Tác giả Châu Đình Linh trường Đại học Ngân hàng TPHCM với đề tài “Chothuê tài chính với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”2015 tác giả nhậnđịnh: Sự ra đời và phổ biến của hoạt độn
Trang 1Trường Đại học Kinh tế quốc dân Viện Quản trị Kinh doanh
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
" THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG VỐN CHO
CÔNG TY TNHH CNC MOBILE"
Giảng viên hướng dẫn:
TS LÊ THỊ MỸ LINH
Học viên:
- Nguyễn Anh Tuấn
- Hoàng Thị Kim Dung
- Lê Trọng Hùng
- Vũ Tiến Quyết
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Trang 21 Tổng quan nghiên cứu
Liên quan đến đề tài “Huy động vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ” đã cómột số tác giả tiếp cận ở các góc độ khác nhau tuy nhiên chưa có tác giả nào viết
về giải pháp huy động vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực CNTT.Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài trong thời gian quanhư:
Tác giả TS Hoàng Đình Minh, TS Trương Bảo Thanh (2015) với đề tài “Khảnăng huy dộng vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam” Tác giả nêu rathực trạng các kênh cấp vốn cho DNVVN tại Việt Nam:
Tác giả phân tích ưu nhược điểm của các kênh cấp vốn, trong mỗi thời điểmthì mỗi kênh cấp vốn sẽ đóng vai trò khác nhau Tác giả đã đưa ra kết luận: kênhVCSH hoặc vay của người thân là rất khó thực hiện, vì chủ DN tại thời điểm hiệnnay đã đầu tư tất cả những gì họ có vào doanh nghiệp (DN) của mình Bốn kênhdẫn vốn còn lại đều rất khả thi với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nếu từ phía người
đi vay và người hỗ trợ tín dụng đều có những động thái thay đổi để tìm được tiếngnói chung trong vấn đề hỗ trợ tín dụng
Tác giả Trần Thị Thanh Tú, Đinh Thị Thanh Vân - Trường Đại học Kinh tế,Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Phát triển nguồn tài chính cho doanh nghiệp
Trang 3nhỏ và vừa (DNNVV) tại Hà Nội” Tác giả đi đánh giá thực trạng nguồn tài chínhcho DNNVV theo: Cơ cấu nguồn tài chính cho DN theo tính chất vốn, theo ngành
cụ thể, thực trạng nguồn vốn vay ngân hàng, các chính sách hỗ trợ đối vớiDNNVV, khó khăn – vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn Tác giả đưa ra khuyếnnghị: Để có thể tạo điều kiện hỗ trợ DNNVV tại Hà Nội tiếp cận các nguồn vốn,cần nghiên cứu các giải pháp từ phía chính quyền địa phương, từ doanh nghiệp vànhà cung cấp vố Gợi ý chính sách đối với Thành phố Hà Nội, giải pháp đối vớiDNNVV, đề xuất đối với nhà cung cấp vốn
Tác giả Châu Đình Linh trường Đại học Ngân hàng TPHCM với đề tài “Chothuê tài chính với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam”(2015) tác giả nhậnđịnh: Sự ra đời và phổ biến của hoạt động cho thuê tài chính và công ty cho thuêtài chính là điều tất yếu trong sự hoàn thiện hệ thống tài chính Những đóng gópcủa công ty cho thuê tài chính sẽ giúp cân bằng sự phát triển giữa thị trường tiền tệ
và thị trường vốn (thị trường vốn, trong đó có hoạt động cho thuê tài chính đangkhá èo uột và “đẩy” nhiệm vụ nguồn vốn trung dài hạn sang thị trường tiền tệ),đồng thời gia tăng thêm nguồn vốn trung dài hạn trong lựa chọn hình thành tài sảndài hạn của doanh nghiệp
Có nhiều tác giả khác đã viết về các đề tài liên quan huy động vốn như tác giả LêThị Bích Ngọc(2013):“Huy động vốn: Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nữ làm chủ
và doanh nghiệp nam làm chủ ở Việt Nam”; Tác giả sử dụng phương pháp nghiêncứu khảo sát Để nghiên cứu thực trạng việc huy động vốn của các doanh nghiệp,bài báo đã tiến hành thu thập dữ liệu thông qua điều tra các nghiệp chủ của cácDNNVV đóng trên các địa bàn các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa,Nghệ An, phía Nam có thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương Kết quả khảo sátthu được 449 phiếu phù hợp cho việc phân tích Các thước đo: nguồn vốn huyđộng - giai đoạn phát triển Nguồn vốn huy động để đo lường các nguồn vốn sửdụng của các doanh nghiệp, các nghiệp chủ được hỏi về tỷ lệ phần trăm của từngnguồn vốn trong tổng số vốn huy động thêm của các doanh nghiệp trong năm vừa
Trang 4qua Tổng các nguồn vốn tăng thêm bằng 100% Giai đoạn phát triển của doanhnghiệp thể hiện ở ‘tình huống’ tương ứng với ba giai đoạn phát triển của doanhnghiệp: giai đoạn mới thành lập, giai đoạn phát triển và giai đoạn trưởng thành.Các tình huống này do Kazanjian (1988) phát triển Chủ các doanh nghiệp đượcyêu cầu chọn 1 trong 3 tình huống phù hợp nhất với doanh nghiệp của mình ở thờiđiểm khảo sát Kết quả nghiên cứu đã đưa ra một số gợi ý cho các DNNVV nóichung, DNNVV nữ làm chủ nói riêng, cũng như các cơ quan ban ngành, tổ chứctrong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp này, đặc biệt là các doanh nghiệp nữ làmchủ cải thiện khả năng tiếp cận các nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn củacác ngân hàng và các công ty tài chính So với các doanh nghiệp của các đồngnghiệp nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp do nữ làm chủ cókhuynh hướng dựa vào nguồn vốn nội bộ từ lợi nhuận để lại hơn Doanh nghiệp nữlàm chủ cũng ít vay ngân hàng hàng hơn, đặc biệt ở giai đoạn phát triển và trưởngthành mặc dầu giai đoạn này nhìn chung các doanh nghiệp rất cần vốn để tăngtrưởng Điều này dẫn đến lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp nữ làm chủthường thấp hơn và điều đó cũng có thể giải thích lý do tại sao các doanh nghiệp
nữ là chủ thường có kết quả hoạt động kinh doanh kém hơn các doanh nghiệp củacác đồng nghiệp nam
Đề tài “Mô hình cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Kinh nghiệm châuPhi và bài học cho Việt Nam”(2015) của tác giả Phan Quốc Đông, Trần Hải Yến,Phạm Hà My, đại học Quốc gia Hà Nội khoa Kinh tế và Kinh doanh Bài viết tìmhiểu ba mô hình cho vay của Root Capital, E+Co và GroFin đối với các doanhnghiệp nhỏ và vừa (SMEs) ở châu Phi, góp phần giải quyết thành công bài toán vềvốn cho SMEs, đồng thời gắn cho vay với mục tiêu phát triển bền vững
Root Capital là một quỹ đầu tư xã hội phi lợi nhuận, cung cấp vốn vay ưu đãi
và hướng dẫn cách thức quản lý tài chính cho SMEs, các hộ nông dân, hợp tácxã… ở khu vực nông thôn và miền núi, đồng thời hướng doanh nghiệp đến cáchthức kinh doanh đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường tại các nước châu
Trang 5Phi và châu Mỹ Latinh Mô hình cho vay này nhằm thu hẹp khoảng cách giữa cácnước phát triển và đang phát triển, giúp SMEs tại các nước đang phát triển có thểtiếp cận và cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Mô hình cho vay của E+Co là một ví dụ điển hình về mô hình cho vay đầu tưphát triển bền vững ở khu vực nông thôn, điều mà chính các ngân hàng thương mạihay tổ chức tín dụng ở Việt Nam còn đang ngần ngại E+Co đã chấp nhận đầu tưtrong khi các tổ chức tài chính khác nhận định quá rủi ro khi đầu tư vào Zara Solar.Bên cạnh đó, quan điểm đầu tư tài chính truyền thống cho rằng đầu tư tài chính ởkhu vực nông thôn sẽ gặp rủi ro cao do không đủ tài sản thế chấp, điều kiện địa lýkhông thuận lợi, thị trường vốn nhỏ, trình độ nhà quản lý thấp, do vậy khó đảmbảo việc hoàn trả vốn
Nguyên lý kinh doanh của GroFin bắt nguồn từ thực tế các ngân hàng cho vaythường quan tâm đến yếu tố hàng đầu là giá trị của tài sản thế chấp và khả nănghoàn trả vốn vay của doanh nghiệp mà không cần quan tâm đến doanh nghiệp cóchiến lược ra sao, kinh doanh như thế nào… Ngược lại, GroFin xem xét việc ápdụng tài chính trên cơ sở tính khả thi, chứ không phải là tài sản thế chấp GroFin
am hiểu hoạt động kinh doanh cũng như nhu cầu của doanh nghiệp, tìm kiếm cácmối quan hệ hợp tác lâu dài GroFin không chỉ cung cấp các khoản vay cho doanhnghiệp, đồng thời còn cung cấp các giải pháp kinh doanh cho doanh nghiệp vayvốn nhằm tạo ra hiệu quả đầu tư tối đa
Các mô hình này đã kết hợp với hoạt động cho vay thuần túy, khai thác triệt
để các dịch vụ tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp để nâng cao năng lực quản lý kinhdoanh của doanh nghiệp, từ đó đảm bảo dự án vay vốn thành công và đảm bảo khảnăng trả nợ Kinh nghiệm thực tiễn này hoàn toàn có thể được nghiên cứu để ápdụng trong hoạt động cho vay đối với SMEs ở Việt Nam, đặc biệt là các doanhnghiệp đang lúng túng trong việc tìm kiếm cơ hội kinh doanh và quản lý tài chính,hướng tới phát triển bền vững
Như vậy chưa có nghiên cứu nào về giải pháp huy động vốn cho doanh
Trang 6nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực CNTT (áp dụng cho công ty CNC Mobile),chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnhvực CNTT có khả năng tiếp cận được nguồn vốn giúp doanh nghiệp phát triển ổnđịnh.
2 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ 21 là thế kỷ củaCông nghệ thông tin (CNTT), những đột phá quantrọng về CNTT đã thay đổi mạnh mẽ thế giới.Trong những năm gần đây CNTTđóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như nâng cao đờisống của người dân.Nghành CNTT với thế mạnh là ít vốn đầu tư, sử dụng chủ yếuchất xám đã trở thành mũi nhọn trong định hướng phát triển của nhiều quốc giatrên thế giới đặc biệt là các quôc gia đang phát triển như là Ấn Độ, Trung Quốc…Việt Nam khôngchỉ là nước tiêu thụ, ứng dụng mạnh các sản phẩm, phát minh củathế giới mà chúng ta đang nỗ lực phát triển nền công nghiệp CNTT theo hướngmạnh về sản xuấtđể tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu riêng của Việt Nam
Theo các nghiên cứu về sự phát triển của ngành CNTT thì giới trẻ của cácnước phát triển rất ngại theo ngành CNTT, do đó muốn phát triển đi tắt đón đầu thìNhà nước phải hoàn thiện tạo điều kiện tốt nhất để phát triển các doanh nghiệpCNTT, chủ yếu là các doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ
Do đó, Nhà Nước có chính sách thuận lợi để phát triển CNTT Xây dựng cácchính sách, giải pháp thúc đẩy phát triển CNTT như: xây dựng các chính sách, giảipháp huy động tối đa các nguồn lực đầu tư cho CNTT; chính sách kích cầu, pháttriển thị trường CNTT; chính sách về thuế và ưu đãi đầu tư; chính sách quản lý vàthúc đẩy phát triển các khu CNTT tập trung; chính sách, giải pháp tăng cường đầu
tư cho nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ về CNTT…
Hoạt động của ngành CNTT gặp rất nhiều khó khăn, đa phần các doanhnghiệp CNTT quy mô vừa và nhỏ, huy động vốn khó khăn, sức cạnh tranh thấp;hoạt động chủ yếu là lắp ráp, phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu; việc triển khaicác khu CNTT tập trung còn chậm, chưa có cơ chế đột phá để thu hút đầu tư phát
Trang 7triển công nghiệp CNTT, nhất là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; sự phối hợpgiữa các doanh nghiệp CNTT với cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành chưathường xuyên, chặt chẽ
Việc huy động vốn của các doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ đang rất nhiềukhó khăn điển hình là công ty CNC mobile.Công ty CNC mobile là một công tychuyên về phần mềm, đạt giải 3 “Nhân tài đất Việt”.Là một công ty phần mềm đã
có khá nhiều sản phẩm có thương hiệu nhưng công ty vẫn đang gặp phải khó khăntrong công tác huy động vốn
Công ty CNC Mobile đang phải huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức đầu tưmạo hiểm.Khi có các dự án, ý tưởng mới nhưng rất phụ thuộc vào việc kêu gọinguồn vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm dẫn đến công ty không chủ động đượctrong công tác triển khai dự án.Khi không kêu gọi được nguồn từ bên ngoài, công
ty cũng phải dựa vào cách huy động vốn từ chính những thành viên chủ chốt củacông ty để có vốn thực hiện các dự án
Hiện nay tại Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường huy động vốn
từ ngân hàng nhưng việc huy động vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp CNTT
là rất khó khăn do đặc thù của quá trình sản xuất và sản phẩm, mặt khác các ngânhàng không có khả năng thẩm định, đánh giá nên việc cho vay là rất khó khăn vàhầu như không có
Do đó việc đánh giá thực trạng huy động vốn và tìm ra giải pháp huy độngvốn cho doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ cụ thể là công ty CNC mobile là hết sứccần thiết, đóng góp vào việc phát triển của các doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏcũng như sự phát triển của ngành CNTT Việt Nam thực hiện mục tiêu đi tắt đónđầu, công nghiệp hóa hiện đại hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội củađất nước ta
3 Cơ sở lý thuyết
Trang 83.1.Nguồn vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
3.1.1.Khái niệm về vốn:
Vốn nói chung được hiểu là một khoản ền ban đầu hay số tài sản ch lũy thuộc
sở hữu cá nhân hay một đơn vị, nó khác với khoản lợi nhuận hay thu nhập phát sinh từ đó Như vậy theo nghĩa rộng vốn là những tài sản tích lũy được đóng vai trò
chủ yếu vào quá trình sản xuất Theo quan niệm đó thì cả tài nguyên, đất đai, laođộng, tri thức, trình độ‡tay nghề… cũng được coi là vốn Theo nghĩa hẹp, vốn làmột trong các nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất bao gồm: tài nguyên thiênnhiên, lao động, tư bản, công nghệ quản lý
Tuy nhiên, dưới góc độ doanh nghiệp, vốn là điều kiện không thể thiếu để
thành lập doanh nghiệp và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Vốn kinh
doanh là số ền đầu tư vào toàn bộ tài sản dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đặc điểm của vốn kinh doanh là phải đảm bảo đủ một số lượng
nhất định và sử dụng vào mục đích kinh doanh Vốn có vai trò nhất định đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để hình thành và phát triển sảnxuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải co vốn để mua nguyên vật liệu, trảlương và thanh toán các chi phí khác Đồng thời khi doanh nghiệp đã tiếnhành sảnxuất ổn định, doanh nghiệp cần mở rộng quy mô sản xuất và khai thác sản phẩmmới Do đó, yêu cầu của doanh nghiệp là phải có vốn để tiếp tục đáp ứng sự giatăng này
3.2 Các loại vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ
3.2.1 Nguồn vốn chủ sở hữu
Khi mới thành lập ban đầu, doanh nghiệp cần số vốn nhất định để tạo lập doanhnghiệp; số vốn ban đầu này dùng để thuê nhà xưởng, máy móc, thiết bị, thuê nhâncông, thanh toán cho các nhà cung cấp, mua nguyên vật liệu cho sản xuất, tiềnquảng cáo và các chi phí liên quan đến hoạt độngkinh doanh ban đầu Số vốn này
chính là vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc sỡ hữu của
chủ doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người khác Nguồn vốn
Trang 9này tạo điều kiện cho chủ doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc thực hiện
các quyết định tài chính của mình Đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau,nguồn vốn chủ sở hữu cũng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Ví dụ: đốivới công ty cổ phần thì vốn ban đầu là do các cổ đông đóng góp dưới hình thứcmua cổ phần; đối với công ty tư nhân thì vốn ban đầu là phần tích lũy của cá nhânchủ doanh nghiệp bỏ ra.… tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệpthường có xu hướng gia tăng nguồn vốn chủ sở hữu theo những cách thức khácnhau như tự bổ sung từ lợi nhuận để lại, các quỹ được hình thành từ nguồn lợinhuận và kinh phí Tuy nhiên, nguồn vốn chủ sở hữu thường bị hạn chế về quy mônên chưa đáp ứng mọi nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh
3.2.2 Nguồn vốn chính thức:
Khấu hao tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao động tham gia nhiều vào quá trình sản xuất.Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị của
nó vào giá thành sản phẩm Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tínhkhách quan, phụ thuộc vào nhiều nhân tố như chất lượng của bản than tài sản cốđịnh, các yếu tố tự nhiên, cường độ sử dụng tài sản cố định… Trong quá trình sử
dụng tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định mức độ hao mòn của chúng để
chuyển dần giá trị hao mòn vào sản phẩm được sản xuất ra từ các tài sản cố định
đó Việc xác định mức khấu hao cụ thể phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cốđịnh cũng như ý muốn chủ quan của con người Đối với các doanh nghiệp nhànước trong một chừng mực nhất định, quá trình xác định khấu hao chịu ảnh hưởng
ý đò của nhà nước thông qua các quy định, chính sách cụ thể của cơ quan tài chínhtrong từng thời kì Các doanh nghiệp khác có thể tự lựu chọn thời hạn sử dụng vàphương pháp tính khấu hao cụ thể, thích hợp Trong chính sách tài chính cụ thể ởtừng thời kỳ, doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh khấu hao tài sản cố định
và coi đây như một công cụ điều chỉnh nguồn cung ứng vốn bên trong của mình.Doanh nghiệp cũng cần chú ý rằng: điều chỉnh tăng khấu hao tài sản cố định sẽ dẫn
Trang 10đến tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm, vìvây, phương pháp này luôn bị khống chế bởi giá thành sản phẩm.
Tích lũy tái đầu tư
Tích lũy tái đầu tư luôn được các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tàichính quan trọng vì nó có các ưu điểm cơ bản sau:
Doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động
Giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng
Giúp cho doanh nghiệp tăng tiềm lực tài chính nhờ giảm tỷ lệ nợ/vốn
Tăng thêm niềm tin đối với doanh nghiệp từ phía các nhà cung ứng tài chínhQuy mô tự cung ứng vốn từ tích lũy tái đầu tư tùy thuộc vào hai nhân tố chủyếu là tổng số lợi nhuận thu được trong thời kỳ kinh doanh cụ thể và chính sáchphân phối lợ nhuận sau thuế của doanh nghiệp Tổng số lợi nhuận thu được trongtừng thời kỳ phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lượng hoạt động của doanhnghiệp đó trong từng thời kỳ đó Chính sách phân phối lợi nhuận cũng khác nhautùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp khác nhau
Điều chỉnh cơ cấu tài sản
Điều chỉnh cơ cấu tài sản không làm tăng tổng số vốn sản xuất – kinh doanhcủa doanh nghệp nhưng lại có tác động rất lớn cho việc tăng vốn cho các hoạt độngcần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những nơi không cần thiết Do môi trường kinhdoanh biến động, nhiệm vụ kinh doanh thay đổi nên trong kinh doanh luôn diễn rahiện tượng thừa loại tài sản này nhưng thiếu loại tài sản khác Điều chỉnh cơ cấu tàisản là việc kịp thời bán các tài sản cố định dư thừa, không (chưa) sử dụng đến; mặtkhác, phải trên cơ sở thường xuyên kiểm tra, tính toán và xác định lại mức dự trữtài sản lưu động trên cơ sở ứng dụng mô hình dự trữ tối ưu nhằm giảm lương lưukho tài sản lưu động không cần thiết, đảm bảo lương lưu kho mỗi loại tài sản hợplý
Vay vốn của các ngân hàng thương mại
Trang 11Vay vốn từ ngân hàng thương mại là hình thức doanh nghiệp vay vốn từ cácngân hàng thương mại với các kỳ hạn khác nhau như ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Đây là mối quan hệ tíndụng giữa một bên cho vay và một bên đi vay Với hình thức vay vốn từ ngân hàngthương mại doanh nghiệp có thể huy động được một lương vốn lớn, đúng hạn và
có thể mời các ngân hàng cùng tham gia thẩm định các dự án đầu tư lớn Bên cạnh
đó, để thực hiện được các hình thức vay vốn từ các ngân hàng thương mại đòi hỏidoanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán, chấp nhận các thủ tục ngặtnghèo Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp phải tính toán trả nợ ngân hàngtheo đúng tiến độ kế hoạch Mặt khác, khi doanh nghiệp vay vốn từ các ngân hàngthương mại đòi hỏi kiểm soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian chovay, ví dụ:
Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị tái sản cố định để tránh “ngâm”,vốn tránh rủi ro
Doanh nghiệp sẽ không được vay thêm dài hạn nều không có sự đồng ý cảungân hàng cho vay
Doanh nghiệp không được thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của ngân hàngcho vay
Ngân hàng cho vay có thể áp đặt cơ chế kiểm soát hoạt động đầu tư để tránhdoanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi
Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo củadoanh nghiệp
Tín dụng thuê mua
Trong cơ chế kinh tế thị trường, phương thức tín dụng thuê mua được thực hiệngiữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy móc thiết bị với một doanh nghiệpthực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ biến Sở dĩ hình thức thuê mua diễn
ra khá phổ biến là ví nó đáp ứng được nhu cầu cơ bản của bên có cầu và bên đápứng cầu Hình thức tín dụng thuê mua có ưu điểm cơ bản là giúp cho doanh nghiệp
Trang 12sử dụng vốn đúng mục đích, khi nào doanh nghiệp có cầu cụ thể về máy móc thiết
bị mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ ký hợp đồng thuê mua trong một khoảng thờigian sử dụng nhất định Doanh nghiệp không chỉ nhận được máy móc thiết bị màcòn nhận được tư vấn đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật cần thiết từ doanh nghiệpthực hiện chức năng thu mua Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể tránhđược những tổn thất do mua máy móc thiết bị không đúng yêu cầu hoặc do muanhầm Doanh nghiệp sử dụng có được máy móc thiết bị cần thiết mà không cầnphải đầu tư một lương vốn lớn Mặt khác, doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị
có thể giảm được tỉ lệ nợ/vốn vì tránh phải vay nợ ngân hàng thương mại Trongquá trình sử dụng máy móc thiết bị, doanh nghiệp sử dụng có thể thỏa thuận táithuê với doanh nghiệp có chức năng thu mua, tức là doanh nghiệp sử dụng bán mộtphần tài sản cho doanh nghiệp thuê mua rồi lại thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sảnthiết bị đó Với phương thức thuê mua, doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóngđổi mới tài sản cố định, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất, nâng cao khả năng cạnhtranh của mình Hạn chế cơ bản của tín dụng thuê mua đối với doanh nghiệp cócầu sử dụng máy móc thiết bị là chi phí kinh doanh sử dụng vốn cao và hợp đồngtương đối phức tạp
Cung ứng vốn từ ngân sách nhà nước
Với hình thức này doanh nghiệp sẽ nhận được lượng vốn xác định từ nhà nướccấp Thông thường, hình thức này không đòi hỏi các điều kiện ngặt nghèo như cáchình thức huy động vốn khác Tuy nhiên, càng ngày hình thức cụng ứng vốn từNgân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp bị thu hẹp cả về quy mô và phạm viđược cấp vốn Hiện nay, đối tượng được cung ứng vốn theo hình thức này thườngphải là các doanh nghiệp nhà nước, được nhà nước xác định duy trì để đóng vai tròcông cụ điều tiết kinh tế, các dự án đầu tư ở các lĩnh vực sản xuất hàng hóa côngcộng, hoạt động công ích mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư,các dự án lớn có tầm quan trọng đặc biệt mà Nhà nước làm chủ dự án Vì vậy, với