Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU TRUNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN VĂN YÊN,
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HỮU TRUNG
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG TẠI HUYỆN VĂN YÊN,
TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Văn Thảo
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng bản thân tôi, mọi số liệu cũng như nội dung báo cáo hoàn toàn do tôi thực hiện và chưa từng công bố trên bất kỳ tài liệu nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản báo cáo Luận văn của mình!
Tôi xin cam đoan!
Thái Nguyên, tháng10 năm 2015
Người cam đoan
Nguyễn Hữu Trung
Trang 4Tác giả xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu nhà trường, Phòng quản
lý đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập cũng như hoàn thành bản luận văn thạc sĩ
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Yên Bái, UBND huyện Văn Yên, các phòng ban chuyên môn của huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; các xã và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong việc thu thập số liệu ngoại nghiệp để thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Hữu Trung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
2.1 Mục tiêu chung 3
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu 4
1.1.1 Trên thế giới 4
1.1.2 Ở Việt Nam 9
1.1.3 Nhận xét về vấn đề nghiên cứu 19
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20
1.2.1.1 Vị trí địa lý 20
1.2.1.2 Địa hình 21
1.2.1.3 Khí hậu 22
1.2.1.4 Thủy văn 22
1.2.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng 22
1.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội 23
Trang 61.2.2.1 Tình hình dân số, dân tộc và lao động 23
1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 23
1.2.2.3 Hệ thống giao thông 26
1.2.2.4 Y tế 26
1.2.2.5 Giáo dục và đào tạo 27
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Nội dung nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Phương pháp luận 29
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.2.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu 31
2.2.2.2 Phương pháp điều tra thực địa 32
2.2.2.3 Phương pháp điều tra vật liệu cháy 33
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 35
3.1.1 Khái quát tài nguyên rừng huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 35
3.1.2 Đặc điểm vật liệu cháy 40
3.2 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến cháy rừng trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 43
3.2.1 Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên 43
3.2.1.1 Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới 43
3.2.1.2 Địa hình 44
3.2.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 44
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội 45
3.2.2.1 Đặc điểm về kinh tế 45
3.2.2.2 Phân bố dân cư, dân tộc, lao động 46
3.2.2.3 Yếu tố xã hội 47
Trang 73.3 Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện
Văn Yên, tỉnh Yên Bái 47
3.3.1 Bộ máy và công tác tổ chức chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ PCCCR 47
3.3.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng cháy 51
3.3.3 Các biện pháp phòng cháy rừng đã thực hiện 52
3.3.3.1 Về công tác tuyên truyền giáo dục 52
3.3.3.2 Công tác dự báo cháy rừng 53
3.3.3.3 Xác định các vùng trọng điểm cháy rừng 54
3.3.3.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh 54
3.3.3.5 Trang thiết bị, công trình phòng cháy 55
3.3.3.6 Xây dựng, tổ chức lực lượng chữa cháy rừng 57
3.3.3.7 Về công tác tập huấn; diễn tập PCCCR 57
3.3.4 Tình hình cháy rừng 58
3.4 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Văn Yên 60
3.4.1 Phân tích SWOT 60
3.4.1.1 Điểm mạnh 60
3.4.1.2 Điểm yếu 60
3.4.1.3 Cơ hội 60
3.4.1.4 Thách thức 61
3.4.2 Bài học kinh nghiệm 63
3.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy rừng tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái 64
3.5.1 Về công tác tổ chức 65
3.5.2 Về Thể chế 66
3.5.3 Tuyên truyền, tập huấn và diễn tập PCCCR 66
3.5.4 Xây dựng các công trình phòng cháy, trang thiết bị chữa cháy rừng 68
3.5.5 Giải pháp làm giảm vật liệu cháy bằng thủ công 68
3.5.6 Giải pháp xã hội hoá nghề rừng 68
Trang 8KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Tồn tại 71
3 Kiến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng Việt
II Tài liệu tiếng nước ngoài
PHỤ LỤC
Trang 9DBNCCR : Dự báo nguy cơ cháy rừng
KTLS : Kỹ thuật lâm sinh
KTLSPCR : Kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng
PCCCR : Phòng cháy, chữa cháy rừng
PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng hiện trạng đất đai tự nhiên khu vực nghiên cứu (ha) 35
Bảng 3.2 Diện tích rừng tự nhiên chia theo các trạng thái (ha) 36
Bảng 3.3 Tổng hợp diện tích rừng trồng huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái (ha) 38
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo loài cây (ha) 39
Bảng 3.5 Bảng sinh khối Vật liệu cháy ở các trạng thái rừng (ha) 41
Bảng 3.6 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của Ban chỉ đạo cấp huyện 50
Bảng 3.7 Cơ cấu bộ máy điều hành của BCĐ cấp xã 51
Bảng 3.8 Các công trình phòng cháy trên địa bàn huyện Văn Yên 55
Bảng 3.9 Dụng cụ, phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng tại 56
huyện Văn Yên 56
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả tập huấn, diễn tập từ 2009 đến 2014 57
Bảng 3.11 Thống kê số vụ cháy rừng từ năm 2009 đến 2014 58
Bảng 3.12 Các công việc ưu tiên và những biện pháp giảm thiểu tối đa số vụ cháy, thiệt hại do cháy rừng gây ra 64
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài 30
Hình 3.1 Diện tích rừng trồng theo loài cây 40
Hình 3.2 Sinh khối vật liệu cháy ở các trạng thái 41
Hình 3.3 Sơ đồ Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng của
huyện Văn Yên 50
Trang 12
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Rừng là một nguồn tài nguyên quan trọng đối với Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới Ngoài giá trị kinh tế cao, rừng còn đóng vai trò quan trọng về môi trường sinh thái Trong những năm vừa qua những hoạt động của con người: khai thác cạn kiệt, phát nương làm rẫy, chuyển đổi mục đích sử dụng đất tràn lan đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Đây là nguyên nhân gây nên những biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất xảy ra nghiêm trọng
Cháy rừng là một thảm họa thiên tai gây tổn thất to lớn, nhanh chóng về kinh tế
và môi trường sinh thái Nó tiêu diệt gần như toàn bộ các giống loài trong vùng bị cháy, thải vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu ứng nhà kính như CO, CO2, NO v.v… Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay Ảnh hưởng của nó không những tác động đến một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến khu vực và toàn cầu Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nắng nóng kéo dài, bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm họa ngày càng nghiêm trọng Mặc dù công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ngày càng hiện đại nhưng cháy rừng vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất Đấu tranh với cháy rừng
đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống
Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những đợt nóng hạn kéo dài bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm hoạ ngày càng nghiêm trọng Theo số liệu của Cục kiểm lâm ở Việt Nam mỗi năm xảy ra hàng trăm vụ cháy thiêu hủy hàng ngàn
ha rừng, gây thiệt hại lên đến hàng trăm tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái,… Theo báo cáo của Cục Kiểm Lâm từ năm 2005 - 2012, ở nước ta xảy ra 6.412 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 42.607 ha, hàng năm Nhà nước phải giành một nguồn kinh phí khá lớn cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) (chỉ tính riêng năm 2005, Cà Mau đã chi 6,5 tỷ đồng, Kiên Giang 2,4 tỷ đồng, Lâm Đồng 6 tỷ
đồng, Gia Lai 1,4 tỷ đồng,…) [1], [7], [8] Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có
Trang 13nhiều vụ cháy rừng gây nhiều tổn thất lớn về kinh tế, môi trường Năm 2002, Vụ cháy rừng Tràm ở Vườn Quốc Gia U Minh Thượng và U Minh Hạ làm thiệt hại trên 5.200
ha rừng, chi phí cho công tác chữa cháy lên tới 7 - 8 tỷ đồng; năm 2007, tỉnh Yên Bái cháy 643 ha rừng, Lai Châu cháy 230 ha,… Chỉ tính riêng đến tháng 3 năm 2007, cả nước bị cháy 512 ha, trong đó có 237 ha rừng trồng phòng hộ Hiện nay, nước ta có hơn 333.000 ha rừng dễ cháy và rất dễ cháy thuộc 114 vùng trọng điểm, trong đó có 35.000 ha là rừng trồng [8]
Rừng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và môi trường sinh thái: giữ đất, giữ nước, chống xói mòn rửa trôi, Bảo vệ nguồn nước cho sinh hoạt, cho các hoạt
động công nghiệp, tạo không khí trong lành cho sự sống của con người, góp phần hạn
chế thiên tai lũ lụt, Rừng cung cấp nguyên, vật liệu cho các ngành: chế biến lâm sản, ngành xây dựng, công nghiệp khai thác than, hoạt động du lịch, cung cấp các lâm sản quý Đặc biệt rừng có vai trò quan trọng trong chiến lược thế trận quốc phòng toàn dân góp phần đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Vì vậy, cháy rừng với quy mô và mức độ thiệt hại nghiêm trọng đã trở thành mối quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng, có cuộc sống gắn bó với rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của nhiều ngành nhiều cấp và toàn xã hội Nhận thức được vấn đề đó, trong những thập kỷ qua Đảng và Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác PCCCR từ việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đến việc tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách về công tác PCCCR nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra
Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là một huyện đặc thù có trên 70% diện tích đất lâm nghiệp những năm vừa qua đã triển khai đồng loạt các dự án trồng rừng tập trung với một số loài cây dễ cháy như: Bạch đàn, Quế … Một số diện tích rừng
tự nhiên là rừng tre nứa xen gỗ cộng với sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu thời tiết, có nhiều đợt nắng nóng kéo dài, phong tục tập quán đốt nương làm rẫy, đốt
đồng cỏ để chăn thả trâu, bò, đốt ong đã làm cho nguy cơ cháy rừng trên địa bàn
luôn ở mức báo động cao Từ những thực tế trên cho thấy mặc dù đã được quan tâm thường xuyên hơn nhưng cháy rừng vẫn xảy ra nhiều trong cả nước cũng như tỉnh Yên Bái Một trong những nguyên nhân cháy rừng vẫn xảy ra là do còn thiếu những nghiên cứu cơ sở lý luận và những giải pháp cho công tác PCCCR
Trang 14Xuất phát từ những thực tế đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ
sở khoa học cho đề xuất một số giải pháp PCCCR tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái”đặt ra là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2 Mục tiêu của đề tài
3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề xuất được các giải pháp PCCCR cho huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, trong đó xác định được các công việc ưu tiên và các giải pháp làm giảm nguy cơ cháy rừng
4 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Cháy rừng là một hiện tượng diễn ra phức tạp dưới ảnh hưởng tổng hợp của nhiều nhân tố Nghiên cứu PCCCR có nhiều nội dung, đòi hỏi đầu tư công sức và kinh phí lớn Trong khuôn khổ luận văn này với những hạn chế nhất định về thời gian và điều kiện nghiên cứu, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu hiện trạng tài nguyên rừng và tình hình thực hiện các biện pháp PCCCR trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Liên quan tới vật liệu cháy, đề tài chỉ giới hạn trong việc xác định khối lượng thảm khô (vật rơi rụng) và sinh khối cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng Đây là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng phương án PCCCR phù hợp, sát với tình hình thực tế ở địa phương
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, thường xuyên xảy ra trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhiều khi nó là những thảm họa khôn lường, gây thiệt hại to lớn về người và tài nguyên rừng cũng như tài sản của người dân sống gần rừng, Vì vậy, nghiên cứu phòng cháy chữa cháy rừng và giảm thiểu những thiệt hại do nó gây ra đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách của thực tiễn với hoạt động nghiên cứu khoa học Những nghiên cứu về PCCCR đã được tiến hành từ nghiên cứu định tính đến định lượng, nhằm tìm hiểu bản chất của hiện tượng cháy rừng và mối quan hệ giữa các yếu tố gây ra cháy với nhau và với môi trường xung quanh, từ đó đề ra những giải pháp PCCCR phù hợp Tuy nhiên, với sự phức tạp và khác nhau về trạng thái rừng cũng như các điều kiện tự nhiên khác mà quy luật ảnh hưởng của các nhân tố đến cháy rừng và giải pháp PCCCR cũng không hoàn toàn giống nhau ở các địa phương
Vì vậy, mỗi khu vực, mỗi quốc gia thường phải tiến hành nghiên cứu trong
điều kiện cụ thể của mình để xây dựng được những giải pháp PCCCR có hiệu quả
nhất Có thể điểm lại một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước như sau
1.1 Tổng quan nghiên cứu
PCCCR, phương pháp chữa cháy rừng, và phương tiện chữa cháy rừng
Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng, cháy rừng là hiện tượng ôxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt độ cao, nó xảy ra khi có mặt đồng thời của
3 thành tố là nguồn nhiệt, ôxy và vật liệu cháy Tùy thuộc vào đặc điểm của các yếu
Trang 16tố nêu trên, cháy rừng có thể được hình thành, phát triển hay bị ngăn chặn hoặc suy yếu đi (Brown A.A,1979; Chandler C., Cheney P., Thomas P., Trabaud L., Wiliams D., 1983) [30], [31] Vì vậy, về bản chất những biện pháp phòng cháy rừng chính là những biện pháp tác động vào 3 yếu tố trên theo chiều hướng ngăn chặn và giảm thiểu quá trình cháy
Các nhà khoa học phân biệt 3 loại cháy rừng như sau:
(1) - Cháy dưới tán cây hay cháy mặt đất rừng: là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất;
(2) - Cháy tán rừng: là trường hợp lửa lan tràn nhanh từ tán cây này sang tán cây khác;
(3) - Cháy ngầm: là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ dưới mặt
đất, trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn Trong một đám cháy rừng có thể xảy ra
một hoặc đồng thời hai ba loại cháy trên và tùy theo loại cháy rừng mà người ta đưa
ra những biện pháp phòng và chữa cháy khác nhau (Brown A.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986; Timo V Heikkila; Roy Gronquist; Mike Jurvelius, 2007) [30], [33], [36], [39]
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế -
xã hội của con người Thời tiết đặc biệt là lượng mưa (Lm), nhiệt độ không khí (Tkk), độ ẩm không khí (Wkk) và tốc độ gió (Vg) ảnh hưởng quyết định đến tốc độ bốc hơi và độ ẩm vật liệu cháy (Wvlc) rừng qua đó ảnh hưởng đến khả năng bén lửa
và lan tràn đám cháy Loại rừng ảnh hưởng tới tính chất vật lý, hóa học, khối lượng
và phân bố của vật liệu cháy qua đó ảnh hưởng đến loại cháy, khả năng hình thành
và tốc độ lan tràn của đám cháy và hoạt động kinh tế - xã hội của con người như: sản xuất nương rẫy, săn bắn thú rừng và du lịch sinh thái,… đều có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và phân bố nguồn lửa khởi đầu của các đám cháy Phần lớn các biện pháp phòng cháy rừng đều được xây dựng trên cơ sở phân tích đặc điểm 3 yếu tố trên trong hoàn cảnh cụ thể ở địa phương (Laslo Pancel Ed, 1993; Richmond R.R, 1976) [35], [38]
Trang 17Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định mối liên hệ chặt giữa điều kiện thời tiết mà quan trọng nhất là lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm vật liệu cháy và khả năng xuất hiện cháy rừng Vì vậy, hầu hết các phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng đều tính đến đặc điểm diễn biến hằng ngày của lượng mưa, nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí (Chandler C, 1983; MiBbach K, 1972) [31], [37] Ở một số nước khi dự báo nguy cơ cháy rừng (DBNCCR) ngoài căn cứ vào yếu tố khí tượng còn căn cứ vào một số yếu tố khác; chẳng hạn, ở Đức và Mỹ sử dụng thêm độ
ẩm của vật liệu cháy (Brown A.A, 1979), ở Pháp tính thêm lượng nước hữu hiệu
trong đất và độ ẩm của vật liệu cháy, ở Trung Quốc có bổ sung thêm cả tốc độ gió (Vg), số ngày không mưa và lượng bão hòa (Lbh),… Cũng có sự khác biệt nhất định khi sử dụng các yếu tố khí tượng để DBNCCR; chẳng hạn: ở Thụy Điển và một số nước ở bán đảo Scandinavia sử dụng độ ẩm không khí thấp nhất và nhiệt độ không khí cao nhất trong ngày; trong khi đó, ở Nga và một số nước khác lại dùng nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí lúc 13 giờ (Brown A.A, 1979) [30] Năm 1920, hệ thống cháy rừng ở Mỹ được đưa ra sử dụng và cho đến nay, nó đã được cải tiến tương đối hoàn chỉnh Hệ thống này, căn cứ chủ yếu vào mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí và độ ẩm vật liệu cháy để dự báo khả năng cháy rừng cho các loại vật liệu cháy khác nhau trên cơ sở phân loại vật liệu cháy ra các nhóm chính và kết hợp quan sát điều kiện khí tượng, địa hình, độ ẩm vật liệu cháy từ đó
đưa ra mô hình dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng và quy mô đám cháy (Brown
A.A, 1979) [30] Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc đã nghiên cứu phương pháp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến NCCR, trong đó có cả những yếu tố kinh
tế - xã hội và NCCR được tính theo tổng số điểm của các yếu tố (Asian Biodiversity, 2001) [28] Mặc dù, có những nét giống nhau nhưng đến nay, vẫn không có phương pháp DBNCCR chung cho cả thế giới mà ở mỗi quốc gia, thậm chí ở mỗi địa phương người ta vẫn nghiên cứu xây dựng phương pháp riêng Ngoài
ra, vẫn còn rất ít phương pháp DBNCCR có tính đến nhân tố kinh tế - xã hội và loại rừng Đây có thể là một trong những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả và hiệu lực của phòng cháy rừng (PCR) ngay cả ở những nước phát triển
Trang 18Kết quả nghiên cứu của thế giới đã khẳng định hiệu quả của các loại băng cản lửa, các vành đai cây xanh và hệ thống kênh mương ngăn cản cháy rừng (Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993) [33] Người ta đã nghiên cứu tập
đoàn cây trồng trên băng cản lửa, trồng rừng hỗn giao và giữ nước ở hồ đập để làm
giảm nguy cơ cháy rừng Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều chuyên gia về lửa rừng ở một số nước Châu Âu đã nghiên cứu và bước đầu đưa ra những ý kiến về xây dựng các băng xanh cản lửa và đai xanh phòng cháy rừng trên đó có trồng các loài cây lá rộng; ở Nga đã thiết lập những băng cây xanh chịu lửa khép kín với kết cấu nhiều loài cây, tạo thành nhiều tầng để ngăn lửa cháy từ ngoài vào các khu rừng thông, bạch đàn, sồi,… Các nước khác tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và
có nhiều công trình nhất vẫn là Đức, Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ, Mỹ, Canada, Nhật Bản và Trung Quốc,… (Phạm Ngọc Hưng, 2001) [16]
Nhìn chung, các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu hiệu quả của nhiều kiểu công trình phòng cháy rừng Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình đó Những thông số kỹ thuật
đưa ra đều mang tính gợi ý và luôn được điều chỉnh theo ý kiến của các chuyên gia
cho phù hợp với đặc điểm của mỗi loại rừng và điều kiện địa lý, vật lý địa phương
Việc nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng người ta chủ yếu hướng vào làm suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa:
(1)- Giảm nguồn lửa bằng nhiều cách: Tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt tàn lửa sau khi dùng lửa, thực hiện các biện pháp dọn vật liệu cháy trên mặt đất thành băng, đào rãnh sâu, hoặc chặt cây theo dải để ngăn cách
đám cháy với phần rừng còn lại;
(2)- Đốt trước một phần vật liệu cháy vào đầu mùa khô khi chúng còn ẩm để giảm khối lượng vật liệu cháy trong rừng hoặc đốt theo hướng ngược với hướng lan tràn để cô lập đám cháy Các công trình nghiên cứu về đốt trước làm giảm vật liệu cháy đã được nhiều nước áp dụng ngay từ đầu thế kỷ XX Các nước tiến hành nghiên cứu vấn đề này, rất sớm và có nhiều công trình nhất là Đức, Mỹ, Nga, Canada và Trung Quốc,… Đối tượng rừng được đưa vào đốt trước làm giảm vật liệu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng Thường các chủ rừng đốt theo đám ở những diện tích rừng có nhiều vật liệu cháy, có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa
Trang 19cháy, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng cháy lan đến khu rừng lân cận (Brown A.A,1979; Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993; Mc Arthur A.G., Luke R.H.,1986) [30], [33], [36] Năm 1968, Stoddard - một trong những người đầu tiên
đề xuất ý kiến đốt rừng có kế hoạch nhằm giảm nguy cơ cháy, tăng sản lượng gỗ và
chim thú Năm 1968, Morris đã cho thấy, việc đốt cỏ gà Cynodon dadyion vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân có tác dụng như bón phân làm tăng sản lượng sinh khối
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, có một số nước đi đầu trong lĩnh vực lửa rừng của thế giới như: Australia, Mỹ, Nga, Canada, Indonexia, Thái Lan,… đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra được những quy trình đốt trước cho các khu rừng trồng thuần loài có nguy cơ cháy cao Biện pháp đốt trước có điều khiển đã được sử dụng tương đối phổ biến và được coi là biện pháp quan trọng trong công tác quản lý lửa rừng ở những nước này Năm 1993, có một số tác giả người Phần Lan đã đưa ra các vấn đề về khối lượng, độ ẩm vật liệu cháy, thời tiết, diện tích, địa hình và các vấn đề
về kinh phí, tổ chức lực lượng một cách khá toàn diện trong đốt trước có điều khiển cho các vùng rừng trọng điểm cháy dựa trên nghiên cứu về đặc điểm nguồn vật liệu cháy và việc đốt thử trên những diện tích rộng lớn (Gronquist R., Juvelius M., Heikkila T., 1993) [33]
(3)- Dùng chất dập cháy để giảm nhiệt lượng của đám cháy hoặc ngăn cách vật liệu cháy với ôxy không khí (nước, đất, cát, hóa chất dập cháy v.v…)
Nhìn chung, các nghiên cứu về vấn đề này, thường được tiến hành nhiều ở các nước đang phát triển, như: Đức, Mỹ, Nga, Úc, Canada, Trung Quốc,… Còn các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam chủ yếu là nghiên cứu, áp dụng những công trình này, để phù hợp với điều kiện mỗi nước Vì vậy, cần có những nghiên cứu thực tế áp dụng cho công tác PCCCR ở mỗi quốc gia và mỗi địa phương
Những năm gần đây các phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là phương tiện dự báo, phát hiện đám cháy, thông tin về cháy rừng và phương tiện dập lửa trong các đám cháy
Các phương pháp dự báo đã được mô hình hóa và xây dựng thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của công tác dự báo Việc
ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS đã cho phép phân tích dược những diễn biến
thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính xác khă năng xuất hiện cháy rừng và phát
Trang 20hiện sớm lửa rừng trên vùng rộng lớn Những thông tin về khả năng xuất hiện cháy rừng, nguy cơ cháy rừng và biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng hiện nay được truyền qua nhiều kênh khác nhau đến các lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng và cộng đồng dân cư như hệ thống biển báo, thư tín, đài phát thanh, báo địa phương và trung ương, vô tuyến truyền hình, các mạng máy tính v.v…
Những phương tiện dập tắt đám cháy rừng được nghiên cứu theo cả hướng phát triển phương tiện thủ công như cào, cuốc, dao, câu liêm đến các loại phương tiện cơ giới như cưa xăng, máy kéo, mát gạt đất, máy đào rãnh, máy phun nước, náy phun bọt chống cháy, máy thổi gió, máy bay rải chất chống cháy và bom dập lửa v.v… Mặc dù các phương tiện chữa cháy rừng đã được nghiên cứu và phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng cháy, chữa cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga,… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả
Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng cháy, chữa cháy rừng chủ yếu được tập chung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng cháy, chữa cháy rừng, hình phạt dối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít nghiên cứu về nguyên nhân cháy rừng do hậu quả sinh thái của sự phát triển kinh tế xã hội gây nên, về những giải pháp lồng ghép hoạt động phòng cháy, chữa cháy rừng với hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường khác Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
1.1.2 Ở Việt Nam
Công tác DBNCCR ở Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 Tuy nhiên, trong thời gian đầu chủ yếu áp dụng phương pháp dự báo của V.G Nesterop (Ngô Quang
Đê, Lê Đăng Giảng, Phạm Ngọc Hưng, 1988) [10] Đây là phương pháp đơn giản,
cấp nguy hiểm của cháy rừng được xác định theo giá trị khí tượng tổng hợp (P)
Trang 21bằng tổng của tích số giữa nhiệt độ và độ chênh lệch bão hòa của không khí lúc 13 giờ hàng ngày kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 3mm Theo kết quả nghiên cứu Phạm Ngọc Hưng (1988) [15] cho thấy, phương pháp của V.G Nesterop có độ chính xác cao hơn nếu tính giá trị P kể từ ngày cuối cùng có lượng mưa dưới 5mm Ngoài ra, trên cơ sở phát hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa số ngày khô hạn liên tục (H) (số ngày liên tục có lượng mưa dưới 5mm) với chỉ số P, tác giả Phạm Ngọc Hưng, (2004) [17] đã đưa ra phương pháp DBNCCR theo số ngày khô hạn liên tục Ông căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm cháy rừng Tuy nhiên, khi nghiên cứu về tính thích hợp của một số phương pháp DBNCCR ở miền Bắc Việt Nam, tác giả Bế Minh Châu (2001) [5] đã khẳng định phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu P và H có độ chính xác thấp ở những vùng có sự luân phiên thường xuyên của các khối không khí biển
và lục địa hoặc vào các thời gian chuyển mùa Trong những trường hợp này, thì mức độ lên hệ của chỉ tiêu tổng hợp P và chỉ số ngày khô hạn liên tục H với độ ẩm vật liệu cháy dưới tán rừng và tần suất xuất hiện của cháy rừng rất thấp Từ 1989 -
1991, dự án tăng cường khả năng phòng cháy, chữa cháy rừng cho Việt Nam của UNDP, Cooper A N, (1991) [32] đã nghiên cứu, soạn thảo phương pháp DBNCCR theo chỉ tiêu khí tượng tổng hợp P của V G Nesterop nhưng thêm yếu tố gió; chỉ tiêu P của V G Nesterop sẽ được nhân với hệ số là: 1.0, 1.5, 2.0 và 3.0, nếu tốc độ gió tương ứng là: 0 - 4, 5 - 15, 16 - 25 và trên 25 km/giờ Tuy nhiên, đến nay chỉ tiêu vẫn đang ở trong giai đoạn thử nghiệm
Võ Đình Tiến (1995) [26] đã đưa ra phương pháp DBNCCR cho từng tháng tại Bình Thuận theo 6 yếu tố: nhiệt độ không khí trung bình, lượng mưa trung bình,
độ ẩm không khí, tốc độ gió, số vụ cháy rừng, lượng người vào rừng (tất cả đều lấy
giá trị trung bình) Tác giả đã xác định được cấp nguy hiểm với cháy rừng cho từng tháng trong cả mùa cháy Đây là chỉ tiêu có tính đến cả yếu tố thời tiết và yếu tố kinh tế - xã hội liên quan đến nguy cơ cháy rừng (NCCR) Tuy nhiên, vì căn cứ vào
số liệu khí tượng trung bình năm nên cấp dự báo của tác giả chỉ thay đổi theo thời gian của lịch mà không thay đổi theo thời tiết hàng ngày Vì vậy, nó mang ý nghĩa của phương pháp xác định mùa cháy nhiều hơn là DBNCCR Kết quả nghiên cứu
Trang 22Vương Văn Quỳnh (2005) [21] đưa ra phương pháp dự báo phát hiện sớm cháy rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Các kết quả cũng chỉ ứng dụng cho các khu vực nói trên, chưa được ứng dụng rộng rãi cho cả nước
Nhìn chung, đến nay nghiên cứu về phương pháp DBNCCR ở Việt Nam còn rất mới mẻ, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, kiểu rừng, đặc
điểm tiểu khí hậu và yếu tố kinh tế, xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng cho mỗi địa
phương Ngoài ra, hiện vẫn chưa áp dụng được một cách hiệu quả kỹ thuật của tin học, viễn thám và các phương tiện truyền thông hiện đại vào dự báo, phát hiện sớm
và thông tin về cháy rừng
Hiện còn rất ít những nghiên cứu về hiệu lực của các công trình PCR; mặc
dù, trong các quy phạm PCR có đề cập đến tiêu chuẩn của các công trình phòng cháy như: đưa ra một số loài cây trồng sử dụng tạo băng xanh cản lửa phòng cháy, song phần lớn đều được xây dựng trên cơ sở tham khảo tư liệu nước ngoài và kinh nghiệm, chưa có khảo nghiệm đầy đủ trong điều kiện Việt Nam (Đặng Vũ Cẩn, Hoàng Kim Ngũ, Phạm Ngọc Hưng, Trần Công Loanh, Trần Văn Mão, 1992) [3] Các công trình PCR ở nước ta chủ yếu xây dựng đường băng trắng và đường băng xanh cản lửa hạn chế cháy lan mặt đất, cháy lướt trên ngọn cây rừng Theo Phạm Ngọc Hưng (2001) [16], đường băng xanh được trồng cùng với việc trồng rừng trong năm trên những diện tích rừng có độ dốc 25 độ Đối với đai cây xanh xung quanh các điểm dân cư, xung quanh những vùng đất sản xuất nông nghiệp,… nằm ở trong rừng và ven rừng Đai rừng phòng cháy có chiều rộng từ 20 - 30m, nếu xây dựng theo đường phân khoảnh thì chiều rộng đai rừng chỉ cần từ 15 - 20m là
đủ Thường những đường băng cản lửa lợi dụng những chướng ngại vật tự nhiên
như: sông, suối, hồ nước, đường mòn, đường dông, những công trình nhân tạo (đường sắt, đường giao thông, đường điện cao thế, đường vận xuất, đường vận chuyển,…) để làm băng Trong những trường hợp này, đường băng thường chỉ xây dựng dọc theo hai bên đường bằng một hoặc hai vành đai cây xanh cản lửa, có bề rộng từ 6 - 10m Những loài cây được giới thiệu đưa vào trồng thành băng hoặc đai xanh cản lửa tại nhiều địa phương ở nước ta như sau:
Trang 23- Cây Tống quá sủ (Alnus nepalensis): Ưa khí hậu á nhiệt đới, thường trồng ở
vùng núi cao dọc theo biên giới Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng
- Cây Dứa bà (Agave americara): Chịu nước quanh năm, có khả năng ngăn
cháy lan mặt đất, có thể trồng rộng rãi nhiều nơi, như: Lâm Đồng, Quảng Ninh,…
- Cây Vối thuốc răng cưa (Schima superb Gardn et Champ): Cây cao, thân
thẳng, mọc nhanh tiên phong trên đồi trọc hoặc tái sinh sau nương rẫy,… phân bố nhiều ở miền Đông Bắc, cây có tác dụng ngăn lửa tốt cho rừng thông
- Cây Me rừng (Phyllanthus emblica L): Loại cây bụi, thân chứa nhiều nước,
mọc nhiều ở vùng đồi núi trọc nên có thể chọn làm đai vản lửa ở nơi đồi trọc
- Cây Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk): Cây bụi hoặc cây nhỏ, mọc phổ
biến ở đồi trọc, bãi hoang, nới rừng nghèo kiệt, phân bố vừng Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Đỏ ngọn (Cratoxylon pruuolium Dyer): Cây cao cỡ 6 - 10m, vỏ khi già
xốp có nhiều vảy, có khả năng phòng cháy, cây thường gặp ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà Bắc, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh
- Cây Dâu da đất (Baceaerea sapida Mull - Arg.): Là loại cây nhỡ, mọc rải
rác trong rừng thứ sinh tập trung ở vùng trung du Bắc Bộ và Trung Bộ
- Cây Keo tai tượng (Acacia mangium Wild): Là loài cây có thể trồng ở hầu
hết khắp nơi trên nhiều loại đất; cây có tán khép kín, thường trồng ở đồi núi ở các tỉnh Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai,…
và có khả năng tạo ra đai xanh khép kín nhiều tầng, tầng trên là Keo tai tượng, tầng dưới là 1 số ít cây bụi thường xanh, tạo nên môi trường râm ẩm, có khả năng ngăn ngừa lửa cháy lan từ ngoài vào rừng và ngăn cháy lướt trên ngọn cây rừng
- Một số loài cây trồng trên kênh mương tạo băng cản lửa ở rừng tràm vùng
đồng bằng sông Cửu Long bao gồm: Dứa (thơm), Dừa nước (Nypa fruticans Wurb),
Chuối, Đào lộn hột (điều) (Anacardium occidentale L)
- Một số loài cây keo thuộc họ đậu mọc nhanh, xanh quanh năm, có tác dụng
cản lửa, tạo môi trường râm, ẩm, cải tạo đất tốt như: Keo dậu (Leacaena leucocepha
De wit.), Keo gai, Keo philippin,… dùng để trồng đai cây xanh ở vùng đồi núi và vừng rừng Tràm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, miền Bắc rất tốt
Trang 24Từ năm 2002, trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Cục Kiểm lâm đã xây dựng phần mềm dự báo cháy rừng cho Việt Nam Ưu điểm của phần mềm này là cho phép liên kết được phương tiện hiện đại vào công tác dự báo và truyền tin về nguy cơ cháy rừng, tự động cập nhật, lưu trữ số liệu và xác định nguy cơ cháy cho các địa phương Phần mềm này đã góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức về phòng cháy chữa cháy rừng của cán bộ và nhân dân cả nước Tuy nhiên, phần mềm dự báo cháy rừng sau một thời gian áp dụng đã thể hiện một số tồn tại sau: nguy cơ cháy rừng được đồng nhất cho những đơn vị hành chính rộng lớn và
đồng nhất cho các kiểu rừng khác nhau Trong khi đó, điều kiện khí hậu và nguy cơ
cháy rừng phân hoá mạnh theo không gian và cả các trạng thái rừng Vì vậy tính chính xác của thông tin dự báo cháy rừng chưa cao
Năm 2004 - 2006, Lê Thị Hiền và các cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng ở các tỉnh phía Bắc [13] Đề tài đã nghiên cứu được đặc điểm phân hóa của một số nhân tố khí tượng, phân hóa tiểu khí hậu và nguy cơ cháy rừng ở các kiểu rừng có nguy cơ cháy cao ở các tỉnh phía Bắc Từ đó làm cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh phương pháp dự báo cháy rừng cho các tỉnh phía Bắc, là công thức dự báo cháy rừng ở Miền Bắc
có dạng chung của công thức dự báo nguy cơ cháy rừng của Việt Nam - công thức của Nesterov Tuy nhiên đây là công thức dự báo cho một vùng không phải cho một khu vực đơn lẻ, do đó sẽ gặp khó khăn cho một số địa phương khi có những
điều kiện về khí hậu địa phương khác
Năm 2004, Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu phương pháp dự báo cháy rừng cho một số kiểu rừng dễ cháy tỉnh Gia Lai [9] Tác giả đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc một số trạng thái rừng với nguy cơ cháy rừng và đưa ra một số phương trình dự báo độ ẩm vật liệu cháy, tốc độ cháy dưới rừng Thông và rừng Khộp ở khu vực nghiên cứu để giúp cho việc bố trí lực lượng và phương tiện chữa cháy Tuy nhiên, đề tài vẫn chưa thử nghiệm được tốc độ cháy của vật liệu cháy cho từng trạng thái rừng nên chưa xác định được cấp cháy cho từng trạng thái rừng, phải kế thừa phân cấp nguy cơ cháy rừng của các nghiên cứu trước mà chưa có kiểm nghiệm độ chính xác
Năm 2006, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng
Trang 25phần mềm dự báo lửa rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên Phần mềm này khắc phục được một số nhược điểm của phần mềm xây dựng năm 2002
Cho đến nay phương pháp dự báo cháy rừng ở nước ta vẫn còn mới mẻ, trong
đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm khí hậu và điều kiện
kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng từng địa phương
Năm 2007, Lê Văn Tập nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh cấp dự báo nguy cơ cháy rừng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ [22] Tác giả đã nghiên cứu trên 3 loại rừng:
Loại 1: là rất dễ cháy bao gồm rừng tre nứa tự nhiên, rừng trồng Thông, tre luồng và một số trạng thái thực bì như ràng ràng, cỏ tranh, lau lách…
Loại 2: là rừng dễ cháy gồm một số trạng thái rừng trồng ngoài Thông, trạng thái Ia, Ib
Loại 3: là rừng ít có khả năng cháy là rừng tự nhiên và rừng ngập mặn
Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng hiệu chỉnh chỉ tiêu P cho 2 loại rừng rất dễ cháy và dễ cháy cho khu vực Bắc Trung Bộ, hệ số điều chỉnh chính là hệ số Đề tài nghiên cứu đã kết luận: Đặc điểm cấu trúc có ảnh hưởng rõ rệt
đến nguy cơ cháy rừng của các kiểu rừng khác nhau Nhưng nghiên cứu mới chỉ đưa
ra các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng đến biến đổi vật liệu cháy là nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa mà chưa đưa ra ảnh hưởng của gió đến vật liệu cháy
Năm 2007, Hà Văn Hoan đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm quản lý vật liệu cháy cho rừng trồng tại huyện Cam Lộ, Tỉnh Quảng Trị [14] Tác giả đã thử nghiệm trên rừng Thông 6 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi và rừng Keo lá Tràm 3 tuổi, 6 tuổi Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính đám cháy bao gồm: khối lượng vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy, loại thực bì Tuy nhiên nghiên cứu chưa đề cập đến một số yếu tố khí tượng ảnh hưởng đến VLC, ảnh hưởng của địa hình đến vật liệu cháy
Năm 2008, Trần Văn Thắng đã nghiên cứu xây dựng giải pháp quản
lý thủy văn phục vụ phòng cháy chữa cháy rừng vườn quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang [24] Kết quả nghiên cứu cho thấy để đảm bảo an toàn cho rừng Tràm trên than bùn không bị cháy thì mực nước cần đảm bảo duy trì ở
Trang 26mức ngập 50 cm so với mặt than bùn Kết quả này làm cơ sở cho việc điều tiết chế độ thủy văn phục vụ công tác PCCCR ở VQG U Minh Thượng nhưng lại chưa có cơ hội để kiểm nghiệm thực tế
Năm 2008, Nguyễn Tuấn Anh đã phân vùng trọng điểm cháy cho tỉnh Quảng Bình [1].Tác giả đã đưa ra được mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí và lượng mưa trung bình theo kinh độ, vĩ độ và độ cao để có thể phân vùng trọng điểm cháy của Quảng Bình theo điều kiện khí hậu và địa hình thành 5 cấp Tuy nhiên đề tài mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng điển hình của khu vực, chưa có nghiên cứu về
ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến nguy cơ cháy rừng
Năm 2009, Nguyễn Đình Thành đã nghiên cứu giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm thiều nguy cơ cháy rừng trồng ở Bình Định [23] Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng thái Bạch đàn và Keo ở các tuổi khác nhau, ảnh hưởng của vật liệu cháy, độ ẩm vật liệu cháy và độ dốc đến khả năng cháy rừng, đồng thời cũng
đưa ra một số loài cây trồng làm băng xanh để giảm thiểu nguy cơ cháy rừng
như: Sao đen, Muồng đen, Chò chỉ, Dầu rái, Xoan ta, Bời lời nhớt, Sữa Tác giả cũng đã nghiên cứu thấy rằng với rừng trồng Bạch đàn thì việc đốt trước có hiệu quả hơn việc áp dụng biện pháp vệ sinh rừng Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ thử nghiệm trên diện tích chưa rộng và việc lựa chọn loài cây trồng làm băng cản lửa chưa được thử nghiệm trên từng điều kiện lập địa Vì vậy cần có những nghiên cứu cho các vùng lân cận để đánh giá chính xác hơn của nghiên cứu này Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng phân cấp khả năng xuất hiện cháy rừng theo độ ẩm VLC Việc dự báo khả năng cháy rừng và phân cấp mức
độ nguy hiểm của cháy rừng cho từng ngày cụ thể cần phải xác định chính xác độ
ẩm vật liệu trong ngày đó Nhưng thực tế điều này rất khó làm, nên việc dự báo
phải thông qua yếu tố khí tượng
Năm 2010, Trịnh Phú Thuận đã nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí [25] Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên trạng rừng tự nhiên (IIa, IIIa), rừng trồng Keo ở các cấp tuổi, rừng trồng Thông Bạch đàn ở các cấp tuổi Ảnh hưởng của vật liệu cháy, điều kiện khí tượng, điều kiện địa hình ảnh hưởng đến khả năng cháy rừng, xây dựng bản đồ quản lý cháy
Trang 27rừng cho khu vực Uông Bí Tác giả cũng đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật: xây dựng đường băng xanh cản lửa, đường băng trắng, quản lý vật liệu cháy, đốt trước vật liệu cháy…
Trong đề tài nghiên cứu đã chỉ ra rằng những nơi có địa hình dốc trên 250không nên xây dựng băng trắng cản lửa, nên xây dựng đường băng xanh, nếu trong trường hợp chưa có điều kiện có thể làm đường băng trắng 1-2 năm đầu sau
đó xây dựng đường băng xanh Việc đốt trước có điều khiển cần chú ý đến tuổi
rừng, tốc độ gió, chiều cao dưới cành của tầng cây cao, độ ẩm vật liệu cháy và thời
điểm đốt Tuy nhiên việc tiến hành nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái
rừng nhất định chưa được tiến hành trên diện rộng, tập trung ở phường Vàng Danh, Thượng Yên Công Chính vì vậy nếu có điều kiện nghiên cứu rộng hơn, thời gian theo dõi dài thì kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng trên diện rộng, chính xác
Nhìn chung quá trình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy rằng các tác giả đã vận dụng những phương pháp của thế giới thay đổi cho phù hợp với điều kiện của chúng ta Tuy nhiên thì việc nghiên cứu mới chỉ quan tâm nhiều đến nhân tố VLC, còn vấn đề quản lý nguồn VLC và các vấn đề kinh tế xã hội thì chưa được đi sâu nghiên cứu
Biện pháp KTLS là một trong những yêu cầu bắt buộc ngay khi tiến hành quy hoạch, thiết kế trồng rừng và trong suốt quá trình kinh doanh lợi dụng rừng Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật lâm sinh phòng cháy rừng (KTLSPCR) chủ yếu hướng vào:
(1) - Trồng rừng hỗn giao nhiều loài để hạn chế thực bì là tầng cây bụi và lớp thảm tươi sinh trưởng và phát triển Trước đây, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số ít các loài cây như: Bạch đàn liễu, Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Gần đây, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, các tác giả đã tập trung nhiều vào các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu giấy như: Keo lai, Keo tai tượng, Bạch đàn urophylla, Thông caribe,… Các công trình nghiên cứu quan trọng có thể kể đến là nghiên cứu phương thức trồng rừng hỗn giao cũng được nhiều tác giả quan tâm nhiều Cụ thể: Phùng Ngọc Lan (1991) [18] đã gây trồng rừng trồng hỗn giao Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm, Bạch
Trang 28đàn trắng ở Núi Luốt - Xuân Mai Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn
Quang Việt (1994) [27] đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phương thức trồng rừng hỗn giao giữa loài Bạch đàn trắng và Keo lá tràm, có kết luận: Keo lá tràm và Bạch
đàn trắng là cây ưa sáng ngay từ khi mới trồng, sinh trưởng nhanh; song mức độ ưa
sáng, tốc độ sinh trưởng và các đặc tính sinh vật học khác nhau của chúng không giống nhau; Keo lá tràm là cây họ đậu, hệ rễ có nhiều nốt sần, do đó bước đầu có thể khẳng định cây Bạch đàn trắng và cây Keo lá tràm có thể trồng hỗn giao với nhau; đến năm thứ 3, phương pháp hỗn giao cách tổ trong hang làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo lá tràm và cây Bạch đàn tốt hơn phương pháp hỗn giao với các loài khác Theo kết quả nghiên cứu Trần Nguyên Giảng (1985) [12] thí nghiệm trồng rừng hỗn giao trên đối tượng đất trống, trọc sau khí phá rừng để trồng cây lương thực, đất phát triển trên nền đá vôi; thực bì gồm cỏ là xen cỏ tranh, lau, găng gai,… Tác giả đã trồng Keo tai tượng và Keo lá tràm với mật độ 3.300 cây/ha làm
áo che phủ; khi keo được 2 tuổi, tác giả đã đưa vào trồng 10 loài cây lá rộng bản địa là: Lát hoa, Sấu, Nhội, Giổi, Kim giao, Trám trắng, Gội trắng, Muồng đỏ, Lim xẹt
và giữa hai hàng keo theo phương pháp hỗn giao các loài theo hàng, cự ly 2m x 2m Trong thời gian qua, các loài cây bản địa được trồng nhiều và đã được nhiều tác giả chú ý nghiên cứu đến; cụ thể: Nguyễn Bá Chất (1994) [4] nghiên cứu cơ cấu cây trồng và xây dựng quy trình hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủ yếu phục vụ Chương trình 327/CT-CP, sau đó là Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng của Chính phủ Trong thời gian qua, nhiều tác giả đã nghiên cứu và thử nghiệm trồng rừng hỗn giao ở nhiều vùng bằng nhiều loài cây với phương thức trồng khác nhau Tuy nhiên, các kết quả vẫn còn tản mạn, chưa được đúc kết, đánh giá và chưa được
áp dụng vào thực tiễn sản xuất; mặt khác, việc tìm chọn cấu trúc, loài cây, phương thức trồng và thời điểm hỗn giao cũng rất phức tạp Việc gây tạo rừng hỗn giao là mong muốn của nhiều nhà lâm học đã và đang nỗ lực nghiên cứu thí nghiệm tạo ra các lâm phần hài hòa, ổn định, bền vững về sinh thái và có giá trị cao về kinh tế (2) - Đốt trước vật liệu cháy là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy trong rừng bằng cách chủ động đốt những vật liệu dễ cháy trong các khu rừng có nguy cơ cháy cao vào thời gian trước mùa khô, nhưng có sự điều khiển của con người để
Trang 29không gây cháy rừng và hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của lửa gây ra Tuy nhiên, biện pháp này cho tới nay vẫn chưa được áp dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta Việc tiến hành đốt trước khá phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm và phải được chuẩn bị chu đáo cả về lực lượng, phương tiện dập lửa (Bế Minh Châu, Phùng Văn Khoa (2002)) [6]
Trong những năm gần đây, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu thử nghiệm về biện pháp đốt trước nhằm giảm khối lượng vật liệu cháy Cụ thể: Phó
Đức Đỉnh (1996) [11] đã thử nghiệm đốt trước vậy liệu cháy dưới tán rừng thông
non 2 tuổi tại Đà Lạt (Lâm Đồng) Tác giả cho rằng, ở rừng thông non nhất thiết phải thu gom vật liệu cháy vào chính giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn lửa âm ỉ, không cao quá 0,5m có thể gây cháy tán cây rừng Phan Thanh Ngọ (1996) [20] đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới tán rừng thông 8 tuổi ở Đà Lạt (Lâm Đồng); tác giả cho rằng, với rừng thông lớn tuổi không cần phải thu gom vật liệu cháy trước khi đốt mà chỉ cần tuân thủ những nguyên tắc
về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt và có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại rừng ở địa phương khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắk và Gia Lai Tác giả Thái Thành Lượm (1996) [19] đã áp dụng biện pháp đốt trước để xúc tiến tái sinh rừng tràm bằng cách đốt trực tiếp có kiểm soát đúng thời điểm, chia thành nhiều lần đốt để giảm bớt độ che phủ, kích thích hạt giống nảy mầm nhanh, hình thành lớp cây tái sinh dưới tán rừng
Năm 1986, Bộ Lâm Nghiệp nay là Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn
đã đưa ra quy định tạm thời về điều kiện đốt trước vật liệu cháy có điều khiển dưới
tán rừng thông Các vấn đề cần chú ý trước khi tiến hành đốt trước vật liệu cháy rừng được đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về lửa rừng Việt Nam Vì vậy, vẫn còn một số hạn chế như một số nghiên cứu nêu trên
Qua thực tiễn hoạt động và đức kết kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực lửa rừng trong thời gian từ năm 2001 - 2004, Phạm Ngọc Hưng và Bế Minh Châu đã tiến hành đánh giá kết quả thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) ở Việt Nam, từ việc tham khảo các công trình nghiên cứu đã được áp dụng trên thế giới và trong nước Các tác giả đã cho rằng, một trong những biện
Trang 30pháp PCR quan trọng là biện pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng biện pháp đốt trước có điều khiển Trên cơ sở đó, tác giả đã tổng hợp các vấn đề liên quan và cách tiến hành đốt trước vật liệu cháy áp dụng cho Việt Nam một cách khá toàn diện Tuy nhiên, do đặc điểm khí hậu của các khu vực rất khác nhau nên việc áp dụng các kết quả này vẫn còn nhiều hạn chế
Có thể nói rằng, những công trình nghiên cứu về biện pháp PCR ở nước ta có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng của các tác giả cho đối tượng rừng thông ở Tây Nguyên và rừng Tràm ở vùng Tứ giác Long Xuyên là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả của đốt trước vật liệu cháy để giảm nguy cơ cháy rừng cũng như lượng hóa các tác động của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng trồng Vì vậy, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
1.1.3 Nhận xét về vấn đề nghiên cứu
Tổng quan các vấn đề từ lý luận, thực tiễn và nghiên cứu liên quan đến PCR
ngoài nước và trong nước cho thấy:
- Trên thế giới nghiên cứu về PCCCR được bắt đầu từ thế kỷ XX Các kết quả nghiên cứu về bản chất của cháy rừng cũng chỉ ra 3 yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển cháy rừng là thời tiết, loại rừng và hoạt động kinh tế - xã hội của con người đồng thời cũng khẳng định rằng, chưa có một yếu tố nào khác ngoài ba yếu tố trên Về các kết quả nghiên cứu về DBNCCR đều khẳng
định mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện thời tiết với độ ẩm vật liệu cháy có khả
năng xuất hiện cháy rừng Hầu hết các phương pháp DBNCCR đều tính đến đặc
điểm diễn biến hàng ngày của các yếu tố khí tượng Đến nay, vẫn chưa có phương
pháp dự báo chung cho cả thế giới Đối với các công trình PCR hiện nay, vẫn chưa
đưa ra được phương pháp xác định tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình PCR Các
biện pháp KTLSPCR trong thời gian qua, cũng chủ yếu làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng các biện pháp trồng rừng hỗn giao và làm giảm nguồn vật liệu cháy bằng đốt trước
- Trong nước nghiên cứu về PCCCR bắt đầu từ năm 1981, có nhiều phương pháp DBNCCR khác nhau, trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của các trạng thái
Trang 31rừng, đặc điểm tiểu khí hậu và những yếu tố kinh tế - xã hội có liên quan ảnh hưởng tới cháy rừng ở địa phương Đối với các công trình PCR hiện nay, còn rất ít nghiên cứu về hiệu lực các công trình cũng như phương pháp PCR Song các công trình này, được xây dựng dựa vào tài liệu nước ngoài là chính Đối với các biện pháp KTLSPCR có nhiều mô hình trồng rừng hỗn giao giữa các loài cây trồng và có thể xem ba công trình thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy rừng là tiêu biểu nhất Tuy nhiên, các tác giả vẫn chưa định lượng được hiệu quả cũng như xác định được ảnh hưởng của đốt trước vật liệu cháy đến hoàn cảnh sinh thái và năng suất rừng, tính thuyết phục của biện pháp đốt trước vật liệu cháy rừng chưa cao
Hiện nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về PCCCR ở huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Trong quá trình xây dựng và thực hiện phương án PCCCR của Văn Yên người ta chưa bố trí được hợp lý các công trình PCCCR, hoặc tăng cường
được những trang bị cần thiết và tổ chức được lực lượng PCCCR hợp lý ở các khu
vực khác nhau trong địa bàn huyện, Điều này đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của
các hoạt động PCCCR của địa phương Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học
cho đề xuất một số giải pháp PCCCR tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái ” nhằm
giảm thiểu nguy cơ cháy rừng ở địa phương và hoàn thiện giải pháp KTLS PCR là hết sức cần thiết
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Văn Yên có diện tích tự nhiên là 139.043,8 ha trong đó đất lâm nghiệp là 103.869,33 ha chiếm 74,7 %, với đặc thù là huyện miền núi có điều kiện tự nhiên thiên nhiên phong phú, có diện tích đất rừng tự nhiên 56.670,8 ha, đất rừng trồng 36.416,5 ha
đây là điều kiện thuận lợi để đầu tư và phát triển ngành lâm nghiệp góp phần định canh định cư, tạo công ăn việc làm cho phần lớn nhân dân các dân tộc miền núi
- Từ 210 58' - 220 2' độ vĩ Bắc
- Từ 1040 31' - 1040 55' độ kinh Đông
Phía tây bắc giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
Phía Đông giáp huyện Trấn Yên
Trang 32Phía Tây và Tây - Nam giáp huyện Mù Cang Chải
Phía Đông - Bắc giáp huyện Lục Yên và Yên Bình
1.2.1.2 Địa hình
Huyện Văn Yên nằm trong vùng địa hình núi trung bình và núi cao của dãy Hoàng Liên Sơn, dãy núi Con voi thuộc lưu vực sông Hồng Nhìn toàn cảnh các dãy núi cao phổ biến từ 1.000 m đến 1.400 m, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, thoải dần về phía Đông Bắc Dãy núi cao nhất trong khu vực là đỉnh núi
điểm tiếp giáp ranh giới giữa xã Nà Hẩu, Phong Dụ Thượng với huyện Văn Chấn,
cao khoảng 1.783m
Khu vực có các kiểu địa hình chính sau đây:
- Kiểu địa hình núi cao (N1): Được hình thành trên đá biến chất, có độ cao từ
1.200m đến 1.783m Kiểu này phân bố ở trung tâm và ranh giới phía Nam của khu bảo tồn, mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình phổ biến từ 30-350 Tỷ lệ diện tích chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn
- Kiểu địa hình Núi trung bình (N2): Được hình thành trên đá biến chất, có
độ cao từ 900 m đến 1.200 m Kiểu này phân bố ở ranh giới giữa các xã của khu bảo
tồn, mức độ chia cắt mạnh, các sườn núi rất dốc, độ dốc trung bình từ 25-300, chiếm khoảng 20% tổng diện tích
- Kiểu địa hình Núi thấp (N3): Thuộc kiểu địa hình này là các dãy núi có độ
cao từ 500 m đến 900 m phân bố chủ yếu ở các khu vực phía Đông Bắc và phía Tây của khu bảo tồn Được hình thành trên các đá trầm tích lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, có hình dạng tương đối mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải,
độ dốc trung bình từ 20-250, chiếm khoảng 25% tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn
- Kiểu địa hình Đồi (Đ): Thuộc kiểu địa hình này là vùng đồi có độ cao từ
300 m đến 500 m, phân bố ở tất cả các xã Độ dốc không cao, trung bình khảng 200, chiếm khoảng 35% diện tích Đất ở đây được hình thành trên các đá trầm tích và biến chất, có kết cấu hạt mịn, hiện nay đang được trồng cây quế, cây lâu năm hoặc canh tác nương rẫy
- Kiểu địa hình thung lũng và bồn địa (T): Đây là những vùng trũng được
kiến tạo bởi giữa các dãy đồi núi, các thung lũng suối mở rộng, có địa hình tương
Trang 33đối bằng phẳng, thuận lợi cho canh tác nông nghiệp Kiểu địa hình này phân bố tập
trung ở trung tâm xã Nà Hẩu (khoảng 350 ha) và khu vực làng Bang của xã Đại Sơn (khoảng 70 ha)
1.2.1.3 Khí hậu
Khí hậu huyện Văn Yên mang đặc trưng của khí hậu nhiệt gió mùa, nóng ẩm
và mưa nhiều Hàng năm có hai mùa rõ rệt mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng và ẩm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh và khô
Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 220C đến 230C Tổng bức xạ 147 Kcl/cm2 (nằm trong vành đai nhiệt đới) Mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông-Bắc, nhiệt độ trung bình các tháng này thường dưới 200
C, nhiệt độ thường thấp nhất vào tháng 1 hàng năm với trung bình là 15,10C Mùa nóng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, thời tiết luôn nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình thường trên 250C Nhiệt độ cao nhất vào tháng 7, trung bình từ 27,6 đến 280C
nên vào mùa mưa có thể sảy ra lũ quét
1.2.1.5 Đất đai, thổ nhưỡng
Theo tài liệu địa chất miền bắc Việt Nam năm 1984 cho biết, huyện Văn Yên
có quá trình hình thành và phát triển địa chất rất phức tạp, toàn vùng có cấu trúc dạng nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ
Nhiều loại đất được hình thành trong điều kiện địa chất phức tạp với nhiều kiểu dạng địa hình và đá mẹ khác nhau chủ yếu gồm các loại đất feralit được phong hoá từ đá trầm tích, đá mácma và đá vôi, tầng đất dày với các khoáng vật khó phong
Trang 34hoá như Thạch anh, Silíc Thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình đến thịt nặng Những nhóm loại đất chính có trong khu vực gồm:
- Đất alít có mùn trên núi cao, được hình thành trong điều kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không đọng nước, tầng mùn nhiều, phân bố ở các đỉnh núi cao trên 1400 m
- Đất feralit có mùn trên núi cao và núi trung bình, được hình thành trong
điều kiện ẩm mát, không có kết von và nhiều mùn Nhóm loại đất này phân bố tập
trung ở các đai độ cao từ 700 m đến 1400 m
- Đất feralit đỏ vàng phát triển trên vùng đồi và núi thấp, được hình thành với quá trình feralitic rất mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào đá mẹ và độ ẩm Nhóm loại đất này phân bố chủ yếu ở đai độ cao dưới 700 m Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn Đất đai khá màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây trồng
- Đất dốc tụ chân đồi và ven suối, là loại đất tốt, có tầng dày, màu mỡ, phân
bố chủ yếu ở vùng thấp dưới 400 m hoặc vùng thung lũng và bồn địa
- Đất biến đổi do trồng lúa, là loại đất bị biến đổi do canh tác lúa nước, đất chua, quá trình Glây hoá mạnh
1.2.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế - xã hội
1.2.2.1 Tình hình dân số, dân tộc và lao động
Theo thống kê đến hết năm 2013 thì huyện Văn Yên có tổng số nhân khẩu là: 120.753 người với các thành phần dân tộc như: Kinh, Tày, Dao, Thái, H’Mông
Tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên là 86.338 người, trong đó lao động là Nam 43.177 người chiếm 50,01%, lao động là Nữ 43.161 chiếm 49,99%
1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Thực trạng phát triển kinh tế chung
Năm 2013 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8%, vượt 0,8% so với năm 2012; trong đó, ngành nông lâm nghiệp tăng 6%; công nghiệp xây dựng tăng 21,5%; thương mại và dịch vụ tăng 20% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp Thu nhập bình quân đầu người đạt 14 triệu
đồng/người/năm Sản xuất nông lâm nghiệp tiếp tục đạt được những kết quả tích
Trang 35cực, lương thực bình quân đầu người đạt 389,2kg/người/năm Giao thông, công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh, đã huy động tối đa nội lực và phát huy hiệu quả các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước cũng như sự đóng góp của nhân dân trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng Thu, chi ngân sách và các hoạt động tín dụng ngân hàng có nhiều đổi mới; tổng thu cân đối ngân sách trên địa bàn ước đạt 42 tỷ 253,2 triệu đồng Thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm cho người lao động Công tác giáo dục - đào tạo tiếp tục được củng cố, trình độ giáo viên từng bước được chuẩn hóa; duy trì tốt công tác phổ cập giáo dục THCS, Tiểu học và tỷ lệ học sinh ra lớp tại các cấp học Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao diễn ra sôi nổi, các ngày lễ lớn của huyện được tổ chức trang nghiêm
và trọng thể; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững , đã góp phần
ổn định tình hình kinh tế - xã hội của huyện trong năm và có chiều hướng phát
triển vững chắc
b) Thực trạng phát triển các ngành
Trong phát triển kinh tế, đã phát huy tối đa lợi thế tiềm năng về đất đai, tài nguyên, huy động mọi nguồn lực, khai thác triệt để các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển ổn định Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8%, đạt 100%
kế hoạch; trong đó, ngành nông lâm nghiệp tăng 6%, đạt 100% kế hoạch; công nghiệp xây dựng tăng 21,5%, đạt 100% kế hoạch; thương mại và dịch vụ tăng 20%,
đạt 100% kế hoạch
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ; giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp Năm 2013, tỷ trọng nông lâm nghiệp chiếm 36,7%, tỷ trọng công nghiệp xây dựng chiếm 32,8%; tỷ trọng thương mại và dịch vụ chiếm 30,5% Thu nhập bình quân đầu người đạt 14 triệu đồng/người/năm, đạt 100% kế hoạch, tăng 2,35 triệu đồng/người/năm so với năm 2012
* Sản xuất Nông nghiệp
- Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 46.199,5 tấn/44.203 tấn Lương thực bình quân đầu người đạt 389,2 kg/người/năm
Trang 36- Một số cây trồng khác: Diện tích khoai lang cả năm đạt 259,8, năng suất đạt 54,7 tạ/ha, sản lượng đạt 1.422,9 tấn Diện tích đậu tương đạt 656,1 ha
- Cây chè: Tổng diện tích chè hiện có 346,5 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 2.010 tấn Diện tích trồng cải tạo, thay thế chè cũ bằng chè giống mới nhập nội năm 2011: 14 ha/20 ha, diện tích còn lại nhân dân đã đào rạch và nhận giống chè để trồng trong vụ xuân năm 2014
* Chăn nuôi thú y, Bảo vệ thực vật, Khuyến nông
- Chăn nuôi thú y:
+ Chương trình phát triển chăn nuôi theo Đề án của huyện: Đã thực hiện hỗ trợ
được 07 cơ sở chăn nuôi, trong đó có 05 cơ sở chăn nuôi lợn nái và 02 cơ sở chăn
nuôi lợn thịt Thực hiện hỗ trợ mua 03 con lợn đực giống cho 03 cơ sở chăn nuôi lợn, hỗ trợ mua 02 con bò đực giống Lai sind cho 2 hộ
+ Công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm được duy trì thường xuyên; đã tiến hành tiêm phòng được 90.580 liều vắc xin các loại (trong đó: Vắc xin tụ huyết trùng trâu, bò: 29.950 liều, vắc xin tụ huyết trùng và dịch tả lợn: 39.070 liều, vắc xin phòng dại cho chó: 5.660 liều, vắc xin LMLM: 15.900 liều)
- Bảo vệ thực vật: Làm tốt công tác phòng chống sâu bệnh hại cây trồng, đặc
biệt là trên cây lúa và ngô Tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật về công tác BVTV cho 1.320 lượt người tham dự, cấp phát 3.555 bản tài liệu kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng
- Công tác khuyến nông: Thường xuyên kiểm tra, theo dõi tình hình sản xuất
nông lâm nghiệp trên địa bàn, tăng cường công tác hướng dẫn và chuyển giao khoa học kỹ thuật đến với người dân Tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật được 577 lớp và 1.759 nhóm hộ với 35.311 lượt người tham gia In và cấp phát cho nông dân 21.025 bộ tài liệu các loại, duy trì thông tin kỹ thuật trên 25 bản tin nông nghiệp tại
07 xã vùng dự án Phát triển vùng Văn Yên; xây dựng 100 hầm Biogas
* Lâm nghiệp
- Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, tổng diện tích trồng rừng mới và trồng bổ sung vào diện tích đã khai thác trong năm 2013 là 2.535ha/2.500 ha, đạt 101,4% kế hoạch Duy trì độ che phủ rừng năm 2013 đạt 65,0 %
Trang 37* Công tác Thủy lợi - thủy nông, Phòng chống lũ bão - tìm kiếm cứu nạn
- Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo dưỡng các công trình thuỷ lợi và hệ thống kênh mương nội đồng; khai thác có hiệu quả nguồn nước, đảm bảo điều tiết kịp thời phục vụ cho sản xuất
- Làm tốt công tác phòng chống bão lũ - tìm kiếm cứu nạn; duy trì nghiêm chế độ trực 24/24 giờ; cương quyết di dời các hộ dân ra khỏi vùng có nguy cơ cao
về lũ quét, sạt lở đất; đảm bảo chủ động khi có bão lũ xảy ra
* Tài nguyên - môi trường
- Tích cực triển khai thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
đăng ký đất đai, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường Thường xuyên
kiểm tra đối với các hoạt động khai thác, vận chuyển khoáng sản trái phép, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật
* Tài chính kinh tế, Thương mại dịch vụ
- Về công tác ngân hàng: Tổng nguồn vốn huy động tại địa bàn ước thực hiện hết năm 2013 là 383 tỷ 770 triệu đồng
- Hoạt động thương mại, dịch vụ trong năm đã có nhiều chuyển biến rõ rệt, chất lượng các dịch vụ được nâng lên và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
1.2.2.3 Hệ thống giao thông
Tổng giá trị thực hiện đầu tư phát triển trong năm 2013 ước đạt 755,3 tỷ
đồng/750 tỷ đồng, đạt 100,7% kế hoạch (tăng 120,3 tỷ so với năm 2012)
1.2.2.4 Y tế
Đến nay 27/27 xã, thị trấn của huyện đã có trạm y tế có tối thiểu 5 cán bộ, 312/312 thôn bản có nhân viên y tế thôn bản hoạt động, tỷ lệ giường bệnh trên một vạn dân là 10,99%, tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân là 4,55, tỷ lệ số trạm y tế có bác sỹ 70,37% 27/27 xã có trạm y tế xây kiên cố cấp 3 trở lên Công tác y tế dự phòng
được quan tâm, trú trọng, chủ động trong phòng, chống, khống chế dịch bệnh, nhiều
năm không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn huyện Công tác khám chữa bệnh
có nhiều tiến bộ vượt bậc, bình quân một người dân được khám bệnh 1,7lần/năm, tỷ
lệ khám bệnh và điều trị các bệnh thông thường tại trạm y tế trên 63%, tỷ lệ khám
Trang 38bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên 20%, 6/27 xã, thị trấn đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2020 Các chương trình mục tiêu quốc gia về
y tế, DS- KHHGĐ triển khai đồng bộ có hiệu quả, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ vắcxin đạt 99,5%, nhiều bệnh nguy hiểm đã được loại trừ ra khỏi cộng đồng…tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD còn 18,7% Chương trình tiêm chủng mở rộng, phòng chống SDD trẻ em đã góp phần rất lớn vào công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe trẻ em
1.2.2.5 Giáo dục và đào tạo
Huyện có 86 trường (17 trường Mầm non, 35 trường Tiểu học, 6 trường PTCS, 23 trường THCS, 3 trường THPT, 1 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, 1 Trung tâm giáo dục thường xuyên) với 1.421 lớp học, 32.553 học sinh, học viên Bình quân 3 người dân có 1 người đi học Đội ngũ cán bộ, giáo viên: 1.791 người đạt chuẩn hoá vào 2005, có 3 trường đạt chuẩn Quốc gia, 81,1 %
phòng học xây kiên cố (Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013)
Nhận xét và đánh giá chung
- Văn Yên có địa hình tương đối phức tạp, bị chia cắt mạnh, các khu vực có rừng lại ở xa khu dân cư nên việc đi lại rất khó khăn dẫn đến việc phát hiện ra cháy rừng cũng như việc tuần tra kiểm soát, tiếp cận đám cháy, huy động lực lượng, phương tiện và chỉ huy chữa cháy gặp nhiều khó khăn Thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp khô hanh, nắng nóng kéo dài kèm theo sương muối, mưa đá, nhiều làm chết hàng loạt thực bì dẫn đến làm tăng khối lượng vật liệu cháy trong rừng do
đó nguy cơ cháy rừng là rất lớn Vào mùa khô hanh gió Tây Nam thổi mạnh ảnh
hưởng rất lớn đến công tác PCCCR của các xã vùng trọng điểm cháy rừng khu vực
thượng huyện
- Diện tích đất có rừng trên địa bàn lớn chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện, các trạng thái rừng giàu phân bố ở các khu vực xa khu dân cư, giao thông đi lại tới các vùng rừng này rất khó khăn, dốc, nhiều thác gềnh rất khó kiểm soát được các hoạt động của người dân như đốt lửa sưởi ấm, đốt than, đun nấu trong rừng Mặc dù một số diện tích đã được giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình nhưng
Trang 39hiệu quả còn hạn chế (việc vệ sinh rừng làm giảm lượng vật liệu cháy, làm đường băng cản lửa trên diện tích rừng giao khoán bảo vệ chưa được thực hiện đầy đủ, đồng bộ vào mùa khô hanh) do đó tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao
- Dân số trên địa bàn huyện Văn Yên gồm nhiều dân tộc sống phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông lâm nghiệp Tập quán canh tác nương rẫy còn lạc hậu chủ yếu là phát, đốt nương rẫy không có kiểm soát nên ảnh hưởng lớn đến công tác PCCCR
- Hàng năm vào thời điểm sau tết Nguyên đán đồng bào dân tộc ở các xã đốt nương làm rẫy Trong khi thời điểm này thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, gió
to nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao
- Trên địa bàn toàn huyện Văn Yên nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội đã có bước phát triển, trường học, trạm xá, đường giao thông, thuỷ lợi, cấp nước sinh hoạt
đã được đầu tư xây dựng, tu sửa Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp các chỉ tiêu đều tăng vượt kế hoạch, tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ người lao động có việc làm tăng,
thu nhập của người dân tăng, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
- Tình hình kinh tế xã hội phát triển làm cho áp lực đối với rừng giảm Tuy nhiên, đặc thù của Văn Yên phần lớn là dân tộc thiểu số, giao thông đi lại tới các thôn, bản còn khó khăn, trình độ dân trí của một bộ phận dân cư còn hạn chế Tập quán canh tác nông lâm nghiệp còn lạc hậu vẫn phổ biến đốt phát dọn thực bì để làm nương rẫy gây cháy lan nên ảnh hưởng lớn tới công tác PCCCR Việc khai thác
sử dụng lâm sản, săn bắn động vật, chăn thả gia súc còn bừa bãi, tuỳ tiện ảnh hưởng tới chất lượng rừng Một số chính quyền cơ sở xã còn chưa nhận thức được tầm quan trọng của công tác PCCCR nên còn chủ quan, lơ là không chỉ đạo sát sao, chưa coi trọng tính phòng ngừa trong công tác PCCCR Việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất làm giảm một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nhân dân, làm giảm đáng kể sản lượng lương thực tạo áp lực lớn đối với rừng và đất lâm nghiệp do phát sinh nhu cầu khai phá đất sản xuất nương rẫy, ảnh hưởng trực tiếp
đến công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng và đặc điểm vật liệu cháy tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội đến công tác PCCCR trên địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Đánh giá thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa bàn huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và bài học kinh nghiệm trong công tác PCCCR tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả PCCCR tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Cháy rừng là hiện tượng oxy hóa các vật liệu hữu cơ do rừng tạo ra ở nhiệt
độ cao Cháy rừng chỉ xuất hiện khi có mặt đồng thời cả 3 yếu tố gồm: oxy, nguồn
lửa và vật liệu cháy Trong đó, nguồn lửa là một trong những nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến cháy rừng Theo những kết luận của nhiều công trình nghiên cứu thì
nguồn lửa dẫn đến cháy rừng ở Việt Nam phần lớn là do con người Những hoạt
động phổ biến nhất của con người có thể tạo nguồn lửa gây cháy rừng là đốt nương
rẫy, săn thú, bắt ong, đốt than, tảo mộ, nấu ăn, dọn thực bì trồng rừng, hoạt động du lịch v.v… Ở những nơi càng đông dân cư, hoạt động kinh tế xã hội càng nhộn nhịp, trình độ dân trí càng thấp, mâu thuẫn xã hội càng cao v.v… thì tần suất cháy rừng càng cao
Vật liệu cháy và những tính chất của nó có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến cháy rừng Theo kết quả của nhiều nghiên cứu thì những tính chất của vật liệu quyết
định đến khả năng bắt lửa và duy trì cháy rừng là độ ẩm, thành phần hoá học (tinh
dầu, chất tro), kích thước, khối lượng và phân bố không gian v.v Tính chất vật liệu