1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn quản trị chiến lược toàn cầu quản trị sự đổi mới và trí tuệ toàn cầu

33 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 549 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty đảm bảo rằng việc đổi mới được xây dựng dựa trên những mô tả côngviệc; các nhân viên kỹ thuật được yêu cầu phải dành 80% thời gian của mình cho các hoạt độngkinh doanh cốt lõi tr

Trang 1

Chương 11: QUẢN TRỊ SỰ ĐỔI MỚI VÀ TRI TUỆ TOÀN CẦU

Mục tiêu học tập:

Sau khi học xong chương này, các bạn có thể:

- Hiểu được tầm quan trọng mang tính chiến lược của sự đổi mới và đánh giá được vai tròcủa từng cách thức đổi mới khác nhau trong từng chu kỳ sống của ngành

- Đánh giá được những động lực cạnh tranh của thị trường công nghệ, bao gồm vai trò củacác tiêu chuẩn ngành

- Xem xét ý nghĩa của việc đạt được những giá trị từ việc đổi mới

- Hiểu được tầm quan trọng của việc chuyển giao trí tuệ trong các công ty đa quốc gia

- Đánh giá những thách thức trong quản trị mạng lưới nghiên cứu và phát triển toàn cầu,bao gồm cả việc sử dụng dịch vụ thuê ngoài

Tình huống: Cách thức đổi mới của Google

Google, công cụ tìm kiếm có trụ sở tại Mỹ, đã đạt được sự tăng trưởng theo cấp số nhân

kể từ khi mới thành lập vào năm 1998 Với hơn 20000 nhân viên, báo cáo doanh thu cuối quý 3năm 2008 của công ty là 5.54 tỉ đôla Mỹ, tăng khoảng 30% so với thu nhập cùng kỳ năm trước.Cùng lúc đó, Google xếp thứ hai trong chỉ số sáng tạo toàn cầu S&P/Business- top 25 công tysáng tạo nhất trên toàn thế giới

Vậy thì, làm thế nào mà công ty đạt được nhiều thành tựu chỉ trong một thời gian ngắnnhư vậy? Một câu trả lời thực tế đó là Google đã thu hút được những người tài năng nhất Cứmỗi 100 ứng viên, thì chỉ có một người được chọn Từ năm 2006, Google được xem như là mối

đe dọa chính cho đối thủ của nó là Microsoft về khả năng thu hút những người có kỹ năng pháttriển phần mềm Một câu trả lời khác, đó là nhờ công ty đã có những cách tiếp cận mới trongviệc đổi mới cách thức kinh doanh và quản trị

Cơ sở hạ tầng của Google được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của tổ chức, trong đó sự đổimới được xem là yếu tố cốt lõi để đạt được mục tiêu Cùng lúc đó, cơ cấu tổ chức cho phép công

ty có thể phát triển và mở rộng bằng cách phát triển sản phẩm của riêng mình và liên kết với bên

phát triển thứ ba, trong khi vẫn có thể kiểm soát việc quản trị một cách tuyệt đối Công ty đã chi

hàng tỷ đô để tạo nền tảng hoạt động dựa trên Internet và nhấn mạnh sự phát triển công nghệ độc

quyền Cơ sở hạ tầng này có tính mô đun và có khả năng mở rộng, dựa trên việc thiết kế tùy

chỉnh, chi phí thấp, kết cấu máy chủ chạy trên nền tảng mã nguồn mở Linux Nó hỗ trợ cho việctích hợp các dịch vụ trực tuyến mới và cho phép công ty tung ra những dịch vụ mới do chínhcông ty hay đối tác của họ tạo ra.Các ứng dụng như Google Map được thiết kế sao cho Googlehoặc bên phát triển thứ ba có thể thêm vào các tiện ích mở rộng

Trong cách thức đổi mới của công ty, phương thức họ tiếp cận để phát triển sản phẩm làmột nét đặc trưng khác biệt Cơ sở hạ tầng hỗ trợ vòng đời phát triển sản phẩm nhanh chóng

Trang 2

Google tung ra nguyên mẫu các ứng dụng mới và, nếu thu hút đủ sự chú ý của người dùng, thìnhững nhà phát triển sẽ tung ra phiên bản beta để tiếp tục theo dõi và đánh giá phản ứng củakhách hàng Theo quan điểm này, việc kiểm tra và tiếp thị là không thể tách rời nhau.

Sự đổi mới không đơn giản chỉ là điều mà Google ưu tiên, mà nó còn là một phần củavăn hóa tổ chức Công ty đảm bảo rằng việc đổi mới được xây dựng dựa trên những mô tả côngviệc; các nhân viên kỹ thuật được yêu cầu phải dành 80% thời gian của mình cho các hoạt độngkinh doanh cốt lõi trong việc tìm kiếm và quảng cáo, mặc dù họ đươc mong đợi là phải dành tới20% thời gian của mình cho việc phát triển các dự án công nghệ mà họ đã chọn Sự thành côngcủa các dự án cá nhân được xem xét một cách tích cực như là một phần của của quá trình đánhgiá nhân viên Các nhà quản trị được khuyến khích dành 70% thời gian của mình cho các hoạtđộng kinh doanh cốt lõi, 20% vào các dự án khác nhau nhưng có liên quan với nhau, và 10% cònlại cho các sản phẩm và hoạt động kinh doanh mới Tầm quan trọng của “thời điểm đổi mới”được minh họa thông qua bài “Director of Other” về sự đổi mới công ty để quản lý 10% yêu cầunày Trên thực tế, nhiều sáng kiến đã nảy sinh theo cách này, bao gồm cả Google News - sử dụngthuật toán để tổng hợp các tin tức lại, và Orkut – một trang mạng xã hội Sergey Brin, một trong

2 nhà sáng lập ra Google, xác nhận rằng tất cả các ý tưởng sản phẩm mới của Google xuất phát

từ đội ngũ nhân viên từ dưới lên, hơn là từ tiến trình lập kế hoạch mang tính tập trung từ trênxuống

Việc thử nghiệm và thất bại cũng được chấp nhận như là một phần của phương pháp đổimới Schmidt, CEO của công ty, khuyến khích sự thất bại, đặc biệt là “thất bại nhanh chóng”,như một phần của tiến trình để có cơ hội thử lại lần nữa Tuy nhiên, những ý tưởng mới phảiđược chứng minh là hợp lý để có thể được thông qua giai đoạn xem xét Điều này có nghĩa.những dữ liệu là rất quan trọng, được xem như là phương tiện để minh chứng hay hỗ trợ cho một

ý tưởng cụ thể Tính chất trực tuyến của công nghệ đã hỗ trợ việc sử dụng các thông tin thu thập

được để đo lường và phân tích sự thành công của bất kỳ sự đổi mới sản phẩm nào Ngoài ra nócòn liên quan đến các nhân viên trong việc cố gắng thu thập thông tin từ các xu hướng thị trườngcũng như những nhu cầu tiềm ẩn đối với sản phẩm mới - việc dự đoán được xem là yếu tố cốt lõi

để xem xét thị trường tiềm năng cho sự đổi mới Hệ thống quản lý ý tưởng là một phần củaphương pháp này, bằng cách đó nhân viên có thể gửi mail về các sản phẩm mới và các ý tưởng

về quá trình đến các nhân viên khác để nhận thông tin phản hồi rộng khắp toàn công ty

Những tính năng hoạt động khác cũng giúp hỗ trợ cho văn hóa đổi mới này Các vănphòng không chỉ được thiết kế để khuyến khích nhân viên bằng những giờ giải lao (với máyđánh bóng và các hình thức giải trí khác), mà còn được thiết kế để có thể dễ dàng giao tiếp, liênlạc với nhau Ngoài ra Google cũng hỗ trợ cho sự sáng tạo của nhân viên bằng cách tạo cảmhứng cho họ theo nhiều cách, ví dụ, thông qua Tech Talks – nơi một số nhà nghiên cứu giỏi nhấtthế giới thường xuyên được mời đến để nói chuyện với nhân viên của Google

Phương pháp đổi mới của Google mang tính toàn cầu Họ không chỉ thuê những người có

kỹ năng trên khắp thế giới, mà còn hoạt động ở một loạt trung tâm quốc tế Về việc nuôi dưỡng

Trang 3

nhân tài, năm 2004 có khoảng 350000 nhà khoa học và kỹ sư máy tính tốt nghiệp từ những tổchức giáo dục chất lượng cao ở Trung Quốc, so với khoảng 140000 người từ Mỹ Vì vậy không

có gì đáng ngạc nhiên khi mà vào năm 2005, Google thành lập một trung tâm nghiên cứu và pháttriển lớn ở Bắc Kinh, bố trí nhân viên chủ yếu bởi tài năng và được thành lập bởi một người cực

kỳ nổi tiếng về công nghệ thông tin, Kai-Fu Lee, ông là người gốc Đài Loan

Mọi thứ công ty thực hiện đều tập trung vào việc thực hiện sứ mệnh của công ty, đó là tổchức, sắp xếp lại những thông tin trên khắp thế giới và làm nó trở nên hữu ích và dễ sử dụng Sựđổi mới là yếu tố cốt lõi để hoàn thành sứ mệnh này, mặc dù thực tế là CEO của công ty, EricSchmidt thừa nhận rằng sẽ phải mất tới 300 năm để đạt được điều đó và cần phải có một dự báongân sách quý thứ 1200 mới có thể đạt được sự phù hợp

11.1 Giới thiệu

Sự đổi mới sản phẩm thành công là yếu tố cốt lõi để Google đạt được mục tiêu tổ chức,

hệ thống lại những thông tin trên toàn thế giới Công ty nhấn mạnh tầm quan trọng của nhữngyêu cầu đổi mới sản phẩm, là một phương pháp tổ chức một cách toàn diện và chặt chẽ, khôngchỉ tác động đến việc thiết kế hệ thống và cấu trúc mà còn ảnh hưởng đến việc quản lý nhân lực

Nó đòi hỏi khả năng mở rộng cơ sở hạ tầng công nghệ, để đảm bảo rằng công nghệ có thể đápứng nhu cầu của công ty như phát triển tổ chức Sự phát triển của các quy trình tổ chức cho phép

thử nghiệm và phát triển các ý tưởng sản phẩm mới; tạo ra những ưu đãi nhằm tạo động lực cho

nhân viên có thể sáng tạo; văn hóa tổ chức cho phép có sự thất bại, như một phần của phươngpháp được xét duyệt thông qua Ngoài ra, công ty cần phải thông qua phương pháp tiếp cận toàncầu để quản trị sự đổi mới

Trong chương này, chúng ta bắt đầu bằng việc đánh giá vai trò của sự đổi mới đối với sựthành công của tổ chức Chúng ta thấy rằng việc đổi mới có mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêuchiến lược của tổ chức và bị giới hạn bởi khả năng và nền tảng tri thức của nó Yếu tố then chốtđối với việc tăng cường nhận thức về sự đổi mới, đó là 3 giả định sau: (1) sự đổi mới đem lại lợiích cho tổ chức; (2) vượt ra khỏi một khuôn khổ nhất định, các tổ chức nhận thấy rằng không hề

dễ dàng để thích nghi và thay đổi và có thể trở nên kém thành thạo trong việc đổi mới; và (3) cónhiều cách tổ chức và quản trị để tăng cường sự đổi mới (Drazin và Schoonhoven 1996) Liên hệvới quan điểm trước, chúng ta bắt đầu tìm hiểu về sự đổi mới trong bối cảnh toàn cầu Đặc biệt,việc xem xét sự đổi mới ở cấp độ toàn cầu đòi hỏi phải hiểu được cách thức quản lý tri thức vàphát triển qua các trung tâm quốc tế như thế nào

11.2 Thế nào là sự đổi mới?

Có nhiều cách định nghĩa về sự đổi mới, mặc dù nó được xem như là sự thương mại hóacác quy trình hay sản phẩm mới Điển hình, có 2 hình thức đổi mới chính: đổi mới sản phẩmhoặc đổi mới quy trình Việc giới thiệu mẫu xe hơi mới hay ngân hàng tung ra một dịch vụ gởitiết kiệm mới là một ví dụ về đổi mới sản phẩm Ngược lại, đổi mới quy trình đề cập đến việclàm mới hoặc cải tiến hoạt động sản xuất hay phương pháp phân phối Ví dụ tiêu biểu cho sự đổi

Trang 4

mới quy trình đó là việc sáng tạo và phát triển công nghệ kính nổi (float glass) bởi một nhà sảnxuất kính của Mỹ, Pilkington, vào cuối những năm 1950 Một ví dụ khác của đổi mới quy trình

là là việc phát triển phần mềm mới cho nghệ thuật mô hình 3D mà nó có thể biến đổi 3D nhiềuthiết kế sản phẩm một cách dễ dàng Đã có rất nhiều sự đổi mới, nhưng tiêu biểu nhất là nhữngthay đổi trong lĩnh vực công nghệ Các công nghệ trực tuyến mới đã giúp phát triển nhiều loạihình truyền thông cũng như làm thay đổi các loại hình truyền thông cũ như báo chí Ở những thịtrường như Châu Âu và Mỹ, việc tiêu thụ báo chí hàng ngày vẫn duy trì bình thường, mặc dùdoanh số của báo truyền thống sụt giảm đáng kể Từ khi nhiều người tiêu dùng truy cập internet

và các thiết bị cầm tay để cập nhật tin tức ngày càng nhiều người có chiều hướng không muabáo truyền thống nữa, thay vào đó là đọc báo miễn phí trên internet Những tờ báo như Metro ởLondon và 20 Minuten ở Thụy Sĩ nổi bật lên như là những kẻ mới xuất hiện trong thị trường báochí hằng ngày.Trong khi các sạp bán báo ngày càng trở nên khan hiếm và cung cấp ít thông tinhơn, thì nay họ cung cấp những tờ báo miễn phí đó cho những người di chuyển bằng các phươngtiện công cộng - những người muốn đọc báo một cách nhanh chóng trong khi đang trên đường

di chuyển, doanh thu quảng cáo sẽ chi trả toàn bộ chi phí cho những tờ báo miễn phí này đến taykhách hàng cuối cùng Những tờ báo miễn phí là một ví dụ minh họa cho việc đổi mới sản phẩmbằng những thay đổi về công nghệ cũng như thị hiếu khách hàng

Ngoài những thay đổi về công nghệ, sự đổi mới còn bao gồm cả những phương phápquản trị mới như là Trách nhiệm xã hội chung (xem chương 12) hay những cơ hội từ những thịtrường mới Tiêu biểu nhất đó là sự xuất hiện của nhiều nền kinh tế trên thế giới, đem lại những

cơ hội mới cho các công ty, không chỉ liên quan đến việc đổi mới sản phẩm mà còn liên quanđến đổi mới dịch vụ, và đặc biệt là thiết kế những dịch vụ mới cho các sản phẩm hiện tại Điệnthoại di động là một ví dụ Hầu hết những người Nam Phi, họ không chọn cách đi đến ngânhàng, điều này được lý giải là do khoảng cách, và chỉ một nửa trong dân số 16 triệu người là cótài khoản ngân hàng Thấy được khe hở thị trường này, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính mớinhư Wizzit, đã tung ra thị trường một loại tài khoản ngân hàng được đơn giản hóa có tên làMzansi và đưa ra nhiều dịch vụ ngân hàng tiện ích thông qua điện thoại Từ năm 2004, kháchhàng đã có thể truy cập vào tài khoản ngân hàng ngay trên điện thoại, và sử dụng điện thoại đểthực hiện các giao dịch với ngân hàng trên diện rộng, bao gồm cả việc thanh toán cho hàng hóa

và chuyển tiền cho các tài khoản ở ngân hàng khác Theo như Liên Hiệp Quốc, năm 2005 cótổng cộng 232 tỉ đôla Mỹ đã được chuyển bởi những người hay di cư trên khắp toàn cầu, và từ

đó trở đi 20% số tiền này giảm đi mỗi năm, tiềm năng của điện thoại di động đối với việc cáchmạng hóa ngành ngân hàng và cung cấp cho người tiêu dùng một dịch vụ hiệu quả và an toànhơn trong những nền kinh tế mới vẫn được duy trì một cách đáng kể

Nội dung chính

Đổi mới là việc thương mại hóa sản phẩm mới hay các quy trình Đổi mới sản phẩm liênquan đến phát triển mới hay cải tiến sản phẩm Đổi mới quy trình liên quan đến việc làm mới haycải tiến hoạt động sản xuất hoặc phương pháp phân phối

Trang 5

Gần đây, "tư duy thiết kế" trở thành một động lực của sự cải tiến Trong khi thiết kế vốnđược xem như là một công cụ bổ trợ trong quá trình phát triển, thiết kế bản thân nó có lẽ cũng làmột trong những thứ giá trị nhất trong một ý nghĩa so sánh nào đó, từ ngành điện tử gia dụng đếncho đến ngành công nghiệp tự động Thách thức đó là phải làm cho một ý tưởng đã được triểnkhai trở nên hoàn thiện hơn để phục vụ khách hàng Các đợt ra mắt các sản phẩm ipod mới củaApple, một hãng điện tử của Mỹ, được xem là những cải tiến trong thiết kế máy mp3 hơn là một

sự khai tạo một sản phẩm hoàn toàn mới

Trọng tâm trong tư duy thiết kế đó là tạo giá trị như nhau cho dịch vụ cũng như sảnphẩm Aravind Eye Care, một công ty cung cấp các sản phẩm chăm sóc mắt tại Ấn Độ tính đếntháng 3/2007 phục vụ hơn 2,3 tỉ bệnh nhân mỗi năm, là một ví dụ điển hình Công ty đối mặt vớinhững vấn đề hậu cần là làm thế nào để cung cấp các dịch vụ chăm sóc mắt của họ đến các bệnhnhân ở vùng sâu vùng xa của Ấn Độ một cách tốt nhất Giải pháp của họ là chuyển các dịch vụphòng ngừa và chẩn đoán bệnh đến những vùng này thông qua những trại khám mắt được tổchức thường xuyên Tại đó, người dân sẽ được khám mắt, hướng dẫn cách chăm sóc mắt và đượckiểm tra thường xuyên và thậm chí là phẫu thuật nếu phát hiện bệnh Trong 2 năm 2006-2007,hơn 500.000 người được khám, 113.000 trong số phát hiện bệnh được yêu cầu phải phẫu thuật.Hình thức di chuyển như vậy cũng là một vấn đề cho những người sống tại các vùng nông thôn,Aravind đã cung cấp xe buýt để đưa đón những bệnh nhân này đến những bệnh viện tại cácthành phố để chữa trị

Tương tự, một hướng thiết kế tập trung vào con người được sử dụng để tạo sự khác biệtcho sự trải nghiệm dịch vụ của bệnh nhân tại bệnh viện Nhật Bản Một nhà sản xuất đồ nội thấtvăn phòng tại Nhật Bản, Okamura, tập trung vào các giải pháp tổng hợp để tận dụng không gianvăn phòng và các trang thiết bị trong kinh doanh khác Từ khi bệnh nhân tại Nhật Bản có thểthoải mái lựa chọn bệnh viện, các bệnh viện phổ biến hơn có xu hướng hưởng thêm lợi nhuận từcác bệnh viện khác Vì vậy, việc phải tạo ra sự khác biệt để tăng sự chú ý từ các bệnh nhân tiềmnăng trở thành một vấn đề cấp thiết của các bệnh viện ít phổ biến hơn Sau các cuộc phỏng vấn

và khảo sát, Okamura nhận thấy cần phải xem xét kĩ lưỡng về trải nghiệm của khách hàng và đưa

ra một hệ thống hướng dẫn điện tử có tên “Michi Annai-kun” (tạm dịch Người hướng dẫn thânthiện) giúp bệnh nhân tránh đi lạc, thậm chí đi lạc sau khi đã được hướng dẫn từ nhân viên lễ tân.Màn hình thân thiện với người sử dụng, không chỉ chỉ đúng đường đi mà nó còn dự đoán thờigian chờ của bệnh nhân nếu họ bỏ thẻ khám bệnh của mình vào

Khái niệm cốt lõi: cải tiến thiết kế là việc sử dụng thiết kế để phát triển những cải tiến vềsản phẩm hoặc cải tiến trong quá trình

Trang 6

Bảng 11.1 Hướng tư duy t hiết kế cho việc cải tiến

Khởi động tại điểm

bắt đầu

Tiếp cận hướng vào conngười

Sớm hơn và thườngxuyên

Tìm kiếm hỗ trợ từbên ngoài

Để những người thiết

kế tham gia vào giai

đoạn bắt đầu cải tiến,

trước khi ra bất kì

quyết định nào Điều

này sẽ giúp có nhiều ý

tưởng nhanh hơn

Bên cạnh sự quan tâmđến kinh doanh và côngnghệ, cải tiến còn nênchú trọng đến hành vi,nhu cầu và những vấn đề

ưu tiên của con người

nghiên cứu từ nhữngquan sát trực tiếp về bảnchất sẽ đưa đến nhữngcải tiến đáp ứng đượcnhu cầu của khách hàng

1 cách chính xác hơn

Khuyến khíchnhóm tạo ra mộtsản phẩm mẫungay từ tuần đầutiên Sự tiến bộ này

sẽ làm cho quátrình thử nghiệmnhanh hơn

Mở rộng hệ sinh tháicải tiến bằng cách tìmkiếm các cơ hội đểcùng tạo ra cải tiếnvới khách hàng vàngười tiêu dùng

Tuyển dụng rộngrãi, cả những người

có nhiều hoặckhông có 1 nềntảng thiết kế nhưnglại có thái độ đúngđắn

Phân chia kế hoạch đểnhững ai liên quanđến thiết kế có thểtham gia trọn vẹn quitrình cải tiến, từ khi ra

ý tưởng cho đến khitriển khai thực hiện

11.2.1 Cải tiến trong vòng đời

Vòng đời của ngành là khái niệm tương đương với vòng đời sản phẩm của bên cung, và

nó giải thích những trường hợp gia nhập hay rút khỏi ngành theo thời gian Trong khi các trườnghợp này có sự khác nhau giữa các ngành, có một qui luật chung đó là quá trình mà những ngànhnày tham gia xuyên suốt được hình thành trong một chừng mực nào đó bởi 3 yếu tố chính (côngnghệ, qui mô kinh tế, và nhu cầu) (được miêu tả trong Bảng 11.2)

Mô hình vòng đời mô tả những số liệu và hình thức của các công ty từng giai đoạn mộttrong 4 giai đoạn của vòng đời ngành: mở đầu, phát triển, trưởng thành, và suy thoái Bởi vậy, cóthể tính toán được mức độ cạnh tranh trong mỗi giai đoạn của vòng đời Điều đó cũng có thể giảithích tại sao cải tiến sản phẩm đưa ra hướng đi cho cải tiến quá trình trong giai đoạn trưởngthành của vòng đời Bốn giai đoạn của vòng đời đó là:

Mở đầu: Trong giai đoạn này, nhu cầu còn hạn chế, có ít có người mới thâm nhập

vào và độ cạnh tranh không cao Cần nhấn mạnh rằng trong cải tiến sản phẩm, cáchãng nỗ lực để làm cho sản phẩm của họ dẫn đạo được thị trường

Phát triển: Nhu cầu gia tăng, các hãng gia nhập vào ngành ngày càng tăng Giá có

xu hướng giảm vì sản phẩm và dịch vụ trở nên tiêu chuẩn hóa hơn và ít chú trọngvào cải tiến sản phẩm nữa

Trang 7

Trưởng thành: nhu cầu mới sẽ đưa đến nhu cầu thay thế Một sản phẩm/dịch vụ tiêu

chuẩn hóa, ví dụ như một thiết kế vượt trội, được tạo ra, cùng với đó, sự cải tiến sảnphẩm dẫn đến việc cải tiến quá trình Các hãng nỗ lực đạt được hiệu quả về chi phínhư tăng cường cạnh tranh về giá

Suy thoái: nhu cầu giảm, nhiều hãng rút ra hơn là vào Ngành bị thách thức bởi các

sản phẩm thay thế, và vòng đời mới của cải tiến sản phẩm và cải tiến quá trình bắtđầu lại từ đầu

Bảng 11.2 giải thích các hãng tập trung vào cải tiến sản phẩm trong giai đoạn mở đầu vàphát triển Một khi thiết kế đã đạt chuẩn, các công ty chuyển sang cải tiến quá trình

11.2.2 Sự đổi mới và lợi thế cạnh tranh

Trong nhiều ngành công nghiệp, đổi mới sản phẩm nghĩa là có thể thực hiện được việc đitrước đối thủ một bước và đạt được lợi thế cạnh tranh, dù là lợi thế cạnh tranh tạm thời Mô hìnhvòng đời cho ta thấy rằng trong bất kì sản phẩm đặc biệt hoặc thị trường dịch vụ nào, có thể cótầm quan trọng tương đối lớn hơn về sự đổi mới sản phẩm hoặc sự đổi mới quá trình tại một giaiđoạn bất kì Tại cùng giai đoạn, vì đổi mới sản phẩm là nguồn chính của sự khác biệt trong nhiềulĩnh vực và ngành công nghiệp, tầm quan trọng tương đối của đổi mới sản phẩm ở bất kì thịtrường đặc biệt nào phụ thuộc nhiều hơn vào nét đặc trưng riêng biêt của thị trường được quantâm Đổi mới sản phẩm được cho là điều ưu tiên hàng đầu của ngành công nghiệp thực phẩm ở

Mỹ, ví dụ công ty Heinz, công ty này đã tung ra trên 200 sản phẩm từ năm 2007 Công ty côngnhận tầm quan trọng của đổi mới trong việc tạo ra doanh thu mới, và hiện tại khoảng 11% củatổng doanh thu công ty xuất phát từ sản phẩm mới được giới thiệu trong 3 năm qua, con số phầntrăm này được mong sẽ tăng lên Sự hiện diện toàn cầu của công ty hàm ý rằng những cơ hội đổimới sản phẩm cũng phát sinh do thích nghi sản phẩm hiện tại với nhu cầu địa phương ở thịtrường địa lý mới Ví dụ, thành công của Heinz ở những thị trường châu Á (đặc biệt ở In-do-ne-xi-a) với nhãn hiệu nước tương ABC của mình là các công ty đã thêm một nắp chai mới cho chai

Trang 8

nước tương, và việc cho ra đời loại túi nhựa nhẹ hơn, xuất phát từ thực tế người Indonexiakhông hay đi mua hàng tạp hóa bằng xe ôtô.

Đổi mới sản phẩm là một phương tiện giá trị nhưng tạm thời trong việc tạo lợi thế cạnhtranh, đặc biệt ở nơi mà có rào cản đối với sự bắt chước thấp Từ ban đầu là một nhà sản xuất xeđạp chi phí thấp cho các thương hiệu hàng đầu khác như Schwinn của Mỹ, công ty Giant của ĐàiLoanbây giờ là một trong những nhà sản xuất xe đạp lớn nhất thế giới, sản xuất trung bình460.000 sản phẩm mỗi tháng Công ty cũng là một trong số ít những nhà sản xuất quy mô lớn cóthể đầu tư vào R&D và sản xuất khung và nĩa bằng các hợp kim công nghệ tinh vi và sợi carbon.Tuy nhiên, đổi mới sản phẩmchỉ cung cấp cho Gaint một lợi thế dựa trên thời gian hạn chế, vìkhông có rào cản gia nhập trong ngành công nghiệp hiệu quả và cạnh tranh mạnh mẽ từ các công

ty có xu hướng mua khung và nĩa của đối thủ làm thành phần để sử dụng trong xe đạp củamình.Vào cuối năm 2008, Giant tiết lộ rằng sắp phân phối một sáng kiến mới, được thiết kế đặcbiệt để thu hút người đi làm ở đô thị đó là một khung giảm xóc Công ty hướng vào việc giữ bímật cho các thiết kế trước khi tung ra vì họ nhận thức được chắc chắn sẽ bị sao chép trong vòngmột năm

Với tầm quan trọng của cải tiến trong việc đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh, có phảimột vài công ty đổi mới tốt hơn so với những công ty khác không? Các doanh nghiệp mới đượccho là những người sáng tạo mạnh mẽ Như trường hợp mở đầu chương, Google, được thành lậpchỉ trong năm 1998, đã đứng thứ hai về Chỉ số Đổi mới toàn cầu S&P của tạp chí BusinessWeek,tạp chí liệt kê top hai mươi lăm công ty sáng tạo nhất trên khắp thế giới Ngược lại, các công ty

đã thành lập thường ít tự do đổi mới theo cách mà họ muốn Với việc đổi mới là "gây rối" vàkhông xây dựng trên công nghệ hiện có, các công ty đã thành lập ít có khả năng để cống hiến cácnguồn lực tài chính và nhân lực cần thiết để phát triển các cơ hội liên quan đến những công nghệđột phá mới Trong thực tế, điều này đã được biết đến như là tiến thoái lưỡng nan của sáng tạo.Trong một nghiên cứu về sự phát triển của ngành công nghiệp ổ đĩa, người ta thấy rằng ở mỗigiai đoạn quan trọng của đổi mới sản phẩm (và tiến bộ công nghệ đột phá), những công ty thànhcông ít nhất là các công ty thành lập mà còn lo ngại về nguy cơ ban đầu của lợi nhuận thấp và xa

lạ với khách hàng hiện tại (theo Christensen 1997)

Nhìn chung, các doanh nghiệp dù mới hoặc đã thành lập đổi mới tốt hay không phụ thuộcvào hoàn cảnh cụ thể Một nghiên cứu ngành công nghiệp cho thấy rằng sự đổi mới sản phẩm tạithời điểm gia nhập thị trường mới có xu hướng xây dựng trên kiến thức mới hơn là kiến thứchiện có trong nền công nghiệp, họ gia nhập như là những người sáng tạo và người tiên phongcủa thị trường đó.Tuy nhiên theo thời gian,việc đổi mới được xem như một đường cong pháttriển tăng dần Do đó, trong phần mở đầu và giai đoạn phát triển của chu kỳ sống, hầu hết các cảitiến xuất phát từ các công ty mới thành lập nhiều hơn là từ các công ty đã thành lập, ngược lạicàng về cuối vòng đời hầu hết các cải tiến và thông tin cũng như kinh nghiệm được tích lũy từcác công ty hiện Do đó, các doanh nghiệp mới không nhất thiết phải đổi mới tốt hơn so với cácdoanh nghiệp đã thành lập, nhưng nghiên cứu cho thấy rằng các kiểu khác nhau của doanhnghiệp mới phù hợp với các dạng đặc trưng của sự đổi mới (theo Audretsch 1991)

Trang 9

Công ty đã thành lập có thể có một lợi thế tương đối so với các doanh nghiệp mới khi đổimới công nghệ liên tục (và không gây rối) liên quan đến sự tiến bộ theo một con đường côngnghệ (theo Dosi 1582) Tương tự như vậy, các doanh nghiệp đã thành lập có thể có một lợi thếtương đối khi đổi mới để cải tiến năng lực, xây dựng trên nguồn lực và khả năng hiện có.

Ngược lại, các doanh nghiệp mới có vị trí tốt hơn để tận dụng lợi thế của đổi mới côngnghệ ở dạng “gây rối” và các dạng khác của sự đổi mới bằng năng lực phá hủy, tức là nơi mà khảnăng hiện có không còn giữ được giá trị (theo Anderson và Tushman 1991) Nguồn gốc của cácngành công nghiệp truyền hình Mỹ cho thấy rằng các công ty thành công nhất bước chân vàongành công nghiệp này là những đài phát thanh, tức là, các doanh nghiệp mà được lợi từ cả kinhnghiệm có liên quan lẫn khả năng bổ trợ(theo Klepper và Simons 2000) Tương tự như vậy, sựphát triển của thị trường trực tuyến mới vào cuối những năm 1990 cho thấy sự thành công tươngđối của những người mới hoặc người đã thành lập chủ yếu liên quan đến việc người đó có khảnăng phù hợp để cạnh tranh và, do đó liệu đổi mới là cải tiến năng lực hay năng lực phá hủy Ví

dụ, những công ty đã thành lập là một trong số những nhà thành công nhất tại các thị trườnghàng tạp hóa trực tuyến Cho rằng Internet chỉ chiếm kênh bán hàng hoặc đặt hàng, nguồn lựchiện có và khả năng sẽ bổ sung cho mô hình kinh doanh mới từ khi hàng hóa được bán yêu cầugiao hàng và tận dụng cơ sở hạ tầng của công ty và chuỗi giá trị Ngược lại, nhiều đổi mới thànhcông đã được tiên phong bởi các công ty mới thành lập như Google, công ty phát triển một cáchnhanh hơn, chính xác hơn và hoàn toàn mới của việc tìm kiếm trên World Wide Web với một môhình kinh doanh mới phù hợp

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rào cản chính của sự đổi mới không phải là thiếukhả năng, mà là sự bất lực của các nhà quản lý để nghĩ tới những thay đổi cần thiết, hay còn gọi

là sức ỳ nhận thức Mặc dù sản xuất phim về cơ bản là một ngành kinh doanh hóa chất, tuynhiên, cả Kodak và Polaroid- các nhà sản xuất máy ảnh Mỹ- có thể phát triển khả năng côngnghệ để gia nhập và cạnh tranh trên thị trường hình ảnh kỹ thuật số Kodak đã trải qua gần mườinăm trước khi hoàn tất quá trình chuyển đổi thành hình ảnh kỹ thuật số trước khi nó công bố vàocuối năm 2003 rằng công ty không còn đầu tư vào các doanh nghiệp sản xuất phim của mình và

nó sẽ đầu tư 3 tỷ USD vào các công nghệ kỹ thuật số đang nổi lên Giám đốc điều hành, DanielCarp, cho rằng sự sụt giảm liên tục trong thị trường phim truyền thống làm cho Kodak khôngcòn cách nào để cắt giảm cổ tức 72% và đổ nguồn lực của mình vào kỹ thuật số Trong khiKodak đã theo một chiến lược kép được một thời gian, thách thức đến hạn về một nền văn hóa

kỹ thuật số sẽ khó khăn hơn cho Polaroid Quản lý cấp cao của Polaroid đấu tranh đến cùng vớiviệc nghĩ ra một mô hình kinh doanh mới trong đó nêu bật tiềm năng doanh thu bán hàng phầncứng và lật ngược những tiền đề cơ bản của mô hình truyền thống của họ mà tập trung vào việcbán máy ảnh ở một mức giá giảm để kích thích nhu cầu về phim (theo Tripsas và Gavetti 2000)

Nội dung chính

Đổi mới cải tiến năng lực là ở nguồn lực hiện có và khả năng giữ giá trị Đổi mới nănglực phá hủy là ở các giá trị của nguồn lực hiện có và khả năng được giảm bớt Công ty đã thành

Trang 10

lập có thể có một lợi thế tương đối hơn công ty mới bắt đầu liên quan đến sự đổi mới đó là cảitiến năng lực chứ không phải đổi mới ở năng lực phá hủy.

11.3 Cạnh tranh trên thị trường công nghệ

Chỉ riêng đổi mới thôi thì không đảm bảo thành công Tầm quan trọng đạt được một sựdẫn đầu sớm trong hầu hết các thị trường công nghệ cho thấy có động lực cạnh tranh mà là mộtđặc trưng của các loại thị trường này Cụ thể, tác động của hiệu ứng mạng lưới là đặc biệt quantrọng

Trường hợp hiệu ứng mạng lưới tồn tại, sự hài lòng của người sử dụng từ sự tiêu thụ mộthàng hóa tăng với lượng người dùng khác tiêu thụ hàng hóa tương tự (theo Katz và Shapiro1985) Hiệu ứng mạng lưới có thể được sản xuất trực tiếp, chẳng hạn như với mạng vật lý nhưđiện thoại và đường sắt, hoặc chúng có thể được sản xuất gián tiếp, chẳng hạn như người muamột máy tính cá nhân có quan tâm đến lượng phần mềm tương thích sẵn Kỳ vọng về sự thànhcông giả định một tầm quan trọng, giúp giải thích tại sao thị trường chịu hiệu ứng mạng lưới là

“say rượu”, tức là dẫn đạo sớm đạt được bởi một sản phẩm hoặc dịch vụ là tự củng cố Hãytưởng tượng tập trung vào một một đối tượng nghiêm chỉnh - điểm mà tại đó động lực của đốitượng không thể bị dừng lại và đối tượng rơi hoặc lật ngược

Nội dung chính

Hiệu ứng mạng tồn tại nơi mà sự hài lòng của một người sử dụng có nguồn gốc từ sự tiêuthụ một hàng hóa tăng với số lượng đại lý khác tiêu thụ hàng hóa

Hiệu ứng mạng lưới cũng tồn tại trong thị trường phụ thuộc vào lợi nhuận tăng, và lợi thế

có được từ dẫn đạo về số lượng khách hàng (hoặc cơ sở được thiết lập) đạt đến một mức mà tựcủng cố hiệu quả và “không thể ngăn cản” Trong hầu hết các thị trường, ngay cả những thịtrường phụ thuộc vào tính kinh tế theo quy mô, sẽ có một thời điểm mà sự mở rộng hơn của sảnphẩm dẫn đến chi phí cho mỗi đơn vị sản lượng tăng hoặc giảm dần theo quy mô Tuy nhiên,Arthur (1996) nhận ra rằng lợi nhuận tăng theo quy mô là một đặc trưng của các ngành côngnghiệp đó, đặc biệt là sản phẩm dựa trên thông tin chẳng hạn như phần mềm máy tính, nơi mà vịtrí đã được đảo ngược Trong trường hợp này, hầu hết các chi phí sẽ phát sinh trong sản xuất cácđơn vị đầu tiên hàng hóa, trong khi chi phí biên của sản phẩm có xu hướng về không (xem chúthích 11.3)

Chú thích 11.3Hiệu ứng mạng lưới là mạnh nhất trong ngành công nghiệpBiết rằng, một sản phẩm đạt được việc dẫn đầu khi có thể tự gia cố nó, sự tồn tại của hiệuứng mạng lưới có thể tạo ra một tiêu chuẩn thống nhất chiếm lĩnh thị trường Một trường hợpđiển hình là VHS v Betamax - một công ty điện tử nhỏ của Nhật Bản, thắng trận chiến thiết lậpcác tiêu chuẩn công nghệ ghi âm video, hơn cả Sony – công ty sở hữu công nghệ Betamax tiên

Trang 11

phong được thừa nhận rộng rãi Dù với thiết kế tương xứng, sự thống trị tiếp tục của bàn phímQWERTY cho thấy những khó khăn trong chuyển đổi sớm hơn các tiêu chuẩn chiếm ưu thế.

Các tiêu chuẩn ganh đua gần đây nhất là giữa những hãng điện tử khổng lồ Nhật Bản,Toshiba và Sony Vào đầu năm 2008, có thông báo rằng công nghệ Blu-ray của Sony sẽ là chiếnthắng với định dạng HD-DVD của Toshiba Tuy nhiên, đó là chưa ra mắt của bảng điều khiểngame của Sony, PlayStation 3 (PS3) vào cuối năm 2006 đã dẫn đến sự thống trị của Sony, nhưngđúng hơn, là tác động từ ngành công nghiệp truyền hình Cuộc chiến hai năm giữa hai công ty làgần như xuyên suốt, vì HD-DVD đã được hỗ trợ bởi các hãng phim Hollywood Paramount vàUniversal Studios và Blu-ray đã được hỗ trợ bởi Walt Disney, 20th Century Fox, và Metro-Goldwyn - Mayer Warner Brothers- ông chủ lớn nhất trong thị trường video gia đình- cuối cùng

đã bỏ hỗ trợcủa Blu-ray, chấm dứt suy đoán về kết quả cuối cùng.Ngay sau khi công bố, các nhàbán lẻ lớn ở Mỹ, bao gồm Wal-Mart, Target, Best Buy, và Blockbuster, thông báo rằng họ sẽ chỉbán máy quay đĩa Blu-ray Những người thua cuộc trong trận chiến này bao gồm 1 triệu kháchhàng hoặc hơn, những người đã mua phần cứng tương thích HD-DVD và, tất nhiên, có cảToshiba- người đã đầu tư hàng triệu trong việc phát triển công nghệ.Sony đã được thiết lập để lợinhuận, không chỉ từ doanh số bán hàng của các máy quay đĩa Blu-ray của nó, quan trọng hơn là

từ các khoản thanh toán tiền bản quyền từ các nhà sản xuất khác sử dụng công nghệ Blu-raytrong hệ thống của họ

Khả năng thiết lập các tiêu chuẩn là rất quan trọng trong bất kì cuộc chiến về tiêu chuẩn.Shapiro và Varian (1999) lập luận rằng người chiến thắng có thể sẽ là một người với chiến lượctốt nhất chứ không phải là công nghệ tốt nhất Còn tùy vào công nghệ cũ có tương thích với côngnghệ mới không, cũng như tương thích của công nghệ của một hãng với công nghệ của đốithủ.Đôi khi, hợp tác tạo ra kết quả tốt nhất, như trong trường hợp của Sony và Philips đã hợp táctrong cấp phép bằng sáng chế đĩa CD của mình để thiết lập công nghệ đĩa CD Bảy yếu tốchínhrất quan trọng trong một trận chiến tiêu chuẩn được tóm tắt trong hình 11.4 Không có công thứcđơn giản được sử dụng để giành chiến thắng một trận chiến tiêu chuẩn, vì không phải tất cả cáctrận chiến tiêu chuẩn đều giống nhau Trong khi lợi thế người tiên phong có ý nghĩa, nhưng cuốicùng có thể bị khắc phục bằng một công nghệ cao nếu hiệu suất của các sản phẩm công nghệ caođáng kể và nếu người sử dụng của sản phẩm hiện tại được thuyết phục sử dụng (và từ đó họccách sử dụng) nó Lịch sử của ngành công nghiệp trò chơi điện tử là một ví dụ rõ ràng về điềunày, các công ty khác nhau từ Atari đến Nintendo cho đến Sony có những lúc riêng biệt thống trịdoanh số bán hàng của máy chơi game

Từ một quan điểm dựa tài nguyên (xem Chương 5), các nguồn tài nguyên giá trịthường là những thứ không thể bắt chước hoặc không dễ cho đối thủ cạnh tranh bắt chước Điềunày càng thêm phức tạp bởi sự tồn tại của nguyên nhân không rõ, trong đó đề cập đến sự thiếuchắc chắn về việc liệu và làm thế nào một số nguồn lực và khả năng đóng góp vào lợi thế cạnhtranh Do đó, nếu trọng tâm của đổi mới là một quá trình hoặc dịch vụ, sự tồn tại của nguyênnhân không rõ có thể bảo vệ một công ty và hoạt động như một rào cản kiến thức Các công tycũng có thể được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ (IPR) như bằng sáng chế, bản quyền.Trong

Trang 12

thực tế, việc cấp bằng sáng chế cơ bản là phương tiện qua đó chính phủ cấp một phần thưởngcho sự đổi mới và đảm bảo rằng những người đã phải chịu chi phí đổi mới được thưởng chonhững nỗ lực của họ Sở hữu trí tuệ thường được bảo vệ thông qua việc sử dụng các bằng sángchế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá (xem Bảng 11.5)

Trang 13

Phụ mục 11.4 Bảy điều chính trong việc đạt được tiêu chuẩn Wars

 Kiểm soát khách hàng hoặc những người sử dụng sản phẩm Khách hàng hay các nhà cung cấp

công nghệ cũng có thể kiểm soát tài sản chính, ví dụ, như trong các trường hợp gần đây của công nghệ độ nét cao và tác động mang tính quyết định của Warner vào trận chiến tiêu chuẩn, được cho là ở vị trí thống trị trong thị trường video gia đình

 Quyền sở hữu trí tuệ Các công ty có bằng sáng

chế và bản quyền kiểm soát công nghệ hoặc các giao diện mới có giá trị có một vị thế vững mạnh

 Khả năng đổi mới Ngày nay ngoài việc sở hữu

trí tuệ đang có, khả năng tạo sự mở rộng mang tinh độc quyền trong tương lai cũng làm nên một vị trí vững chắc

 Lợi thế của người đi đầu Điều này có thể tạo ra

tất cả mọi khác biệt, đặc biệt là đối với nơi các hiệu ứng mạng là hiển nhiên

 Khả năng sản xuất Lợi thế chi phí có thể giúp

bạn tồn tại trong cuộc chiến tranh tiêu chuẩn, hoặc phần nổi trội khi cạnh tranh để bán một sản phẩm được tiêu chuẩn hóa

 Tài sản hoặc kĩ năng bổ sung Chấp nhận sản

phẩm mới sẽ kích thích doanh số bán hàng của các sản phẩm khác mà bạn sản xuất.

 Thương hiệu và uy tín Uy tín và thương hiệu có giá trị trên thị trường Mặc dù sự mong đợi là quan

trọng từ khi bạn phải thuyết phục người tiêu dùng rằng bạn sẽ giành chiến thắng.

Source: C Shaprio and H.R Varian (1999) "The art of

standards wars" California Management Review 41(2):8-32

Trang 14

Công ty có thể cấp quyền sử dụng tài sản trí tuệ của họ (đối với bằng sáng chế và nhãnhiệu hàng hóa) hoặc công nghệ của họ trong những điều kiện cụ thể Bằng sáng chế có tầm quantrọng đối với việc bảo vệ tài sản tri thức có giá trị của công ty, nơi bảo vệ vốn tri thức của một tổchức được coi là một phần tài sản vô hình của tổ chức Tuy nhiên,nghiên cứu khảo sát cho thấy,hầu hết các sáng chế không được cấp sáng chế, trung bình thì các công ty châu Âu lớn áp dụngcho các bằng sáng chế chỉ có 36% của sự đổi mới sản phẩm và 25% của quá trình đổi mới, mặc

dù tỉ lệ này đã tăng lên 79% đối với các công ty dược phẩm (Bessen and Meurer 2008) Bằngsáng chế có tầm quan trọng lớn hơn trong những ngành, và lĩnh vực mà chi phí cho sự đổi mới làđáng kể, chẳng hạn như trong ngành công nghiệp dược phẩm Trung tâm Tufts về việc nghiêncứu phát triển thuốc, một phần của các trường đại học Tufts ở Mỹ, báo cáo rằng chi phí trungbình để phát triển và mang lại một loại thuốc mới ra thị trường là 801 triệu đô la Mỹ vào năm2001

Bằng sáng chế không chỉ được sử dụng rộng rãi đối với các sản phẩm, mà gần đây còn

có sự phát triển của các bằng sáng chế đối với phương thức kinh doanh hay quy trình của một tổchức, chẳng hạn như quá trình đặt hàng với "một cú nhấp chuột" của nhà bán sách điện tử,Amazon tương tự như vậy, nhà đấu giá trực tuyến, Priceline, có một bằng sáng chế về phươngpháp đấu giá Hà Lan trong việc bán vé trực tuyến Chỉ tính riêng trong năm 2007, ở Mỹ có gần12.000 bằng sáng chế về quy trình kinh doanh đã được đệ trình Văn phòng cấp bằng sáng chế vàthương hiệu của Mỹ được cho là muốn cắt giảm các bằng sáng chế và thậm chí là các công tynhư IBM và Microsoft, các công ty có rất nhiều bằng sáng chế này, cũng thúc giục trong việcgiảm các bằng sáng chế mang tính "phương pháp thuần túy", ủng hộ các bằng sáng chế phátminh có sử dụng máy móc để sản xuất ra vật chất hữu hình

Bằng sáng chế thay cho bản quyền cũng ngày càng sử dụng đối với quyền sở hữu sảnphẩm liên quan đến phần mềm Lợi thế của bản quyền là chính bản thân nó là một quy luật tựđộng và do đó không phải chịu bất kỳ sự trì hoãn nào Ngược lại, bằng sáng chế phần mềm

Phụ mục 11.5 Các loại hình phổ biến của sở hữu trí tuệ

 Bằng sáng chế Đây là sự độc quyền cho một sản

phẩm, quy trình, chất liệu hoặc thiết kế mới và hữu ích

 Bản quyền Quyền độc quyền về sản xuất, xuất

bản, hoặc bán của những người tạo nên các nghệ thuật, văn học, kịch, hay âm nhạc

 Nhãn hiệu hàng hóa Đó là những từ ngữ, ký

hiệu, hoặc nhãn hiệu khác được sử dụng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ do một công ty tạo nên.

Trang 15

thường không được công khai cho đến mười hai hay mười tám tháng sau khi ứng dụng đã đượcthực hiện, điều này có thể tạo ra rào cản đối với sự đổi mới Tuy nhiên, Tòa án phúc thẩm củaAnh vào cuối năm 2008 hướng dẫn rằng phần mềm nên nhận được sự bảo vệ bằng sáng chế rộnglớn hơn, và đặc biệt, với phần mềm phức tạp như các chương trình được thiết kế để giúp chođiện thoại di động và máy tính làm việc nhanh hơn có thể được cấp bằng sáng chế ở Anh.

Có một nghịch lý là sự tăng lên về nhu cầu sở hữu những ý tưởng hoặc có được quyền

sử dụng rẻ hơn những ý tưởng, điều này làm khó khăn hơn việc thực thi bảo vệ các ý tưởng.Toàn cầu hóa đã làm cho việc bảo vệ sở hữu trí tuệ dễ dàng hơn trong việc lan rộng sang cácnước trên thế giới, nơi mà sự bảo vệ còn yếu đối với sở hữu trí tuệ (mặc dù tình trạng này đangbắt đầu thay đổi), trong khi sự thay đổi công nghệ đã tạo sự khó khăn hơn trong việc bảo vệ ýtưởng

Khó khăn trong việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, đối với sự phát triển của công nghệ mới,được minh họa bằng các ngành công nghiệp âm nhạc với thách thức đối với mô hình kinh doanh

và doanh thu hiện tại Một ví dụ ở Anh, doanh số bán đĩa CD nhạc kiểu truyền thống đang suygiảm, có ít nhà bán lẻ độc lập, và trong năm 2007, nhà bán lẻ âm nhạc lớn nhất, HMV, đã thua

lỗ Điều này không hoàn toàn có nghĩa là có sự suy giảm chung trong việc mua nhạc Từ quanđiểm của khách hàng, chưa bao giờ có nhiều lựa chọn hơn với việc sử dụng các công nghệ băngthông rộng tạo điều kiện cho tải nhạc qua Internet

Đổi mới công nghệ mới đã tạo ra một môi trường và kênh phân phối mới cho âm nhạcđiều này có khả năng phá bỏ các nhà bán lẻ truyền thống Từ góc độ sở hữu trí tuệ, sự xuất hiệncủa công nghệ chia sẻ tập tin ngang hàng (P2P) - của Napster.com năm 1999 là thách thứcnghiêm trọng đầu tiên cho ngành công nghiệp, khi người dùng chia sẻ các tập tin nhạc với nhau,trực tiếp vi phạm luật bản quyền Sau khi đóng cửa Napster vào năm 2001 bởi phán quyết củapháp luật, công ty đã được tái sinh vào năm 2003 dưới hình thức Napster 2.0, trả phí hàng tháng

để được tải - tương tự như việc trả tiền khi tải của các dịch vụ khác, chẳng hạn như iTunes củacông ty máy tính Apple của Mỹ

Trong khi các nhà truyền thống trong ngành công nghiệp âm nhạc chậm chạp trong việcphản ứng với các mô hình thay đổi được thực hiện bởi khách hàng, họ đang dần nhận ra sự cầnthiết phải thích ứng để tồn tại và ngăn chặn trước các công ty như Apple thống trị doanh số bánnhạc trực tuyến Hợp tác là một chiến lược, được thể hiện qua các công ty liên doanh năm 2008,Myspace Music, giữa ba nhãn hiệu âm nhạc chính (Warner Music Group, Sony BMG, vàUniversal Music Group) và các trang web mạng xã hội, Myspace Các trang web cho phép cácthành viên của Myspace nghe nhạc và xem video trực tuyến miễn phí Công ty liên doanh nhằmmục đích tạo ra doanh thu từ bán hàng hóa, vé buổi hòa nhạc, và doanh thu từ việc tải nhạc, và,tất nhiên là từ doanh thu quảng cáo

Trong nhiều ngành, có rất ít hoặc không có quyền sở hữu và đổi mới chưa phải là mộtnguồn quan trọng của lợi thế cạnh tranh trong trường hợp nhà sản xuất xe đạp, Giant, chúng ta

Trang 16

thấy cách dễ dàng là đối thủ cạnh tranh sao chép thiết kế và thiết kế đối chiếu thành phần của nó.Trong ngành đồ nội thất, thiết kế sản phẩm thường là một yếu tố quyết định quan trọng của thànhcông thương mại của sản phẩm, với các công ty tự tạo sự khác biệt thông qua việc thiết lập danhtiếng cho các thiết kế đổi mới Trong một nghiên cứu của các công ty nội thất ở Hà Lan và Ý,Gemser và Wijnberg (2001) phát hiện ra rằng các công ty tin rằng một mức độ lớn về xử phạt uytin sẽ ngăn chặn việc sao chép thiết kế của các đối thủ cạnh tranh của họ và để nâng cao giá trị sởhữu Mặc dù thực tế rằng Hà Lan là một ví dụ về chế độ sở hữu trí tuệ mạnh mẽ và Italia là một

ví dụ của một chế độ sở hữu trí tuệ kém, thì các doanh nghiệp ở cả hai nước đều nhấn mạnh tầmquan trọng của việc bảo vệ danh tiếng cho sự đổi mới, hành động này tạo ra rào cản đối với sựbắt chước

Tuy nhiên, việc sử dụng bằng sáng chế ngày càng nhiều đang là 1 xu thế toàn cầu quantrong Theo Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế Giới, các hồ sơ về các đơn xin cấp bằng sáng chế trêntoàn thế giới đã tăng gần 5% mỗi năm kể từ năm 1995, với hơn 1,76 triệu đơn trong năm 2006

Từ năm 2005 đến năm 2006, số hồ sơ tăng đáng kể nhất đến từ Trung Quốc, Đại Hàn Dân Quốc,

và của Mỹ với tỉ lệ tăng tương ứng là 32,1%, 6,6% và 6,7% Cho đến nay, nhiều công việc đượcthực hiện tại các thị trường mới nổi là do các công ty dịch vụ, nghĩa là những công ty đó bándịch vụ phần mềm chứ không phải là sản phẩm phần mềm, những công ty này lo ngại rằng việcgửi các bằng sáng chế của chính họ sẽ gây khó chịu cho khách hàng của họ Như chúng ta sẽthấy trong tình huống liên quan của chương này, quan điểm của những thị trường mới nổi đối vớinhững bằng sáng chế đã thay đổi khi họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nghiên cứu vàphát triển có ý nghĩa quốc tế Trong khi Trung Quốc là một quốc gia được biết đến với các hành

vi xâm phạm sở hữu trí tuệ, nhưng số lượng các ứng dụng được gửi tới Cục sở hửu trí tuệ TrungQuốc bởi các nhà phát minh trong nước vẫn tăng gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2003 HuawziTechnologies, một nhà sản xuất thiết bị truyền thông người Trung Quốc, tăng gần gấp đôi hồ sơbằng sáng chế mỗi năm trong những năm 1990, khoảng 3000 bằng sáng chế mỗi năm Các công

ty tại các thị trường mới nổi đang nhận ra rằng, nếu họ muốn vươn lên những tầm cao công nghệmới, họ cần phải phát triển tài sản trí tuệ của mình thay vì trả tiền cho các bằng sáng chế cáccông ty khác

Ngày đăng: 03/05/2016, 23:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 11.1. Hướng tư duy t hiết kế cho việc cải tiến - Tiểu luận môn quản trị chiến lược toàn cầu quản trị sự đổi mới và trí tuệ toàn cầu
Bảng 11.1. Hướng tư duy t hiết kế cho việc cải tiến (Trang 6)
Bảng 11.2 giải thích các hãng tập trung vào cải tiến sản phẩm trong giai đoạn mở đầu và phát triển - Tiểu luận môn quản trị chiến lược toàn cầu quản trị sự đổi mới và trí tuệ toàn cầu
Bảng 11.2 giải thích các hãng tập trung vào cải tiến sản phẩm trong giai đoạn mở đầu và phát triển (Trang 7)
Hình 11.8 Phương Pháp Tiếp Cận Để Quản Trị Mạng Lưới R&D Toàn Cầu các trung tâm R&D theo khu vực - Tiểu luận môn quản trị chiến lược toàn cầu quản trị sự đổi mới và trí tuệ toàn cầu
Hình 11.8 Phương Pháp Tiếp Cận Để Quản Trị Mạng Lưới R&D Toàn Cầu các trung tâm R&D theo khu vực (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w