Môi trường kinh doanh bên ngoài Môi trường kinh doanh bên ngoài của 1 công ty đa quốc gia có thể mang đến cơhội và cả thách thức cho công ty đó, vì thế nhà quản trị phải đặc biệt lưu tâm
Trang 1Danh sách nhóm:
1/ Trần Thị Phúc Lớp 38k01-CT22/ Ngô Thị Tuyết Trâm Lớp 38k01-CT23/ Cao Thị Thu Hà Lớp 37k01.24/ Nguyễn Thị Quế Ngọc Lớp 38k01-CT2
Sau khi đọc chương sách này thì các bạn sẽ có khả năng:
- Hiểu ý nghĩa của môi trường kinh doanh bên ngoài đối với chiến lược của các
công ty đa quốc gia
- Đánh giá sự ảnh hưởng của các môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và công
nghệ đến chiến lược toàn cầu và quốc tế hóa
- Thực hành được công cụ phân tích môi trường chính trị, kinh tế, xã hội và công
nghệ (PEST) cho các công ty đa quốc gia
- Tư vấn cho các công ty đa quốc gia về việc chọn lựa thị trường
- Áp dụng mô hình kim cương của Michael Porter cho nền kinh tế
Hình 2.1 Các thành tố của công cụ phân tích môi trường
QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU.
LỚP QTCLTC_1.
BÀI DỊCH: CHƯƠNG 2.
Trang 2Môi trường vĩ mô
Trong hầu hết các thị trường môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố chính trị,kinh tế, xã hội và công nghệ (PEST), cụ thể trong chương này sẽ đề cập về những vẫn
đề trên Những yếu tố này có thể là đặc trưng cho một nền kinh tế hoặc một công ty(ví dụ như nguyên tắc của WTO áp dụng cho công ty Embraer), bao quát hơn, nó cóthể ảnh hưởng rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau (chẳng hạn sự kiện ngày 11tháng 9) Môi trường ngành công nghiệp này bao gồm tất cả các yếu tố xuất phát từhoạt động của công ty với nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh và những đốitượng trực tiếp ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh trong ngành của công ty (xemchương 3) Môi trường bên trong doanh nghiệp bao gồm tất cả các nguồn lực và nănglực công ty có được và nó ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của doanh nghiệp (xemchương 4) Công cụ nhiều thành phần trong môi trường kinh doanh này cho phépdoanh nghiệp hiểu rõ trong trường hợp nào chiến lược cần phải phát triển và hoànthiện
Nội dung chính: Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các yếu tố bên trong và
bên ngoài công ty, chúng ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của công ty Môi trườngkinh doanh có thể được phân thành môi trường vĩ mô bên ngoài, môi trường ngànhbên ngoài và yếu tố bên trong doanh nghiệp
2.2 Môi trường kinh doanh bên ngoài
Môi trường kinh doanh bên ngoài của 1 công ty đa quốc gia có thể mang đến cơhội và cả thách thức cho công ty đó, vì thế nhà quản trị phải đặc biệt lưu tâm đến vấn
đề này Cơ hội liên quan đến những sự kiện hay quá trình trong môi trường kinhdoanh bên ngoài mà có thể giúp công ty có được lợi thế cạnh tranh Mối đe dọa thì lạinhắc đến những sự kiện hay quá trình ngoài môi trường cản trở việc đạt được lợi thếnày của họ
2.2.1 Nhận diện cơ hội và thách thức
Khái niệm môi trường kinh doanh bên ngoài của mỗi nhà quản trị khác nhau ởcác công ty khác nhau rất đa dạng Thí dụ như Embraer nhận thấy cơ hội lớn từ sựtăng trưởng của thị trường Trung Quốc sớm hơn nhiều so với đối thủ cạnh tranh làcông ty Bombardier Vào năm 2002, Embaraer bắt đầu liên doanh với doanh nghiệp
Ngành
Cổ đông
Công ty
Trang 3sản xuất máy bay Harbin, nhà sản xuất máy bay lớn thứ 4 của Trung Quốc, và từ đó
có thể hưởng lợi từ chi phí nhân công thấp cũng như sự tăng trưởng về nhu cầu máybay ở đất nước này Trước đó Bombardier đã từ chối liên doanh với Harbin vì công tynày không nhận ra được cơ hội của thị trường Trung Hoa
Một công ty đa quốc gia đôi khi nhận ra được mối đe dọa trong khi công ty khácthì cho rằng nó chính là cơ hội Khái niệm về môi trường kinh doanh bên ngoài là rấtquan trọng bởi lẽ việc xác định một sự kiện là cơ hội hay đe dọa ảnh hưởng đến chiếnlược của công ty nhằm đáp ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh bên ngoài(theo Garg và cộng sự vào năm 2003, Julian và Ofori-Dankwa năm 2008)
Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng công ty càng có nhiều thông tin thì khả năng họ
có được cơ hội là càng nhiều Hệ thống thu thập thông tin từ nhiều nguồn cho phépcông ty thấy lạc quan hơn khi có sự thay đổi của môi trường (theo Eisehardt năm
1989, Kuvaas 2002) Ngoài ra, công ty càng có khả năng nhận định nhiều cơ hội thì
họ càng có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường toàn cầu (theo Denison cùngcộng sự năm 1996)
Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy rằng các nhà quản lí của nhiều quốc gia khácnhau diễn giải cái gì là mối đe dọa và cái gì là cơ hội khác nhau Nhà quản lí ở các nềnvăn hóa có xu hướng né tránh rủi ro, như Nhật Bản và Tây Ban Nha, thường quy kếtnhững sự việc bên ngoài là sự đe dọa Khác với nhà quản trị ở các nền văn hóa sẵnsàng đón nhận rủi ro, như Mỹ và Anh thì họ có xu hướng xem đó là những cơ hội(Sallivan và Nonaka 1998; Barr và Glynn 2004)
2.2.2 Sự phù hợp chiến lược và hoạt động của công ty
Trong nhiều trường hợp, môi trường kinh doanh bên ngoài không hề dễ kiểmsoát hay bị thay đổi bở các công ty đa quốc gia (dù cho chương 4 nói rằng đôi lúc điều
đó có thể xảy ra) Các công ty đa quốc gia thường khó kiểm soát được sự thay đổinhân khẩu, yếu tố văn hóa hay chính sách của chính phủ, vì thế họ cần tìm cách đểcông ty thích nghi với môi trường Nhiệm vụ này của người ra quyết định nhằm pháttriển chiến lược dựa trên những gì công ty đa quốc gia có thể khai thác từ cơ hội vàxoay chuyển mối đe dọa từ môi trường Sau đó chiến lược thành công được là nhờ kếthợp nguồn lực với quá trình hoạt động của công ty trong môi trường đó – điều này cònđược gọi là “sự phù hợp chiến lược” Những tổ chức mà “sự phù hợp chiến lược” hoạtđộng rất kém có thể sẽ nhận thất bại (Galbraith và Kazanjian 1986)
Một tổ chức phải có được sự phù hợp chiến lược giữa môi trường vĩ mô và môitrường ngành Trong chương này, chúng tôi chỉ nói đến môi trường vĩ mô Nhưngchúng tôi muốn nhắc nhở rằng môi trường vĩ mô nên được để tâm để biết nó có ảnhhưởng đến môi trường ngành và đến công ty hay không Ví dụ như một chính sáchcủa chính phủ sẽ là mối quan tâm của các bạn nếu nó ảnh hưởng đến ngành và đếnchính công ty của các bạn Các nghiên cứu cho thấy rằng việc chọn lọc thông tin từbên ngoài (nghĩa là thu thập dữ liệu về môi trường kinh doanh bên ngoài) sẽ tăng khảnăng của công ty (theo Daft và cộng sự 1988, Garg và cộng sự 2003) Nói cách kháccác nhà quản trị phải tập trung vào những gì họ nhận thấy là tất cả thông tin quantrọng có sẵn và rất cần thiết, bao gồm đủ loại thông tin có thể Vì thế, khả năng nhậnbiết chính xác các nhân tố của môi trường vĩ mô, thấu hiểu bản chất và thích nghi vớiphương thức sản xuất và hoạt động của nhà quản trị với nhu cầu của môi trường kinhdoanh sẽ giúp công ty thành công hay nhận thất bại
Trang 4Nghiên cứu cho biết việc tìm hiểu môi trường vĩ mô đặc biệt có thể giúp doanhnghiệp hoạt động hiệu quả trong môi trường kinh doanh năng động, tức là khi môitrường kinh doanh bên ngoài biến động mạnh (Garg và cộng sự 2003) Chính vì thế,việc tìm hiểu môi trường vĩ mô không quan trọng trong môi trường kinh doanh ổnđịnh như đất nước Đan Mạch và các quốc gia phía nam Châu Âu, nhưng đặc biệt quantrọng đối với môi trường năng động như Trung quốc và một số quốc gia nền kinh tếđang phát triển Một cách thức phổ biến để khám phá môi trường vĩ mô là nhờ vàocông cụ phân tích các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ (PEST).
Nội dung chính: Sự phù hợp chiến lược nói về sự liên kết giữa nguồn lực vànhững hoạt động của một công ty trong môi trường mà nó tồn tại Các tổ chức không
có sự phù hợp chiến lược có thể sẽ nhận thất bại
2.3 Phân tích PEST
Nhà quản trị có thể soát xét môi trường bên ngoài theo hệ thống, tức là nghiêncứu tất cả các cơ hội và đe dọa chính yếu mà công ty đối mặt Mục tiêu của việc soátxét này là để lập danh sách các kiểu nguồn lực khác nhau,nó có thể là cơ hội nhưngcũng có thể là đe dọa đối với công ty Tuy nhiên phân tích môi trường vĩ mô thực sựkhông hề dễ dàng vì những lí do sau:
- Môi trường vĩ mô cực kì phức tạp, nó tác động đa chiều và tiềm ẩn đối vớicông ty
- Môi trường vĩ mô luôn luôn thay đổi, cần thiết phải phân tích các nhân tố PESTmỗi ngày và còn phải dự đoán các nhân tố PEST cho tương lai
- Mỗi quyết định dịch chuyển tới một môi trường chính trị, kinh tế và văn hóakhác của công ty đều khiến cho việc phân tích khó khăn hơn
- Quá nhiều thông tin có thể dẫn đến quá tải: nhà quản trị không thể giải quyếthết tất cả các thông tin sẵn có
- Việc kiểm soát môi trường vĩ mô về lâu dài sẽ khó khăn và tốn nhiều chi phí.Bởi thế, chúng tôi không đưa ra một công thức hoàn hảo để khám phá môitrường vĩ mô Trong chương này, chúng tôi không đưa ra lời khuyên cụ thể về cáchthức để các nhà quản trị phân tích hay dự đoán sự thay đổi của môi trường vĩ mô Mỗicông ty phải tự quyết định được họ muốn phân tích hệ thống đến đâu, và mỗi công tycần tìm ra phương hướng chiến lược cho mình Cụ thể là những công ty vừa và nhỏthường không có năng lực để phân tích lâu dài và đầy đủ Nhưng rất có ích nếu cácnhà quản trị lập ra một danh sách các tác động tiềm ẩn từ môi trường vĩ mô Nhà quảntrị chỉ cần sử dụng danh sách này để tìm hiểu sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội vàcông nghệ ảnh hưởng như thế nào đến ngành nghề và công ty của họ
Tầm quan trọng của các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ tùy thuộcvào từng ngành công nghiệp khác nhau Yếu tố chính trị có thể quyết định sự thànhcông của công ty trong ngành công nghiệp mà ở đó chính phủ đóng một vai trò quantrọng, chẳng hạn như công nghiệp quốc phòng – ngành phải thương lượng với chínhphủ Yếu tố công nghệ cũng có thể rất quan trọng cho sự thành bại trong ngành nơi màtốc độ đổi mới công nghệ cao, ví dụ công nghệ điện tử Vì thế mỗi ngành nghề và mỗicông ty cần phải lưu tâm đến những yếu tố liên quan mật thiết đến ngành nghề vàcông ty đó
Trước sự cạnh tranh toàn cầu ngày càng mạnh mẽ, phân tích PEST ngày càngphản ánh chính xác và nhanh chóng, vì nhà quan trị chỉ cần nhập dữ liệu về môitrường kinh doanh của đất nước mình Đối với những doanh nghiệp quốc tế, phạm vi
Trang 5của PEST sẽ phụ thuộc vào vị trí đặt cơ sở Một doanh nghiệp nhỏ ở Ấn Độ xuất khẩuchủ yếu qua Mỹ có thể chỉ tập trung phân tích môi trường vĩ mô bên trong đất nước
đó Một doanh nghiệp lớn của Đức hoạt động chính là ở thị trường Châu Âu sẽ mongmuốn phân tích PEST cho cả vùng đất Châu Âu bao gồm nhiều quốc gia khác nhau.Tương tự một doanh nghiệp toàn cầu phải tìm hiểu toàn bộ thế giới để biết được xuhướng phát triển tân tiến nhất Vào cùng thời điểm đó, các công ty con của một công
ty toàn cầu có thể chỉ phân tích PEST cho công ty đó trong một khu vực địa lí nhấtđịnh Chương này đơn thuần chỉ cho thấy những kiểu tác động bên ngoài nào mà công
ty sẽ gặp phải trên thị trường toàn cầu Bảng 2.2 tóm tắt một số yếu tố PEST chínhyếu thường được các nhà quản trị lưu tâm, tuy nhiên có thể còn nhiều yếu tố khácchưa được đề cập Bảng 2.3 minh họa cách sử dụng công cụ phân tích PEST để giúp 1công ty lựa chọn thị trường để xuất khẩu hoặc đầu tư
Nội dung chính:
Bảng 2.2 Tóm tắt các yếu tố PEST quan trọng trong Quản trị chiến lược toàn cầu
Sự tham nhũng
Sự thay đổi trong xã hội Hệ thống công nghệ toàn cầu
Sự hội nhập toàn cầu Nền kinh tế tri thức
Sự lan rộng của mạng Internet
Bảng 2.3 Sử dụng phương pháp phân tích PEST cho việc lựa chọn quốc gia ở
Baser Food.
Baser Food là một công ty con của tập đoàn Baser Holding, một trong những tậpđoàn công nghiệp hàng đầu ở Thổ Nhĩ Kỳ Baser Food chuyên về sản xuất dầu ô liuchất lượng cao và là nhà xuất khẩu dầu ôliu lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ Từ năm 1998, BaserFood đã mở rộng ra thị trường quốc tế, xuất khẩu dầu ôliu sang Mỹ, Đức, Nga vàkhoảng 15 nước khác
Vào đầu thế kỷ 21, thị trường nội địa về dầu ôliu ở Thổ Nhĩ Kỳ đang giảm
và các nhà quản lý Baser Food quyết định công ty nên tiếp tục mở rộng tị trường quốc
tế thông qua xuất khẩu Baser Food là một công ty nhỏ, với doanh thu hằng nămkhoảng 25 triệu đôla và khoảng 50 công nhân, và các nhà lãnh đạo biết rằng công ty
Trang 6có nguồn lực giới hạn và không thể mở rộng ở bất kỳ đâu Baser Food phải quyết địnhnơi nào công ty nên bành trướng.
Các nhà quản lý của công ty quyết định không mở rộng sang các nước sảnxuất và tiêu thụ dầu ôliu lớn như Tây Ban Nha và Ý vì các nước này có cường độ cạnhtranh lớn Các nhà quản lý cho rằng có nhiều nước để mở rộng bao gồm Hoa Kỳ (nơicông ty đã tiến hành xâm nhập), Úc, Trung Quốc cũng là thị trường tiềm năng Họtiến hành phân tích PEST cho ba quốc gia để giup việc đưa ra quyết định lựa chọnquốc gia nào Phương pháp phân tích PEST đã bỏ qua yếu tố công nghệ vì đó khôngquan trọng đối với thị trường dầu oliu Kết quả PEST được trình bày dưới đây
Thu nhập bình quân đầu người cao (O)
Ổn định về mặt thương mại/ tỷ giá hối đoái (O)
Tăng trưởng thị trường thấp (T)
Kinh tế
Thu nhập bình quân đầu người cao (O)
Ổn định về mặt thương mại/ Tỷ giá hối đoái (O)
Tăng trưởng thị trường thấp (T)
Kinh tế
Tăng trưởng thị trường cao (O)
Thu nhập bình quân trên đầu người thấp (T)
Thay đổi về mặt thương mại/ tỷ giá hối đoái (T)
Xã hội
Quen thuộc với các món ăn Địa Trung Hải nhờ vào người nhập cư (O)
Xã hội
Quen thuộc với các món ăn Địa Trung Hải nhờ vào người nhập cư (O)
Cộng đồng quan tâm đến sức khỏe và chế độ giảm cân (O)
Xã hội
Ít có nhận thức về lợi ích sức khỏe của dầu oliu (T+O)
Chú ý: O là cơ hội, T là thách thức
Trang 7Phân tích PEST cho thấy khả năng Trung Quốc là thị trường hấp dẫn nhất Cácnhà quản lý của Baser Food cho rằng công ty sẽ phải chi ít nhất 1triệu Euro cho chiếndịch Marketing nhằm cố gắng thay đổi thói quen ăn và khuyến khích tiêu thụ dầu oliu
ở Trung Quốc Tuy nhiên, sự hạn chế nhận thức về lợi ích sức khỏe của dầu oliu ởquốc gia này dường như có cơ hội vì đây là thị trường tương đối ít sự cạnh tranh vàBaser Food có thể đạt được lợi thế là người dẫn đạo trong thị trường màu mỡ này.Ngược lại, có sự cạnh tranh gắt và thiếu sự trung thành đối với thương hiệu ở thịtrường Mỹ, điều đó có nghĩa là chi phí cao hơn và lợi nhuận thấp hơn Bạn sẽ có lờikhuyên gì cho công ty Baser Food về lựa chọn thị trường?
Phân tích PEST (các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội và công nghệ) là mộtkhuôn khổ rộng lớn giúp cho các nhà quản lý hiểu môi trường nơi mà doanh nghiệphoạt động Các nhà quản lý có thể sử dụng một cách đơn giản mô hình này như là mộtdanh sách kiểm tra tự đặt câu hỏi cho mình như chính trị, kinh tế, xã hội hay sự pháttriển về công nghệ có ảnh hưởng như thế nào đến ngành và công ty của họ
2.4 Môi trường chính trị:
Chính phủ có thể có sự tác động quan trọng đến doanh nghiệp bằng cách banhành các quy định cho các công ty đa quốc gia Chính phủ có thể thay đổi các mứcthuế hay nghĩa vụ nhập khẩu, trợ cấp cho một số công ty nhất định hoặc ban hành cácquy định yêu cầu các công ty đa quốc gia thay đởi cách họ vận hành (ví dụ như thongqua chính sách chống ô nhiễm) Cùng lúc đó, chính sách kinh doanh bây giờ bị ảnhhưởng bởi sự xuất hiện của các tổ chức toàn cầu mới như Tổ chức thương mại thế giới
và các khối khu vực kinh tế như công đoàn Châu Âu Vì vậy, trong nền kinh tế toàncầu, các công ty đa quốc gia phải có sự chú ý đặc biệt đến tập hợp các vấn đề chính trịquan trọng: sự hội nhập kinh tế trong khu vực, pháp luật chính phủ, rủi ro chính trị vàquan liêu
Các khối khu vực kinh tế có sự khác nhau rất lớn (Dicken 2007:190-2):
Bảng 2.4 Các khối khu vực kinh tế quan trọng
AFTA (Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Khu vực thương mại tự do)
Loại khối khu vực: Khu vực thương mại tự do
Các nước thành viên: Bruney, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam từ năm 2012)
CARICOM ( cộng đồng quần đảo Caribe)
Loại khối khu vực: thị trường chung
Các nước thành viên: Antigua và Barbude, Bahamas, Barbados, Belize, Dominica,Grenada, Guyana, Haiti, Jamaica, Montserrat, St Kitts-Nevis, St Lucia, St Vincent andGrenadines, Suriname, Trinidad và Tobago
EU (Liên minh Châu Âu)
Trang 8Loại khối khu vực: Liên minh kinh tế
Các nước thành viên: Anh, Ba Lan, Bulgaria, Bỉ, Bồ Đào Nha, Croatia, Cộng hòa Séc,Estonia, Hungary, Hy Lạp, Hà Lan, Ireland,
MERCOSUR (Thị trường chung Nam Mỹ)
Loại khối thị trường: Liên minh thuế quan
Các nước thành viên: Argentina, Brazin, Paraguay, Uruguay
NAFTA (Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ)
Loại khối thị trường: Khu vực thương mại tự do
Các nước thành viên: Canada, Mexico, Hoa Kỳ
SADC (Cộng đồng phát triển miền nam Châu Phi)
Loại khối khu vực: Khu vực thương mại tự do
Các nước thành viên: Angola, Botswana, Cộng hòa dân chủ Congo, Lesotho,Madagascar, Malawi, Maritius, Mozambich, Namibia, Seychelles, Nam Phi,Swaziland, Tanzania, Zambia, Zimbabwa
Khu vực thương mại tự do, hình thức đơn giản nhất trong khối khu vực kinh tế,theo đó các nước thành viên sẽ bãi bỏ một số hạn chế về thương mại trong khuvực ( ví dụ là NAFTA ở Bắc Mỹ)
Liên minh thuế quan, theo đó các nước thành viên trong khu vực sẽ bãi bỏ một
số hạn chế về thương mại trong khu vực và, thêm vào đó, thành lập một chínhsách thương mại chung hướng đến các nước phi thành viên (ví dụ làMERCOSUR ở Nam Mỹ)
Thị trường chung, theo đó các nước thành viên bãi bỏ một số hạn chế giứ cácnước trong khối, thành lập một chính sách thương mại chung hướng đến cácnước phi thành viên, và them vào đó, cho phép sự dịch chuyển tự do về người
và vốn giữa các nước thành viên ( ví dụ là CARICOM ở quần đảo Caribe)
Liên minh kinh tế là loại hội nhập khu vực phức tạp nhất, với EU là một ví dụđiển hình Liên minh EU không chỉ áp dụng các chính sách đã được đề cậptrước đó mà còn hài hòa các chính sách của chính phủ của các nước thành viên
về các vấn đề như chống các hành vi cạnh tranh của các doanh nghiệp Hơnthế nữa, không giống như các khối khu vực kinh tế khác, liêm minh EU đã pháttriển nhiều tổ chức chung, chẳng hạn như tòa án pháp luật châu Âu, Nghị việnchâu Âu, nơi thực hiện việc kiểm soát xuyên quốc gia về các chính sách củacác nước thành viên
Các khối khu vực kinh tế mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp quốc tế Đểđược hưởng lợi từ các rào cản thấp đối với thương mại, một vài doanh nghiệp đầu tưvào một quốc gia nào đó để có thể bán hang hóa và dịch vụ sang các nước khác trongkhối tương tự Ví dụ, một quốc gia nước ngoài đã đầu tư vào những quốc gia như BaLan và Cộng hòa Séc để thu lợi từ các nước thành viên của Liên minh Châu Âu, trongkhi nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư vào Mexico để có thể xuất khẩu hànghóa vào Mỹ
Hội nhập khu vực cũng đặt ra những vấn đề cho các doanh nghiệp quốc tế Mộttrong những thách thức quan trọng đối với các nhà quản lý của lien minh Châu Âu làtuân thủ các quy định mà nhiều nước tham gia áp dụng cho doanh nghiệp của họ Ví
dụ, các doanh nghiệp thuộc ngành nông nghiệp phải tuân thủ các tiêu chuẩn thựcphẩm khác nhau, trong khi các nhà sản xuất xe buýt và người lái phải tuân thủ 4 tiêu
Trang 9chuẩn châu Âu về khí thải Các tiêu chuẩn này ảnh hưởng đến sự cạnh tranh của cácdoanh nghiệp trong lien minh Châu Âu, ví dụ, tiêu chuẩn 4 của châu Âu về khí thảikhiến cho việc sản xuất một chiếc xe buýt đắt hơn 7000 EURO Ở châu ÂU, với nhiềuquy định trong kinh doanh, kiến thức tốt về môi trường chính trị trong kinh doanh cóthể tạo ra các lợi thế cạnh tranh khác biệt cho một vài doanh nghiệp.
2.4.2 Quy định của chính phủ
Trong khi các nhà quản lý phải chú ý đến sự xuất hiện của các khối khu vựckinh tế, họ hơn thế nữa họ phải tiếp tục chú ý đên các quy định của chính phủ ảnhhưởng đến hoạt động kinh doanh Nó bao gồm các quy định về sự không công bằngthương mại (ví dụ luật chống độc quyền), quy chế tài chính, mã số thuế, quy định môitrường, và luật lao động Ngoài các quy định quốc gia của các nước khác nhau, doanhnghiệp bị ảnh hưởng bởi các tổ chức xuyên quốc gia như lien minh châu Âu EU cũngban hành những luật riêng của nó Những luật có giá trị pháp lí cao hơn cả luật Anh,
Hà Lan hay Thụy Sỹ, ví dụ, hội đồng Anh phải ưu tiên tuân theo luật Châu Âu bất cứkhi nào áp dụng luật Anh Luật châu Âu ảnh hưởng đến các doanh nghiệp nước ngoàimuốn kinh doanh ở bất kì quốc gia nằm trong khu vực liên minh Châu Âu
Sự ảnh hưởng quan trọng của Chính phủ đến kinh doanh là đặc biệt rõ rangtrong “các nền kinh tế chuyển đổi”, tức là các quốc gia đang trong quá trình chuyển từChủ nghĩa xã hội (nơi mà chính phủ nắm giữ các quyết định kinh tế quan trọng) lên
Tư bản chủ nghĩa (lực lượng thị trường dịnh hướng sự phát triển kinh tế) Các nềnkinh tế chuyển đổi trong đó có hai quốc gia lớn nhất trên thế giới – Trung Quốc vàNga- và các nước Đông Âuu khác như Ba Lan, và ở Châu Á có Việt Nam Ở các nướckhác có sự tác động mạnh của chính phủ đến việc kinh doanh, đa số các tập đoàn lớn
là của nhà nước, và sự kết nối tốt giữa chính phủ và doanh nghiệp là yếu tố quan trọngtạo nên sự thành công (Peng 2000) Nhưng yếu tố chính trị rất quan trọng ở Tây Âuhay Hoa Kỳ để tiếp tục ban hành nhiều quy định và tợ cấp trong một số lĩnh vực củanền kinh tế
Mặc dù toàn cầu hóa, các quốc gia khác nhau tiếp tục có các quy tắc khác nhauđối với các vấn dề về thương mại và đầu tư giống nhau Thậm chí điều này còn ápdụng cho Internet, nơi mà các Website của công ty có thể tiếp cận khách hang ở bất kỳnơi nào trên thế giới Internet không có ranh giới, tuy nhiên, các doanh nghiệp Internetphải chú ý đến các quy định ở nước ngoài Ví dụ, theo luật mới của EU vào tháng 5năm 2002, yêu cầu các nhà cung cấp các sản phẩm kỹ thuật số của các nước nằmngoài EU phải tính thêm phần thuế giá trị gia tăng (VAT) trên giá bán của các dịch vụcung ứng điện tử cho các khách hang cá nhân bên trong EU Các nhà cung cấp khôngphải là thành viên của EU phải đăng kí thuế VAT ở các quốc gia EU theo sự lựa chọncủa họ, nhưng thuế GTGT ở mức giá áp dụng tại các quốc gia nơi mà khách hang cưtrú Vì vậy, nếu các doanh nghiệp của Mỹ và Canada bán các file nhạc ký thuật sốhoặc tải video đến các khách hang ở EU thông qua trang wed thì sẽ phải trả thuếGTGT cho dù có bất cứ cơ sở đai diện ở châu Âu hay không (Frynas 2002)
Các quy định có thể ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến doanh nghiệp Ví dụ,các quy định chống gây ô nhiễm có thể làm tăng chi phí cho hoạt hộng kinh doanh docông ty có thể phải lắp đặt bộ lọc mới hoặc một cơ sở xử lý chất thải nhằm tuân thủcác quy định của chính phủ Tuy nhiên, các quy định chống ô nhiễm môi trường cóthể giúp các doanh nghiệp cạnh tranh Porter và Van der Linde (1995a; 1995b) chorằng các công ty nên dựa vào quốc gia có nhiều bộ luật nghiêm ngặt về môi trường để
Trang 10có thể đạt được lợi thế cạnh tranh quốc tế hơn các doanh nghiệp ở trong các quốc gia
có ít các bộ luật về môi trường Càng có nhiều quốc gia đưa ra các bộ luật về bảo vệmôi trường, một doanh nghiệp có thể đạt dược lợi thế ngay từ đầu cuộc đua bằng cáchgiới thiệu các sẳn phẩm hoặc dịch vụ than thiện với môi trường trước đối thủ của mình
ở quốc gia khác Vì vậy, các quy định của chính phủ mang đến các cơ hội và tháchthức cho các công ty đa quốc gia
2.4.3 Rủi ro chính trị
Các sản phẩm thân thiện với môi trường như ví dụ ở trên cho thấy rằng các doanhnghiệp có thể đạt được lợi thế từ các quy định của chính phủ Nhưng người làm kinhdoanh thường phải chịu áp lực bằng cách nào chính phủ có thể tạo ra các vần đề tiềm
ẩn cho các doanh nghiệp thâm nhập vào những quốc gia mới Các nhà đầu tư nướcngoài thường phải chịu chi phối bởi bàn tay của chính phủ: chính phủ một tay sungcông hay tước đoạt tài sản của doanh nghiệp, cản trở kinh doanh bằng cách tăng mứcthuế và ban hành việc hạn chế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Nhiều nhà kinh doanh
vì vậy tập trung vào “rủi ro chính trị” khi đầu tư ra nước ngoài, điều đó được địnhnghĩa “ khả năng các lực lượng chính trị này sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ trong môitrường kinh doanh ở một quốc gia thể hiện qua việc ảnh hưởng đến lợi nhuận và cácmục tiêu khác của một tập đoàn kinh doanh đặc biệt” (Robock và Simmonds 1989:378) Các rủi ro chính trị bao gồm sự thay đổi các quy định của chính phủ, chiếntranh, tình hình bất ổn dân sự, và khủng bố chính trị
Ví dụ, sự căng thẳng leo thang trong cuộc chiến của Mỹ và Irac làm tổn hại đến cáclợi ích kinh doanh ở Trung Đông Trong khi một vài chính phủ Ả Rập ủng hộ chínhphủ Mỹ, nhiều công dân ở các nước Ả Rập phản đối chiến tranh và dừng mua hanghóa của Mỹ Coca Cola là một trong các công ty đầu tiên chịu ảnh hưởng từ sự căngthẳng này
2.4.4 Tham nhũng
Tham nhũng dùng để chỉ việc lạm dụng chức quyền để phục vụ lợi ích cá nhân,thông thường nó để chỉ việc hối lộ tiền cho một quan chức chính phủ để được đổi lấyđặc quyền được đối xử đặc biệt Qua việc khảo sát các nhà quản trị quốc tế, kết quảđều cho thấy nhiều nước có tham nhũng nhiều hơn hẳn so với các nước còn lại Cácbáo cáo hàng năm về nạn tham nhũng của tổ chức Transparency International (MinhBạch Quốc Tế) cho thấy, các nước như Nga và Nigeria luôn nằm trong nhóm các quốcgia tham nhũng nhất thế giới, còn Đan Mạch và Singapore luôn nằm trong nhóm cácnước ít tham nhũng nhất
Tham nhũng có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty đa quốc gia theo nhiều cách.Một doanh nghiệp từ chối hối lộ tiền một quan chức chính phủ có thể dẫn đến việcmất hợp đồng chính phủ hoặc chậm trễ trong việc phê duyệt dự án đầu tư Ví dụ,doanh nghiệp bán lẻ của Thụy Điển – IKEA gặp vấn đề về nguồn cung cấp điện và khíđốt cho các cửa hàng của mình ở Nga cũng như sự chấp thuận của chính quyền địaphương cho các dự án đầu tư của mình ở Nga vì các nhà quản lý của IKEA từ chối hối
lộ tiền cho các quan chức Nga; kết quả là, IKE bị thua lỗ và buộc phải đình chỉ cáckhoản đầu tư của mình ở Nga vào năm 2009
Theo Henriques (2007), nạn tham nhũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc mởrộng môi trường kinh doanh quốc tế của một quốc gia theo ba cách:
Các điều kiện kinh tế vĩ mô (Ví dụ: tham nhũng có thể dẫn đến đầu tư nướcngoài sụt giảm hoặc đẩy cao chi phí vốn)
Trang 11Cơ sở hạ tầng (Ví dụ: tham nhũng có thể dẫn đến việc hệ thống pháp luật kémhiệu quả và các dịch vụ hạ tầng (điện, nước, giao thông công cộng ) ít đáng tin cậy).Điều kiện hoạt động (Ví dụ: tham nhũng có thể dẫn đến tỷ lệ tội phạm gia tăng,thuế tăng và chi phí kinh doanh tăng).
Nhà quản trị có thể bị cám dỗ sa vào tham nhũng để không mất một hợp đồnghoặc để không bị thua thiệt, không phải quá thận trọng khi cạnh tranh Tuy nhiên, savào tham nhũng là vi phạm pháp luật, vô đạo đức và có thể tác động tiêu cực đếndoanh nghiệp của chính mình Tham nhũng sẽ để lại tiếng xấu cho doanh nghiệp Cácnghiên cứu cũng cho thấy rằng, các doanh nghiệp sa vào tham nhũng có thể sẽ trở nênkém sáng tạo (Desai và Mitra 2004) Khi một doanh nghiệp cố gắng để tránh thamnhũng, nó có thể đưa ra quyết định chiến lược về việc có nên mở rộng kinh doanh tạimột quốc gia hay tham gia vào một dự án đầu tư nào đó hay không
2.5 Môi trường kinh tế
Những thay đổi của môi trường kinh tế trong kinh doanh có thể ảnh hưởng đếnviệc mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ, nếu kinh tế tăng trưởng, các doanhnghiệp có thể mở rộng sản xuất và mở nhà máy mới; nếu kinh tế suy thoái, hoạt độngkinh doanh trì trệ hoặc thậm chí là bị từ chối, doanh nghiệp có thể phải đóng cửa cácnhà máy và cắt giảm sản xuất Các doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố kinh tế khác,
ví dụ như tỷ lệ lạm phát, thu nhập khả dụng và tỷ lệ thất nghiệp Trong kinh doanhquốc tế, các doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý đến ba vấn đề quan trọng: chi phí sảnxuất, tỷ giá hối đoái và chi phí vốn
2.5.1 Chi phí sản xuất
Một trong những vấn đề kinh doanh quốc tế quan trọng đối với doanh nghiệp làchi phí sản xuất Kể từ khi các rào cản giảm đi, thương mại quốc tế ngày nay cũngnhư chi phí vận tải không còn là vấn đề đáng bận tâm đối với nhiều sản phẩm, cáccông ty đa quốc gia có thể bao quát xem xét toàn bộ thế giới để tìm ra vị trí có thể đặtlàm nơi sản xuất với giá rẻ nhất Chi phí lao động có tầm quan trọng chủ chốt và nó cóthể có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia Năm 2007, chi phí lao động tính theogiờ trung bình của ngành dệt may ở Hoa Kỳ là rất cao với 21 USD, tại Mexico là 3USD và ở Philippines chỉ hơn 1 USD Nhưng có thể có sự khác biệt lớn về chi phí laođộng giữa các ngành trong cùng một quốc gia Năm 2007, chi phí lao động trongngành sản xuất hóa chất tại Mexico là 9 USD, còn ngành công nghiệp tự động là 5USD, ngành dệt may là 3 USD (xem hình 2.5)
Các doanh nghiệp nằm trong những ngành thâm dụng lao động (trong đó tàikhoản lao động chiếm một phần lớn trong tổng chi phí sản xuất) thường phải chuyểnsản xuất, dịch vụ ra nước ngoài vì điều này cho phép họ giảm chi phí lao động và cạnhtranh quốc tế tốt hơn Ví dụ, nhiều trung tâm cuộc gọi (Call Center) của Mỹ và châu
Âu có trụ sở tại Ấn Độ, nơi có mức lương thấp Từ khi chi phí cho các cuộc gọi quốc
tế trở nên tương đối rẻ, những cuộc gọi truy vấn từ những khách hàng người Anh hayngười Mỹ có thể được định tuyến đến Ấn độ, nơi mà các dịch vụ có thể được thựuchiện với chi phí thấp
Hình 2.5 So sánh chi phí lao động trên toàn cầu (tính theo USD, số liệu năm 2007)
Trang 12Chi phí lao động hàng giờ của ngành dệt may
Chi phí lao động hàng giờ của ngành công nghiệp tự động
Chi phí lao động hàng giờ của ngành sản xuất hóa chất
Trang 13Nguồn: Cục thống kê lao động Hoa Kỳ (2009)
Nhưng mức lương không phải là yếu tố quyết định duy nhất của chi phí laođộng Một yếu tố quan trọng khác chính là năng suất lao động, được định nghĩa là sốlượng đầu ra sản xuất trên một đơn vị đầu vào được sử dụng để sản xuất ra nó Năngsuất lao động ở Đức cao hơn nhiều so với ở Sri Lanka Vì vậy, các nhà quản lý phảicân nhắc những lợi thế lao động rẻ so với các yếu tố khác như các kỹ năng cần thiết vàhiệu quả của lực lượng lao động, mà có thể không phải lúc nào cũng sẵn có ở cácnước có mức lương thấp Ví dụ, ở Đức chi phí lao động trong ngành công nghiệp tựđộng rất cao (hình 2.5) nhưng Đức lại là nhà xuất khẩu xe hơi chính nhờ vào hiệu quảrất cao và kỹ năng của lực lượng lao động ở Đức
2.5.2 Tỷ giá hối đoái
Chi phí sản xuất bị ảnh hưởng bởi tỷ giá hối đoái, là tỷ giá mà tại đó một đồngtiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác Nếu giá trị đồng Euro tăng lêntương đối so với các đồng tiền khác, hàng hóa của Hà Lan hoặc Đức sẽ trở nên đắthơn đối với người mua là người nước ngoài, thế nên những doanh nghiệp Hà Lan vàĐức sẽ ngần ngại trong việc xuất khẩu hàng hóa của mình Đồng thời, các doanhnghiệp nằm ngoài khu vực đồng Euro sẽ thấy dễ dàng hơn trong việc xuất xuất khẩuhàng hóa sang Đức Tương tự như vậy, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thấy kém hấpdẫn trong việc đầu tư vào Hà lan và Đức, trong khi đó, các doanh nghiệp Hà Lan vàĐức sẽ thấy hấp dẫn trong việc đầu tư ra ngoài khu vực đồng Euro Các công ty đaquốc gia phải theo dõi tỷ giá hối đoái trong kinh doanh quốc tế để phát hiện ra các mối
đe dọa và cơ hội cho các hoạt động hiện có của họ ở các nước khác nhau Sự kiệ chínhtrị và xã hội có thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái Ví dụ, các mối đe dọa về một cuộcchiến tranh với Iraq vào đầu năm 2003 đã góp phần dẫn đến sự mất giá của đồng USD
và sự đề cao các đồng tiền châu Âu như đồng Euro và đồng frans Thụy Sĩ
Trọng một số trường hợp, một công ty có thể cần phải thay đổi nơi sản xuất từmột nước có tỷ giá hối đoái khiến cho chi phí sản xuất quá đắt đỏ (Froot và Stein1991; Dewenter 1995) Ví dụ, nhiều nhà sản xuất xe hơi của Nhật Bản đã bắt đầu xâydựng các nhà máy sản xuất xe hơi tại Mỹ vào đầu năm 1996, khi đồng yên Nhật đã trở
Trang 14nên đắt giá so với đồng USD Tuy nhiên, các công ty đa quốc gia phải đối mặt với vấnđề: rất khó dự đoán về sự thay đổi của tỷ giá hối đoái trong tương lai Vào cuối năm
1996 và trong suốt năm 1997, giá trị của đồng yên Nhật sụt giảm so với đồng USD,nhưng các nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản đã cam kết xây dựng nhà máy tại Hoa Kỳ
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác theo những cách khácnhau Một số ngành công nghiệp, chẳng hạn như thiết bị điện, các thiết bị đòi hỏi độchính xác cao (thiết bị đo lường, dụng cụ quang học, đồ dùng điện tử, ), bị ảnhhưởng nhiều bởi những thay đổi trong tỷ giá hối đoái so với các ngành khác vì họ phụthuộc nhiều vào xuất khẩu hơn, ví dụ, các công ty dịch vụ hạ tầng (He và Ng 1998).Các doanh nghiệp hoạt động tại nhiều quốc gia khác nhau ít bị ảnh hưởng hơn so vớicác doanh nghiệp chỉ hoạt động tại nước mình Người ta đã chứng minh được rằng sựtham gia vào thị trường nước ngoài thông qua đầu tư trực tiếp làm giảm rủi ro củadoanh nghiệp đối với biến động tỷ giá, đặc biệt là nếu đầu tư của doanh nghiệp trảirộng về mặt địa lý trên khắp các thị trường với các đồng tiền khác nhau (Miller vàReuer 1998)
Các vấn đề mà tỷ giá hối đoái mang tới cho các doanh nghiệp được giảm thiểu,khiến họ thư thả hơn với 'bảo hiểm rủi ro tiền tệ' – một công ty bảo hiểm sẽ đứng ragiúp họ chống lại thiệt hại tiềm tàng do biến động bất lợi của tỷ giá hối đoái Ví dụ,một doanh nghiệp ở Hà lan mua thiết bị máy tính của một doanh nghiệp tại Singaporevới mức giá cố định và đến hạn thanh toán trong 100 ngày Nếu hợp đồng được tínhbằng đô la Singapore, doanh nghiệp Hà lan có thể mất tiền nếu đồng Euro yếu hơn sovới đồng đô la Singapore trong 100 ngày đó Vì vậy, công ty có thể mua một "hợpđồng ngoại hối kỳ hạn" với một ngân hàng, tức là ngân hàng này sẽ bán ngoại tệ chodoanh nghiệp tại một mức giá cố định trong 100 ngày Doanh nghiệp cũng có thể muamột "hợp đồng quyền chọn tiền tệ" – điều này cho phép các doanh nghiệp có quyềnmua hoặc bán một số tiền nhất định vào một ngày xác định trong tương lai (một lựachọn linh hoạt hơn hợp đồng kỳ hạn, vì với hợp đồng kỳ hạn thì công ty Hà Lankhông thể chọn lựa việc có bán/ mua hay không) Một doanh nghiệp với một hợpđồng ngoại hối kỳ hạn hoặc với một hợp đồng quyền chọn sẽ ít bị ảnh hưởng bớinhững thay đổi của tỷ giá hối đoái trong ngắn hạn Về lâu dài, nếu người ta đánh giáliên tục và thấy rằng đồng đô la Singapore trong nhiều năm qua khiến cho hàng nhậpkhẩu từ Singapore ít cạnh tranh quốc tế hơn thì bảo hiểm rủi ro tiền tệ sẽ ít được sửdụng
2.5.3 Chi phí vốn
Trong kinh doanh quốc tế, một công ty đa quốc gia có thể vay vốn ở nhiều nướckhác nhau Nhưng các quốc gia khác nhau có thể có lãi vay khác nhau Điều này rấtquan trọng đối với các công ty đa quốc gia, chi phí vay ở nước của họ ảnh hướng đếnkhả năng vay vốn của doanh nghiệp Khi lãi suất cho vay ở Anh tăng, chi phí huyđộng vốn ở Anh tăng Trong kinh doanh quốc tế, một công ty đến từ một nước có lãisuất cho vay cao là một bất lợi trong việc huy động vốn so với một công ty đến từ mộtnước có lãi suất cho vay thấp (Aliber 1970; Grosse và Trevino 1996) Nếu chi phí vaytại Anh tăng so với các nước khác, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ thấy cạnh tranh tạithị trường anh dễ dàng hơn và đầu tư của họ tại Anh sẽ tăng lên Ngược lại nếu chi phívay ở Anh giảm so với các nước khác, các doanh nghiệp huy động vốn tại Anh sẽ thấy
dễ dàng hơn trong việc cạnh tranh tại thị trường nước ngoài