào các hoạt động chính trị - xã hội, trở thành giá trị xã hội của công dân, góp phần hướng dẫn họ trong
Trang 1LUẬN VĂN:
Văn hoá chính trị trong hoạt động của
HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chính trị và quyền lực chính trị là một lĩnh vực trọng yếu nhất của nhân loại Nếu chính trị có khoa học, có văn hoá thì mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội sẽ phát triển theo chiều hướng tích cực, tiến bộ Ngược lại, nếu chính trị không được giải quyết theo hướng đó thì xã hội sẽ mất ổn định, rơi vào rối loạn Mặt khác, chính trị còn là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, rất phức tạp, đa dạng, phong phú, vô cùng nhạy cảm và tinh tế Nó đòi hỏi các chủ thể chính trị phải có văn hoá chính trị Nói cách khác, văn hoá chính trị là thuộc tính của hoạt động chính trị
Quyền lực chính trị của một giai cấp được thực hiện thông qua nhà nước của giai cấp đó Mục tiêu chính trị đạt được ở mức độ nào tuỳ thuộc vào trình độ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của các nhà lãnh đạo chính trị Phụ thuộc vào khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện các nội dung kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các chủ thể chính trị Phụ thuộc vào sự nhạy cảm và trình độ thích ứng, điều chỉnh, xử lý các tình huống chính trị Bảo đảm môi trường chính trị - xã hội cho sự phát triển đất nước
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Là một
bộ phận cấu thành của hệ thống quyền lực nhà nước Hoạt động của HĐND có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định, giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, chống tha hoá quyền lực, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở địa phương
Với vai trò là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng và quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân ở địa phương HĐND cấp tỉnh có quyền hạn và nhiệm vụ giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương Bằng thẩm quyền của mình, HĐND bảo đảm cho mọi mặt của đời sống xã hội hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, hạn chế và đẩy lùi tiêu cực trong xã hội mà trước hết là trong đội ngũ cán bộ các cơ quan nhà nước trong hệ thống chính trị Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân
Trang 3Tuy vậy, hoạt động của HĐND cấp tỉnh vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém phản ánh mặt hạn chế của văn hoá chính trị trong tổ chức và hoạt động của HĐND Biểu hiện rõ nhất là vẫn chưa thoát thoát khỏi tính hình thức; hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn thấp; quyền lực nhà nước ở địa phương bị lạm dụng và chưa được kiểm soát chặt chẽ; nhân dân chưa yên tâm phấn khởi, tin tưởng ở vai trò vị trí và năng lực hoạt động của HĐND Tình hình trên có nhiều nguyên nhân xuất phát từ thể chế, cơ chế vận hành, chính sách pháp luật, năng lực, kỹ năng và điều kiện, phương tiện hoạt động của đại biểu Nguyên nhân sâu xa và cơ bản nhất là văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND chưa được quan tâm đúng mức
Việc nghiên cứu thực trạng văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND và tìm vạch những nguyên nhân của nó, từ đó xác định phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay trở nên
cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề: "Văn hoá chính
trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Chính trị học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có nhiều công trình, bài viết của các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo về văn hoá chính trị với nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở Việt Nam, từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của chính trị học, văn hoá chính bắt đầu được nghiên cứu và ngày càng thu hút sự chú ý của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận nói chung và giới nghiên cứu chính trị học nói riêng như:
- Phạm Ngọc Quang (chủ biên), (1995), “Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ lãnh dạo ở nước ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, bàn về vai
trò của văn hoá chính trị trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở nước ta
- Hoàng Chí Bảo, “Văn hoá chính trị, một bình diện hợp thành của đối tượng và
nội dung nghiên cứu của chính trị học, một số vấn đề khoa học chính trị”; “Văn hoá chính trị với công tác vận động quần chúng nhân dân trong tình hình hiện nay”, Tạp chí
Dân vận số 1, 2005, nghiên cứu văn hoá chính trị trong mối quan hệ với chính trị học và
Trang 4vai trò của văn hoá chính trị trong hoạt động vận động quần chúng ở nước ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nguyễn Hồng Phong (1998), “Văn hoá chính trị Việt Nam truyền thống và hiện
đại”, tập trung nghiên cứu có tính chiến lược của nhân tố nội sinh trong việc khai thác
các nguồn lực ngoại sinh để phát triển đất nước
- Bùi Đình Phong, “Đỉnh cao tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá”, Nxb Lao động,
2005, nghiên cứu những chuẩn mực tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
- Đặng Đình Tân, “Vấn đề nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở nước ta”
(2000), nghiên cứu văn hoá chính trị trong mối quan hệ quyền lực của nhân dân đối với các cơ quan dân cử
- Nguyễn Văn Vĩnh, "Vai trò của văn hoá chính trị trong việc hình thành phẩm
chất và năng lực người lãnh đạo chính trị”, Thông tin chính trị học, số 4- 2003, nghiên
cứu các tiêu chí văn hoá chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta
- Phùng Ngọc Diễn, "Giữ gìn, phát huy văn hoá Đảng ta", Tạp chí Văn hoá dân tộc
số 2, 2005, nghiên cứu văn hoá chính trị dưới gốc độ văn hoá đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Lê Như Hoa, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá chính trị", Tạp chí Văn hoá
nghệ thuật số 9, 2005, nghiên cứu văn hoá chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh
- Nguyễn Hoài Văn, "Mấy suy nghĩ về văn hoá chính trị Việt Nam trong lịch sử",
Tạp chí Nghiên cứu lý luận số 3, 1998, đề cập đến những nội dung cơ bản của của văn
hoá chính trị trong lịch sử
- Phạm Đình Đạt, “Bản chất văn hoá chính trị", Tạp chí Khoa học chính trị số 1,
1998 ”, bàn về các nhân tố bản chất của văn hoá chính trị
- Trần Ngọc Hiên, “Phát huy ưu thế của nền văn hoá chính trị Việt Nam - Tạo
năng lực cho công cuộc đổi mới”, nghiên cứu vai trò động lực của văn hoá chính trị đối
với công cuộc đổi mới ở nước ta
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), 2006, "Văn hoá mục tiêu và động lực của sự phát
triển xã hội", Nxb Chính trị quốc gia, nghiên vai trò của của văn hoá đối với sự phát
triển xã hội
Trang 5- Khăm Mặn Chăn Thạ Lăng Sỹ (2004), “Văn hoá chính trị ở Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào trong giai đoạn hiện nay", Luận án tiến sĩ Đây là luận án nghiên cứu nền
văn hoá chính trị ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay
Lâm Quốc Tuấn (2000) “Nâng cao văn hoá chính trị của cán bộ lãnh đạo ở nước
ta hiện nay ”, Luận án tiến sĩ Chính trị học, nghiên cứu văn hoá chính trị của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo trong thống chính trị
- Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2004), “Văn hoá chính trị của đội ngũ giảng viên đại
học ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Chính trị học, nghiên cứu các tiêu chí văn
hoá chính trị trong đội ngũ giảng viên các trường đại học ỏ nước ta
- Nguyễn Minh Đức,“Văn hóa chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở
tỉnh Kon Tum hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Chính trị học Nghiên cứu văn hoá chính trị
trong đội ngũ cán bộ ở địa bàn Kon Tum
Các công trình nghiên cứu trên đi sâu nghiên cứu vai trò của văn hoá chính trị trong việc thực hiện các chức năng của nhà nước, trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị và vai trò của nhân dân trong việc giám sát các cơ quan dân cử Đây là những tài liệu hết sức cần thiết để tác giả tham khảo và kế thừa trong quá trình thực hiện luận văn của mình Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu văn hoá chính trị trong hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng
Do đó, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu “Văn hoá chính trị trong hoạt động của
HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay” vừa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học chính
trị, vừa đáp ứng đòi hỏi của việc không ngừng nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của HĐND cấp tỉnh trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ vai trò và thực trạng của văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay
Trang 63.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận văn hoá chính trị, làm cơ sở xác định các tiêu chí văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh
- Phân tích thực trạng văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao văn hoá chính trị trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung khảo sát văn hoá chính trị trong trong hoạt động của HĐND và đại biểu HĐND cấp tỉnh ở nước ta
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hoạt động HĐND cấp tỉnh ở nước ta trong thời
kỳ đổi mới (1986 đến nay)
5 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý và phương pháp luận của CNXH khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá chính trị, về hệ thống chính trị, về Hội đồng nhân dân
- Dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật Nhà nước về HĐND, các văn kiện Đại hội Đảng và các nghị quyết của Đảng về Hội đồng nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp phương thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp nghiên cứu của chính trị học
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Phân tích và làm sâu sắc thêm nội hàm khái niệm văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh
- Góp phần đánh giá văn hoá chính trị trong tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh, bước đầu đưa ra các tiêu chí, chuẩn mực văn hoá chính trị của đại biểu HĐND cấp tỉnh
Trang 7- Đề xuất phương hướng, một số giải pháp nhằm nâng cao văn hoá chính trị trong hoạt động cuả HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu thành 3 chương, 6 tiết
Trang 8Chương 1
VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1 VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ - KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC VÀ TÍNH CHẤT
1.1.1 Khái niệm văn hoá chính trị
Chính trị là lĩnh vực hoạt động rộng lớn và quan trọng của con người Lịch sử xã hội loài người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay là lịch sử của chính trị Đó là quá trình giành và kiểm soát quyền lực nhà nước, nói một cách quy giản thì chính trị là lý luận và thực tiễn, khoa học và nghệ thuật giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, thực hiện lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia
Vấn đề quan trọng quyết định tính chất, đặc điểm chính trị là quyền lực chính trị nằm trong tay giai cấp nào và phục vụ lợi ích cho ai và phương thức giành quyền lực chính trị được thực hiện bằng cách nào Sau khi giành được quyền lực chính trị vấn đề cốt lõi là việc thực thi quyền lực chính trị như thế nào trong việc sử dụng quyền lực, phân bổ quyền lực, tổ chức hệ thống chính trị, thiết chế chính trị, cơ chế vận hành để quyền lực chính trị được thực thi trong cuộc sống
Nhìn từ góc độ triết học thì chính trị là sản phẩm của văn hoá Văn hoá kết tinh toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần của con người do vậy mục tiêu chính trị, cơ chế chính trị, phương thức tổ chức quyền lực, hành vi chính trị của chủ thể chính trị có hướng đích mục tiêu nhân văn, nhân bản, Chân - Thiện - Mỹ hay không, có vì sự tiến bộ của con người và xã hội loài người hay không Đó chính là hàm lượng văn hoá của nền chính trị
Khảo sát lịch sử tư tưởng chính trị thế giới từ Đông sang Tây cho thấy cùng với lịch sử phát triển của xã hội loài người Con người luôn luôn tìm cách lý giải bản chất, nguồn gốc của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, cũng như tìm cách thiết kế mô hình phân chia, vận hành quyền lực nhà nước hướng tới mục tiêu bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, giữ vững quyền lực của giai cấp cầm quyền, hướng tới quyền tự do, dân chủ của nhân dân Những giá trị tư tưởng tiến bộ hướng tới sự giải phóng xã hội và
Trang 9con người đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của văn hoá chính trị với tư cách là một hợp phần của khoa học chính trị học ngày nay
Việc nghiên cứu văn hoá chính trị với tư cách là lĩnh vực tương đối độc lập bắt đầu
từ giữa thế kỷ XX Thuật ngữ văn hoá chính trị được sử dụng lần đầu tiên vào năm
1956 Công lao của việc tách riêng lĩnh vực nghiên cứu này và nâng nó lên sự thừa nhận khoa học thuộc về hai nhà chính trị học người Mỹ là G.Almond và S.Verba đã xuất bản tác phẩm “Văn hoá công dân” trong đó nêu lên khái niệm văn hoá chính trị như sau:
“Văn hoá chính trị nói về một loại thái độ đối với hệ thống chính trị và thái độ đối với
vai trò của mình trong hệ thống chính trị đó” [51, tr.19]
Nhà chính trị học người Anh L.Pye đưa ra định nghĩa rõ hơn về văn hoá chính trị:
“Văn hoá chính trị là một hệ thống thái độ, niềm tin và tình cảm; nó đem lại ý nghĩa và
trật tự cho quá trình chính trị; nó đưa ra tiền đề cơ bản và quy tắc chế ước hành vi của
hệ thống chính trị; nó bao gồm lý tưởng chính trị và quy phạm vận hành của một chính thể” [51, tr.19]
Cùng với quan điểm đó Antonôvich một học giả người Nga nhận định: Siêu nhiệm
vụ của chính trị học là đánh giá hành động của những người lãnh đạo chính trị và ảnh hưởng của những lực lượng đứng sau họ xem có phù hợp với khả năng sâu xa của xã
hội, với lợi ích và nhu cầu của nhân dân, với tính quy luật lịch sử cơ bản hay không
Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định văn minh chính trị (cùng với văn minh vật chất và văn minh tinh thần) đó là một trong ba mục tiêu quan trọng của sự nghiệp hiện đại hoá - hài hoà xã hội Trong tác phẩm Trung Quốc đại bách khoa toàn thư - quyển
chính trị học nêu: Văn minh chính trị là sự tổng hoà các thành quả chính trị do con
người cải tạo xã hội mà có, thông thường nó được biểu hiện thành mức độ biểu hiện dân chủ, tự do, bình đẳng, giải phóng của con người trong một hình thái xã hội nhất định [43, tr.7]
Trong cuốn giáo trình chính trị học chương trình cao cấp năm 2004, do TS Nguyễn Văn Vĩnh chủ biên, nêu khái niệm văn hoá chính trị:
Văn hoá chính trị là chất lượng tổng hợp của tri thức và kinh nghiệm hoạt động chính trị, là tình cảm và niềm tin của mỗi cá nhân tạo thành ý thức chính trị công dân thúc đẩy họ tới những hành động chính trị tích cực phù
Trang 10hợp với lý tưởng chính trị của xã hội Văn hoá chính trị còn là nhu cầu và thói quen tham gia một cách tự giác, chủ động vào các hoạt động chính trị - xã hội, trở thành giá trị xã hội của công dân, góp phần hướng dẫn họ trong cuộc dấu tranh vì lợi ích chung của xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển [63, tr.16] GS,TS Phạm Ngọc Quang, đưa ra quan niệm khá đầy đủ về văn hoá chính trị:
Văn hoá chính trị là một phương diện của văn hoá trong xã hội có giai cấp nói lên tri thức năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc các quan hệ chính trị hiện thực cùng những thiết chế chính trị được lập
ra để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển lịch sử Văn hoá chính trị nói lên phẩm chất và hình thức hoạt động chính trị của con người cùng những thiết chế chính trị mà họ lập ra để thực hiện những lợi ích giai cấp cơ bản của chủ thể tương ứng [42, tr.19]
Các tác giả trên đã tiếp cận văn hoá chính trị với nghĩa hẹp của văn hoá (văn hoá tinh thần) khi tiếp cận văn hoá chính trị
Các tác giả đều nhất trí nhận định văn hoá chính trị như là một phương diện của văn hoá trong lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội có giai cấp
Mặc dù có những diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều tiếp cận văn hoá chính trị với tư cách giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra trong đời sống chính trị Văn hoá chính trị tập trung ở phạm trù người, trong mối quan hệ của quá trình phát triển xã hội
có giai cấp
Văn hoá chính trị là một phương diện của văn hoá, ở đó kết tinh toàn bộ các giá trị, phẩm chất, trình độ, năng lực chính trị Văn hoá chính trị được hình thành trên một nền chính trị nhất định nhằm thực hiện lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc và cộng đồng, phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ của xã hội loài người
Văn hoá chính trị là sự kết tinh văn hoá trong đời sống chính trị, trong nhận thức hành vi, phẩm chất năng lực của chủ thể chính trị và trong hoạt động của hệ thống chính trị Văn hoá chính trị là sức sống, nguồn sức mạnh bên trong của chủ thể chính trị Nó quy định năng lực nội sinh và sức cuốn hút cho sự vận động xã hội hướng tới những giá trị cao đẹp, văn minh và nhân đạo
Trang 11Văn hoá chính trị biểu hiện ra trong đời sống chính trị, cương lĩnh chính trị, trong chính sách pháp luật của Đảng cầm quyền, của Nhà nước, là ý thức và hành vi của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, là khả năng thẩm thấu, hiện thực hoá văn hoá trong chính trị Biểu hiện tập trung nhất là trong con người chính trị - nhân tố quyết định toàn
bộ thể chế chính trị
Văn hoá chính trị phản ánh trình độ phát triển văn hoá trong mối quan hệ tất yếu giữa văn hoá với chính trị, chính trị với văn hoá Nó nói lên trình độ nhận thức, năng lực sáng tạo những giá trị văn hoá Chân - thiện - mỹ của chủ thể chính trị, trực tiếp định hướng hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người
Văn hoá chính trị vừa là mục tiêu vừa là động lực, phương thức hoàn thiện và phát triển của bất cứ nền chính trị dân chủ nào
Muốn hướng tới một nền chính trị dân chủ đích thực, thì phải coi văn hoá là mục tiêu, là động lực của chính trị Văn hoá xét đến cùng chính là con người, là quyền tự do dân chủ và quyền lực chính trị thuộc về nhân dân lao động Nhân dân lao động là người làm chủ xã hội
Văn hoá chính trị vận động và phát triển trong mối quan hệ với sự vận động và phát triển của kinh tế, sự tác động của dân trí, truyền thống văn hoá, phương thức tổ chức hệ thống chính trị; quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hoá đối với văn hoá và chính trị thế giới và sự chi phối của trình độ, nhân cách người cầm quyền
Văn hoá chính trị luôn gắn liền với chủ thể chính trị Nói đến văn hoá là nói đến con người; nói đến văn hoá chính trị là nói đến con người chính trị - chủ thể chính trị Văn hoá chính trị là thước đo khả năng sáng tạo của chủ thể chính trị trong nhận thức các quy luật vận động khách quan của xã hội và sự tác động qua lại với đời sống chính trị, các quy luật chính trị và cầm quyền Chính thể chính trị là nhân tố quyết định hàm lượng văn hoá chính trị trong đời sống chính trị qua nhận thức và hành vi của họ Đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa các giá trị trong quan niệm về văn hoá chính trị ở các nước và nước ta trong thời gian gần đây Xét về bản chất văn hoá chính trị là tổng hoà các giá trị chính trị (bao hàm
cả vật chất và tinh thần) do con người sáng tạo ra trong xã hội có giai cấp, có thể hiểu
Trang 12văn hoá chính trị là một bộ phận, một phương diện của văn hoá trong xã hội có giai cấp nói lên chất lượng tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần với hạt nhân là các giá trị chính trị nhân văn được con người sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị, để thực thi trong quan hệ về quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước nhằm thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển lịch sử Văn hoá chính trị là cái phản ánh trình độ trưởng thành nhân cách chính trị của các chủ thể chính trị trong đời sống xã hội Văn hoá chính trị là thuộc tính, bản chất của thể chế chính trị hiện thực
Từ quan niêm về văn hoá và vai trò của văn hoá đối với tiến trình phát triển xã hội Đến lúc văn hoá chính trị trở thành tâm điểm chủ yếu của các nhà nghiên cứu chính trị bởi vì chính trị, quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là trung tâm, là cốt lõi của mọi cuộc cách mạng Văn hoá chính trị trở thành nhân tố bảo đảo cho quá trình vận hành và phát triển của đời sống chính trị - xã hội đương đại
1.1.2 Cấu trúc văn hoá chính trị
Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc của văn hoá chính trị
Xét văn hoá chính trị với tư cách là hệ giá trị do chủ thể chính trị sáng tạo ra thì văn hoá chính trị được cấu thành trong sự thống nhất, tác động qua lại của những nhân
tố cơ bản:
Tri thức chính trị: Là sự nhận thức các quy luật chung nhất của các quá trình vận
động, phát triển, của các quá trình cũng như các tri thức được khái quát từ các hiện tượng chính trị, chế độ chính trị và nền chính trị
Những tri thức về quá trình phát triển của chính trị nhân loại luôn chứa đựng hàm lượng văn hoá chính trị cao Như các học thuyết, các quy luật về phát triển tự nhiên và
xã hội của chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, hay những bài học của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thể hiện tầm văn hoá chính trị cao
Kinh nghiệm chính trị là tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn, nó có vị trí rất
quan trọng trong hoạt động của thể chế chính trị
Lý tưởng chính trị: Là mục tiêu chính trị cao nhất của mỗi chủ thể chính trị Lý
tưởng chính trị quy định hành động chính trị Mỗi chủ thể chính trị và con người chính
Trang 13trị luôn luôn hành động tự giác thậm chí hy sinh xả thân cho mục tiêu lý tưởng chính trị, mỗi khi lý tưởng trở thành lẽ sống thì nó có sức lay động, lôi cuốn tập hợp hàng triệu, hàng triệu người tham gia vào quá trình chính trị, góp phần giành thắng lợi quyết định của cách mạng Lý tưởng chính trị do tri thức chính trị quy định
Tri thức chính trị đúng, nhận thức được bản chất quy luật, vận động của tự nhiên
và xã hội là cơ sở khoa học, khách quan hình thành lý tưởng chính trị Lý tưởng chính trị chi phối hành động chính trị nhằm thực hiện mục tiêu lý tưởng chính trị Trong hoạt động chính trị, sự phai nhạt lý tưởng chính trị sẽ dẫn đến mất phương hướng, nhận thức
và hành động thiếu nhất quán, dẫn đến những sai lầm, thất bại
Niềm tin chính trị là trạng thái thừa nhận sự đúng đắn đối với lý tưởng chính trị,
niềm tin chính trị vừa có tính cảm tính, vừa có tính lý tính, nó là thái độ chủ quan của con người, do đó cũng có thể dẫn tới sai lầm
Thực tế đã chứng minh, một số đồng bào dân tộc Tây Nguyên đặt niềm tin chính trị mù quáng vào một “nhà nước Đề Ga độc lập” và đã tham gia bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên đó là sự sai lầm của niềm tin chính trị
Mặc dù con đường đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới còn lắm chông gai, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam có niềm tin chính trị vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vì dựa trên tri thức chính trị đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - học thuyết khoa học và cách mạng không ngừng được bổ sung và hoàn thiện bằng kinh nghiệm lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng và nhân dân ta
Trang 14Tình cảm chính trị là trạng thái ban đầu của ý thức chính trị, là hoạt động mang tính tâm lý, là thái độ bảo vệ, ủng hộ, phấn đấu cho mục đích chính trị, lý tưởng chính trị Trải qua thời gian, tình cảm chính trị dần dần được giác ngộ bằng tri thức khoa học Làm cho tình cảm chính trị trở thành lý trí, chuyển hoá hành động của chủ thể chính trị
từ tự phát sang hành động chính trị tự giác
Trong quá trình tập hợp lực lượng cách mạng, các đảng chính trị bao giờ cũng thông qua xây dựng ngọn cờ, nhân tố chính trị và thông qua ảnh hưởng của ngọn cờ kết hợp năng lực tuyên truyền, vận động để lôi kéo quần chúng nhất là tầng lớp trẻ tuổi, chiếm lấy tình cảm, niềm tin chính trị của họ để phát triển ảnh hưởng Từ đó giác ngộ
họ trở thành lực lượng chính trị tự giác nhằm mục đích đấu tranh cho việc giành quyền lực chính trị
Do đặc điểm tâm lý chính trị như vậy cho nên trong quá trình lãnh đạo cách mạng các đảng chính trị phải luôn luôn chú ý giáo dục ý thức chính trị, xây dựng niềm tin và
lý tưởng chính trị đối với quần chúng nói chung nhất là tầng lớp trẻ tuổi nhằm tránh sự lôi kéo của các thế lực thù địch
Lý trí chính trị là trạng thái nhận thức được dẫn dắt bởi cơ sở khoa học Lý trí
chính trị trực tiếp dẫn dắt hành động chính trị Trong một nền chính trị mà lý trí chính trị được củng cố, thống nhất thành một khối nghĩa là tri thức chính trị, lý tưởng và niềm tin chính trị trở thành nhân tố chủ đạo, tiệm cận với ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân thì nền chính trị đó sẽ tồn tại và phát triển bền vững Trái lại một nền chính trị
mà lý trí chính trị bị suy giảm, đánh mất niềm tin chính trị, xét lại tri thức chính trị Chủ thể chính trị không thường xuyên bồi dưỡng, rèn dũa, mài sắc lý trí chính trị cho mình
và cho quần chúng thì dễ dẫn đến mất phương hướng và đe doạ vai trò chính trị của Đảng cầm quyền
Thực tiễn cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh lý trí chính trị của
tổ chức đảng và đảng viên đã dẫn dắt tình cảm chính trị của mọi tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, đạp bằng mọi gian khổ, hy sinh, làm nên những chiến công hiển hách của dân tộc và thông qua thực tiễn cách mạng để xây dựng một Đảng Mác xít Lêninnít vững mạnh, có tri thức, niềm tin lý tưởng cách mạng để dẫn dắt cách mạng nước ta tiếp tục đi tới Mặt khác, trong thời đại ngày nay, trong xu thế hoà nhập sâu vào
Trang 15nền kinh tế, chính trị thế giới, đứng trước những mâu thuẫn của thời đại và nhu cầu phát triển của đất nước Đảng phải bồi dưỡng tri thức chính trị, niềm tin và lý tưởng chính trị cho toàn Đảng, toàn dân, làm cho mục tiêu lý tưởng cách mạng trở thành lẽ sống không
gì lay chuyển nổi, đồng thời kiên quyết khắc phục những hạn chế khuyết điểm về lý luận, thực tiễn, đấu tranh chống quan liêu tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân làm cho đảng tiếp tục giữ vững ngọn cờ tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc để làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng đi tới thắng lợi cuối cùng
Năng lực chính trị: là khả năng hoạt động chính trị của chủ thể chính trị, được biểu
hiện trên hai lĩnh vực: hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn
Năng lực chính trị quyết định hiệu quả (hàm lượng, mức độ, giá trị) của văn hoá chính trị trong hoạt động chính trị
Năng lực lý luận của chủ thể chính trị, chính là quá trình nhận thức quy luật vận động của hiện thực khách quan và năng lực phản ánh hiện thực khách quan vào nhận thức lý tính của chủ thể chính trị
Để đạt tới năng lực lý luận đòi hỏi chủ thể chính trị phải nắm vững các quy luật vận động của tự nhiên, xã hội, tư duy; các quá trình phát triển, các mối quan hệ giữa chính trị với phát triển, chính trị với kinh tế, chính trị với văn hoá, chính trị với khoa học kỹ thuật, chính trị với tự do dân chủ, chính trị với tôn giáo, dân tộc… Tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, kế thừa và phát triển các thành tựu tri thức mới của nhân loại, nhận thức và dự báo xu hướng phát triển của nền kinh tế, chính trị thế giới Nhất là đặc điểm, điều kiện, khả năng hiện thực, vị thế chính trị của mỗi quốc gia dân tộc trong mối quan hệ dân tộc với thế giới
Năng lực lý luận của chủ thể chính trị là cung cấp cơ sở khoa học của tri thức chính trị, là xuất phát điểm của niềm tin, lý tưởng chính trị, tình cảm và lý trí chính trị V.I.Lênin nói: Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng; Hồ Chí Minh nói: Cách mệnh mà không có chủ nghĩa cũng như con tàu đi giữa biển mà không
có bàn chỉ nam, là nói lên vai trò quyết định của lý luận trong thể chế chính trị Lý luận đạt tầm văn hoá không chỉ có khả năng làm ngọn cờ dẫn dắt giai cấp, dân tộc mình mà còn có khả năng lan toả, làm ngọn cờ cách mạng cho các quốc gia, dân tộc khác noi
Trang 16theo Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917; cách mạng tháng tám, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, có tầm vóc văn hoá, tạo bước nhảy vọt về chất của phong trào cách mạng thế giới cũng như ở nước ta
Năng lực lý luận có ý nghĩa quan trọng quyết định đối với thể chế chính trị, nhưng chỉ dừng lại ở năng lực lý luận thì toàn bộ đời sống chính trị vẫn đứng yên mà không có bước tiến bộ nào Lênin nói: Lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bởi lực lượng vật chất Lý luận sẽ trở thành lực lượng vật chất khi nó xâm nhập vào quần chúng Hồ Chí Minh nói: “Lý luận mà không đi đôi với việc làm là lý luận suông…” Thế mới thấy rõ vai trò của năng lực thực tiễn, hoạt động thực tiễn
Hoạt động chính trị đòi hỏi Đảng cầm quyền phải biết tổ chức ra lực lượng chính trị quần chúng, giác ngộ quần chúng Phải rèn luyện đội ngũ của Đảng trong lò lửa của cuộc đấu tranh như lửa thử vàng, gian nan thử sức Phải xây dựng được đội ngũ cán bộ, hình thành nên tổ chức cơ sở có tri thức chính trị, có lý tưởng và niềm tin sắt đá vào lý tưởng chính trị, mục tiêu và quyết sách chính trị Có bản lĩnh và quyết tâm hành động thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, năng lực hành động chính trị còn biểu hiện ở hành vi cá nhân của chủ thể chính trị trong rèn luyện đạo đức cách mạng Học tập, noi gương đạo đức, tác phong: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư và trong hoạt động chính trị - thân dân thì đội ngũ cán bộ, đảng viên mới hoàn thành được trọng trách của mình trước Đảng, Nhà nước và nhân dân
Hệ tư tưởng và đường lối chính sách của Đảng cầm quyền: là bộ phận hạt nhân của
văn hoá chính trị Hệ tư tưởng khoa học phản ánh đúng quy luật khách quan, phù hợp
xu thế thời đại, vì sự tiến bộ xã hội và giải phóng con người đó là hệ tư tưởng mang nội dung văn hoá chính trị cao
Hệ tư tưởng là một hệ thống phạm trù, quy luật, mục tiêu, quan điểm, phương pháp, hình thức, nội dung chính trị của một giai cấp nhất định Hệ tư tưởng chỉ ra con đường và phương thức để đạt tới các mục tiêu chính trị mang tính phổ quát, làm cơ sở nhận thức luận cho các Đảng chính trị trong quá trình đề ra đường lối chính sách và phương thức hoạt động của mình phù hợp với thực tiễn chính trị hiện thực Hệ tư tưởng
là một hệ thống mở, luôn luôn được sáng tạo bổ sung để không bị lạc hậu bởi lịch sử
Trang 17Đường lối chính trị là con đường đi tới tương lai, là mục tiêu chiến lược, nhiệm vụ chiến lược, phương hướng và biện pháp chính trị do Đảng chính trị vạch ra cho một giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm giải quyết các mâu thuẫn nội tại trong quá trình phát triển của một quốc gia, dân tộc
Chính sách chính trị là sự cụ thể hoá các mục tiêu chính trị của chính Đảng, thành
ý chí của Nhà nước với tư cách là trung tâm của quyền lực chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền Hay được biểu hiện ở các quy tắc, quy ước chỉ đạo hoạt động của các lực lượng chính trị của một chính Đảng không tham chính, nhằm lôi kéo các tầng lớp trong xã hội tham gia vào hoạt động chính trị của các Đảng
Đường lối chính sách đúng là nhân tố quyết định thắng lợi của Đảng chính trị Quyết định vai trò chính trị của Đảng trong xã hội Bởi vì mỗi khi đường lối chính sách không ăn sâu, bám rễ vào cuộc sống kìm hãm hoặc đi ngược lại lợi ích của giai cấp và dân tộc thì Đảng tự đặt mình ra khỏi vị trí là đội tiên phong của giai cấp
Cơ sở bảo đảm cho đường lối chính sách của Đảng luôn luôn đúng, ngoài việc giữ vững bản chất mục tiêu, lý tưởng chính trị thì các Đảng còn phải phát huy dân chủ trong Đảng và ngoài xã hội Mọi đường lối chính sách đều phải xuất phát từ quy luật khách quan, xuất phát từ nhu cầu và hơi thở của cuộc sống
Các truyền thống chính trị mang giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc và nhân loại: Văn hoá của một dân tộc là linh hồn, là “căn cước” để phân biệt sự khác nhau giữa
dân tộc này với dân tộc khác Vì vậy, văn hoá chính trị với tư cách là nhân lõi của văn
hoá tự nó phải hàm chứa các giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc
Giá trị văn hoá tiêu biểu của dân tộc là sự kết tinh, “cố kết”, “cô đặc” phong cách, tâm hồn, khí phách, tâm lý của dân tộc qua hàng ngàn năm lịch sử mà có Những giá trị văn hoá ấy như nguyên khí của đất trời được hoá thân vào con người và di truyền từ đời này qua đời khác Nó quy định tình cảm, tâm lý, lẽ sống của con người trong dân tộc, trong đó có con người chính trị, chủ thể chính trị
Dân tộc Việt Nam đã hun đúc nên những giá trị văn hoá, chính trị mang đậm truyền thống dân tộc Đó là ý thức về quốc gia, dân tộc độc lập, tinh thần đoàn kết; tính cộng đồng; tính sáng tạo, năng lực tiếp biến văn hoá trước hoàn cảnh; lòng nhân ái khoan dung; tinh thần bang giao và đoàn kết Quốc tế Những giá trị truyền thống đó
Trang 18được nâng lên thành văn hoá chính trị Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Tinh thần yêu nước được nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước; chủ nghĩa yêu nước được nâng lên thành giá trị chuẩn mực quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa yêu nước gắn với tinh thần Quốc tế trong sáng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát triển các quan hệ cộng đồng thành khối đại đoàn kết toàn dân tất cả vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân
Những giá trị văn hoá chính trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc góp phần hình thành văn hoá chính trị cao của cách mạng nước ta luôn ngang tầm các giá trị chung của văn hoá nhân loại, nó vừa là của báu của dân tộc nhưng đồng thời do tác động của trình
độ phát triển kinh tế xã hội còn lạc hậu, chưa thoát ra khỏi tâm lý tiểu nông là những lực cản làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả văn hoá chính trị
“Văn hoá chính trị Việt Nam phát triển vượt trội hơn những điều kiện kinh tế xã hội cần có Điều đó một mặt nói lên tầm vóc, vị thế chính trị của dân tộc trước hoàn cảnh, nhưng đồng thời cũng đặt ra những vấn đề cần khắc phục trong tâm lý đạo đức của hoạt động chính trị do sự tác động của điều kiện kinh tế xã hội còn lạc hậu có thể dẫn tới hạ thấp chất lượng văn hoá chính trị” [25, tr.45]
1.1.3 Tính chất của văn hoá chính trị
- Tính xã hội và tính giai cấp: Văn hoá hay văn hoá chính trị đều là những phạm
trù thuộc về bản chất con người Sự tồn tại và phát triển của văn hoá chính trị gắn liền với sự hình thành và phát triển xã hội có giai cấp Năng lực sáng tạo của con người trong xã hội có giai cấp, vừa phản ánh những quan hệ, lợi ích giai cấp, vừa phản ánh
những đặc điểm tồn tại xã hội
Văn hoá chính trị phản ánh tập trung ở quá trình thể chế hoá đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng chính trị, thông qua hệ thống văn bản QPPL chứa đựng những chính sách đối nội, đối ngoại, về mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…Thông qua lăng kính pháp luật phản ánh hệ giá trị văn hoá chính trị của một nền chính trị, của một thể chế nhà nước Trình độ văn hoá chính trị càng cao thì chủ thể chính trị càng nhận thức sâu sắc hơn lợi ích giai cấp trong mối quan hệ với lợi ích dân tộc và lợi ích xã hội, bổ sung chức năng tổ chức và lãnh đạo quá trình vận động của xã
Trang 19hội, chức năng đại biểu cho lợi ích dân tộc của Đảng cầm quyền Văn hoá chính trị đến lượt nó giữ vai trò định hướng của văn hoá dân tộc
Dưới chế độ XHCN, văn hoá chính trị của Đảng cầm quyền thống nhất với lợi ích chính trị của đông đảo quần chúng lao động mà nồng cốt là liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Xét cho cùng chỉ có văn hoá chính trị XHCN mới giải quyết triệt để mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người và vì vậy nó vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực mạnh mẽ của công cuộc đấu tranh vì sự thắng lợi của CNXH ở mỗi quốc gia và trên phạm vi thế giới Phép biện chứng duy vật đã chỉ ra quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy Chủ nghĩa tư bản, văn hoá chính trị tư sản đang trong quá trình vận động và phát triển theo đúng logic của nó, đang là một hiện thực lịch sử ẩn chứa bên trong nó nhiều giá trị kết tinh từ lịch sử phát triển văn minh nhân loại Nó đã tạo ra cho chủ nghĩa tư bản khả năng thích ứng tích cực trước các nhu cầu của thời đại, làm thay đổi nhiều giá trị trong các quan hệ kinh tế, văn hoá, xã hội, tạo tiền đề kinh tế - xã hội cho việc trau dồi văn hoá chính trị Đó là kết quả đấu tranh lâu dài của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ vì dân sinh, dân chủ, công bằng xã hội; của các lực lượng yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới Những điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản cũng không vượt qua giới hạn của chủ nghĩa duy vật lịch sử về sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, theo quy luật quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất Khi lực lượng sản xuất phát triển, xã hội hoá ngày càng cao thì tất yếu các yếu quan hệ sản xuất TBCN phải thay đổi, tuy chưa đến bước nhảy vọt để hình thành quan
hệ sản xuất mới, nhưng xu thế toàn cầu hoá về lực lượng sản xuất khiến cho các nhà tư bản không thể giữ khư khư khối lượng giá trị thặng dư tăng thêm mà phải điều chỉnh nhằm “chia sẻ” quyền lợi cho người khác (cả quyền sở hữu, quản lý và phân phối) trong vòng kiểm soát không để cho trật tự tư bản chủ nghĩa bị phá vỡ
Đặc điểm đấu tranh chính trị, xã hội đương đại nói lên mối quan hệ tương tác của văn hoá chính trị trong nền chính trị thế giới Tính chất giai cấp của văn hoá chính trị biểu hiện đan xen trong quá trình hội nhập, hợp tác, đấu tranh trên mọi bình diện của cuộc sống Nó tuỳ thuộc vào tư duy chính trị của mỗi chủ thể chính trị trong mỗi quốc gia dân tộc mà biểu hiện ra là quan hệ của các nước trong tiến trình hội nhập sâu rộng
Trang 20vào các cơ cấu kinh tế thế giới cũng như quá trình hợp tác, phát triển về văn hoá, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, đấu tranh chống khủng bố và bảo vệ hoà bình
Đó là quá trình phức tạp, đòi hỏi năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng, biết tận dụng thời cơ và hạn chế những thách thức Biến đối tượng thành đối tác, thêm bạn bớt thù, dĩ bất biến ứng vạn biến với tầm văn hoá chính trị cao thì mục tiêu chính trị sẽ đạt được Nếu đi ngược lại các quá trình đó thì thất bại
- Tính dân tộc và nhân loại: Văn hoá chính trị luôn gắn liền với văn hoá dân tộc,
vì văn hoá chính trị là một phương diện của văn hoá Văn hoá dân tộc là hệ giá trị chung, tiêu biểu của dân tộc Còn văn hoá chính trị là nhân lõi, là cơ chế vận hành đời
sống văn hoá, phát huy văn hoá dân tộc trong hoạt động chính trị
Tính nhân loại của văn hoá chính trị là biểu hiện tri thức chính trị của chủ thể chính trị Đó là năng lực nhận thức, phản ánh đời sống chính trị thế giới, các quy luật vận động khách quan của lịch sử xã hội loài người cũng như các quá trình chính trị, mục tiêu, quyết sách chính trị nhằm hướng tới các giá trị văn hoá nhân loại, phục vụ lợi ích của con người và sự tiến bộ của xã hội loài người Đó là những giá trị phổ quát, là mục tiêu chung của chính trị cần đạt tới Tính nhân loại của văn hoá chính trị phản ánh sự tác động của văn hoá chính trị trong quá trình giao lưu, đấu tranh, tiếp biến để làm giàu tri thức chính trị của các Đảng cầm quyền và các nhà nước trong cộng đồng thế giới
Tính lịch sử của văn hoá chính trị: Chính trị mang tính lịch sử vì vậy văn hoá
chính trị mang tính lịch sử Văn hoá chính trị là một hình thái tinh thần của con người chính trị được biểu hiện qua các nhân tố cấu trúc nội dung chính trị Những tri thức, mục tiêu, đường lối, chính sách thậm chí cả những vấn đề về ý thức hệ nếu không được
bổ sung, hoàn thiện thì đều trở nên hạn chế trước lịch sử
Thực tại khách quan và đời sống chính trị luôn luôn vận động trong không gian, thời gian, do đó nhận thức chính trị, quyết sách chính trị trong mỗi giai đoạn lịch sử có vai trò và vị trí khác nhau Khi hoàn cảnh thay đổi thì nhận thức, quyết sách chính trị phải thay đổi, làm cho văn hoá chính trị luôn luôn là người dẫn đường sáng suốt của thực tiễn Ph.Ăngghen đã từng chỉ giáo chủ nghĩa của chúng tôi (chủ nghĩa Mác) không phải là nhất thành bất biến mà chỉ là kim chỉ nam cho hành động Tư tưởng rập khuôn, máy móc, chủ nghĩa giáo điều, không biết sáng tạo nâng tầm văn hoá chính trị của các
Trang 21Đảng Cộng sản và công nhân sớm muộn cũng dẫn tới xa rời Học thuyết khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin Sự sụp đổ của các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh nguồn gốc sâu xa về sự xa rời tính lịch sử của văn hoá chính trị
Đảng Cộng sản Việt Nam duy trì đường lối kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp kéo dài sau khi hoàn thành cách mạng giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước đã đưa đất nước bước vào thời kỳ khó khăn, suy thoái cũng là một minh chứng về tính lịch
sử của văn hoá chính trị
Tính lịch sử của văn hoá chính trị đòi hỏi chủ thể chính trị phải luôn luôn đổi mới
và sáng tạo, không thoả mãn với những thành tựu văn hoá chính trị đã có, dẫn tới sự
“kiêu ngạo cộng sản” mà phải luôn nhạy bén nắm bắt thực tiễn để đưa ra đường lối, quyết sách chính trị đúng đắn sáng tạo đáp ứng nhu cầu vận động của thực tiễn
Hồ Chí Minh đã nhắc nhở Đảng ta: “Mỗi dân tộc, mỗi Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ họ không trong sáng nữa” [36, tr.557-558]
Tính đa dạng phong phú của văn hoá chính trị: Hoạt động chính trị là hoạt động
xã hội đặc biệt phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, giai tầng xã hội có lợi ích đối lập nhau hoặc khác nhau nhằm giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị mà thực chất là hướng tới quyền lực nhà nước Do đó, hoạt động chính trị rất đa dạng phong phú, mỗi giai cấp có sự khác nhau về tư tưởng, mục tiêu, quyết sách chính trị, phương pháp tổ chức thực hiện, vì vậy văn hoá chính trị cũng mang tính đa dạng phong phú Ngay trong
hệ thống thiết chế chính trị cùng một hệ tư tưởng thì văn hoá chính trị cũng biểu hiện sự
đa dạng phong phú, có sự khác biệt lẫn nhau do sự tác động của bản sắc văn hoá các dân tộc, bởi tâm lý, tình cảm, nhận thức, thái độ, tính cách khác nhau của các chủ thể chính trị Tính đa dạng phong phú của văn hoá chính trị là nhân tố ngoại sinh trong quá trình vận động của văn hoá chính trị, thúc đẩy văn hoá chính trị phát triển cùng với sự phát
triển của văn hoá
1.2 VAI TRÒ CỦA VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ
Trang 221.2.1 Vai trò của văn hoá chính trị đối với quá trình phát triển xã hội
Chính trị và phát triển xã hội là những khái niệm bộ phận cấu thành của chính trị học và khoa học chính trị Trong quá trình phát triển của xã hội có giai cấp, chính trị nói chung mà bản chất là văn hoá chính trị trực tiếp tác động đến quá trình phát triển xã hội Lịch sử còn ghi dấu ấn về các thể chế chính trị được tổ chức từ một trình độ văn hoá chính trị cao, dựa trên các tri thức khoa học, nắm vững và vận dụng các quy luật vận động của tự nhiên và xã hội trong quá trình phát triển Đồng thời lịch sử cũng chứng kiến sự xuất hiện của các thể chế phản văn hoá chính trị đã kìm hãm sự phát triển của nhân loại như trong đêm trường Trung cổ, chủ nghĩa Phát xít và chế độ Khơme đỏ…
Các nhà chính trị học Mác xít quan niệm rằng con người chính là sản phẩm của giới tự nhiên Con người xuất hiện là nấc thang cao nhất của sự tiến hoá của tự nhiên Con người trở thành nhân tố quyết định sự phát triển xã hội - mặc dù quá trình phát triển của xã hội cũng là quá trình lịch sử tự nhiên nằm ngoài ý muốn của con người Nhưng đó là quá trình phát triển thông qua hoạt động có ý thức của con người
Từ khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước, con người tồn tại với tư cách là con người chính trị - một thực thể chính trị, một chủ thể của văn hoá chính trị, của quyền lực nhà nước, con người luôn luôn có khát vọng vươn tới tự do, một bước tiến trên con đường văn minh là một bước tiến tới tự do Phát triển là một quá trình làm cho con người hoàn thiện nhân cách của mình, tự tin ở chính mình, là quá trình giải phóng con người khỏi, đẩy lùi sự áp bức về chính trị, kinh tế, xã hội
Văn hoá chính trị có vai trò thúc đẩy quá trình phát triển xã hội dựa trên quan điểm lấy con người làm trung tâm Phát triển xã hội chính là quá trình tạo lập các điều kiện phát triển của con người về kinh tế, văn hoá, xã hội…vươn tới sự thoả mãn ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
B.Gali - nguyên Tổng thư ký Liên Hợp Quốc nhận định: “Phát triển là một quá trình hướng tới việc thiết lập một nền dân chủ ổn định cho phép không ngừng nâng cao mức sống cho quần chúng nhân dân theo một cách thức mang tính nhân văn và công bằng Nói cách khác phát triển là quá trình tiến hoá đồng bộ của năm thành tố cơ bản: Tăng trưởng kinh tế, ổn định, công bằng, dân chủ, quyền con người” Trong các thành
Trang 23tố của khái niệm phát triển này có tới bốn thành tố thuộc về văn hoá chính trị (ổn định, công bằng, dân chủ, quyền con người), đồng thời thành tố tăng trưởng kinh tế cũng do văn hoá chính trị (chiến lược, đường lối, chính sách phát triển) quyết định
Để đi tới một xã hội phát triển theo quan điểm chính trị lấy con người làm trung tâm Văn hoá chính trị phải hiện thực hoá các tiêu chí của sự phát triển xã hội:
- Tiêu chí tham gia
Chính là mức độ tham gia của nhân dân vào các công việc nhà nước và xã hội với
tư cách là chủ thể của công việc đó, nhất là vai trò chủ thể chính trị - công dân trong việc quyết định các vấn đề của đất nước hay địa phương Tiêu chí này được thực hiện, chỉ có thể thông qua chế độ dân chủ được thiết lập và ngày càng mở rộng trở thành hiện thực cuộc sống
J.Patrick Gunning trong tác phẩm “lựa chọn công cộng” đã trình bày quan niệm dân chủ như một loại hình Chính phủ với hai đặc tính cơ bản: (1) tính đại diện và (2) tính pháp trị Theo quan niệm, tính đại diện có nghĩa là sở thích của mỗi công dân đều được thể hiện trong quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Trong một nền dân chủ lớn điều này nhất thiết phải được thực hiện thông qua bầu cử; tính pháp trị có nghĩa là các quyết định đưa ra về việc các cá nhân có vi phạm pháp luật hay không và hình phạt nào đối với họ phải dựa theo nguyên tắc chung [58, tr.32]
Có thể nhận thấy bản chất, thuộc tính của dân chủ theo quan niệm này đã cơ bản
thống nhất với văn hoá chính trị Ở chỗ, sự tham gia của công dân đã đòi hỏi: Thứ nhất
công dân phải có năng lực tham gia vào đời sống chính trị như vậy người công dân phải
có tri thức và hành vi phù hợp nhất định Thứ hai, hệ thống chính trị phải là một hệ
thống “mở” đối với sự tham gia của người dân Để có hệ thống mở đó toàn bộ tổ chức
và hoạt động của hệ thống chính trị mà trọng tâm là nhà nước phải tuân thủ những chuẩn mực của văn hoá chính trị hiện đại đó là dân chủ, pháp quyền
Dân chủ xã hội chủ nghĩa trong bản chất là dân chủ cho số đông (xét về mặt lợi ích) và vì vậy dân chủ là hình thái của văn hoá chính trị
- Tiêu chí đồng thuận xã hội
Là hệ quả của quá trình dân chủ hoá xã hội, làm cho mọi thành viên được tham gia
vào hầu hết các công việc của nhà nước và xã hội, hình thành ý thức tự giác trong việc
Trang 24chấp hành pháp luật do sự tương đồng về lợi ích của các công dân quy định Đồng thuận
xã hội được coi là chìa khoá cho sự phát triển xã hội Văn hoá chính trị thúc đẩy đồng
thuận xã hội vì sự phát triển của xã hội
Văn hoá chính trị có vai trò hình thành chủ thể kinh tế và tác động phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế, quy luật thị trường Trong thời đại ngày nay, các nhà
nghiên cứu Mác xít đã cơ bản nhất trí kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của quan hệ sản xuất xã hội, nó chính là thành tựu của sự phát triển của nhân loại chứ không phải là chế độ kinh tế đặc thù của chủ nghĩa tư bản Nhận thức đúng về kinh tế thị trường góp phần làm cho chủ thể chính trị nhận thức đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội Văn hoá chính trị trở thành nhân tố tác động thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội phát triển Con người nhờ đó nối dài và mở rộng các giác quan trong thế giới tự nhiên Với tư cách là một cá nhân, con người có điều kiện để nhận được nhiều nhất phúc lợi tương xứng với khả năng của họ
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là quá trình đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và là biểu hiện của văn hoá chính trị tích cực nhằm nhận thức
và vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường vào mục tiêu, định hướng phát triển của đất nước Vì kinh tế thị trường với tư cách là thành tựu của quá trình phát triển cũng không phải là chìa khoá vĩnh cửu, vạn năng mà là điều kiện cần cho sự phát triển
Văn hoá chính trị có vai trò xác lập thể chế chính trị, hình thành hệ thống chính trị
và xây dựng nhà nước pháp quyền Đây là nhân tố quan trọng nhất của quyền lực chính trị Văn hoá chính trị hình thành những chuẩn mực và chức năng, vị trí, vai trò, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội) Cụ thể hoá các mục tiêu chính trị của Đảng thành pháp luật để dùng làm phương tiện thực hiện quyền lực chính trị Văn hoá chính trị phản ánh bản chất nhà nước và quyết định chiều hướng phát triển tiến bộ của một nền chính trị Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày nay được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản là: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; hoạt động của các thể chế nhà nước tuân thủ nguyên tắc công minh, công khai, minh bạch; pháp luật đóng vai trò tối thượng, ngự trị trong đời sống xã hội, phản ánh ý chí của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ các quyền thiêng liêng của cá nhân như quyền
Trang 25con người, quyền công dân, quyền cộng đồng, quyền dân tộc, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc Đó là những giá trị chung mà nhân loại cần phấn đấu để đạt tới Trong nhà nước pháp quyền, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, phân quyền giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp
Nước ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân Trên cơ sở kế thừa tư tưởng và nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền với tư cách là thành tựu chung của khoa học tổ chức nhà nước, trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội, văn hoá truyền thống, dân trí và trình độ pháp luật của nhân dân để xây dựng nhà nước ta có các đặc trưng cơ bản là: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, song có sự phân công, phối hợp thực hiện trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; trong nhà nước pháp quyền, pháp luật đóng vai trò tối thượng
Văn hoá chính trị góp phần hình thành và phát triển xã hội, xã hội công dân
Theo quan điểm của Mác, xã hội công dân là trung tâm thực sự, vũ đài thực sự của mọi cuộc cách mạng Bởi vì xét theo logic phát triển thì loài người đi từ con người công dân (cá thể) tới con người xã hội và cuối cùng đi tới phương thức xã hội tự quản, là cơ
sở đảm bảo cho sự tiêu vong của nhà nước Mọi cuộc cách mạng cuối cùng phải đi tới
xã hội công dân
Xã hội công dân được hiểu là hệ thống các tổ chức, các cộng đồng công dân và quan hệ giữa chúng nhằm hiện thực hoá các cá nhân và nhân cách, nối các cá nhân với
hệ thống xã hội, củng cố và bảo vệ lợi ích của cộng đồng Đồng thời nó phối hợp với nhà nước trong quá trình tìm kiếm các phương thức tổ chức cho sự phát triển xã hội [48, tr.32]
Trong nền kinh tế thị trường, xã hội công dân có vai trò tích cực là nơi lưu giữ các
kỹ năng sản xuất và tổ chức sản xuất, lưu giữ và truyền bá kinh nghiệm sản xuất từ đời này sang đời khác mà nhà nước không thể làm được xã hội công dân góp phần định hướng, kiểm soát quá trình phát triển của thị trường, đảm bảo cho kinh tế thị trường phát triển bền vững Xã hội công dân phát huy sự sáng tạo, phát triển và gìn giữ các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng dân cư
Trang 26Trong nhà nước pháp quyền, xã hội công dân, bảo đảm cho sự ổn định chính trị xã hội, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, phân biệt rõ chức năng quản lý của nhà nước
và chức năng tự quản của nhân dân, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
Văn hoá chính trị với tư cách là hệ giá trị chính trị, có vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển giáo dục, hoàn thiện nhân cách, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong việc xây dựng phát triển con người mới có phẩm chất và năng lực để làm chủ quá trình phát triển xã hội
Nước ta đang trong quá trình hội nhập sâu vào các thể chế kinh tế - chính trị thế giới Văn hoá chính trị Việt Nam được hình thành và phát triển từ cội nguồn truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, được soi sáng bởi hệ tư tưởng tiến bộ và kinh nghiệm thực tiễn phong phú Văn hoá chính trị có tính tự giác thống nhất biện chứng giữa lợi ích giai cấp và lợi ích xã hội, tạo ra động lực cho sự phát triển đất nước theo định hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.2.2 Văn hoá chính trị trong hoạt động của Hội đồng nhân dân ở nước ta
1.2.2.1 Vai trò của văn hoá chính trị trong việc xác định vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân
Bộ máy Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Văn hoá chính trị ở đây thể hiện trong tri thức của đảng lãnh đạo, nhân dân với tư cách là người chủ của quyền lực chính trị trongquá trình lựa chọn các hình thức tổ chức
và phương thức hoạt động của nhà nước
Hiếp pháp 1946 khẳng định ngay trong phần mở đầu: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” [46, tr.1] Đây
là nội dung văn hoá chính trị cốt lõi, phản ánh bản chất của thể chế nhà nước ta ngay từ khi mới ra đời
Hiến pháp 1959 tiếp tục phát triển văn hoá chính trị trong phương thức sử dụng quyền lực nhà nước của nhân dân, quy định: “Tất cả trong nước Việt Nam dân chủ cộng
Trang 27hoà đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội
và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân” [46]
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước bước vào thời kỳ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Hiến pháp 1980, trên cơ sở tiếp tục khẳng định bản chất Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc Hội và HĐND các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Hiến pháp 1980 bổ sung thêm “Vị trí của Quốc hội và HĐND là cơ sở chính trị của hệ thống cơ quan nhà nước” [45, tr.2] Hiến pháp 1992 sửa đổi (2001), trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng xây dựng nhà nước bằng pháp luật đã thể chế hoá quan điểm Đại hội IX của Đảng bằng nội dung:
“Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, tạo
cơ sở pháp lý cho quá trình xây dựng chính sách pháp luật hướng tới thực hiện các mục tiêu của nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
Trên cơ sở quy định của hiến pháp, luật tổ chức HĐND và UBND ngày
26-11-2003 xác định vị trí, vai trò của HĐND là: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”
Như vậy, trải qua quá trình vận động và phát triển, cho đến nay vị trí, vai trò của HĐND có những đặc trưng cơ bản là: HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực của mình; HĐND đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động của mình; Là cơ sở chính trị của hệ thống cơ quan nhà nước và chịu sự kiển tra giám sát của nhân dân
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
và xác định mục tiêu tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, đặt ra yêu cầu về xây dựng xã hội công dân, nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam
Trang 28Sự hoàn thiện không ngừng đường lối xây dựng nhà nước và quá trình thể chế hoá đường lối của Đảng thành hiến pháp, pháp luật là biểu hiện tư duy sáng tạo, văn hoá chính trị của Đảng và Nhà nước ta Đó là kết quả của một quá trình tìm tòi, sáng tạo gần một thế kỷ, bắt nguồn từ cuộc ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Trải qua quá trình khảo sát các mô hình nhà nước trên thế giới (cách mạng tư sản
Mỹ, cách mạng tư sản Pháp, cách mạng Nga Xô Viết…) Kế thừa những tư tưởng tiến
bộ về dân chủ của Arixtot, Rutxô; tư tưởng về phân quyền, giám sát quyền lực nhà nước của Môngtetxkiơ Kế thừa các giá trị truyền thống văn hoá chính trị “lấy dân làm gốc” qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Được hệ tư tưởng khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho tới nay
1.2.2.2 Vai trò của văn hoá chính trị trong việc hình thành chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trải qua quá trình vận động và phát triển, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND đã không ngừng được hoàn thiện
Từ năm 1994 trở về trước, luật tổ chức HĐND và UBND quy định chức năng của HĐND là quyết định chủ trương biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, phê chuẩn ngân sách địa phương; biện pháp thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng chính quyền ở địa phương Với pham vi chức năng như vậy, HĐND được tổ chức mang tính hình thức, không có bộ máy, chỉ chủ yếu tổ chức kỳ họp để phê chuẩn các báo cáo của UBND Hoạt động giám sát không thực hiện có hiệu quả Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm
2003 đã có bước phát triển mới, phản ánh sự phát triển văn hoá chính trị trong xây dựng pháp luật HĐND không chỉ quyết định các chủ trương biện pháp phát triển kinh tế xã hội mà trực tiếp quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn và hàng năm của các ngành và lĩnh vực; quyết định lĩnh vực đầu tư và quy mô đầu tư; quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách địa phương, quyết định chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế, ngân sách, khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường, quyết định quy hoach, kế hoạch, chủ trương, biện pháp phát triển giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao; quyết định biện pháp thực hiện chính sách dân tộc,
Trang 29chính sách tôn giáo ở địa phương; biện pháp bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng chính quyền, biện pháp thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng…Đồng thời lần đầu tiên Luật Tổ chức HĐND và UBND cụ thể hoá, xác định chức năng giám sát của HĐND thành nội dung cụ thể trong một chương (chương III) và 25 điều (từ điều 57-81) Với chức năng nhiệm vụ mới, HĐND cấp tỉnh trở thành cấp chiến lược, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ban hành các chính sách địa phương trong hệ thống HĐND các cấp Đó là kết quả của một quá trình nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về phương thức tổ chức quyền lực của hệ thống chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền Đây là văn bản luật tiến bộ nhất từ trước đến nay phản ánh văn hoá chính trị hướng tới mục đích đề cao vị trí, bảo đảm thực quyền của của HĐND trong việc thực hiện chức năng quyết định và giám sát kiểm soát quyền lực nhà nước ở địa phương
1.2.2.3 Văn hoá chính trị và những yêu cầu về phẩm chất của đại biểu dân cử
Theo Từ điển Tiếng việt, đại biểu dân cử là người thay mặt cho một nhóm người khác [61, tr.325] hay từ điển luật học quan niệm Dân biểu là người được dân cử lên làm đại biểu trong Quốc hội; dân cử do dân bầu cử
ra [38, tr.385]
Đại biểu dân cử (đại biểu HĐND) là những người do dân bầu ra và thay mặt cho nhân dân Hay: Đại biểu HĐND là những thành viên của HĐND ở các địa phương; đại diện cho ý chí nguyện vọng của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra
và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên
Đại biểu HĐND chính là tế bào của HĐND, là người quyết định hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND trong việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn của HĐND theo quy định của pháp luật
Nhân dân thông qua đại biểu của mình để bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình đối với nhà nước Nhân dân uỷ quyền cho đại biểu HĐND thay mặt mình tổ chức ra bộ máy nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương
Văn hoá chính trị của đại biểu dân cử chính là văn hoá của đại biểu trong hoạt động của đại biểu theo quy định của pháp luật
Trang 30Văn hoá chính trị của đại biểu biểu hiện thông qua những nhân tố:
Tri thức chính trị của đại biểu: là trình độ lý luận, trình độ chính trị, nhận thức
về đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; nhận thức về quá trình phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân địa phương
Niềm tin, lý tưởng chính trị của đại biểu: Là sự tin tưởng sâu sắc về bản chất nhà
nước là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Tin tưởng sâu xa về con đường phát triển và tương lai tươi sáng của dân tộc Tin tưởng ở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Những quyết sách chính trị của toàn Đảng, toàn dân trong việc đẩy lùi bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, khôi phục và củng cố lòng tin và quan hệ máu thịt với nhân dân
Ý thức chính trị của đại biểu: Là trình độ giác ngộ của đại biểu trong việc thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Ý thức chính trị của đại biểu tác động hình thành bản lĩnh chính trị của đại biểu trong việc tiếp cận, giải quyết các vấn đề do cuộc sống đặt ra Đại biểu dân cử không chỉ có vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân địa phương mà còn chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động của mình do đó nhiều vấn đề trong cuộc sống đòi hỏi bản lĩnh của đại biểu để giải quyết hài hoà, đúng đắn các quan
hệ giữa lợi ích nhà nước, tập thể và nhân dân theo quy định của pháp luật
Văn hoá chính trị trong nhân cách của đại biểu dân cử: Trước hết, đạo đức là cái
gốc “Đức giả bản giã”, là nhân tố trung tâm của nhân cách con người Trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông các nhà tư tưởng chính trị chủ trương giáo hoá, thực hành đạo đức theo quan niệm thánh hiền nhằm tạo lập cơ sở để xây dựng xã hội thái bình, thịnh trị Suy thoái đạo đức trong bất cứ nền chính trị nào đều là nguyên nhân sâu xa của mọi sự rối
loạn và tiêu vong
Phạm trù đạo đức được Hồ Chí Minh phát triển thành đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ Theo Hồ Chí Minh đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng cần phải có là: “Vị công vô tư Giữ chủ nghĩa cho vững Hy sinh Ít lòng ham muốn vật chất… Không hiếu danh, không kiêu ngạo Nói thì phải làm, quyết đoán, dũng cảm, phục tùng đoàn thể” [33]
Trang 31Đạo đức của đại biểu dân cử biểu hiện sâu sắc và toàn diện nhất ở hành vi chính trị của họ Theo tư tưởng Hồ Chí Minh muốn làm tròn trách nhiệm là “đầy tớ”, là “công bộc” của dân thì “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân”, hành vi của đại biểu là hành vi hoạt động, lăn lộn trong cuộc sống, phải có tác phong dân vận: “óc nghỉ, mắt thấy, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”… phải thực thà nhúng tay vào công việc [34]
Trong hành vi chính trị của đại biểu, “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh” Đó là đức tính trung thực, thật thà, gương mẫu trong cuộc sống và chấp hành pháp luật, phải “Tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ)
Ngày nay để làm tròn bổn phận của một đại biểu dân cử, đại biểu phải thực sự có
nhân cách công dân ở nơi cư trú và nơi công tác, làm sao không còn khoảng cách với
nhân dân và cán bộ, không kể vị thế chính trị của đại biểu Để khi tiếp xúc với dân, quan hệ với dân, học hỏi, nắm tình hình ở cơ sở tìm được sự chân thành, cởi mở, không
tiếc công, tiếc sức giúp đỡ đại biểu Đạt được nhân cách công dân tức là đạt tới lẽ tự
nhiên, bình đẳng với mọi công dân khác Là xoá được khoảng cách có thể dẫn đại biểu
tới sự xa dân, dễ trở thành “quan cách mạng” Đại biểu có cuộc sống công dân là đã tự trang bị cho mình cáí quyền lực tự nhiên, theo tư tưởng “vô vi nhi trị” của Lão Tử mà
Hồ Chí Minh đã kế thừa trong tư tưởng và hành động sống của người Cái nhân cách công dân, hoàn toàn không hạ thấp mà trái lại toả sáng văn hoá chính trị trong nhân cách của đại biểu dân cử
Hành vi của đại biểu dân cử, là lời nói đi đôi với việc làm trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ quyền hạn của HĐND, là tính quyết tâm, hiệu quả, hiệu lực, hiệu suất công việc Là năng lực bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân Là thái độ kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong bộ máy công quyền Giám làm và giám chịu trách nhiệm về việc làm của mình trước pháp luật và trước nhân dân
Để có được đạo đức, tác phong thân dân không có cách nào khác người đại biểu dân cử phải phấn đấu rèn luyện trong thực tiễn cuộc sống, phải trau dồi ý thức chính trị, tình cảm cách mạng, quan điểm giai cấp, tinh thần phục vụ nhân dân Phải học và hiểu
Trang 32giá trị truyền thống văn hoá dân tộc Nhận thức sâu sắc tính thống nhất trong đa dạng của nền văn hoá Việt Nam Hiểu biết và tôn trọng phong tục tập quán, lễ nghi của các dân tộc (tộc người) trong cộng đồng dân tộc Tất cả những nội dung đó kết tinh thành văn hoá chính trị - phẩm chất hàng đầu của đại biểu dân cử
*
* *
Tóm lại, văn hoá chính trị là một bộ phận, một phương diện của văn hoá trong xã
hội có giai cấp Văn hoá chính trị nói lên chất lượng tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần với hạt nhân là các giá trị chính trị nhân văn được con người sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị Văn hoá chính trị là sự kết tinh văn hoá trong đời sống chính trị Văn hoá chính trị Việt Nam được hình thành trên nền tảng của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những truyền thống văn hoá chính trị của dân tộc và nhân loại Văn hoá chính trị góp phần hình thành và hoàn thiện thể chế nhà nước, xác định vị trí vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Là cơ sở để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động, xây dựng các tiêu chí, chuẩn mực của đại biểu HĐND cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong giai đoạn mới
Trang 33Chương 2
THỰC TRẠNG VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ TRONG HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1 THỰC TRẠNG VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ TRONG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
2.1.1 Vài nét về cơ cấu tổ chức Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
2.1.1.1 Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trong cuộc bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 ngày 25 tháng 4 năm
2004, cử tri cả nước bầu được 306.126 đại biểu: trong đó đại biểu HĐND cấp tỉnh là 3.852 đại biểu; cấp huyện 23.450 đại biểu; cấp xã là 278.960 đại biểu So với nhiệm
kỳ 1999 - 2004 số lượng đại biểu ba cấp tăng 52333 đại biểu
Trình độ học vấn: Tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm 94,6%; trung học cơ sở chiếm 2,96%, tiểu học chiếm 0,55%
Về cơ cấu: Đại biểu nữ ở cấp tỉnh chiếm 23,88%, cấp huyện 23,01%, cấp xã 19,53
%
Tỷ lệ đại biểu là người ngoài Đảng chiếm 13,60%, cấp huyện chiếm 14,61%, cấp
xã chiếm 30,80% [phụ lục 1]
Theo đánh giá của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, chất lượng đại biểu được nâng lên
so với nhiệm kỳ trước, bảo đảm các tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, uy tín, phẩm chất, đạo đức, chính trị Cơ cấu đại biểu HĐND bảo đảm tính đại diện rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân ở địa phương; tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân thuận lợi trong việc tiếp xúc, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình với đại biểu và đại biểu có điều kiện gắn bó hơn với nhân dân, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của họ góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong hoạt động của HĐND ở địa phương
2.1.1.2 Thường trực và các ban Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Bên cạnh cơ cấu đại biểu, trong nhiệm kỳ 2004 - 2009, HĐND cấp tỉnh đã kiện toàn và bổ sung cơ cấu hoạt động của cơ quan chuyên trách của HĐND cấp tỉnh Toàn quốc có 385 đại biểu hoạt động chuyên trách (chiếm 10% tổng số đại biểu) Cơ quan
Trang 34Thường trực HĐND bổ sung thêm chức danh Uỷ viên thường trực và lãnh đạo các ban HĐND làm việc chuyên trách
Thường trực HĐND có sự phân công trách nhiệm phụ trách lĩnh vực cụ thể, 100% các tỉnh thành đều xây dựng quy chế làm việc của HĐND, thường trực HĐND và các ban HĐND Cụ thể hoá các quy định của luật tổ chức HĐND và UBND Có 39 tỉnh thành phố thành lập 3 ban: Ban Kinh tế - ngân sách; Ban Văn hoá - xã hội và Ban Pháp chế; có 25 tỉnh, thành phố thành lập 4 ban (có thêm ban dân tộc) Mỗi ban của HĐND cấp tỉnh có từ 5-11 thành viên (trung bình mỗi ban có 7 thành viên) Hầu hết các tỉnh đều bố trí một trưởng ban và một phó ban, có tỉnh bố trí từ 2-3 phó ban
Theo số liệu thống kê từ 47 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cuối tháng
10 năm 2006 HĐND cấp tỉnh có 154 trưởng ban, 192 phó trưởng ban Hầu hết các tỉnh đều có trưởng hoặc phó ban hoạt động chuyên trách Đặc biệt tỉnh Đồng Nai bố trí cả trưởng ban và phó ban HĐND đều hoạt động chuyên trách Việc đổi mới một bước tổ chức của HĐND cấp tỉnh phản ánh nội dung văn hoá chính trị trong đổi mới thể chế, làm cho hoạt động của HĐND cấp tỉnh có sự chuyển biến về chất, hoạt động tích cực và
có chiều sâu, góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của HĐND so với các nhiệm kỳ trước
2.1.1.3 Văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân
Tình hình tăng cường cơ cấu của thường trực HĐND và các ban HĐND nhất là bố trí đại biểu hoạt động chuyên trách Có cơ quan chuyên trách và đại biểu chuyên trách thì mới có điều kiện tổ chức các hoạt động thường xuyên hơn, nhất là hoạt động giám sát Nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của cử tri, được phản ánh trung thực và thường xuyên hơn Tạo điều kiện cho nhân dân tham gia xây dựng các nghị quyết sẽ thông qua tại kỳ họp
Văn hoá chính trị trong việc đề cao vai trò của HĐND được bổ sung trong quy chế hoạt động của HĐND các cấp kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH-11 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI Theo đó nhiệm vụ tổng hợp ý kiến, kiến nghị của
cử trước đây do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chuyển sang Thường trực HĐND thực hiện Nhằm bảo đảm tính quyền lực của nhân dân, thông qua cơ quan dân
Trang 35cử yêu cầu các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri phản ánh tại tại kỳ họp
Văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân được thể hiện trong nội dung hoạt động của HĐND Luật tổ chức HĐND và UBND, định rõ nhiệm vụ quyền hạn của các của HDND; xác định rõ chức năng giám sát đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang và công dân ở địa phương Xác định nội dung, hình thức, quy trình tổ chức các hình thức giám sát, kiến nghị giải quyết hậu quả pháp lý sau giám sát
Văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân thể hiện thông qua Hoạt động kỳ họp HĐND cấp tỉnh Đây là hoạt động quan trọng nhất của HĐND nhằm thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng tại địa phương Hoạt động kỳ họp phản ánh năng lực cụ thể hoá đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đồng thời, diễn đàn kỳ họp HĐND là nơi thể hiện rõ nhất ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân có được thực hiện hay không Tại kỳ họp HĐND, Thông qua các hình thức nghe báo cáo, thảo luận các báo cáo, đề án; chất vấn trả lời chất vấn và thực hiện các quy trình kỷ thuật theo quy định của pháp luật để hiện chức năng quyết định và giám sát của HĐND địa phương
Trong thời gian qua, hoạt động kỳ họp của HĐND cấp tỉnh đã có chuyển biến rất tích cực, hầu hết các tỉnh, thành phố nắm vững quy định của pháp luật Nghiên cứu, lựa chọn các nội dung đưa ra tại các kỳ họp, đầu tư nhiều cho công tác chuẩn bị kỳ họp nên hoạt động các kỳ họp của HĐND cấp tỉnh đạt kết quả khá cao Kỳ họp dần dần khắc phục được tình trạng trầm lắng, hình thức như trước đây, nhiều nơi nhân dân quan tâm
và háo hức chờ đón, kỳ họp HĐND đã trở thành diễn đàn chính trị quan trọng ở địa phương; tinh thần sinh hoạt dân chủ, thẳng thắn dần dần được khơi dậy Nhiều nơi tổ chức đường dây điện thoại nóng, truyền hình trực tiếp để nhân dân phản ánh, chất vấn trực tiếp và giám sát hoạt động kỳ họp Nhiều vấn đề bức xúc về kinh tế xã hội của các địa phương đã được Thường trực HĐND đưa ra thảo luận và quyết định tại kỳ họp đáp ứng nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân
Trang 36Tuy nhiên hoạt động kỳ họp cấp tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, biểu hiện phổ biến là
tình trạng quá tải về nội dung Mỗi kỳ họp HĐND phải xem xét ít nhất 16 loại báo cáo,
riêng kỳ họp cuối năm có thể lên tới 28-30 loại báo cáo, đề án Một số tỉnh tổ chức thêm
kỳ họp chuyên đề nhưng cũng chỉ giải quyết thêm một số đề án quan trọng hoặc cấp bách Tỷ lệ ban hành các chính sách địa phương của HĐND cấp tỉnh còn thấp
Thời gian cho mỗi kỳ họp rất hạn chế, bình quân kỳ họp HĐND tỉnh từ 3 đến 4 ngày Đại biểu HĐND chủ yếu là kiêm nhiệm công việc chuyên môn, hoạt động điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ do đó không có thời gian cần thiết để nghiên cứu các nội dung kỳ họp Việc xem xét các báo cáo vẫn còn tình trạng chạy theo thời gian, nhiều nội dung xem xét qua loa hoặc không có thời gian để thảo luận nên chất lượng các báo cáo đề án còn thấp, chất lượng và độ tin cậy, tính khả thi chưa cao, chính sách khó đi vào cuộc sống
Văn hoá chính trị trong việc thực hiện vai trò đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân còn được biểu hiện thông qua kết quả tổng thể trong hoạt động của HĐND; bao gồm cả hoạt động tiếp xúc cử tri, giám sát giải quyết ý kiến kiến nghị và khiếu nại tố cáo của công dân Tất cả các nội dung hoạt động của HĐND đã được thể chế hoá thành pháp luật, chuyển thành ý thức và hành vi của đại biểu HĐND cấp tỉnh Kết quả hoạt động của HĐND, mà trực tiếp là của đại biểu HĐND phản ánh hàm lượng văn hoá chính trị trong thực hiện vai trò đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân các địa phương
2.1.2 Thực trạng vai trò của văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng quyết định của Hội đồng nhân dân
Chức năng quyết định là một trong hai chức năng quan trọng nhất của HĐND cấp tỉnh Thông qua việc thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng tại địa phương để thực hiện vị trí của HĐND tỉnh là cơ quan quyền lực nhà nước, là cấp chiến lược, cấp duy nhất có thẩm quyền ban hành các chính sách địa phương Văn hoá chính trị trong thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh có thể đánh giá thông qua các tiêu chí chủ yếu như tính chủ động, tính tuân thủ pháp luật, tính thiết thực, tính khả thi trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh và vai trò của chúng đối với các mặt kinh tế - xã hội
Trang 372.1.2.1 Mặt tích cực
Văn hoá chính trị trong thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh biểu hiện ở tính chủ động trong xây dựng kế hoạch ban hành văn bản QPPL của HĐND toàn khoá và hàng năm làm cơ sở để UBND và các cơ quan tổ chức có thẩm quyền xây dựng, soạn thảo các báo cáo, đề án trình ra kỳ họp HĐND quyết định Nửa nhiệm kỳ qua, HĐND cấp tỉnh toàn quốc đã ban hành 2888 Nghị quyết, trong đó có 1891 Nghị quyết thường (không chứa đựng nội dung QPPL), 974 Nghị quyết chuyên đề (chứa đựng nội dung QPPL), chiếm 38% số Nghị quyết và thực hiện 71,8% nội dung công việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh [47], việc ban hành văn bản QPPL của HĐND cấp tỉnh biểu hiện ở tính chủ động hơn, đã bám sát định hướng phát triển dài hạn và hàng năm của Chính phủ và điều kiện thực tế, nguồn lực của các địa phương để
bố trí lĩnh vực đầu tư và quy mô đầu tư phù hợp nhu cầu phát triển Việc Quyết định các chính sách địa phương dựa trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của pháp luật, chính sách của Nhà nước và tình hình thực tế của các địa phương, từng bước khắc phục tính trạng bình quân chủ nghĩa gây lãng phí, thất thoát, dàn trải nguồn lực đầu tư Cơ cấu đầu tư ngày càng đa dạng và quy mô này càng tăng
HĐND nhiều tỉnh đã kết hợp đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng với quy hoạch sắp xếp dân cư và phát triển sản xuất, đã sắp xếp cho hàng ngàn hộ dân ở vùng cao, vùng xa đến định cư ở nơi ở mới có đủ các điều kiện sản xuất và sinh hoạt như HĐND các tỉnh Gia Lai, Thừa Thiên - Huế, Hà Giang giải quyết phương án tái định cư, bố trí dân cư đến ở bảo đảm có điện sinh hoạt, đường sá, trường học, trạm y tế, đất sản xuất và nước tưới Vai trò của văn hoá chính trị trong thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh khá rõ nét trong việc quyết định các chính sách khuyến khích đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nhiều tỉnh, thành đã tạo bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội như Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra tổng sản phẩm xã hội (GDP) chiếm 30% cả nước, Thành phố Hà Nội, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Kiên Giang, An Giang, Đà Nẵng là các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao
Nhiệm vụ quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách dần dần đi vào
nề nếp, đẩy mạnh chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến công, khuyến ngư, gắn
Trang 38kết sự hợp tác tương trợ giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông, góp phần rút ngắn chu kỳ nghiên cứu - ứng dụng - chuyển giao - sản xuất - tiêu thụ tạo
ra nhiều của cải cho xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Hiệu quả của các quyết định về chính sách địa phương liên quan trực tiếp đến con người, góp phần bảo đảm ổn định chính trị, xã hội cho sự phát triển bền vững Động viên các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Văn hoá chính trị trong thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh biểu hiện ở năng lực quyền lực, phản ánh tính khách quan, tính thiết thực các chính sách
do HĐND ban hành Việc phân bổ các nguồn lực của địa phương phù hợp với chiến lược phát triển đất nước
Tính quy trình, quy phạm trong hoạt động của HĐND cấp tỉnh ngày càng được quan tâm thực hiện, nhất là các quy trình chuẩn bị nội dung chương trình kỳ họp, quy trình xem xét, quyết định các chính sách, quy trình ban hành văn bản QPPL của HĐND Hiệu lực, hiệu quả thực hiện các, quy hoạch, kế hoạch, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương phụ thuộc năng lực hiện thực hoá đường lối chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước vào tình hình thực tế của các địa phương, khẳng định vai trò, vị trí ngày càng quan trọng của HĐND trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân Để thực hiện có hiệu quả chức năng quyết định của HĐND, trên thực tế vấn đề quan trọng nhất là phải tôn trọng pháp luật về tổ chức HĐND và UBND hiện hành, phải phát huy dân chủ trong hoạt động của HĐND, làm cho HĐND thực sự là một diễn đàn của
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
2.1.2.2 Mặt hạn chế
So với nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định thì việc thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh vẫn còn nhiều bất cập thể hiện mức độ hạn chế của văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND Chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh được đã được pháp luật quy định khá rõ ràng và chi tiết, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, kết quả và hiệu quả quyết định còn thấp, tính chủ động chưa cao, vẫn còn nhiều văn bản QPPL của HĐND tính khả thi còn thấp
Theo tài liệu hội thảo Thường trực HĐND các tỉnh ở các khu vực, thống kê chưa đầy đủ đến tháng 9 năm 2006, HĐND cấp tỉnh chỉ mới quyết định được 71,8 % khối
Trang 39lượng công việc thuộc thẩm quyền của HĐND, trong đó các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, đạt hơn 64% Tây Nam Bộ đạt hơn 66 %, Miền Trung đạt 76 % [phụ lục 2] Chức năng quyết định chủ yếu tập trung vào những nội dung mà pháp luật đã xác định cụ thể về nhiệm vụ của các kỳ họp, còn các nghị quyết chuyên đề của HĐND về các chính sách địa phương đạt rất thấp, ước tính dưới 50% Trong đó có nhiều chính sách thuộc chương trình mục tiêu của Chính phủ, theo nguyên tắc phải được lồng ghép
và đưa ra HĐND cấp tỉnh để quyết định Nhưng nhiều tỉnh thành HĐND không nắm được nguồn vốn, không được xem xét về sự cần thiết đầu tư, tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định đầu tư
- Nguyên nhân
Nguyên nhân khách quan, những khó khăn, tồn tại, yếu kém trong việc thực hiện
chức năng quyết định của HĐND, nhất là các chương trình mục tiêu quốc gia trên phạm
vi toàn quốc có nhiều nguyên nhân xét về văn hoá chính trị đó là việc tổ chức vận hành
hệ thống hành chính và cơ chế phân cấp quản lý kinh tế - xã hội vẫn mang tính tập quyền cao, kế hoạch vẫn chưa vượt ra khỏi tình trạng áp đặt từ trên xuống Xây dựng kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng vẫn mang nặng tính hình thức
Nguyên nhân chủ quan, văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng quyết
định còn nhiều hạn chế Biểu hiện rõ là tính thụ động, không nắm vững chế độ chính sách, nguồn lực đầu tư và nhiệm vụ quyền hạn của HĐND và UBND cấp tỉnh nên vừa
bị động lúng túng, vừa buông lỏng vai trò của HĐND trong việc quyết định những vấn
đề quan trọng của địa phương Nhiều nơi còn chờ đợi UBND đưa ra đề nghị gì thì xem xét quyết định cái đó, không có kế hoạch và không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình Văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng quyết định của HĐND cấp tỉnh trong trường hợp này làm hạn chế thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước và của từng địa phương
Cần nhấn mạnh rằng, những yếu kém, bất cập nói trên không phải là những vấn đề mới, nhưng việc khắc phục còn rất chậm, chưa tạo được sự chuyển biến rõ nét, đòi hỏi phải có những nỗ lực cao hơn, với những giải pháp thiết thực hơn để vượt lên những khó khăn, thách thức đáp ứng yêu cầu của cuộc sống
Trang 402.1.3 Thực trạng văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện việc tuân theo pháp luật, chế độ chính sách của Nhà nước và Nghị quyết HĐND cùng cấp; của thường trực HĐND, UBND, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân cùng cấp; của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật
Giám sát có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương, thông qua giám sát HĐND cấp tỉnh mới thực hiện dược nhiệm vụ kiểm soát quyền lực nhà nước, mới bảo đảm cho quyền lực nhà nước không bị tha hoá, không bị lạm dụng Đồng thời thông qua giám sát để kiểm chứng tính thiết thực, tính khả thi của các quyết định của HĐND trong thực tế cuộc sống Văn hoá chính trị trong hoạt động của HĐND thể hiện ở tính độc lập, tính chủ động, tính khách quan dân chủ, tuân thủ pháp luật trong hoạt động giám sát
Kết quả giám sát đánh giá năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trực tiếp phản ánh đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của HĐND có đi vào cuộc sống hay không, nói lên văn hoá chính trị của đại biểu HĐND trong việc thực hiện chức năng giám sát tức là thái độ, hành vi của đại biểu có thật sự đại diện cho ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân hay không
Văn hoá chính trị trong việc thực hiện chức năng giám sát của HĐND thể hiện qua năm hình thức chủ yếu của các hoạt động giám sát bao gồm: Xem xét các báo cáo của Thường trực HĐND, UBND; Báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; Báo cáo của Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp; chất vấn, trả lời chất vấn tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp; xem xét văn bản QPPL của UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới; thành lập đoàn giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các ban HĐND và bỏ phiếu tín nhiệm những người giữ chức vụ do HĐND bầu
Dưới góc độ văn hoá chính trị, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực cũng như những hạn chế sau:
2.1.3.1 Mặt tích cực