1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh

87 405 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 707,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II: Những nội dung cơ bản trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt: 1.Người được bảo hiểm Mỗi công trình xây dựng lắp đặt là một quy hoặch tổng thể có liên quanđến nhiều khía cạnh khác nhau củ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2008 khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới đã diễn ra, Việt Namđược coi là một trong những nước nằm bên lề của cuộc khủng hoảng, ít chịuảnh hưởng ảnh hưởng của khủng hoảng nhất Tuy nhiên, ảnh hưởng của nócũng đủ làm một nền kinh tế chưa phát triển như Việt Nam lao, đao khốn đốn.Ngành bảo hiểm Việt Nam cũng vì thế mà chịu tác động khó khăn, doanh thukhai thác toàn thị trường chững lại, số lượng các hợp đồng khai thác bị huỷgia tăng, số lượng đại lý nghỉ việc lớn nhất từ trước đến nay Bảo hiểm xâydựng lắp là một trong những nghiệp vụ bảo hiểm chịu ảnh hưởng nặng nềnhất, do ảnh hưởng của lạm phát làm giá trị nguyên vật liệu gia tăng, giá trịcông trình gia tăng theo đó mà chi phí bảo hiểm cho công trình cũng tăngtheo Thêm vào đó việc bãi bỏ quyết định 33 về biểu phí bảo hiểm xây dựnglắp đặt, cũng như bắt buộc mua bảo hiểm xây dựng lắp đặt đối với các côngtrình thi công có vốn đầu tư của nhà nước đã làm cho tình hình đã khó khăn

lại càng khó khăn hơn Do vậy, khi đi vào nghiên cứu đề tài : “ Thực trạng

và giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt tại công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh ” em chỉ muốn đi sâu vào xem xét đánh giá một

cách cụ thể hơn về tình hình nghiệp vụ và hi vọng đóng góp sức mình tìm ragiải pháp cho những vấn đề cũng như những vướng mắc hiện tại

Để hoàn thành bài viết này , em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm,giúp đỡ của các anh chị ở phòng Tài sản - kỹ thuật Bảo Minh Hà Nội cùngvới sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo - Thạc Sỹ Tôn Thị Thanh Huyền đãgiúp đỡ em trong thời gian thực tập và viết chuyên đề

Em xin chân thành cảm ơn !

Trang 2

Chương I :Lý luận chung về nghiệp vụ bảo hiểm XD & LĐ:

I: Lịch sử hình thành và sự cần thiết khách quan của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt:

1 Lịch sử hình thành và phát triển:

Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt là một bộ phận quan trọng của bảo hiểm

kỹ thuật.Chính vì vậy sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm xây dựnglắp đặt gắn liền với sự ra đời và phát triển của ngành bảo hiểm kỹ thuật Bảohiểm kỹ thuật cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác ra đời do đòi hỏi thực tếcủa nền kinh tế Bảo hiểm kỹ thuật ra đời đầu tiên tại miền bắc nước Anh, nơi

có quá trình công nghiệp hóa diễn ra sớm nhất Sự xuất hiện của quá trìnhcông nghiệp hóa đã làm ra đời các ngành công nghiệp phát triển, ra đờinhững máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất Sự xuất hiện của các nồi hơi,nồi áp suất, từ đó đã dẫn đến nguy cơ về nổ nồi hơi gia tăng, làm cho nhu cầucần được bảo hiểm gia tăng.Từ nhu cầu thực tế đó đã dẫn đến sự ra đời củabảo hiểm kỹ thuật Qua nhiều giai đoạn phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụnày đã trở thành một trong những nghiệp vụ kinh tế quan trọng không thểthiếu của nền kinh tế,và là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất đối vớicác doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Khi mới ra đời bảo hiểm kỹ thuật gồm một số nghiệp vụ như : Bảohiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm đổ vỡ máy móc,bảo hiểm trách nhiệm trong đơn bảo hiểm xây dựng lắp đặt, bảo hiểm giaiđoạn chạy thử, bảo hiểm thời gian bảo hành…

Ngày nay, bảo hiểm kỹ thuật gồm các nghiệp vụ sau:

1 Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu (CAR)

2 Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt (EAR)

3 Bảo hiểm đổ vỡ máy móc (MBI)

Trang 3

4 Bảo hiểm mất thu nhập do máy móc ngừng hoạt động (Loss ofprofit following machinary breakdown)

5 Bảo hiểm hàng hóa nhà kho lạnh

6 Bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí (Oil-Gar exploration andproduction insurance)

Trong đó mục 1, 2 ( CAR & EAR) chính là nghiệp vụ bảo hiểm xâydựng lắp đặt

Các loại hình bảo hiểm trong đơn bảo hiểm kỹ thuật có liên quan chặtchẽ với nhau, mỗi loại hình đều đảm bảo cho một khâu hay một giai đoạntrong quá trình sản xuất Có thể diễn giải mối quan hệ đó theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1 :Mối quan hệ giữa các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm thuật

Trong các nghiệp vụ của bảo hiểm kỹ thuật thì nghiệp vụ bảo xây dựnglắp phát triển mãnh mẽ nhất cả về số lượng cũng như chất lượng Điều này là

do nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, lắp đặt máy móc thiết bị ngàycàng gia tăng đặc biệt là ở những nước đang trong giai đoạn kiến thiết nềnkinh tế như Việt Nam Theo thống kê thì các nước trên thế giới duy trì đầu tư

BHXD(khởi công xd công trình )

BHLĐ(công việc lắp đặt)

BH thiết bị điện tử BH bắt đầu sản xuất

(BH máy móc)

Bảo hiểm bảo hành

Trang 4

cho xây dựng ở mức trên dưới 10% (Nhật bản năm 1997 đầu tư cho xây dựng

là 575.4 tỷ USD, chiếm 15% GDP, Trung Quốc là 182 tỷ tương đương 20%GDP)

Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, đây là loại hình bảo hiểm tương đối phứctạp so với các loại hình bảo hiểm khác, các loại đơn bảo hiểm rất đa dạngnhư:

 Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu (CARI)

 Bảo hiểm cho chủ thầu

 Bảo hiểm chi phí cho chủ thầu (cost of contractor)

 Bảo hiểm rủi ro cho xây dựng (Civil engineering risk)

 Bảo hiểm rủi ro lắp đặt

 Bảo hiểm trách nhiệm chủ thầu và người thứ 3

 Bảo hiểm bảo hành

Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay của các nước trên thế giới,bảo hiểm xây dựng –lắp đặt chắc chắn sẽ còn phát triển mãnh mẽ hơn nữa

 Ở nước ta, ngày 7/8/1991 BTC đã ban hành quyết định số253/TCQĐ cho phép Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam và các công ty bảohiểm địa phương tiến hành triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt.Từ

đó đến nay có rất nhiều thông tư, quyết định cũng như các văn bản pháp luậtkhác đã được ban hành góp phần điều chỉnh và phát triển nghiệp vụ bảo hiểmxây dựng lắp đặt trong nước.Tuy nhiên, nhiều trong số những văn bản đó đãhết hiệu lực Hiện nay, văn bản pháp lực có hiệu lực thi hành mạnh nhất đó làluật kinh doah bảo hiểm , và luật xây dựng

Đơn bảo hiểm lắp đặt đầu tiên tại Việt Nam là đơn bảo hiểm mọi rủi rolắp đặt (EAR) cho trạm thu phát sóng vệ tinh mặt đất Láng Trung, đây là côngtrình liên doanh giữa tổng công ty bưu chính viễn thông và hãng Teltra của Úc

Từ đó đến nay, bảo hiểm xây dựng lắp đặt ngày càng phát triển trở thành mộttrong những nghành mũi nhọn của của các công ty phi nhân thọ Việt Nam

Trang 5

2.Vai trò và sự cần thiết khách quan của ngành bảo hiểm xây dựng lắp đặt:

2.1 Vai trò:

Ngành xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tếquốc dân, đóng vai trò quan trọng chủ chốt ở khâu cuối cùng trong quá trìnhhình thành nên cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố định (xây dựng công trình

và lắp đặt thiết bị, máy móc vào công trình ) cho mọi lĩnh vực hoạt động củađất nước

Ở nước ta ngành xây dựng lắp đặt là ngành sản xuất vật chất lớn nhấtcủa nền kinh tế quốc dân, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội.Hàng nămxây dựng cơ bản chiếm tỉ lệ cao trong tổng nguồn vốn đầu tư của nhànước.Chiếm khoảng chừng 25-26% GDP hàng năm Xây dựng lắp đặt nhằmbảo đảm và không ngừng nâng cao năng lực sản xuất, năng lực tự phục vụcho các ngành kinh tế ,các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Tất cả cácngành kinh tế khác chỉ có thể phát triển được khi có ngành xây dựng lắp đặtthực hiện xây dựng cơ sở vật chất tạo nền tảng cho sự phát triển của ngànhkhác Điều này do những lý do sau:

 Xây dựng lắp đặt nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao năng lựcsản xuất, năng lực tự phục vụ cho các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.Tất

cả các ngành kinh tế muốn phát triển phải có cơ sỡ hạ tầng, móc phát triểntương ứng

 Xây dựng lắp đặt nhằm tạo mối quan hệ tỉ lệ, cân đối hợp lý sức sảnxuất cho sự phát triển kinh tế giữa các nghành, các khu vực, các vùng kinh tếtrong giai đoạn xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Tạo điều kiện xóa bỏdần sự cách biệt giữa các thành thị, nông thôn, miền ngược, miền xuôi.Nângcao trình độ phát triển cho các đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 6

 Xây dựng lắp đặt góp phần nâng cao hiệu quả,chất lượng của cáchoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng, thông qua việc đầu tư xây dựng cáccông trình xã hội, dịch vụ cơ sỡ hạ tầng ngành càng đạt trình độ cao.Góp phầnnâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người.

 Xây dựng lắp đặt góp phần đáng kể lợi nhuận cho nền kinh tế quốcdân.Hàng năm ngành xây dựng lắp đặt đóng góp hàng tỉ đồng cho ngân sáchnhà nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người lao động, chiếmkhoảng 6% lao động trong xã hội

Tóm lại xây dựng lắp đặt đóng vai trò quan trọng trong việc phát triểnnền kinh tế quốc dân.Nó quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật của xã hội,của đất nước nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giaiđoạn hiện nay nói riêng

2.2 Sự cần thiết khách quan:

Thế kỷ 20 và 21 là thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của những phát minh

và thành tựu khoa học Sự phát triển đó đã cho ra đời nhiều máy móc hiện đại

và tinh vi Tuy nhiên đi liên với các phát kiến ra những máy móc hiện đạicũng làm cho rủi ro trong cuộc sống con người gia tăng nhiều hơn Do đó bảohiểm kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và ổn định nền kinh

tế Vai trò của ngành bảo hiểm kỹ thuật thể hiện rõ từ những việc nhỏ trongphòng thí nghiệm cho tới những công việc nặng nhọc trên các dàn khoan khaithác dầu cũng đều có nhu cầu bảo hiểm

Rủi ro trong ngành xây dựng và lắp đặt rất đa dạng và phong phú Từnhững rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng, do thiên tai gây ra như:thiêntai, lũ lụt, sụt lở, lốc xoáy, núi lửa phun cho tới những rủi ro do hành độngphá hoại của con người như:hành động cố ý phá hoại, hành động bấtcẩn Những rủi ro này khi xảy ra thường để lại hậu qủa nặng nề thậm chícòn có thể gọi là thảm họa Đặc biệt ngày nay, khi có nhiều máy móc tinh vi

Trang 7

hiện đại với giá trị lớn được đưa vào sử dụng thì khi có rủi ro xảy ra tổn thất

là rất to lớn thậm chí có thể dẫn đến phá sản

Bảo hiểm xây dựng lắp đặt cũng giống như các loại hình bảo hiểm khácgóp phần khắc phục khó khăn cho người được bảo hiểm khi có các rủi ro xẩy

ra, ổn dịnh và phát triển nền kinh tế

Khi tiến hành bảo hiểm xây dựng lắp đặt thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ

đề ra các biện pháp giảm thiểu các rủi ro xảy ra cho người bảo hiểm và công

ty bảo hiểm cùng thực hiện từ đó làm giảm thiểu các khả năng xảy ra tổn thấtcũng như mức độ tổn thất

Bảo hiểm xây dựng lắp đăt góp phần khắc phục thiệt hại cho chủ đầu

tư Khi rủi ro xảy ra số tiền bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ giúpcác chủ thầu cũng như chủ đầu tư nhanh chóng khắc phục hậu quả của tổnthất, đảm bảo tiến độ công trình Tạo điều kiện cho nhanh chóng hòan thành

và đưa công trình vào sử dụng

Bảo hiểm xây dựng lắp đặt góp phần giúp chia sẽ rủi ro giữa các chủđầu tư, chủ dự án với nhau, làm chia nhỏ rủi ro và ảnh hưởng của nó

II: Những nội dung cơ bản trong bảo hiểm xây dựng và lắp đặt: 1.Người được bảo hiểm

Mỗi công trình xây dựng lắp đặt là một quy hoặch tổng thể có liên quanđến nhiều khía cạnh khác nhau của các vấn đề pháp luật, hợp đồng và kỹ thuậtcho nên việc hợp tác chặt hcẽ giữa các bên là vấn đề cần thiết không thể thiếuđược Chính vì vậy việc xác định rõ người được bảo hiểm trong một côngtrình xây dựng lắp đặt là rất cần thiết Trong bảo hiểm xây dựng, tất cả cácbên có liên quan tới công việc xây dựng và có quyền lợi trong công trình xâydựng lắp đặt và đưựoc nêu tên hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều

có thể là người được bảo hiểm:

•Chủ đầu tư hoặc chủ công trình(bên A trong hợp đồng xây dựng)

Trang 8

•Nhà thầu chính (bên B trong hợp đồng xây dựng)

•Các nhà thầu phụ

•Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cố vấn chuyên môn.Tuy nhiên, hợpđồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt không bảo hiểm cho trách nhiệm nghềnghiệp của các kiến trúc sư, cố vấn chuyên mông, các kỹ sư tư vấn mặc dù họ

có liên quan đến công trình xây dựng

Mối quan hệ các bên có liên quan đến công trình xây dựng như sau:

Sơ đồ 2: Các bên có liên quan trong công trình xây lắp

Do có nhiều bên được bảo hiểm nên sẽ nảy sinh vấn đề đơn bảo hiểm

sẽ ghi tên ai hay ai sẽ là người được ghi tên đầu tiên.Thông thường ngườiđứng ra ký hợp đồng bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện cho các bêntrong hợp đồng bảo hiểm.Vì vậy trong hợp đồng sẽ ghi ra ai là người đứng rađại diện kèm theo danh sách của những người có quền lợi liên quan đến côngtrình Tuy nhiên trong thưc tế, do khi đứng ra ký kết hợp đồng thì được nhận

Các nhà thầu phụ

Trang 9

hoa hồng, và người đó phải có hiểu biết về công trình xây dựng để khi có rủi

ro xảy ra có thể đứng ra dàn xếp đòi bồi thường nên, nên thông thường chủđầu tư sẽ đứng ra chỉ định công ty bảo hiểm để cho chủ thầu chính ký hợpđồng.Làm như thế thì chủ đầu tư vừa thu được hoa hồng phí bảo hiểm mà khi

có rủi ro xảy ra thi chủ thầu lại phải đứng ra đòi công ty bảo hiểm.`

2 Đối tượng được bảo hiểm:

Hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt có tên gọi là CAR & EAR( contructor all risk and Engieering risk insurance) thực chất nó là hai hợpđồng bảo hiểm luôn đi kèm nhau: hợp đồng bảo hiểm xây dựng và hợp đồngbảo hiểm lắp đặt Do vậy để xem xét đối tượng bảo hiểm của hợp đồng bảohiểm xây dựng lắp đặt ta cần xem xét đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng xâydựng và đối tượng bảo hiểm trong hợp đồng lắp đặt

2.1 Trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng:

CAR - Bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu:

Bảo hiểm xây dựng lắp đặt là hợp đồng bảo hiểm trọn gói, như tên gọicủa nó Contructor all risk- bảo hiểm mọi rủi ro cho chủ thầu Chính vì vậyđối tượng bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt bao gồm có tàisản, con người, trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3 Tuy nhiên, đối tượngchủ yếu trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt là tài sản, nhưng thôngthường trong hợp đồng sẽ đi kèm các điều khoản bảo vệ cho cả phần tráchnhiệm dân sự và công nhân thi công công trình trong trường hợp chủ thầu yêucầu Vì vậy để xét đối tượng trong bảo hiểm lắp đặt chúng ta phải xem xéttrong các trường hợp sau:

2.1.1 Trong trường hợp đối với phần tài sản :

Đối tượng bảo hiểm bao gồm tất cả các công trình xây dựng dân dụng,

công trình công nghiệp, v v hay nói cách khác là tất cả các công trình có sửdụng xi măng và bê tông cốt thép Cụ thể là các nhóm công trình sau:

Trang 10

•Nhà ở , trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếuphim, các công trình văn hoá khác,…

•Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất;

•Đường sá (bao gồm cả đường bộ và đường sắt), đường băng sân bay;

•Cầu cống, đê đập, công trình thoát nước, kênh đào , cảng…

Mỗi công trình gồm nhiều hạn mục riêng biệt và được xác định và dựtoán thông qua sơ đồ tổng thể , bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết

bị cần thiết phục vụ cho công tác xây dựng cũng như các công việc có liênquan trong quá trình xây dựng Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũngnhư giải quyết khiếu nại trong trường hợp tổn thất xảy ra, một công trìnhđược xây dựng được chia làm nhiều hạng mục khác nhau, bao gồm:

a.Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng :Hạng mục này chiếm

phần lớn giá trị công trình.Nó bao gồm tất cả các công việc thực hiện bởi chủthầu chính (bên B) và tất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo quyđịnh của hợp đồng xây dựng ký kết giữa bên A và bên B :Từ công tác chuẩn

bị, dọn dẹp mặt bằng, xây dựng các công trình tạm thời phục vụ cho công tácthi công cho đến công tác đóng cọc, làm móng và xây dựng cấu trúc chínhcủa công trình

b Trang thiết bị xây dựng : Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công

như các công trình phụ trợ (lán trại, trụ sở làm việc tạm thời, kho bãi , nhàxưởng ), giàn giáo, rào chắn, hệ thống băng tải, v v khi yêu cầu bảo hiểmcho các thiết bị này, cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm

c Máy móc xây dựng: Bao gồm các máy móc có động cơ tự hành hoặc

không tự hành phục vụ công tác thi công (ví dụ như máy xúc, máy ủi, cầncẩu, xe chuyên dùng,…)thuộc quyền sỡ hữu của người được bảo hiểm hoặc

do họ đi thuê.Các loại máy móc này chỉ được bảo hiểm trong thời gian sử

Trang 11

dụng trên công trường.Khi yêu cầu bảo hiểm cho các loại máy móc nàycầnphải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm.

d.Các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực công trường thuộc quyền sở hữu, quản lý, trông nom hay coi sóc của người được bảo hiểm.Trường hợp này thường có ỏ các công trình mở rộng hoặc cải tạo lại, các

tài sản có trên có thể bị thiệt hại trong quá trình xây dựng mới.Giá trị của cáctài sản này không nằm trong giá trị của công trình mới nên chúng khôngthuộc phạm vi bảo hiểm của đơn bảo hiểm xây dựng.Nhưng nếu người đượcbảo hiểm có nhu cầu thì người bảo hiểm có thể xem xét và mở rộng phạm vibảo hiểm theo điều khoản bổ sung,

e.Chi phí dọn dẹp hiện trường:Bao gồm các chi phí phát sinh do việc

thu dọn và di chuyển mảnh vụn, đất đá do các rủi ro xảy ra trên phạm vi côngtrường

2.1.2 Trong trường hợp đối tượng là trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3.

Chính là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa người được bảo hiểm đốivới người thứ 3 do lỗi của người được bảo hiểm và có gây ra tổn thất chongười thứ ba Đối tượng này bao gồm : trách nhiệm pháp lý do thiệt hại về tàisản và/hoặc thương tật của bên thứ 3 phát sinh trong quá trình thi công côngtrình tại hoặc xung quanh khu vực công trường Tuy nhiên cần lưu ý rằng cáctổn thất đối với người làm công, người thân hoặc người đại diện của ngườiđược bảo hiểm không thuộc phạm vi của bảo hiểm này

2.1.3 Trong trường hợp đối tượng là con người:

Trong trường hợp này đối tượng là công nhân, kỹ sư , cán bộ giám sátcông trình, những người tham gia các công việc thi công trên công trường.Bảo hiểm xây dựng bảo hiểm cho những tổn thất , thương tất của công nhân ,

Trang 12

kỹ sư, cán bộ giám sát công trình, những người tham gia trên công trinh xâydựng trong quá trình thi công công trình.

2.2 Trong hợp đồng lắp đặt:

Hợp đồng bảo hiểm lắp đặt cũng giống như bảo hiểm lắp đặt là hợpđồng bảo hiểm trọn gói Bảo hiểm lắp đặt bảo hiểm cho mọi rủi ro trong lắpđặt, bao gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người Do đó xem xét đối tượngbảo hiểm lắp cũng như khi xem xét bảo hiểm xây dựng chúng ta phải xem xétđối tượng trên

2.2.1 Trong trường hợp đối tượng bảo hiểm là tài sản :

Trong trường hợp này đối tượng bảo hiểm chính là các máy móc lắpđặt, trang thiết bị phục vụ cho công tác lắp đặt và một số công việc, hạng mụcliên quan đến công việc lắp đặt Đối tượng được bảo hiểm được phân loại nhưsau:

•Các máy móc thiết bị, các dây chuyền đồng bộ trong một xí nghiệphay trong khi tiến hành lắp đặt các máy móc thiết bị đó;

•Các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho lắp đặt;

•Các phần việc xầy dựng phục vụ cho công tác lắp đặt;

•Trách nhiệm dân sự đối với bên thứ 3

•Chi phí dọn dẹp vệ sinh

2.2.2 Trường hợp đối tượng là con người và trách nhiệm dân sự thì

tương tự như trong hợp đồng xây dựng ở trên

3.Phạm vi được bảo hiểm :

3.1 Các rủi ro được bảo hiểm:

3.1.1 Các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm xây dựng :

Các đơn bảo hiểm xây dựng do công ty bảo hiểm cấp hầu hết là đơnbảo hiểm mọi rủi ro nên phạm vi bảo hiểm thường rất rộng, chỉ trừ các rủi roloại trừ được nêu rõ trong đơn bảo hiểm(theo thông lệ quôc tế ) còn hầu hết

Trang 13

các rủi ro bất ngờ và không lường trước được đều được bảo hiểm theo đơnbảo hiểm xây dựng.

Cụ thể, trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểmphát sinh khi tổn thất xảy ra cho các đối tượng được bảo hiểm do các rủi rochính sau:

•Cháy, sét đánh, nước chữa cháy hay phương tiện chữa cháy;

•Lũ lụt, mưa, tuyết rơi, tuyết lở, sóng thần;

3.1.2 các rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm lắp đặt:

Những rủi ro được bảo hiểm trong bảo hiểm lắp đặt được chia làm 3loại chính:

•Các rủi ro thiên tai bao gồm động đất, động biển gây ra sóng thần, giómạnh, (do bão, gió xoáy, cuồng phong), mưa lớn, lũ, lụt, ngập lụt, đóngbăng,sét đánh, cháy do sét đánh hay do hoạt động của núi lửa, đất đá lún, sụtlở

•Các hiểm hoạ tổn thất gây ra bởi hoạt động của con người trên côngtrường như:Thiếu kinh nghiệm hay kỹ năng, lỗi của con người, bất cẩn, trộmcắp, hành động ác ý, phá hoại , vận chuyển, khuân vác nguyên vật liệu, lỗithiết kế, tập trung cao độ hay cường độ công việc cao do thời gian quá ngắn,phối hợp công việc thiếu hợp lý, trong nom, bảo vệ công trường không tốt,thiếu những biện pháp ngăn ngừa tổn thất, lỗi vận hành, lỗi người vận hành

Trang 14

•Các rủi ro kỹ thuật, vận hành bao gồm áp suất ép quá lớn (nổ vật lý),chân không(nổ bên trong), nhiệt độ áp suất quá lớn (đoản mạch ), lực li tâm,lỗi nguyên, vật liệu,mất kiểm soát phản ứng hoá học (nổ hoá học), lỗi của hệthống hay thiết bị điều hành hay điều khiển.

3.2 Các rủi ro loại trừ:

3.2.1 Các rủi ro loại trừ chung phần trách nhiệm và phần vật chất

Trong đơn bảo hiểm xây dựng lắp đặt các rủi ro loại trừ chung cho cảphần bảo hiểm vật chất và bảo hiểm trách nhiệm bao gồm:

•Chiến tranh hay những công việc tương tự, đình công, nổi loạn,ngừng công việc, yêu cầu của bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào

•Hành động cố ý hay sự cẩu thả cố ý của người được bảo hiểm hoặcđại diện của họ;

• Phản ứng hạt nhân, phóng xạ hay ôi nhiễm phóng xạ

•Các rủi ro loại trừ áp dụng với phần bảo hiểm vật chất bao gồm:

Bất kỳ loại tổn thất nào có tính hậu quả;

•Hỏng hóc cơ khí/điện hay sự trục trặc của máy móc trang thiết bị xâydựng;

•Lỗi thiết kế;

•Chi phí thay thế, sữa chữa hay khắc phục khuyết tật của nguyên vậtliệu và/hoặc do tay nghề(các tổn thất hư hại do hậu quả thì được bảo hiểm);

•Các khoản miễn thường;

•Các tổn thất về hồ sơ, bản vẽ, tài liệu;

•Các tổn thất vào thời điểm kiểm kê (mất cắp, mất tích);

3.2.2 Các loại trừ đối với phần bảo hiểm trách nhiệm:

Trang 15

•Khiếu nại tổn thất liên quan đến tai nạn được bảo hiểm hay có thểđược bảo hiểm trong phạm vi của phần bảo hiểm vật chất của đơn bảo hiểmxây dựng.

•Khiếu nại phát sinh do dịch chuyển, rung động hay suy yếu của cộtchống

•Mức khấu trừ quy định trong hợp đồng bảo hiểm Người được bảohiểm phải tự chịu mức khấu trừ này trong mỗi sự kiện bảo hiểm;

•Chi phí chế tạo, chế tạo lại, nâng cấp, sửa chữa hay thay thế các hạngmục được bảo hiểm hoặc có thể được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợpđồng bảo hiểm;

•Trách nhiệm do hậu quả của:

•Các thương vong, ốm đau gây ra cho người làm thuê hay công nhâncủa nhà thầu hay của chủ công trình hoặc của bất kỳ doanh nghiệp nào khác

có liên quan đến công trình được bảo hiểm toàn bộ hay một phần theo thoảthuận trong hợp đồng bảo hiểm hay gây ra cho thành viên trong gia đình họ;

•Tổn thất gây ra đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hay quyền quản lý,chăm nom, coi sóc hay kiểm soát của nhà thầu, của chủ công trình hay của bất

kỳ doanh nghiệp nào khác có liên quan đến công trình được bảo hiểm toàn bộhay một phần theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hay của người làmthuê hoặc công nhân của một trong những người nói trên;

•Tai nạn gây ra bởi xe cơ giới được phép lưu hành trên đường côngcộng hay bởi phương tiện vận tải thuỷ hay máy bay;

•Bất kỳ thoả thuận nào của người được bảo hiểm về việc trả một khoảntiền dưới hình thức đền bù hay dưới hình thức khác, trừ khi trách nhiệm đóthuộc trách nhiệm bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm

Trang 16

•Trách nhiệm phát sinh do người được bảo hiểm cung cấp hoặc khôngcung cấp lời khuyên, dịch vụ có tính chất chuyên môn hoặc do bất cứ lỗi hoặcthiếu sót nào có liên quan;

•Trách nhiệm phát sinh từ sự ô nhiễm hoặc nhiễm bẩn trừ việc phá huỷhoặc gây thiệt hại đến đối tượng bảo hiểm do ô nhiễm hoặc nhiễm bẩn xuấtphát từ bất cứ rủi ro được bảo hiểm nào và trách nhiệm phát sinh liên quanđến các vật liệu hoặc chất phế thải sẵn có hay được thải ra;

•Trách nhiệm phát sinh từ hay có liên quan đến chất Amiăng;

•Trách nhiệm liên quan đến tiền phạt khi không thực hiện hợp đồng

3.2.3 Các loại trừ đối với phần bảo hiểm vật chất:

•Mức khấu trừ quy định trong hợp đồng bảo hiểm Người được bảohiểm phải tự chịu mức khấu trừ này trong mỗi sự kiện bảo hiểm thiệt hại vậtchất

•Tất cả các loại tổn thất có tính chất hậu quả, bao gồm tiền phạt, tổnthất do chậm trễ, do không thực hiện được công việc, thiệt hại mất hợp đồng;

•Những tổn thất trực tiếp do thiết kế sai, do khuyết tật của nguyên vậtliệu hay khuôn mẫu, do tay nghề kém nhưng không phải lỗi trong khi lắp đặt;

•Các hiện tượng ăn mòn, mài mòn, ô xy hoá, kết tạo vảy cứng;

•Mất mát hay thiệt hại đối với hồ sơ, bản vẽ, chứng từ kế toán, hoáđơn, tiền, tem phiếu, văn bản, chứng thư nợ, cổ phiếu, thư bảo lãnh, séc, vậtliệu bao gói như hòm, thùng, hộp;

•Mất mát hay thiệt hại chỉ phát hiện được vào thời điểm kiểm kê

4.Thời hạn bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm được ghi rõ trong đơn bảo hiểm Thời hạn bảo hiểmthường là thời gian thi công trình được tính từ lúc thi công công trình ( saukhi đã bốc dỡ vật tư, máy móc,…xuống công trường) đến lúc hoàn thiện haychuyển giao hoặc đưa vào hoạt động Trên thực tế, thời gian thi công công

Trang 17

trình không nhất thiết phải trùng với thời hạn ghi trong hợp đồng Nếu côngtrình được hoàn thành trước thời hạn thì hiệu lực của hợp đồng cũng chấm dứtngay khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng Trong trường hợp thờigian thi công công trình kéo dài vượt quá thời hạn quy định thì người đượcbảo hiểm phải có yêu cầu gia hạn thêm đối với hợp đồng bảo hiểm và phảithanh toán thêm phí bảo hiểm cho thời gian vượt quá này.

Thông thường thời hạn bao hiểm bao gồm thời gian:

- Lưu kho (vật liệu) trước khi xây dựng (tối đa là ba tháng);

- Giai đoạn xâydựng;

- Kiểm nghiệm, chạy thử (nếu có);

- Bảo hành

5 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm:

5.1 Giá trị bảo hiểm :

Việc xác định giá trị bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắpđặt là tương đối phức tạp các giá trị phải xác định trong bảo hiểm xây dựnglắp đặt bao gồm :

GTBH của phần công tác xây dựng : Thông thường là giá trị ước tính

và có thể là một trong các giá trị sau:

•Tổng giá trị khôi phục lại công trình trong trường hợp có tổn thất toàn

bộ và phải tiến hành xây dựng lại;

•Giá trị nhỏ hơn hoặc bằng tổn thất lớn nhất có thể xảy ra

Tuy nhiên, việc xác định giá trị của phần công tác xây dựng theo giá trị

dự toán của công trình theo hợp đồng xây dựng là hợp lý nhất Khi công trìnhhoàn thành, giá trị này được điều chỉnh lại theo giá trị thực tế và phí bảo hiểmcũng được điều chỉnh lại cho phù hợp

Giá trị dự toán công trình theo hợp đồng xây dựng thường bao gồm chiphí lập công trình, giá trị các nguyên vật liệu do nhà thầu cung cấp, chi phí

Trang 18

nhân công của chủ thầu , những chi phí trả cho khối lượng công việc thầu phụhay dịch vụ, chi phí liên quan đến việc sử dụng máy móc thi công xây dựng ,nhà xưởng thiết bị và các công trình tạm thời khác, chi phí cho các công trìnhtạm thời, kỹ thuật và giám sát, chi phí hành chính, lợi nhuận.

- GTBH của máy móc và trang thiết bị xây dựng: Được xác định dựatheo giá trị thay thế tương đương của các máy móc trang thiết bị đó mua tạithời điểm thi công công trình và có thể bao gồm cả các chi phí vận chuyển lắpráp

- GTBH cho phần chi phí dọn dẹp: Thường được ước tính theo % giátrị của hợp đồng xây dựng

- GTBH cho công trình hoặc tài sản có sẵn trong hoặc xung quanh khuvực thi công thuộc quyền sỡ hữu, trông nom hoặc coi sóc của người được bảohiểm: Được xác định theo giá trị thực tế của các tài sản đó tại thời điểm yêucầu bảo hiểm

- Mức trách nhiệm bảo hiểm cho trách nhiệm dân sự của người đượcbảo hiểm đối với bên thứ 3 do việc thi công công trình: Thường được xácđịnh dựa trên cơ sỡ giá trị tổn thất tối đa có thể Đây là giới hạn thoả thuậncho mỗi tai nạn nhưng không giới hạn trong suốt thời hạn bảo hiểm

- Trong trường hợp này GTBH được xác định dựa trên thoả thuận giữangười được bảo hiểm và người bảo hiểm từ trước và ghi rõ trong hợp đồng

- Trong hợp đồng lắp đặt , đối tượng là tài sản : GTBH đối với thiết bịđược lắp đặt: Được tính bằng giá trị thay thế mới của bất kỳ một máy móchay thiết bị mới tương đương , bao gồm :Giá mua, chi phí kỹ thuật, cước phívận chuyển , thuế hải quan, chi phí lắp đặt, phí kho bãi Còn trong trường hợpđối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự hay con người thì GTBH được xácđịnh tương tự như trong hợp đồng xây dựng

5.2 Số tiền bảo hiểm:

Trang 19

Thông thường các công ty bảo hiểm sẽ thuyết phục người mua bảohiểm mua với STBH bằng GTBH (bảo hiểm ngang giá trị).Nhưng nếu trongtrường hợp người tham gia bảo hiểm tham gia dưới giá trị bảo hiểm thì sẽ ápdụng phương bảo hiểm theo tỉ lệ đối với các thiệt hại xảy ra.

Đối với bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ 3 thì STBHhoàn toàn dựa vào sự thoả thuận giữa các bên

Nếu giá trị lắp đặt lớn hơn 50% tổng số tiền bảo hiểm thì công ty sẽ cấpđơn bảo hiểm lắp đặt.Nếu giá trị xây dựng lớn hơn 50% tổng giá trị STBH thìcông ty sẽ cấp đơn bảo hiểm xây dựng.Tuy nhiên, trong thực tế tuỳ vào nhucầu cụ thể mà sẽ điều chỉnh đơn bảo hiểm cho phù hợp

6 Phí bảo hiểm:

Bảo hiểm xây dựng lắp đặt cũng như các loại hình bảo hiểm khác lànghiệp vụ kinh doanh rủi ro.Do vậy khâu đánh giá các rủi ro trong xây dựnglắp đặt là một khâu không thể thiếu của các công ty bảo hiểm trước lúc cấpđơn bảo hiểm cho một công trình xây dựng, lắp đặt cũng như trong các quátrình HĐBH còn hiệu lực duy trì.Việc đánh gía tốt các rủi ro không nhữnggiúp cơ quan bảo hiểm cũng như đơn vị thi công có các biện pháp phòngtránh rủi ro, giảm thiểu tổn thất mà còn giúp cho các doanh nghiệp bảo hiẻmđưa ra một biểu phí hợp lý.Do đó cơ sở để định phí cũng phụ thuộc vào cácrủi ro khách quan, chủ quan mà doanh nghiệp đánh giá.Cụ thể phí bảo hiểmxây dựng lắp đặt phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Loại công trình xây dựng, lắp đặt;

- Khu vực xây dựng lắp đặt theo địa hình, khí hậu, điều kiện sinh thái;

- Loại rủi ro, nhóm rủi ro ( gồm các rủi ro cơ bản, các rủi ro bất ngờ,các rủi ro phụ);

- Số tiền bảo hiểm;

Trang 20

- Mức độ bảo đảm của bảo hiểm (mức miễn thường và các điều kiệnbồi thường được thoả thuận trên HĐBH).

Ngoài ra còn có một số nhân tố có thể ảnh hưởng đến việc tăng, giảmphí như: kinh nghiệm của nhà thầu, tiền sử và các vụ khiếu nại trước khi thamgia bảo hiểm của người được bảo hiểm, tay nghề của lao động,…

6.1 Phương pháp tính phí:

6.1.1 Phí bảo hiểm xây dựng:

Phí bảo hiểm xây dựng của một công trình xây dựng bao gồm 2 phầnchính:Phí bảo hiểm tiêu chuẩn và phụ phí mở rộng

a.phí bảo hiểm tiêu chuẩn:

Phí bảo hiểm tiêu chuẩn là phí bảo hiểm tính cho các rủi ro tiêu chuẩn(các rủi ro tiêu chuẩn theo đơn bảo hiểm của Munich Re đan được áp dụng tạiViệt Nam) bao gồm các rủi ro thiên tai, rủi ro bất ngờ và các rủi ro khác nhưtay nghề kém, thiếu kinh nghiệm v v… phí bảo hiểm tiêu chuẩn có ba phầnchính là phí cơ bản tối thiểu, phụ phí rủi ro động đất và phụ phí rủi ro lũ lụt

 Phí cơ bản tối thiểu:Là mức phí tối thiểu cho một công trình xây

dựng, được tính bằng tỉ lệ phần nghìn của số tiền bảo hiểm của công trình,mức phí cơ bản này bao gồm phí tính đối với các công việc:

•Lưu kho tại khu vực thi công công trường kể từ sau khi nguyên vậtliệu được bốc dỡ trên phương tiện vận chuyển xuống.Thời gian lưu kho trướckhi xây dựng, lâu nhất không quá ba tháng

•Xây dựng hoặc lắp đặt công trình

•Chạy thử:Nếu trong xây dựng có cả công việc lắp đặt thì phần việcnày cũng phải nằm trong khoảng thời gian xây dựng tiêu chuẩn của mỗi loạicông trình nhất định

Nhưng chỉ chạy thử cho máy móc mới, không bảo hiểm cho chạy thửnhững máy móc cũ dùng lại Đối với các công trình bao gồm cả công việc

Trang 21

như đóng cọc , móng xây tường đá hay kè đá chống sụt lở… thì các công việc

đó cũng phải được kê khai đầy đủ trong giấy yêu cầu bảo hiểm, như vậy mớiđược bảo hiểm.Trường hợp người bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm một phần củacông việc thi công xây dựng thì việc tính phí phải rất thận trọng

Ví dụ :Công trình xây dựng , giá trị dự toán của công trình là 500.000USD, thời gian xây dựng tiêu chuẩn là 12 tháng

Theo biểu phí, tỉ lệ phí cơ bản là 3 0/00

Phí cơ bản là = 3 0/00 x 500.000 =1500 USD

 Phụ phí rủi ro động đất: Là mức phụ phí được tính toán cho từng loạicông trình, phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm của công trình với rủi ro độngđất.Trong kỹ thuật mức độ nhạy cảm của công trình được chia làm 5 loại C,

D, E, F, G (công trình loại C có độ nhạy cảm với rủi ro động đất thấp nhất).Tỷ

lệ phí động đất được tính bằng phần nghìn/năm Nếu công trình xây dựng cóthời gian xây dựng trên hoặc dưới 1năm thì được tính như sau:

Phụ phí động đất (trong thời = Phí cho 1 năm x thời hạn bảo hiểm(tháng)

gian xây dựng) 12 tháng

+Khu vực động đất :Theo bản đồ phân khu vực động đất của Muich

Re, các khu vực động đất trên trái đất được chia làm 5 khu vực, từ 0 đến 4, cụthể như sau:

+Khu vực có rủi ro động đất bằng 0 : Hầu như không có động đất xảyravà cấp độ động đất là V và dưới V được tính theo mercalli đã được sửa đổi

+Khu vực có động đất mức độ 1: Ít xảy ra động đất và cấp độ động đất

từ VI tới VI độ mercalli sửa đổi

+Khu vực có độ rủi ro động đất mức độ 2,3,4 : động đất xảy ra mức độngày càng tăng lên

Trang 22

Bảng 1 :Bản đồ phân khu vực động đất của Muich Re :

Khu vực động đất cấp độ động đất (độ Mercalli sửa đổi)

( Nguồn :Ban bảo hiểm kỹ thuật Bảo Minh )

Tỷ lệ phụ phụ phí động đất được tính theo phần nghìn/năm không tínhtheo thời gian xây dựng công trình.Nếu thời gian dưới 1năm thì tính theotháng, cỏntên 1 năm thì pahỉ tính phí thêm phí theo thời gian

Phụ phí đông đất(trong phí cho 1 Thời hạn bảo

= x

thời gian xây dựng) năm hiểm(tháng)/12 tháng

Ví dụ: chúng ta quay trở lại ví dụ lúc nãy, giả sử công trình xây dựng ở

khu vực 1 với độ nhạy cảm là G thì tỉ lệ phụ phí động đất là 0.3 0/00 Phụ phí

rủi ro động đất là:

0.3%0 x 12/12 x500,000 =150 USD

 Phụ phí rủi ro lũ lụt:Mức phụ phí này được tính cho một năm căn cứvào tính chất của từng loại công trình chịu tác động của rủi ro lũ lụt.Tỉ lệ phíxác định bằng phần nghìn trên số tiền bảo hiểm và tuỳ thuộc vào thời gian thicông (Mùa mưa hay mùa khô)

Việc xác định phụ phí rủi ro cho lũ lụt phụ thuộc vào các yếu tố sau:

∗Tính chất ảnh hưởng của công trình thi công chịu ảnh hưởng của lũlụt;

∗Khu vực tiến hành thi công công trình;

∗Thời điểm thi công công trình (có vào mùa mưa lũ hay là không ).Nếucông trình thi công dưới 1 năm nhưng trúng vào mùa mưa lũ thì vẫn phải tính

là cả năm

Trang 23

∗Nếu công trình thi công dưới 1 năm và nằm ngoài mùa mưa ít nhất 1tháng trước lúc thi công công trình và sau khi hoàn thành thì áp dụng tỷ lệphí bình quân năm.

∗Nếu công trình kéo dài quá 1năm, phụ phí cho thời gian kéo dài đượctính cho công thức :

Phụ phí động đất = Phí 1 năm x thời hạn bảo hiểm

Tổng phí tiêu chuẩn đối với công trình đó là :

Phí bảo hiểm = phí cơ bản + phụ phí rủi ro + phụ phí rủi ro

Tiêu chuẩn tối thiểu động đất lũ lụt

= 1500 + 150 +50 =1700 (USD)Mức phí này tương đương với 1700/500000 =3.4 ‰

Tổng phí thanh toán bao gồm cả thuế VAT 10% là 1700 x 1.1 =1870USD

b.Phụ phí mở rộng:

Đây là phần phí bảo hiểm được xác định cho phần trang thiết bị xâydựng, máy móc xây dựng, tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực thicông công trường, chi phí dọn dẹp hiện trường, trách nhiệm pháp lý đối vớibên thứ 3

Phụ phí mở rộng tiêu chuẩn bảo hiểm cho các trường hợp sau:

•Phụ phí cho thời gian thi công kéo dài:

Đối với các loại công trình có mã số từ 1000-4900 trong biểu phí doquyết định 33 quy định thì :

Trang 24

 nếu công trình phải kéo dài thêm 3 tháng thì phụ phí theo công thức:p=m.r/t x 1.1

 Nếu công trình kéo dài từ 3 đến 6 tháng thì phụ phí tính theo côngthức:

P=m.r/t x 1.1Trong đó : - p là phụ phí bảo hiểm cho thời gian kéo dài (phần nghìn)

- m là thời gian kéo dài (tháng)

- r phí bảo hiểm cho công trình

- t thời gian xây dựng công trình

 Nếu người bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm thêm thời hạn trên 6 thángthì công ty bảo hiểm cần kiểm tra xem xét lại tiến độ công trình và nguyênnhân chậm trễ, tránh trường hợp gian lận, trục lợi bảo hiểm

Đối với công trình mã số từ (5000-9000) nếu được yêu cầu kéo dài thờigian bảo hiểm thì cần phải điều tra xem xét cẩn thận, do những công trình này

vì những loại công trình này có thể gặp rủi ro lớn do tích tụ các loại rủi ro

Phụ phí bảo hiểm cho các tài sản có sẵn trên và xung quanh khu vực thicông công trình được tính bằng tỉ lệ phí tiêu chuẩn nhân với giá trị máy móctrang thiết bị.Quay trở lại ví dụ trên, giả sử người được bảo hiểm yêu cầu bảohiểm cho một tài sản trên công trường thi công trị giá 5000 USD.Trongtrường hợp này:

Phụ phí = 3.4 ‰ x 5000 USD =17 USD

•Phụ phí bảo hiểm chi phí dọn dẹp sau tổn thất

•Phụ phí bảo hiểm cho máy móc trang thiết bị phục vụ cho công trìnhxây dựng

•Phụ phí bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ 3

Phí bảo hiểm của phần trách nhiệm đối với người thứ ba được tínhbằng 5% phí bảo hiểm của phần bảo hiểm thiệt hại vật chất, với hạn mức

Trang 25

trách nhiệm không vượt quá 50% giá trị công trình được bảo hiểm ở phầnthiệt hại vật chất và tối đa không quá 3 triệu Đô la Mỹ Tỷ lệ phí bảo hiểmnày chỉ áp dụng với điều kiện bên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm thiệt hạivật chất và trách nhiệm đối với người thứ ba trong cùng một hợp đồng bảohiểm.

Trong trường hợp hạn mức trách nhiệm vượt quá giới hạn trên hoặcbên mua bảo hiểm tham gia bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba bằngmột hợp đồng bảo hiểm riêng biệt, phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp và bênmua bảo hiểm thoả thuận

Mức khấu trừ đối với rủi ro vật chất trong bảo hiểm xây dựng

Đối với các công trình có giá trị dưới 50 triệu Đô la Mỹ:

Bảng 2: Mức khấu trừ trong bảo hiểm xây dựng

Giá trị bảo hiểm

(USD)

Mức khấu trừ loại "M" Mức khấu trừ loại "N"

Đối với rủi ro thiên tai

Đốivới rủi ro khác

Đốivới ro ro thiên tai

Đối với rủi ro khác

1.0001.5003.0004.0005.000

7.50010.00015.00025.00035.000

2.0002.0004.0007.50010.000

Trang 26

Đối với hợp đồng trên 50 triệu đô la Mỹ trở lên:

Phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm cùng người mua thoả thuậndựa trên cơ sở tỉ lệ phí của một công ty đứng đầu nhận tái được các tổ chứcđịnh giá quốc tế đánh giá có khả năng tài chính tốt (Standard & Poor's xếphạng từ BBB trở lên, Moody's xếp hạng từ A trở lên…) cung cấp

Nếu giá trị xây dựng chiếm hơn 50% giá trị công trình thi công thì ápdụng đơn bảo hiểm xây dựng để bảo hiểm cho công trình này

Trang 27

định và lựa chọn.Nhưng phần lớn các nước, chuyên viên giám định chính lànhân viên của bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm.

Chuyên viên giám định bảo hiểm phải công minh, cẩn thận và hiểu biếtmột cách thấu đáo về từng nghiệp vụ bảo hiểm mà mình phụ trách.Phải thihành công vụ một cách mẫn cán, chấp hành nghiêm chỉnh những chỉ thị, ýkiến của doanh nghiệp bảo hiểm Được phép mời các cộng sự làm việc nhưngphải có ý kiến của doanh nghiệp bảo hiểm.Nếu chuyên viên giám định dodoanh nghiệp bảo hiểm chỉ định, lựa chọn sẽ được uỷ nhiệm một số quyềnhạn nhất định, song không được nhượng lại sự uỷ quyền này cho người khác,lợi ích của họ phải độc lập với lợi ích của người tham gia bảo hiểm

Nguyên tắc

Ghi nhận thiệt hại phải đảm bảo chính xác, kịp thời, khách quan vàtrung thực.Ghi nhận thiệt hại tức là ghi lại thực trạng và xác định lại thiệt hại,mức độ trầm trọng và nguyên nhân gây thiệt hại.Công việc giám định chỉđược tiến hành khi bên tham gia bảo hiểm hay DNBH yêu cầu Để đảm bảotính khách quan, một số nghiệp vụ bảo hiểm trong quá trình giám định phải

có sự chứng kiến của các bên liên quan

Đề xuất các biện pháp bảo quản và phòng ngừa thiệt hại, phải kịp thời

và đúng quyền hạn.Khi rủi ro, tổn thất xảy ra, chuyên viên giám định có nghĩa

vụ can thiệp để giảm thiểu độ trầm trọng của tổn thất và tình trạng gia tăngthiệt hại.Sự can thiệp của chuyên viên giám định là đưa ra các biện pháp bảoquản và phòng ngừa thiệt hại như : Các biện pháp cứu hộ và an toàn đối vớitài sản được bảo hiểm và tài sản, tính mạng của người thứ ba, thu gom đónggói gia công lại bao bì chứa hàng, bảo vệ tài sản để tránh mất cắp… Tuynhiên, chuyên viên giám định không được vượt quyền và làm thay ngườiđược bảo hiểm.Nếu phát hiện tổn thất có tính hệ thống, chuyên viên giám

Trang 28

định phải tìm hiểu nguyên nhân, cách giải quyết và thông báo cho DNBH đã

uỷ nhiệm, lựa chọn mình làm người giám định

Những thông tin mà chuyên viên giám định cung cấp cho DNBH cho

dù là tự nguyện, nhưng nội dung của nó là tất cả những chi tiết về các sự kiện

đã xảy ra và các vẩn đề liên quan như : Thực trạng hiện trường nơi xảy ra tổnthất, tình trạng mất cắp, các quyết định của cơ quan công an và chính quyềnđịa phương… Những thông tin này sẽ không có giá trị nếu được cung cấp quámuồn, bởi vì nó không được đưa ra thảo luận và làm bằng chứng khi lập biênbản giám định tổn thất

Quy trình giám định tổn thất

Giám định bảo hiểm chỉ chấp nhận yêu cầu giám định trong nhữngtrường hợp xảy ra tai nạn, có tổn thất, thuộc trách nhiệm bảo hiểm.Vì vậy, đốivới những trường hợp phát hiện không thuộc phạm vi bảo hiểm, cần có ý kiếnngay để bên tham gia bảo hiểm có hướng giải quyết

Tuỳ từng nghiệp vụ bảo hiểm mà tổ chức giám định tổn thất cho phùhợp Có thể khái quát quy trình giám định theo các bước sau đây :

Chuẩn bị giám định: Trước khi tiến hành giám định, phải chuẩn bị đầy

đủ các loại giấy tờ cầ thiết liên quan đến đối tượng được bảo hiểm như : Đơnbảo hiểm hoặc giấy yêu cầu bảo hiểm, bảng kê chi tiết các loại tài sản đượcbảo hiểm, hoá đơn sửa chữa, thay thế…Ngoài ra, nếu cần thiết còn phải chuẩn

bị hiện trường giám định, thống nhất thời gian và địa điểm giám định, tổ chứcmời các bên có liên quan trong khi giám định ( công an, chính quyền địaphương, y bác sĩ …)

- Tiến hành giám định : Công việc giám định phải được tiến hành khẩntrương, ý kiến cảu các chuyên viên đưa ra phải chuẩn xác, hợp lý và nhấtquán.Với những nghiệp vụ bảo hiểm phải giám định dài ngày, chuyên viênphải bám sát hiện trường, để theo dõi, thu thập thông tin và đưa ra các phương

Trang 29

án giải quyết phù hợp.Trong quá trình giám định phải tập trug vào các côngviệc sau đây L

+ Kiểm tra lại đối tượng giám định

+ Phân loại tổn thất

+ Xác định mức độ tổn thất

+ Nguyên nhân gay tổn thất

+ Tổn thất của người thứ ba ( nếu có )

+ Tỷ lệ thương tật, bệnh tật

+ Mức độ lỗi của các bên

+ Các chi phí có liên quan

Những ý kiến nêu ra trong quá trình giám định tổn thất phải có cơ sởkhoa học và thực tiễn, không được chủ quan, tuỳ tiện và vội vã khi đưa ranhững kết luận

- Lập biên bản giám định: Đây là tài liệu chủ yếu để xét duyệt bồithường hoặc chi trả bảo hiểm và khiếu nại người thứ ba.Vì vậy, nội dung văn

bả này phải đảm bảo tính trung thực,chính xác , rõ ràng và cụ thể.Các số liệuphải phù hợp với thực trạng và hông được mâu thuẫn khi đối chiếu với cácgiầy tờ có liên quan.Với những vụ tổn thất lớn, nghiêm trọng và phức tạp cầnphải láy ý kiến tập thể của những người có liên quan và lãnh đạo DNBH trướckhi hoàn tất biên bản giám định Thông thường biên bản giám định được lập ởhiện trường và sau khi đã thống nhất phải lấy chữ kí của các bên có liênquan.Biên bản giám định chỉ cấp cho người có yêu cầu giám định.Khôngđược tiết lộ nội dung giám định cho những người khác khi chưa có yêu cầucủa DNBH

Trang 30

7.2 Bồi thường

7.2.1 Cơ sở giải quyết bồi thường

Trong mọi trường hợp có tổn thất, cơ sở để giải quyết bồi thường theohợp đồng bảo hiểm như sau:

a) Đối với trường hợp tổn thất có thể sửa chữa được, cơ sở giải quyếtbồi thường là chi phí cần thiết để phục hồi các hạng mục bị tổn thất trở lạitrạng thái như trước khi xảy ra tổn thất sau khi trừ đi phần giá trị thu hồi

b) Đối với trường hợp tổn thất toàn bộ, cơ sở để giải quyết bồi thường

là giá trị thực tế của hạng mục đó ngay trước khi xảy ra tổn thất trừ đi giá trịthu hồi

Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ bồi thường các khoản chi phí mà ngườiđược bảo hiểm thực tế phải gánh chịu và theo mức mà các khoản đó đã đượctính vào số tiền bảo hiểm, với điều kiện người được bảo hiểm phải tuân thủđầy đủ các điều kiện và điều khoản ghi trong hợp đồng bảo hiểm

Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm chỉbồi thườngsau khi đã chấp nhận các tài liệu, chứng từ cần thiết để chứng minh rằng việcsửa chữa đã được tiến hành hay việc thay thế đã được thực hiện Mọi tổn thất

có thể sửa chữa được đều phải được sửa chữa, nhưng nếu chi phí sửa chữatương đương hay vượt quá giá trị của hạng mục đó tại thời điểm trước khi xảy

ra tổn thất thì việc thanh toán bồi thường sẽ được thực hiện trên cơ sở giá trịthực tế của công trình trình trước lúc tổn thất trừ đi giá trị thu hồi

Chi phí sửa chữa tạm thời sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm chịu nếu nhưchi phí đó là một bộ phận cấu thành của việc sửa chữa chính thức và khônglàm tăng chi phí sửa chữa

Doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm bồi thường mọi chi phí

nhằm cải hoán, bổ sung và/hoặc nâng cấp các hạng mục được bảo hiểm.

Trang 31

7.2.2 Bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm

Bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm là vấn đề trọng tâm của hoạt độngkinh doanh bảo hiểm.Bởi vì khi mua bảo hiểm, có nghĩa là khách hàng đã trảtiền cho các SPBH và DNBH cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm mộtcách nhanh chóng và đầy đủ nếu không may họ bị tổn thất.Chính vào thờiđiểm tổn thất xảy ra, phía khách hàng thường bị những “cú sốc” lớn về tinhthần Vào lúc này thì năng lực, sự trung thực , tính hiệu quả , sự tế nhị và tínhnhân đạo của DNBH được thừa nhận qua cách cư xử của mình dối với cácnạn nhân của sự kiện bảo hiểm.Nếu giải quyết tốt thì đó là cách quảng cáo tốtnhất đối với một doanh nghiệp bảo hiểm.Nhận thức được vai trò của công tácbồi thưùơng và chi trả bảo hiểm nên nhiều công ty bảo hiểm trên thế giới đãnêu thành những triết lý kinh doanh

Các công ty bảo hiểm quốc tế đã tổng kết, khái quát hoá vai trò củacông tác bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm như sau :

“ Nếu giải quyết bồi thường hoặc chi trả nhanh chóng và chính xác,khách hàng cũng sẽ nhanh chóng khắc phục đựoc những tổn thất về mặt tàichính, để từ đó ổn định cuốc sống, ổn định sản xuất kinh doanh và nâng caoniềm tin đối với doanh nghiệp bảo hiểm Từ đó, giúp DNBH giữ được kháchhàng truyền thống và mở ra triển vọng khai thác được những khách hàng tiềmnăng trong tương lai”

7.2.3 quy trình chi trả bồi thường

a.Mở hồ sơ khách hàng

Khi nhận được biên bản giảm định tổn thất và các giấy tờ có liên quan,

bộ phận giải quyết bồi thường phải mở hồ sơ khách hàng và ghi lại theo thứ

tự hồ sơ ( số hợp đồng) và thời gian.Sau đó kiểm tra, đối chiếu với bản hợpđồng gốc về các thông tin liên quan đến bản kê khai tổn thất.Tiếp theo phảithông báo cho khách hàng là đãc nhận được đầy đủ các giấy tờ có liên quan,

Trang 32

nếu thiếu loại giấy tờ nào cũng phải thông báo để nhanh chóng bổ sung, hoànthiện hồ sơ bồi thường.

b.Xác định số tiền bồi thường

Sau khi hoàn tất hồ sơ bồi thường của khách hàng bị tổn thất hoặc cầnphải chi trả, bộ phận giải quyết bồi thường phải tính toán STBT trên cơ sởkhiếu nại của người được bảo hiểm.STBT được xác định căn cứ vào :

- Biên bản giám định tổn thất và bản kê khai tổn thất

- Điều khoản, điều kiện của hợp đồng bảo hiểm

- Bảng theo dõi số phí bảo hiểm đã nộp

- Số tiền vay trên hợp đồng ( nếu có )

- Thực tế chi trả của người thứ ba ( nếu có ) …

c.Thông báo bồi thường

Sau khi STBT được xác định, DNBH sẽ thông báo chấp nhận bồithường và đề xuất các hình thức bồi thường cho khách hàng.Thường có 3hình thức bồi thường: Thanh toán STBT hoặc chi trả quá lớn, DNBH có thểthoả thuận với khách hàng về kỳ hạn thanh toán, thời gian, lãi suất trả chậm…

Phần lớn các vụ tổn thất được giải quyết bồi thường hoặc chi trả rấtnhanh chóng, ngay sau khi khách hàng tập hợp các giấy tờ chứng minh cầnthiết cùng với đơn khiếu nại hoặc ngay sau khi chuyên viên giám định xácđịnh được số tiền thiệt hại do tổn thất gây ra và lập biên bản giám định.Tuynhiên, trong một số trường hợp, việc thanh toán bồi thường, chi trả đòi hỏithời hạn dài, khiến khách hàng phật ý, thậm chí công phẫn.Ví dụ :

- Số tiền thiệt hại phải bồi thường không thể xác định được ngay như :

Số tiền thiệt hại kinh doanh chỉ có thể biết được sau khi doanh nghiệp hoạtđộng trở lại…

- Trách nhiệm, nguyên nhân gây thiệt hại không thể xác định đượcngay nên các bên phải thảo luận và gây tranh chấp, buộc toà án phải can thiệp

Trang 33

- Có nhiều bên thụ hưởng tiền bồi thường, đòi hỏi phải tính toán, phân

d.Truy đòi người thứ ba

Cuối cùng, bộ phận thanh toán bồi thường phải áp dụng các biện pháp

để tiến hành truy đòi người thứ ba nếu họ có liên đới trách nhiệm trong trườnghợp tổn thất xảy ra hoặc với các nhà bảo hiểm khác trên thị trường tái bảohiểm.Thực hiện truy đòi cũng phải nhanh chóng, kịp thời để quản lý cácnghiệp vụ bảo hiểm mà kết quả của chúng có kiên quan nhiều đến kết quảtruy đòi

Quá trình giải quyết các khiếu nại là quá trình đòi hỏi sự giao tiếpthường xuyên với khách hàng.Khi gặp rủi ro gây tổn thất, nhiều khách hàngluôn ở trong tâm trạng mất phương hướng, bối rối nên bộ phận giải quyếtkhiếu nại, bồi thường phải có phong cách phcụ vụ văn minh, có tinh thần hợptác với sự nhiệt tình, trung thực, thái độ tôn trọng và biết thông cảm vớinhững mất mát của khách hàng.Quá trình xét bồi thường luôn phải dựa trênnhững tình huống cụ thể của tai nạn rủi ro.Nếu những trường hợp đơn giản,

cụ thể cần tiến hành bồi thường hoặc chi tả ngay để đáp ứng nhu cầu kịp thờicủa khách hàng.Chính vì vậy, các DNBH thường định ra tiêu chuẩn và các chỉtiêu phấn đấu thực hiện cho bộ phận giải quyết khiếu nại

Trang 34

Tuy nhiên, tuỳ theo quy mô, chiến lược và loại hình DNBH mà quytrình giải quyết khiếu nại cũng được xây dựng khác nhau và qua đó, bộ phângiải quyết khiếu nại cũng được tổ chức khác nhau.Những doanh nghiệp vừa

và lớn có thể tổ chức phòng giải quyết bồi thường, những doanh ngoiệp nhỏmới thành lập có thể chỉ tổ chức một bộ phận giải quyết bồi thường nằm ở cácphòng nghiệp vụ.Vấn đề khiếu nại của khách hàng chủ yếu tập trung ở khâugiám định tổn thất, bồi thường hoặc chi trả bảo hiểm.Song không chỉ có vậy,trong quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng còn khiếu nại, thắc mắc cácvấn đề liên quan đến đại lý, môi giới, khai thác viên bảo hiểm, liên quan đếnviệc huỷ bỏ hợp đồng, treo hợp đồng…Tất cả những khiếu nại và thắc mắc đóđều phải được giải quyết nhanh chóng và kịp thời, có tình có lý trên tinh thầnhợp tác đúng pháp luật

8 Mức miễn thường :

Mức miễn thường hay còn gọi là bồi thường tự chịu Đây là phần tổnthất mà theo thoả thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm thoảthuận trong trường hợp rủi ro xảy ra dưới mức miễn thường thì công ty bảohiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường mà người được bảo hiểm phải tựchịu Đổi lại trong trường hợp áp dụng mức miễn thường này ngưòi được bảohiểm sẽ được giảm phí Trong hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt thường ápdụng mức miễn thường nhằm nâng cao trách nhiệm của người được bảo hiểm

và tránh rườm rà trong trường hợp có tổn thất nhỏ xảy ra Và mức miễnthường này là do thoả thuận giữa người mua bảo hiểm và người được bảohiểm, hoặc do quy định của công ty bảo hiểm

9 Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt :

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh tương đối đặcbiệt Thông thường trách nhiệm phát sinh sau khi ký kết hợp đồng.Do vậy để

Trang 35

đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và bảo hiểmxây dựng lắp đặt nói riêng phải đánh giá đồng bộ cả quá trình từ lúc khai tháchợp đồng đến lúc kết thúc hợp đồng.Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể như sau:

9.1 Chỉ tiêu phân tích hoạt động khai thác bảo hiểm:

Khai thác bảo hiểm là khâu đầu tiên của một quá trinh triển khai nghiệp

vụ bảo hiểm.Nó không chỉ hình thành nên doanh th khai thác của doanhnghiệp mà còn đánh dấu sự phát sinh trách nhiệm của nhà bảo hiểm với ngườibảo hiểm Trong khâu này để đánh giá hiệu qủa người ta thường dùng các chỉtiêu đánh giá như:

•Phân tích tình hình thực hiện kế hoặch khai thác bảo hiểm xây dựnglắp đặt : Hàng năm doanh nghiệp bảo hiểm phải tiến hành trích lập kế hoặchkhai thác cho nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt Để tiến hành lập kế hoặch

và kiểm tra tình hình thực hiện nghiệp vụ bảo hiểm bảo hiểm xây dựng lắpđặt, doanh nghệp sử dụng các chỉ tiêu đánh giá như:

•chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoặch( ink)

i= ink * ihk =y1/yo =yk/yo *y1/yk (4)

Trong đó: y1, yo, yk là mức độ khai thác kỳ báo cáo, kỳ gốc và kỳ kếhoặch Cụ thể, y1, yo, yk có thể là số hợp đồng, số đơn, doanh thu phí bảohiểm xây dựng lắo đặt Hệ thống các chỉ tiêu này nhằm đánh giá hiệu quả củaviệc khai thác bảo hiểm xây dựng lắp đặt so với các kế hoặch đã đề ra

Trang 36

•Phân tích cơ cấu khai thác : việc phân tích cơ cấu khai thác trong hợpđồng bảo hiểm xây dựng lắp đặt nhằm đánh giá mức độ đóng góp, cũng nhưtầm quan trọng của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng lắp đặt trong nghiệp vụ bảohiểm kỹ thuật, trong tổng doanh thu khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm, để từ

đó xác định được chính sách khai thác cụ thể, phù hợp với quá trình phát triểncủa doanh nghiệp Cơ cấu khai thác của bảo hiểm xây dựng lắp đặt trong tổngdoanh thu được tính bằng chỉ tiêu sau :

Doanh thu khai thác bảo hiểm XD & LĐ

= - x 100

Tổng doanh thu khai thác các nghiệp vụ

•Phân tích tính thời vụ trong khai thác bảo hiểm: chỉ tiêu này nhằmđánh giá mức độ khai thác của doanh nghiệp bảo hiểm tại các tháng, các qúytrong năm để từ đó có chính sách khai thác hợp lý Chỉ tiêu này được tính nhưsau:

Ki = X / Xtb

−Trong đó :ki là chỉ số thời vụ tháng thứ i

−X là Mức độ khai thác tháng thứ i,

−Xtb là Mức độ khai thác bình quân của một tháng trong năm

−X, Xtb có thể là doanh thu phí cũng có thể là số hợp đồng khai thácđược

−Xtb được tính như sau: Xtb = ∑Xi / 12

9.2 Phân tích tình hình kiểm soát tổn thất:

Kiểm soát tổn thất là việc doanh nghiệp bảo hiểm áp dụng các biệnpháp làm giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra Do vậy, kiểm soát tổn thất vừa

là trách nhiệm nhưng cũng là trách nhiệm của các doanh nghiệp bảo hiểm

để đánh giá hiệu quả của khâu đề phòng hạn chế tổn thất ta sử dụng chỉtiêu sau:

Trang 37

Số vụ tổn thất kỳ đánh giá / số vụ tổn thất kỳ trước, năm trước

9.3 Phân tích tình hình giám định và bồi thường tổn thất :

Giám định bồi thường tổn thất cũng là một khâu trong quá trình triểnkhai nghiệp vụ bảo hiểm, và có vai trò quan trọng trong việc chi bồì thườngcủa doanh nghiệp Để đánh giá hiệu quả công tác giám định và bồi thường tổnthất chúng ta sử dụng các chỉ tiêu sau:

•tỉ lệ giải quyết bồi thường :

số vụ khiếu nại được giải quyết

số vụ khiếu nại đòi bồi thường

•chỉ tiêu số tiền bồi thường bình quân mỗi vụ tổn thất

= tổng số tiền bồi thường / Tổng số vụ đã giải quyết bt

•Tỉ lệ chi bồi thường

= Tổng chi bồi thường / tổng chi trong kỳ x 100

•Tỉ lệ bồi thường trong kỳ

= Tổng chi bồi thường trong kỳ / Tổng doanh thu phí bảo hiểm x 100

•Tỉ lệ tổn thất trong kỳ

= tổng số tiền bị tổn thất trong kỳ /tổng số tiền bảo hiểm trong kỳ x

100

•Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm:

để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm trong kỳ chúng

ta sử dụng một số chỉ tiêu sau:

Trang 38

•STBH nhượng tái trong kỳ

•Tỉ lệ giữ lại : là tỉ số gữa số tiền bảo hiểm giữ lại và số tiền bảo hiẻmtrong kỳ

•Tỉ lệ tái đi : là tỉ số giữa STBH nhượng TBH và STBH trong kỳ

•STBH thuộc trách nhiệm giữ lại của công ty nhượng tái bảo hiểm

•STBH thuộc trách nhiệm của các công ty nhận tái bảo hiểm

•Phí nhượng TBH trong kỳ

•Phí nhận TBH trong kỳ

•Tỉ lệ phí nhận TBH trong kỳ : Là tỉ số giữa số phí nhận TBH trong kỳ

và tổng số phí giữ lại của công ty nhượng trong kỳ

Và một số chỉ tiêu khác nữa, mà tuỳ từng công ty và tùy từng mục đíchnghiên cứu mà sử dụng

9.4 Chỉ tiêu đánh giá kết quả , hiệu quả kinh doanh

Lợi nhuận Tổng Tổng

=

-trước thuế doanh thu chi phí

•Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - thuế phải nộp

•Ngoài ra doanh nghiệp có thể sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá khácnhư:

•Phân tích cơ cấu doanh thu và chi phí

•Phân tích tình hình thực hiện kế hoặch doanh thu và lợi nhuận

•Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận

Trang 39

Chương II: Thực trạng triển khai hoạt động BH XD&LĐ tại công ty

cổ phần bảo hiểm Bảo Minh

I: Một số nét về tổng công ty cổ phần Bảo Minh 1.1 tổng công ty Bảo Minh

Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bảo Minh ban đầu là công ty bảo hiểmthành phố HCM Được thành lập vào ngày 28/11/1994 theo quyết định số1164TC/QĐ/TCCB.Từ năm 1994 đến năm 2004 là doanh nghiệp 100% vốnnhà nước, trực thuộc bộ tài chính Năm 2004, công ty Bảo hiểm thành phố HồChí Minh tiến hành cổ phần hoá và chuyển sang mô hình Tổng công ty cổphần căn cứ theo quyết định số 1691/2004/QĐ-BTC ngày 03/06/2004 và2803/QĐ-BTC ngày 30/08/2004 của bộ tài chính.Tổng công ty cổ phần Bảominh chính thức đi vào hoạt động kinh doanh theo mô hình Tổng công ty cổphần từ ngày 01/10/2004.Với mục tiêu tổng quát :Xây dựng và phát triển BảoMinh thành một tổng công ty cổ phần bảo hiểm hàng đầu của Việt Nam hoạtđộng đa ngành trong lĩnh vực tài chính, có thương hiệu, có uy tín và thị phầnlớn về kinh doanh bảo hiểm”

Từ lúc thành lập đến nay Bảo Minh đã ngày một phát triển và nâng cao

vị thế của mình trên thị trường.Hiện nay, Bảo Minh đã có 59 công ty đặt tạicác tỉnh thành phố lớn trong nước, có 15 ban chức năng trực thuộc tổng công

ty, hơn 1800 nhân viên và 8000 đại lý và cộng tác viên Bảo Minh cũng làmột trong những doanh nghiệp bảo hiểm lớn góp phần ổn định và phát triểnnền kinh tế Hiện nay, Bảo Minh đang là một trong những doanh nghiệp bảohiểm đầu tiên Việt Nam áp dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý nhằmnâng cao hiệu quả khai thác bảo hiểm, giảm thiểu tình trạng trục lợi bảo hiểm

Trang 40

1 Hoạt động kinh doanh và đầu tư của Bảo Minh: `

1.1 Các loại hình kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm của Bảo Minh :

 Bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người;

 Bảo hiểm tài sản va bảo hiểm thiệt hại;

 Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông,đường sắt và đường không;

 Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu ;

 Bảo hiểm trách nhiệm chung;

 Bảo hiểm hàng không;

 Bảo hiểm xe cơ giới;

 Bảo hiểm cháy; nổ;

 Bảo hiểm nông nghiệp;

 Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác

 Kinh doanh tái bảo hiểm:Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cảcác nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ

 Giám định tổn thất:Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất,đại lý giám định tổn thất, yêu cầu người thứ 3 bồi hoàn

2 Kết quả hoạt động kinh doanh Bảo hiểm và đầu tư của Bảo Minh:

Năm 2008 mặc dù những khó khăn chung của thị trường do cuộc khủnghoảng kinh tế gây ra Bảo minh vẫn đạt được một số kết quả cụ thể như:

+ dành được thị phần là 21.8%

+ doanh thu phí bảo hiểm đạt được là 1.988 tỷ đồng

+ Lợi nhuận tài chính là 174 tỷ đồng

+ Lợi nhuận sau thuế là 145 tỷ đồng

Một số kết quả biểu thị qua biểu đồ như sau:

Ngày đăng: 03/05/2016, 15:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 :Mối quan hệ giữa các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm thuật - Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh
Sơ đồ 1 Mối quan hệ giữa các loại hình bảo hiểm trong bảo hiểm thuật (Trang 3)
Sơ đồ 2: Các bên có liên quan trong công trình xây lắp - Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh
Sơ đồ 2 Các bên có liên quan trong công trình xây lắp (Trang 8)
Bảng 1 :Bản đồ phân khu vực động đất của Muich Re : - Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh
Bảng 1 Bản đồ phân khu vực động đất của Muich Re : (Trang 22)
Bảng 2: Mức khấu trừ trong bảo hiểm xây dựng - Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh
Bảng 2 Mức khấu trừ trong bảo hiểm xây dựng (Trang 25)
Bảng 5 : Kết quả kinh doanh BH giữa Bảo Việt và Bảo Minh - Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bảo Hiểm Xây Dựng Lắp Đặt Tại Công Ty Cổ Phần Bảo Hiểm Bảo Minh
Bảng 5 Kết quả kinh doanh BH giữa Bảo Việt và Bảo Minh (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w