Công nghiệp được coi là ngành chủ đạo của nền kinh tế, điều này được thể hiện ở vai trò của nó trong việc:Cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế ,tác động vào sản xuất nông ng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội IX của đảng đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2001- 2010 được gọi là “chiến lược đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” Để đạt được mục tiêu CNH-HĐH trước tiên đảng và nhà nước phải coi trọng phát triển công nghiệp Công nghiệp được coi là ngành chủ đạo của nền kinh tế, điều này được thể hiện ở vai trò của nó trong việc:Cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế ,tác động vào sản xuất nông nghiệp thúc đẩy nông nghiệp phát triển, cung cấp hàng tiêu dùng cho đời sống nhân dân, góp phần giải quyết việc làm cho xã hội và là một hình mẫu về tổ chức sản xuất
Với đà phát triển hiện nay thì việc xuất hiện các khu công nghiệp ngày một nhiều là điều tất yêu, và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm ở đây là tình trạng phát triển của các khu công nghiệp thường kéo theo sự ô nhiễm môi trường, và các vấn đề về xã hội như:
vụ việc của công ty VEDAN làm ảnh hưởng đến cuôc sống của dân cư thuyền chài vốn quen đánh bắt cá ở sông THỊ VẢI
Thái Bình cũng không nằm ngoài sự phát triểm chung của xã hội,đó là
sự xuất hiện ngày một nhiều hơn các khu công nghiệp, tốc độ hình thành cũng ngày một nhanh hơn.Vì vậy, sau một thời gian thực tập em đã quyết
định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển bền vững khu công nghiệp” để viết
chuyên đề thực tập này".
Trang 2Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn sụ hướng dẫn của thầy TS Nguyễn Ngọc Sơn và các cán bộ tại Sở đã giúp đỡ em nhiệt tình, để em có thể hoàn thành chuyên đề một cách tôt nhất.
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ
SỰ CẦN THIẾT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
KHU CÔNG NGHIỆP
I.Cơ sở lý luận về khu công nghiệp
1.Khái niệm khu công nghiệp(KCN).
1.1 Khái niệm.
Từ những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển Ban đầu các KCN được xem như một mô hình quy hoạch công nghiệp Với quá trình phát triển, KCN đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực, do vậy sau đó KCN được xem như một công
cụ để phát triển kinh tế KCN xuất hiện ngày càng nhiều dưới những hình thức khác nhau và lợi ích thiết thực của việc phát triển KCN đã được nhiều nước trên thế giới thừa nhận KháI niệm về KCN cũng được bàn cãi trong một thời gian dài, đên nay vẫn chưa đi đến thống nhất
Các KCN Việt Nam được ra đời vào những năm đầu thời kì đổi mới, được đánh dấu bằng sự khởi đầu của khu chế xuất Tân Thuận ( Tp Hồ Chí minh ) năm 1991 Thời gian gần đây, KCN đang được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nước ta KháI niệm về KCN được Nhà Nước ta nêu rõ trong Quy chế khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC) ban hành kèm theo Nghị định 36-CP: KCN là “Khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống; do chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập”
1.2 Phân loại KCN.
Phân thành ba nhóm
+ Nhóm 1: Các khu công nghiệp mang tính truyền thống
Trang 4Loại hình này mang một số đặc trưng như sau:
KCN là một khu vực được quy hoach mang tính liên vùng, liên lãnh thổ,
có phạm vi ảnh hưởng sang các vùng lân cận, xung quanh Nó được công ty
cơ sở hạ tần sử dụng vào mục đích kinh doanh, công ty này có trách nhiệm bảo đảm hạ tầng kĩ thuật và xã hội của toàn bộ khu trong suốt quá trình tồng tại và phát triển
Ngoài ra, trong KCN không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải
có hệ thống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN
KCN được quy hoạch riêng biệt để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp, cũng như hoạt động hỗ trợ, dịch vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp
Các doanh nghiệp trong KCN sản xuất ra những sản phẩm để cung cấp cho thị trường trong nước và cả thị trường xuất khẩu
+ Nhóm 2: Khu chế xuất (KCX)
KCX là “ KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩi, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập”
So với KCN truyền thống thi KCX có một số đặc điểm riêng Đó là:KDX được quy hoạch phân tách khỏi phần nội địa xung quanh bằng tường rào kiên cố, để ra vào KCX cần thông qua sự kiểm soát của hải quan và
cơ quan chức năng
Các doanh nghiệp trong KCX chỉ được bán tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào thị trường nội địa Chủ yếu sản xuất ra sản phẩm để phục vu thị trường xuất khẩu
Ngoài ra, các doanh nghiệp trong KCX cũng được hưởng những ưu đãi dặc biệt về các lại thuế như: miễn thế xuất khẩu, nhập khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, được hưởng thế thu nhập doanh
Trang 5nghiệp ở mức ưu đãI là 10% và không phải chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước của chủ đầu tư.
+ Nhóm 3 : Các khu công nghệ cao (KCNC)
KCNC là “ khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kĩ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vu cho phait triển công nghệ cao gồm nghiên cứu, triển khai Khoa học – công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới địa lý xác địnhm, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCNC có thẻ có doanh nghiệp chế xuất”
KCNC cũng là một loại hình của KCN, tuy nhiên ngoài những đặc điểm chung của KCN truyền thống thì KCNC có những nét riêng biệt sau:
Các doanh nghiệp trong KCNC hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và chất xám cao như : nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và thực hiện các dịch vụ có liên quan
Các doanh nghiệp trong KCNC đều đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát triển, có năng suất lao động cao, được điều hành bởi các nhà khoa học và những công nhân có trình độ tay nghề cao
Công nghệ được sử dụng trong KCNC là những công nghệ mang tính tiên phong đi trước thời đại
Có thể thấy rằng, giữa ba khái niệm này có liên quan với nhau Nếu như khái niệm về khu công nghiệp truyền thống mang tính chất đặc trưng, thì KCX và KCNC mang tính chất là những hình thái đặc thùcủa KCN :
KCX là KCN mà theo đó hàng hóa sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu.KCNC là KCN gắn với các hoạt động kỹ thuật, công nghệ cao
KCN, KCX, KCNC là các loại hình khác nhau của khu công nghiệp tập trung Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu về khu công nghiệp truyền thống – là loại hình duy nhất phát triển trên địa bàn tỉnh Thái Bình hiện nay
Trang 62.Vai trò của khu công nghiệp.
2.1.Thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay đang tạo ra những cơ hội to lớn cho sự phát triển kinh tế của cả nước, nhất là các nước đang phát triển.Tuy nhiên hầu hết các nước này đang phải đối mặt với những khó khăn
do thiếu hụt vốn đầu tư phát triển và kỹ thuật công nghệ để sản xuất các mặt hàng đủ sức cạnh tranh Do vậy, khắc phục những yếu kém về cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý và tay nghề lao động là công việc trước mắt Trong khi chưa thể tiến hành cùng một lúc trong phạm vi cả nước thì việc quy hoạch, phát triển KCN là vấn đề quan trọng nhằm tập trung vốn đầu tư cho một số khu vực chọn lọc có ưu thế hơn về tài nguyên thiên nhiên, địa lý và những điều kiện kinh tế xã hội khác và áp dụng biện pháp ưu đãi hơn
KCN với những ưu thế đặc biệt về hành chính, cơ chế quản lý, tài chính, thuế quan so với sản xuất trong nước đã trở thành môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Ở nước ta KCN đã đóng vai trò tích cực vào việc thu hút vốn đầu tư đặc biệt là FDI, để đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao, trên cơ sở tạo lập năng suất công nghiệp mới và có hiệu quả kinh tế đất nước
2.2.Tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Cùng với thu hút đầu tư nước ngoài, việc tiếp thu công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nhà đầu tư được thực hiện khá tốt thông qua các KCN Để tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới
và thị trường nội địa, các nhà đầu tư thường đưa vào KCN các công nghệ tương đối hiện đại, công nghệ thuộc loại tiên tiến Mặc dù ở các KCN người
ta chủ yếu thực hiện các hoạt động sản xuất, tiêu dùng,lắp ráp… Các KCN có thể chuyển giao một số công nghệ và giúp đỡ kỹ thuật cho các nhà cung cấp địa phương hoặc cho các công ty sản xuất chi tiết trong sản phẩm của KCN
2.3.Tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Việc xây dựng các xí nghiệp sản xuất cũng như dịch vụ hỗ trợ bên ngoài
Trang 7KCN đã giải quyết được một số lượng lao động lớn Thực tế cho thấy số lượng lao động thất nghiệp ở các địa phương có KCN giảm đi đáng kể Ngoài
ra thu nhập của người lao động ở đây cũng đã được tăng lên Tính đến tháng 6 năm 2000, các Doanh Nghiệp hoạt động trong KCN thu hút được khoảng 190.000 lao động không kể lao động xây dựng cơ bản và lao động làm việc trong lĩnh vực phục vụ KCN So với năm 1998 số lao động trong KCN đã tăng lên gần 9 vạn người Trong đó Đồng Nai có thế mạnh công nghiệp chế biến là nơi thu hút lao động vào làm việc trong KCN đông nhất chiếm 42%
tổng số lao động trong các KCN cả nước
Bảng 1: Tình hình thu hút lao động ở các KCN tập trung ở một số địa phương.
(Nguồn:Bộ Kế Hoạch - Đầu Tư ).
2.4.Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ.
Trong lĩnh vực xuất khẩu, các KCN đã có những đóng góp đáng kể Nhìn chung các Doanh Nghiệp trong KCN có tỷ lệ xuất khẩu khá cao, trung bình đạt khoảng 65% tổng số kim ngạch xuất khẩu cả nước, tốc độ tăng xuất khẩu khá nhanh trong những năm gần đây
Trang 8Năm 1997, các KCN đã đóng góp 848 triệuUSD, gần bằng 10%giá trị xuất khẩu cả nước và tăng 10% so với năm 1996 Sáu tháng đầu năm 98% các KCN đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu 551 triệu USD bằng 60% giá trị sản lượng, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 11% giá trị xuất khẩu của cả nước trong sáu tháng đầu năm 1998 (551/4760 triệuUSD).
Sau đây là bảng kết quả xuất khẩu của một số KCN tiêu biểu ở địa phương
Bảng 2: Tình hình xuất khẩu của một số địa phương.
Địa phương Giá trị sản lượng Xuất khẩu Tỉ lệ xuất khẩu
(Nguồn: Bộ KếHoạch - Đầu Tư ).
II.Phát triển bền vững khu công nghiệp.
để bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên Hội nghị đã thông qua một Chương trình hành động cho thế kỷ 21, Chương trình nghị sự 21 (Agenda- 21), với các định hướng cho các Chính phủ, giới kinh doanh và giới hoạt động
Trang 9xã hội của mọi quốc gia trong hơn 100 lĩnh vực khác nhau.
- Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc “về môi trường
và phát triển bền vững” họp ở Johannesburg, Nam Phi Trong hội nghị này, những nội dung cơ bản của Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 được nhắc lại Hội nghị đã đưa ra được hai văn kiện quan trọng có tính toàn cầu là “Tuyên bố chính trị” và “Kế hoạch thực hiện” Trong các văn kiện này xác định 3 trụ cột của phát triển bền vững:
- Bền vững về mặt kinh tế, hay phát triển kinh tế bền vững: phát triển kinh tế nhanh và an toàn;
- Bền vững về mặt xã hội: công bằng xã hội và phát triển con người Chỉ
số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, chỉ số phát triển con người gồm: thu nhập bình quân trên đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ thành tựu văn minh,…
- Bền vững về sinh thái môi trường: khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và không ngừng cải thiện chất lượng môi trường sống Về bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường: bảo đảm cho con người được sống trong môi trường sạch, trong lành và an toàn, bảo đm sự hài hòa trong mối liên hệ giữa con người, xã hội và tài nguyên Về khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên: nhằm thỏa mãn những nhu cầu sống của các thế hệ hiện tại nhưng không làm mất cơ hội thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau về tài nguyên môi trường
Có thể xem ba trụ cột về phát triển bền vững nêu trên là 3 mục tiêu cần đạt được, đồng thời là 3 nội dung hợp thành quá trình của sự phát triển trong điều kiện hiện đại Điều này hàm nghĩa, sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với hệ kinh tế thị trường hiện đại, cách mạng khoa học công nghệ, nền kinh tế toàn cầu, mà còn bao hàm một nội dung mới, nội dung phát triển bền vững với 3 mục tiêu kể trên Bởi vậy sự phát triển hiện đại đang được quan niệm lại là sự phát triển bền vững Sự phát triển hiện đại không chỉ xác
Trang 10lập những cơ sở, điều kiện tất yếu đối với việc giải quyết mâu thuẫn vốn có của tiến trình kinh tế thị trường-công nghiệp trong sự phát triển cổ điển, là mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế-xã hội và môi trường, mà còn phải bao gồm nội dung phát triển bền vững.
Đương nhiên, phát triển bền vững không chỉ thể hiện trong mục tiêu như Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc năm 2002 ở Johannesburg, mà còn thể hiện ở những nguyên tắc trong việc xây dựng một xã hội phát triển bền vững Năm 1991 Chương trình môi trường của Liên hợp quốc cùng với một số hiệp hội môi trường đã đưa ra 9 nguyên tắc về phát triển xã hội bền vững:
1 Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng;
2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người;
3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất;
4 Quản lý những phần tài nguyên không tái tạo được;
5 Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất;
6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân;
7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường;
8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất thuận tiện cho việc phát triển và bền vững môi trường
9 Xây dựng mội khối liên minh toàn cầu
Tóm lại phát triển bền vững là :” Phát triển bền vững là phát triển kinh tế-xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bền vững môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu của con người hiện nay và không ảnh hưởng bất lợi đối với các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của họ”
2.Phát triển bền vững khu công nghiệp.
Nội hàm của phát triển bền vững khu công nghiệp không nằm ngoài ba mục tiêu của phát triển bền vững là phát triển có hiệu quả về kinh tế; phát triển hài hòa về mặt xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động; và khai thác hợp lý , sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên , bảo vệ
Trang 11và nâng cao chất lượng môi trường trong và ngoài KCN
Về khía cạnh lý thuyết cũng như thực tiễn, có hai vấn đề cần làm rõ ở đây là:
Thứ nhất, trên góc độ quản lý nhà nước cũng như góc độ tiếp thị năng lực thu hút đầu tư của các KCN, tác giả bài viết chia sẻ với luận điểm cho rằng phải đánh giá tính bền vững trong phát triển các khu công nghiệp, đặc biệt trong điều kiện ở Việt Nam, do quá trình hình thành và phát triển các KCN chưa được lâu, mục tiêu chủ yếu tập trung vào việc thu hút vốn đầu tư,
cơ chế chính sách và các định chế quản lý các KCN chưa nhất quán và thiếu đồng bộ, chưa có chuẩn qui định và chuẩn đánh giá về KCN, việc điều hành công tác quản lý KCN còn nhiều bất cập, các điều kiện hình thành
các KCN là khác nhau nên chúng cũng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau Do đó, cần thiết phải xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN Việt Nam để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và quản lý hoạt động của các KCN
Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông qua những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN,
mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN)
Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng lan tỏa, được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi bàn về ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và của các công ty đa quốc gia tới các nước tiếp nhận đầu tư, mà thường là các nước kém phát triển hơn, nhưng có nguồn lao động rẻ và một số lợi thế về thị trường tiêu thụ Khái niệm tác động lan tỏa được sử dụng trước hết để đề cập đến những ảnh hưởng tích cực của FDI đối với nền
Trang 12kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư.
Tác động lan tỏa của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với doanh nghiệp trong nước, cả trong và ngoài KCN:
- Vai trò của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến cho các doanh nghiệp liên kết trong nước
- FDI thúc đẩy việc nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước để tiếp nhận và áp dụng hiệu quả các công nghệ sản xuất và kinh nghiệm
quản lý
- Vai trò của KCN thúc đẩy mối liên kết ngược (backward linkage) giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong nước Mối liên kết này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng trong nước từ các doanh nghiệp của ngành công nghiệp phụ trợ Việc hình thành và phát triển mối liên kết ngược này phụ thuộc rất nhiều vào phạm vi và trình độ của các ngành công nghiệp trong nước
Trên thực tế, tác động lan toả của KCN được thể hiện trên các mặt: tạo
sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực
có KCN; góp phần giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, hạn chế ô nhiễm và cải thiện môi trường trong quá trình phát triển KCN
Như vậy, từ các phân tích trên đây, phát triển bền vững KCN ở Việt nam phải được xem xét trên hai mặt:” Thứ nhất phải kể đến là hiệu quả kinh doanh cao của các doanh nghiệp trong KCN Thứ 2 là tác động lan toả tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của các doanh nghiệp, ngành, địa phương, khu vực có KCN.”
3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp
Với cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững khu công nghiệp như trên,
Trang 13hệ thống đánh giá được xác định theo hai nhóm tiêu chí: Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững khu công nghiệp và các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của khu công nghiệp
3.1 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại khu công nghiệp
3.1.1 Vị trí địa lý của khu công nghiệp.
Lợi thế về bố trí địa lý của KCN là tiền đề giúp cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả kinh tế theo vị trí Các điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gần các trục đường giao thông, bến cảng, nhà ga, sân bay, sự hấp dẫn
về thị trường các yếu tố đầu vào (nguyên vật liệu, nguồn nhân lực) và thị trường tiêu thụ sản phẩm, có ảnh
hưởng quan trọng đến sự lựa chọn đầu tư của các doanh nghiệp
3.1.2 Chất lượng qui hoạch khu công nghiệp.
Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN Nó thể hiện ở tính hợp
lý, đồng bộ, khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động
lệ diện tích KCN đã cho các doanh nghiệp thuê so với tổng diện tích KCN
Trang 143.1.4 Tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện.
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất
Tính đến cuối tháng 12/2007, các KCN cả nước đã có 2012 dự án FDI và 1.930 dự án trong nước đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 14.046 triệu USD và 104.261 tỷ đồng, chiếm tương ứng 47% và 53% tổng vốn đầu tư nước ngoài và trong nước đăng ký vào KCN
Hiện nay, mức đầu tư/ha đất KCN bình quân của cả nước khoảng 2-2,3 triệu
đ/m Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án FDI vào KCN ngày càng giảm (năm 1997: 23 triệu USD/dự án; 1998: 21 triệu USD/dự án; 1999: 3,8 triệu USD/dự án; 2000: 3,0 triệu USD/dự án; 2001: 4,3 triệu USD/dự án; 2002: 3,2 triệu USD/dự án; năm 2003: 3,44 triệu USD/dự án; 2004: 4,0 triệu USD/dự án) Suất đầu tư sử dụng đất ngày càng thấp (diện tích sử dụng bình quân trên một dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất: năm 1999 là 1,61 ha/dự án và 3,86 triệu USD/ha; năm 2000: 0,92 ha/dự án và 3,31 triệu USD/ha; năm 2001: 1,86 ha/dự án và 3,36 triệu USD/ha; năm 2002: 2,11 ha/dự án và 1,13 triệu USD/ha; năm 2003: 1,34 ha/dự án và 2,37 triệu USD/ha; năm 2004: 2,97 ha/dự án và 1,84 triệu USD/ha
3.1.5 Kết quả và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN.
Các chỉ tiêu cụ thể: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu và tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; thu nhập bình quân tính trên 1 đơn vị lao động, trên
1 ha
Năm 2007, các doanh nghiệp KCN đã đạt tổng doanh thu 22,4 tỷ USD,
Trang 15tăng
24% so với năm 2006; kim ngạch xuất khẩu đạt 10,8 tỷ USD, tăng 31,7% so với năm 2006 và chiếm 22% giá trị xuất khẩu của cả nước Giá trị sản xuất kinh doanh trên 1 ha diện tích đất công nghiệp đã cho thuê đạt 1,5 triệu USD/ha
3.1.6 Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các doanh nghiệp của KCN
- Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước trong KCN
- Trình độ công nghệ của từng ngành, nhóm ngành mà các doanh nghiệp FDI trong KCN tham gia hoạt động (lạc hậu, trung bình, tiên tiến)
- Kỹ năng, năng lực sử dụng công nghệ của các doanh nghiệp trong KCN
- Thông tin về công nghệ (tài liệu hướng dẫn sử dụng, các bí quyết công nghệ)
- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ
- Xuất xứ của công nghệ (năm và nước sản xuất)
- Qui mô và tỉ lệ chi phí cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong
doanh thu theo ngành của các các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước
3.1.7 Phạm vi, qui mô hoạt động, trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế.
Bao gồm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo phạm vi (economies ofscope) hay chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế theo qui mô (economies of scale) trong hoạt động của KCN
- Tổng doanh thu của KCN và doanh thu một số ngành công nghiệp chủ yếu trong KCN
Trang 16- Tỉ lệ doanh thu của các ngành công nghiệp chủ yếu có liên quan, mặt hàng
chuyên môn hóa trong tổng doanh thu của KCN
- Về mức độ liên kết kinh tế: tỉ lệ số doanh nghiệp có liên kết kinh tế với nhau trong KCN và tỉ lệ số doanh nghiệp có liên kết với bên ngoài trong tổng
số doanh nghiệp KCN
3.1.8 Khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư.
Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của khu công nghiệp đối với các nhà đầu tư và được thể hiện cụ thể bằng các chỉ tiêu: mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ đáp ứng yêu cầu hoạt động của các doanh nghiệp trong KCN
3.2 Các tiêu chí đánh giá tác động lan tỏa của khu công nghiệp.
3.2.1 Tác động lan tỏa về mặt kinh tế.
Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa phương
- Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương,
so với mức chung của cả nước;
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN: tỉ trọng về doanh thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế
- Đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương: qui mô và tỷ lệ thu ngân sách địa phương từ KCN; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng
kỹ thuật của địa phương có KCN
(Các doanh nghiệp KCN năm 2007 đã nộp ngân sách 1,1 tỷ USD.)
Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI là một nhân tố thúc đẩy cạnh tranh, có thể buộc doanh nghiệp trong nước rời khỏi thị trường hoặc phải điều
Trang 17chỉnh cơ cấu để thích nghi với môi trường cạnh tranh mới Nếu biết tận dụng mối liên kết kinh tế với các doanh nghiệp FDI trong trao đổi các hàng hóa trung gian và các yếu tố khác, các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có khả năng vươn ra thị trường xuất khẩu Cuộc điều tra về năng lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp do VCCI thực hiện gần đây cho thấy: chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu, 62% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khả năng xuất khẩu Mặc dù vài năm gần đây, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều ngành sản xuất đã tăng lên đáng kể, nhưng nhìn chung còn yếu do năng suất lao động chưa cao; chất lượng
và tính độc đáo của sản phẩm thấp; trình độ công nghệ và khả năng tiếp cận công nghệ mới hạn chế; chi phí đầu vào cao, chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu; thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định, thiếu bền vững Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) đã chỉ
ra một sự liên kết dương giữa khu vực FDI và các doanh nghiệp trong nước
về năng lực cạnh tranh Điều đó đặt ra yêu cầu tới đây cần có biện pháp để vừa thúc đẩy vừa khai thác hiệu quả tác động lan tỏa tích cực này
Tác động thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam:
- Mức tăng sản lượng và số việc làm tăng thêm của doanh nghiệp trong nước
liên kết với doanh nghiệp FDI
- Mức độ phát tán tri thức và kỹ năng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
3.2.2 Tác động lan tỏa về mặt công nghệ.
- Mức độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong nước trong KCN
- Mức độ đổi mới công nghệ của từng ngành, nhóm ngành sản xuất
Trang 18- Khả năng tiếp thu và ứng dụng bí quyết công nghệ được chuyển giao của
doanh nghiệp
- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ
- Tỉ lệ doanh thu từ hoạt động R&D trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp KCN
- Tốc độ tăng doanh thu hàng năm từ hoạt động R&D
3.2.3 Tác động lan tỏa về mặt xã hội
Chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN được tập trung vào các chỉ tiêu về khả năng giải quyết việc làm của KCN cho lao động địa phương:
- Sử dụng lao động địa phương: quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong KCN
- Số người tham gia cung cấp dịch vụ cho KCN trong tổng số lao động địa phương
- Ảnh hưởng của KCN đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương
- Mức độ tham gia vào đào tạo nghề và tiếp nhận lao động, trong đó, đối với lao động địa phương và lao động từ nơi khác đến
- Thực hiện các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế
- Việc phát triển vốn con người (trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ ứng xử, khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm, )Đến 12/2007, các KCN đã thu hút trên 1 triệu lao động trực tiếp Tính bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút 72 lao động
3.2.4 Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường.
- Mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên;
- Mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm KCN (hệ thống xử lý chất thải tập trung), đặc biệt các KCN gần khu dân cư
- Mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi
Trang 19- Có Báo cáo môi trường của các doanh nghiệp trong KCN
Gần đây, công tác xử lý chất thải trong KCN đã được cải thiện Trong năm 2007, 15 dự án xử lý nước thải tập trung đã đi vào vận hành, nâng tổng
số nhà máy xử lý nước thải tập trung lên 50 nhà máy, đạt gần 50% mục tiêu đến năm 2010 các KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung Ngoài ra, 20 KCN đang xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung và dự kiến hoàn thành trong năm 2008
III Kinh nghiệm phát triển bền vững khu công nghiệp của một số tỉnh.
Để biết các khu công nghiệp của 1 tỉnh có phát triển bền vững hay không ta nhìn nhận ở các góc độ sau:
- Thứ nhất, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN trong khu công nghiệp
- Thứ 2 là tác động, hay những ảnh hưởng của khu công nghiệp đó đến tình hình kinh tế-xã hội- môi trường của tỉnh
Sau đây ta sẽ xem xét và rút ra kinh nghiệm phát triển bền vững các khu công nghiệp của một số tỉnh
1.Tỉnh Hải Dương.
Hải Dương là một tỉnh có vị trí giao thông thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, do tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm :Hà Nội- Hải Phòng – Quảng Ninh Vì thế số lượng cũng như quy mô và tần xuất hình thành các khu công nghiệp ở Hải Dương ngày một nhiều.Tỉnh đã có những chiến lược
cụ thể để phát triển bền vững các khu công nghiệp, cụ thể như khu công nghiệp Đại An- khu công nghiệp đã và đang dẫn đầu về phát triển ở Hải Dương
Khu công nghiệp Đại An (Hải Dương) - Hướng tới sự cân bằng giữa thu hút đầu tư và bảo vệ môi trưòng bền vững
Trang 20Sau 5 năm triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng KCN Đại An, đến nay đã cho 31 dự án thuê 95% diện tích khu I, diện tích đất khu II mới được thực hiện xong công tác đền bù GPMB là 210 ha và đang thực hiện các công trình
hạ tầng kỹ thuật Hệ thống hạ tầng kỹ thuật KCN được đầu tư xây dựng đồng
bộ, và hiện đại: hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống chiếu sáng, trung tâm kho vận, an ninh, môi trường và cây xanh
Trong số 31 dự án đã cấp giấy phép trong KCN Đại An có 15 nhà máy đi vào sản xuất, 9 nhà máy đang xây dựng cơ bản và 7 nhà máy đang hoàn thiện thủ tục cấp giấy phép xây dựng; tổng số vốn đầu tư của các dự án trong KCN Đại An là 437 triệu USD; vốn đã thực hiện 250 triệu USD; trung bình vốn một dự án khoảng trên 13,6 triệu USD; vốn đầu tư trung bình 1 ha đất là 4,7 triệu USD Các doanh nghiệp đang hoạt động SXKD trong KCN Đại An
là các tập toàn lớn đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malayxia, Canada, Đài Loan Hiện nay KCN đã tạo việc làm cho khoảng 6800 người lao động, trong đó người lao động địa phương là 5780 người, chiếm tỷ lệ 85%
Được xây dựng theo tiêu chuẩn của một KCN sạch, không gây ô nhiễm môi trường, vì vậy ngoài nhiệm vụ trọng tâm là thu hút thật nhiều nguồn vốn FDI, KCN Đại An luôn hướng tới sự cân bằng giữa thu hút đầu tư và bảo vệ môi trường bền vững, hiện trong KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải công suất 2000 m3/ngày đêm để phục vụ cho khu I Thực hiện nghiêm túc công tác bảo vệ môi trường theo qui định, hằng quí bộ phận quản lý môi trường của Công ty kết hợp với cán bộ trong Sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh, Ban quản lý các KCN tỉnh Hải Dương đi kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp trong KCN, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời nếu có những vi phạm; báo cáo đầy đủ theo định kỳ về công tác bảo vệ môi trường của Công ty cũng như của các doanh nghiệp trong
Trang 21KCN Do làm tốt công tác bảo vệ môi trường trong KCN nên Công ty đã được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Hải Dương và Bộ Tài Nguyên và Môi trường đánh giá cao
Ngoài lợi thế về vị trí đầu tư và lợi thế về thương mại ( gần chợ và khu dân cư) cùng với cơ sở hạ tầng đồng bộ hoàn chỉnh với các dịch vụ hoàn hảo, KCN Đại An còn hấp dẫn các nhà đầu tư bởi nơi đây có nguồn nhân lực dồi dào có thể đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư Các doanh nghiệp khi đầu tư vào KCN Đại An sẽ được hưởng tất cả các chính sách ưu đãi của Nhà nước
và đặc biệt là của UBND tỉnh Hải Dương và của chủ đầu tư KCN Đại An Với phương châm hoạt động “thành công của nhà đầu tư vào KCN Đại An chính là sự thành công của của KCN Đại An”, tập thể CBCNV Công ty cổ phần Đại An với trình độ nghiệp vụ chuyên môn vững vàng và tinh thần làm việc nhiệt tình, tâm huyết luôn sẵn sàng hỗ trợ nhanh chóng, toàn diện và hiệu quả nhất cho các nhà đầu tư vào KCN, tạo mọi điều kiện giúp nhà đầu tư giải quyết nhanh chóng các thủ tục pháp lý với chi phí hợp lý nhất: tư vấn thành lập doanh nghiệp và các thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư; dịch vụ tư vấn thiết
kế và thi công xây dựng; dịch vụ vận chuyển hàng hóa; dịch vụ kho tàng chứa trữ hàng hóa; dịch vụ bảo hiểm, thủ tục hải quan xuất nhập khẩu; dịch vụ tuyển dụng công nhân; dịch vụ lưu trú cho chuyên gia; dịch vụ nhà ở cho công nhân
Để ổn định nhu cầu sinh hoạt ăn ở cho các chuyên gia và công nhân đang làm việc trong KCN, năm 2004 Công ty Cổ phần Đại An đã thực hiện dự án xây dựng Khu nhà ở để cho các chủ doanh nghiệp bố trí thuê ở cho công nhân và chuyên gia Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho các doanh nghiệp trong KCN Đại An và các KCN lân cận, hiện Công ty cũng đang lập dự án để xin xây dựng trường đào tạo cao đẳng nghề cho công nhân
Trang 22Đi đôi với việc phát triển KCN, Công ty cổ phần Đại An cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực và chăm lo đời sống cho NLĐ Yếu tố con người được BLĐ Công ty đặc biệt coi trọng, có kế hoạch tuyển và đào tạo nguồn nhân lực lâu dài Công ty ưu tiên tuyển những người làm việc
có tâm huyết, mong muốn gắn bó lâu dài với Công ty, tác phong công nghiệp trong công việc Hàng năm Công ty thường xuyên cử một số cán bộ, công nhân viên đi đào tạo nghiệp vụ để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Luôn xác định: “ con người- nhân tố chính quyết định sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp”, vì vậy Công ty rất quan tâm chăm lo đời sống, tinh thần cho NLĐ, đảm bảo cho CBCNV có thu nhập ổn định, thực hiện đầy
đủ các chế độ BHXH, BHYT, công đoàn, thành lập các quĩ để kịp thời hỗ trợ động viên CNV trong lúc ốm đau, trượt giá Lãnh đạo Công ty kết hợp với Công đoàn thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ thể thao, hàng năm tổ chức cho CBCNV đi tham quan, nghỉ mát, tạo khí thế
và động lực để NLĐ cống hiến hết mình vì sự phát triển đi lên của doanh nghiệp
Năm 2008, nền kinh tế toàn cầu có xu thế biến động mạnh, đã ảnh hưởng không tốt đến hoạt động SXKD của các nhà đầu tư tại Việt Nam Tuy nhiên do nắm bắt và chủ động được tình hình nên mọi hoạt động SXKD của KCN Đại An vẫn diễn ra bình thường Từ đầu năm đến nay tại KCN Đại An
đã có 4 dự án được cấp giấy phép với số vốn đăng ký 120 triệu USD Mục tiêu năm nay của KCN Đại An là phấn đấu duy trì hoạt động SXKD và đảm bảo đời sống ổn định cho CBCNV
Được đánh giá là một trong các KCN hàng đầu của tỉnh Hải Dương và nằm trong “ top ten” các KCN của cả nước, 5 năm qua toàn thể CBCNV Công ty cổ phần KCN Đại An rất vinh dự và tự hào khi được đón tiếp nhiều đoàn khách cao cấp của Đảng và Chính phủ đến thăm và làm việc tại KCN Đại An Đặc biệt trong tháng 8 và tháng 9 vừa qua, KCN Đại An đã long
Trang 23trọng đón nhận hai sự kiện quan trọng: thứ nhất là chuyến đến thăm của Tổng
Bí thư Nông Đức Mạnh và các quan chức Chính phủ (ngày 9/8) nhân buổi làm việc tại tỉnh Hải Dương; thứ hai là KCN Đại An được UBND tỉnh Hải Dương giao nhiệm vụ đón tiếp đoàn “ các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài dự Diễn đàn kinh tế Việt Nam lần thứ hai về thăm và làm việc với tỉnh Hải Dương” (ngày 22/9)
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự hội nhập với quốc tế, sẽ còn
có rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam để tìm kiếm cơ hội đầu
tư Đây chính là cơ hội lớn để các doanh nghiệp Việt Nam phát huy những lợi thế mà mình đang có để hợp tác đầu tư với nước ngoài Với một tầm nhìn chiến lược và một sách lược linh hoạt, KCN Đại An đang phấn đấu hết sức mình để xứng đáng là một KCN hiện đại, văn minh kiểu mẫu, KCN có qui mô
và tiêu chí đạt ngang tầm khu vực và quốc tế
Qua đó ta có thể rút ra kinh nghiệm cơ bản của Hải Dương trong phát triển khu công nghiệp là:
- Đầu tiên phải kể đến vai trò củaUBND Tỉnh, Sở , Ban , Ngành đã làm tốt công tác tham mưu trong việc quy hoạch và sử dụng đất để xây dựng và hình thành khu công nghiệp
- Các DN trong khu công nghiệp đã có những nhận thức đúng đắn về việc phát triển DN phải gắn liên với bảo mệ môi trường xanh, sạch,đẹp Đồng thời họ đã có sự kết hợp chặt chẽ với Sở tài nguyên môi trường để thực hiện tôt công tác bảo vệ môi trường, phát hiện và xủa lý kịp thời các hành vi vi phạm nếu có
- Tỉnh luôn có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhà đầu tư khi vào đầu tư tại tỉnh như: sẵn sàng hỗ trợ nhanh chóng, toàn diện và hiệu quả nhất cho các nhà đầu tư vào KCN, tạo mọi điều kiện giúp nhà đầu tư giải quyết nhanh chóng các thủ tục pháp lý với chi phí hợp lý nhất: tư vấn thành lập doanh nghiệp và các thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư; dịch vụ tư vấn thiết kế
Trang 24và thi công xây dựng; dịch vụ vận chuyển hàng hóa; dịch vụ kho tàng chứa trữ hàng hóa; dịch vụ bảo hiểm, thủ tục hải quan xuất nhập khẩu; dịch vụ tuyển dụng công nhân; dịch vụ lưu trú cho chuyên gia; dịch vụ nhà ở cho công nhân
- Bên cạnh đó cán bộ quản lý tại các khu công nghiệp luôn quan tâm chăm lo đến đời sống của người lao động, để từ đó họ yên tâm, làm việc , hiều quả lao động luôn được giữ vững
2.Tỉnh Bắc Ninh.
Bắc Ninh là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Bắc thủ đô Hà Nội - Trung tâm xứ kinh Bắc cổ xưa, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn hóa lâu đời Được thiên nhiên ưu đãi, nơi đây có đất đai trù phú và hệ thống giao thông thuận lợi nằm trong vùng kinh tế động lực tam giác tăng trưởng Hà Nội
- Hải Phòng - Quảng Ninh Với lợi thế “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, mảnh đất “địa linh nhân kiệt” giàu tiềm năng đã và đang phát huy hiệu quả trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH Những năm gần đây thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế tỉnh Bắc Ninh tiếp tục phát triển với những bước đi vững chắc, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh trên hai con số, mang lại nguồn thu ngân sách lớn, góp phần tạo nhiều công
ăn việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần không nhỏ trong thành công trên phải kể đến vai trò của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Để đẩy nhanh tốc độ thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh, song song với việc triển khai Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp vào cuộc sống và phát huy những lợi thế sẵn có về con người và hệ thống cơ sở hạ tầng tốt, Bắc Ninh đã có nhiều chính sách ưu đãi đầu tư thông thoáng, cởi mở, tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời tăng cường cải cách thủ tục hành chính “minh bạch, công khai” theo quy trình
“một cửa” và làm tốt công tác xúc tiến, thu hút đầu tư Nhờ đó môi trường
Trang 25đầu tư trên địa bàn tỉnh ngày càng được cải thiện Kết quả là đã thu hút được nhiều nhà đầu tư đến tìm kiếm cơ hội đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các KCN Xác định phát triển các KCN chính là động lực để đẩy nhanh thu hút nguồn vốn đầu tư vào tỉnh, vì vậy Bắc Ninh đã quan tâm và chỉ đạo sát sao Ban quản lý các KCN tỉnh tập trung phát triển các KCN Kết quả là năm 2000 Bắc Ninh mới chỉ có một KCN được thành lập với tổng diện tích giai đoạn I
là 134 ha (KCN Tiên Sơn), đến nay trên địa bàn tỉnh đã có 10 KCN với tổng diện tích 5475 ha, trong đó có 4 khu đã đi vào hoạt động; 2 khu mới khởi công xây dựng; còn lại 4 khu đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư Vừa qua
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thẩm định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung thêm 6 KCN với diện tích 1423,9 ha đất công nghiệp Các KCN đã tham gia vào việc phân bố, điều chỉnh lại không gian kinh tế- xã hội của tỉnh, thể hiện rõ nhất là thúc đẩy phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như: điện, nước, giao thông vận tải và tạo sự phát triển đồng đều, hỗ trợ lẫn nhau giữa khu vực phía Bắc sông Đuống (phát triển công nghiệp và dịch vụ) và phía Nam sông Đuống (phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa cao sản)
Song song với thành công trong công tác quy hoạch phát triển các KCN, công tác xúc tiến và thu hút đầu tư vào các KCN thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả khá ấn tượng, làm thay đổi diện mạo mới cho ngành công nghiệp, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế của tỉnh Đến nay các KCN Bắc Ninh đã thu hút được 310 dự án với tổng vốn đăng ký gần 2,5 tỷ USD, đã cho thuê 759,78 ha đất công nghiệp, đạt 3,2 triệu USD/ha và 7,85 triệu USD/dự án, trong đó vốn thuộc ngành điện tử chiếm tỷ
lệ cao nhất (48,4%), chủ yếu là dự án đầu tư nước ngoài của các tập đoàn kinh
tế có thương hiệu khu vực và toàn cầu trong các lĩnh vực điện, điện tử, viễn thông công nghệ cao: Canon 2 dự án, Sumitomo, Foxconn, Samsung, Tyco Electronic, Longtech, Mitac Đặc biệt thu hút được một số dự án hạ tầng KCN thuộc các tập đoàn lớn: VSIP Bắc Ninh (Singapore), Tập đoàn IGS (Hàn
Trang 26Quốc), Foxconn (Honghai)… KCN cũng đã chuyển hướng xúc tiến đầu tư theo chuỗi (các tập đoàn lớn và cụm các nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN, nhà đầu tư tài chính) để kéo theo nhiều nhà đầu tư thứ cấp khác tạo giá trị gia tăng cao, thay thế hình thức xúc tiến đơn lẻ trước đây
Hoạt động quản lý SXKD của các doanh nghiệp KCN có bước tăng trưởng lớn cả về số lượng và chất lượng Đến nay đã có 135 dự án đi vào hoạt động, giá trị SXCN 6 tháng đầu năm 2008 đạt 5.049,2 tỷ đồng, nộp Ngân sách đạt 159,45 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 246 tr.USD, tạo việc làm 26.049 lao động (42% lao động địa phương) Các KCN đã đóng góp trên 50% giá trị SXCN; trên 70% giá trị XK toàn tỉnh Kết quả trên là cơ sở để Bắc Ninh xác lập phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn trong thời gian tới, mà trọng tâm
là ngành công nghiệp điện tử và công nghệ cao
Để đạt được mục tiêu đến năm 2015 Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp, tỉnh sẽ tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tốc độ xây dựng và phát triển các KCN, đồng thời các KCN phải tham gia vào các chương trình hướng đến phát triển bền vững Theo đó giải quyết tốt các vấn đề lớn sau:
- Quy hoạch xây dựng các KCN trước hết phải đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất của các nhà đầu tư, tạo ra sự gắn kết hạ tầng kỹ thuật trong
và ngoài KCN; phát huy lợi thế về vị trí, đất đai, các nguồn lực
- Thu hút các dự án đầu tư có công nghệ tiên tiến, tạo lập cho được ngành công nghiệp mũi nhọn, đảm bảo môi trường sống trong KCN và vùng phụ cận
- Giải quyết hài hoà các quan hệ lao động, trong đó coi trọng mối quan
hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động, giữa lao động khu vực công nghiệp với lao động khu vực nông nghiệp nông thôn Đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội trong KCN góp phần tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh
Theo đó, Ban quản lý các KCN Bắc Ninh đã xây dựng mục tiêu đến năm
2015 các KCN Bắc Ninh cần đạt là: xây dựng hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật các
Trang 27KCN; tạo lập mặt bằng và hạ tầng cơ bản các khu đô thị; thu hút khoảng
600-700 dự án sản xuất công nghiệp với số vốn 3,5- 4 tỷ USD; giá trị SXCN khoảng 2-2,5 tỷ USD, tương đương 32.000-40.000 tỷ VND; giá trị xuất khẩu đạt 1,5-2 tỷ USD, tương đương 24.000-32.000 tỷ VND; thu hút khoảng 15-20 vạn lao động có thu nhập ổn định; thu Ngân sách thông qua các khoản thuế 3000-3200 tỷ VND (180-200 tr USD)
Như những gì ta thấy thì Bắc Ninh đã và đang có những bước đi phù hợp khẳng định sự phát triển bền vững của các khu công nghiệp trên tỉnh nhà.Kinh nghiệm mà chúng ta có thể học hỏi ở đây là:
- Trước hết phải nắm bắt đựơc các lợi thế cũng như mặt yếu của tỉnh Trên cơ sở đó có những chiến lược phù hợp với tình hình của tỉnh, đồng thời
có các chính sách kêu gọi, khuyến khích đầu tư nhằm thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh
- Thứ hai là thực hiện tốt công tác quy hoạch, phát triển các khu công nghiệp.Nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư khi vào đầu tư tại KCN
- Thứ ba là cần có các chính sách hỗ trợ, chăm sóc người lao động như: xây dựng khu nhà tập thể cho người lao động thuê, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa người lao động và người thuê lao động đồng thời tập trung mở các lớp đào tạo , nâng cao trình độ cho người lao động
3.Một số bài học kinh nghiệm cho tỉnh Thái Bình trong việc phát triển bền vững các khu công nghiệp.
- Thứ nhất, phải có những sách thu hút đầu tư một cách hiệu quả : tư vấn
thành lập doanh nghiệp và các thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư; dịch vụ tư vấn thiết kế và thi công xây dựng; dịch vụ vận chuyển hàng hóa; dịch vụ kho tàng chứa trữ hàng hóa; dịch vụ bảo hiểm, thủ tục hải quan xuất nhập khẩu; dịch vụ tuyển dụng công nhân; dịch vụ lưu trú cho chuyên gia; dịch vụ nhà ở
Trang 28cho công nhân
- Thứ hai là phái có các nhìn tổng thể về khu công nghiệp, thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển khu công nghiệp Đồng thời phải có các quy chế nhất định nhằm bảo vệ và giữ gìn môi trường xanh , sạch đẹp quanh khu công nghiệp
Thứ ba là phải có sự quan tâm chăm sóc đến ngừơi lao động, xây dựng trường lớp, cơ sở đào tạo nâng cao trình độ cho người lao động
Thứ tư là không ngừn nâng cao năng lực quản lý của cán bộ, công ngân viên trong khu công nghiệp, đồng thời kết hợp chặt chẽ với sở tài nguyên và môi trường nhằm thực hiện tôt công tác bảo vệ môi trường, tránh những tác động tiêu cực của khu công nghiệp
Trang 29CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU
CÔNG NGHIỆP TỈNH THÁI BÌNH
I.Tổng quan về tỉnh Thái Bình.
1 Điều kiện tự nhiên
và Hà Nam, phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ
Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.545.84 km2 Toàn tỉnh có 7 huyện
1.2 Đặc điểm địa hình.
Là một tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%, cao trình biến thiên phổ biến từ 1 – 2 m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam
1.3 Khí hậu.
Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa: mùa nóng, mưa nhiều
từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh, khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 23oC – 24oC (thấp nhất là 4oC, cao nhất là 38oC) Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.400 mm – 1.800 mm Số giờ nắng trong năm là 1.600 – 1.800 giờ, lượng nước bốc hơi 728 mm/năm
Độ ẩm trung bình vào khoảng 85oC – 90oC
2 Tài nguyên thiên nhiên
2.1 Tài nguyên đất.
Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi ruộng mật” do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống công trình
Trang 30thuỷ lợi tưới tiêu thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14 – 15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên.
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 154.584 ha, trong đó: diện tích cây hàng năm có 92.075 ha, diện tích ao hồ đã đưa vào sử dụng là 6.176 ha Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3 – 4 vụ, diện tích có khả năng canh tác vào vụ đông khoảng 400.000 ha Ngoài diện tích cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây thực phẩm (khoai tây, dưa chuột, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu…), cây công nghiệp ngắn ngày (đay, dâu, cói…), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, vải thiều, nhãn, chuối,…), trồng hoa, cây cảnh,v v…
2.2 Tài nguyên khoáng sản.
Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải (C) đã được khai thác từ năm 1986, sản lượng khai thác bình quân mỗi năm đạt hàng chục mét khối khí thiên nhiên phục vụ cho sản xuất đồ sứ, thuỷ tinh, gạch ốp lát, xi măng trắng…thuộc khu công nghiệp Tiền Hải Năm 2003, Tổng công ty dầu khí Việt Nam tiến hành nổ địa chấn 3D lô 103/107 vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị cho việc khai thác khí ngoài khơi vịnh Bắc Bộ đưa vào phục vụ phát triển công nghiệp của tỉnh (trữ lượng ước tính ban đầu khoảng 7 tỷ m3)
Mỏ nước khoáng Tiền Hải ở độ sâu 450 m có trữ lượng tĩnh khoảng 12 triệu m3, được khai thác từ năm 1992, sản lượng khai thác đạt 9,5 triệu lít/năm với các nhãn hiệu nổi tiếng như nước khoáng Vital, nước khoáng Tiền Hải.Gần đây, vùng đất xã Duyên Hải huyện Hưng Hà đã thăm dò và phát hiện mỏ nước nóng 57oC ở độ sâu 178 m Các mỏ nước này đang được đầu tư khai thác phục vụ phát triển du lịch và chữa bệnh cho nhân dân
Trong lòng đất Thái Bình còn có than nâu thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng, được đánh giá có trữ lượng lớn (hơn 30 tỷ tấn) nhưng phân
bổ ở độ sâu 600 – 1.000 m, hiện chưa đủ điều kiện để khai thác
Trang 313 Tiềm năng kinh tế
3.1 Những lợi thế so sánh.
Thái Bình có cảng biển quốc gia Diêm Điền, tàu 400 – 1000 tấn ra vào được, cùng hệ thống sông ngòi gắn với quốc lộ 10, 39A, 218 và các trục đường chính trong tỉnh tạo thành mạng lưới giao thông thuỷ, bộ tương đối thuận tiện cho giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá trong vùng đồng bằng sông Hồng, cả nước, các tỉnh phía Nam của Trung Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á
Thái Bình cũng gần các trung tâm kinh tế lớn trong vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hải Phòng - Quảng Ninh – Hà Nội, đó là thị trường lớn về lao động, sản phẩm, lương thực, thực phẩm và hợp tác phát triển Đồng thời, Thái Bình còn có nguồn khí đốt, nước khoáng có trữ lượng lớn, khả năng khai hoang lấn biển mở rộng diện tích ở hai huyện Tiền Hải và Thái Thuỵ là những tiềm năng lớn trong nuôi trồng và khai thác hải sản
3.2.Tiềm năng du lịch.
Thái Bình có cảnh quan thiên nhiên tương đối thuần khiết của miền đồng bằng ven biển Khách du lịch có thể đi thăm các cồn đảo ven biển – nơi dừng chân của các loài chim quý, cảnh thiên nhiên hoang dã của rừng ngập mặn, cồn đảo có bãi thoải cát trắng hoặc đi thăm vùng quê – nơi có các lễ hội truyền thống và những công trình văn hoá được xếp hạng, như Chùa Keo được xây dựng tại nơi phát tích của nhà Trần; nhà lưu niệm Bác Hồ tại xã Tân Hoà, huyện Vũ Thư…và có gần 82 lễ hội đặc sắc của quê hương, 16 loại hát, múa, trò chơi: chiếu chèo “làng Khuốc”, trò múa rối nước “làng Nguyễn” Đông Hưng và làng vườn Bách Thuận (Vũ Thư)…Bộ Quốc phòng đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình khuyến khích các nhà đầu tư phát triển du lịch sinh thái biển
4.Tình hình kinh tế của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2005 - 2008 Giai đoạn (2005 - 2008), bên cạnh những thuận lợi, Thái Bình gặp
Trang 32không ít khó khăn Song với những quyết tâm nỗ lực phấn đấu của đảng bộ và nhân dân trong tỉnh và có những giải pháp hợp lý, nên kinh tế của tỉnh vẫn từng bước phát triển ổn định và có tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, các mặt văn hoá, xã hội, có tiến bộ và phát triển khá đồng đều.
- Tổng sản phẩm (GDP) của tỉnh năm 2008 dự kiến đạt 7.957 theo giá
so sánh 1994) So với năm 2006 tăng 11,5%, số tuyệt đối GDP của Thái Bình gấp 2,0 lần Ninh Bình, 2,2 lần Hà Nam, 1,3 lần Bắc Ninh, 1,2 lần Hưng Yên, 1,04 lần Vĩnh Phúc và 1,01 lần Nam Định
GDP bình quân 5 năm (2005-2008), tăng 7,21%, so với mục tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI vượt 0,21% Thời kỳ 1996 - 2000, tăng trưởng bình quân năm là 4,45% Riêng năm 2008 dự tính GDP tăng 7,8%, còn các tỉnh xung quanh đều có mức tăng trưởng trên 10% Tăng trưởng kinh tế của Thái Bình thấp hơn các tỉnh trong vùng vì là tỉnh nông nghiệp có cơ cấu khu vực 1 (khu vực có năng suất thấp và chịu ảnh hưởng nhiều do tác động của thiên nhiên) chiếm tới 42% tổng GDP
GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 9,50 triệu đồng, so với năm
2007 tăng 18%; so với năm 2005 tăng 65,4% Tuy tăng nhanh qua các năm, nhưng so với mục tiêu Đại hội XVI tỉnh Đảng bộ đề ra thì chỉ tiêu này mới đạt 92,5% (mục tiêu 600 USD)
- Cơ cấu theo nhóm ngành kinh tế của Thái Bình đang có sự chuyển dịch theo hướng và mục tiêu đã đề ra Tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng (CNXD) từ 19,35% năm 2005, tăng lên 26,85% năm 2008, so với mục tiêu đại hội vượt 5,86% Khu vực dịch vụ giảm từ 34,8% năm 2005 lên 34,2% năm 2008, chưa đạt được mục tiêu đại hội đề ra (mục tiêu 35%) (Xem số liệu bảng 1)
Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã góp phần quan trọng trong việc huy động GDP vào ngân sách của tỉnh Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách năm
2008 dự kiến đạt 15,1%, tăng 5% so với năm 2005
Trang 33Bảng 3: Cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành qua giai đoạn 2005 -2008.
(Nguồn:Báo cáo UBND tỉnh Thái Bình)
Tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của Thái Bình vẫn cao nhất vùng 38,97% (năm 2008) Ngược lại, tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng chỉ đạt 26,85% (các tỉnh đồng bằng sông Hồng, đều đạt trên 30%)
1 Lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ Sản.
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 2008 ước đạt 5.247 tỷ đồng, tăng 3,81% (kế hoạch 3,65%) so với năm 2006 Trong đó, nông nghiệp đạt 4.667 tỷ đồng, tăng 2,86% (kế hoạch 2,91%); thuỷ sản đạt 569 tỷ đồng, tăng 12,50% (kế hoạch 12,00%) GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm
2008 đạt 4138 tỷ đồng tăng 1,26% so với năm 2007 và tăng 17,2% so với năm 2005 Mức tăng bình quân 4 năm là 4,23%
- Riêng nông nghiệp giá trị sản xuất năm 2008 đạt 4354 tỷ đồng, so với năm 2007 tăng 1,65%, so với năm 2005 tăng 18,8%, bình quân 4 năm tăng 3,51% Mức tăng trưởng sản xuất nông nghiệp của tỉnh những năm vừa qua
Trang 34thấp (trong khi nông nghiệp cả nước tăng bình quân khoảng 4,4%) Nguyên nhân khách quan do thiên tai xẩy ra đối với trồng trọt 2 năm 2007 và 2008; đối với chăn nuôi gia cầm năm 2005, 2006.
- Sản xuất lương thực từ năm 2005 đến 2008 đều đạt trên 1 triệu tấn, giữ vững mục tiêu 1 triệu tấn lương thực đã đề ra Lương thực bình quân đầu người từ 712kg/người năm 2005, tăng lên 835 kg/người năm 2008
- Giá trị sản xuất ngành Chăn nuôi năm 2008 (theo giá cố định 1994) đạt 2210 tỷ đồng, tăng 17,53% so với năm 2005 và tăng 62,5% so với năm
2005, mức tăng bình quân 4 năm là 9,87% Cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi đang có chuyển biến tích cực, trồng trọt giảm từ 75,6% năm 2005 xuống 64,77% năm 2008, chăn nuôi từ 21,3% lên gần 32% Cơ cấu chăn nuôi đang chuyển dần sang kinh tế hàng hoá, đàn trâu năm 2008 chỉ bằng 59,7% năm
2005 Chăn nuôi bò thịt tăng nhanh, đàn bò năm 2008 tăng 34% so với năm
2005 và 13,9% so với năm 2006 Số đầu lợn năm 2008 so với năm 2007 tăng 11,72%, so với năm 2005 tăng 64,1%, bình quân 4 năm tăng 10,41%, trong
đó lợn nái gấp 1,4 lần năm 2006, tăng 7,5% so với năm 2005, bình quân 4 năm tăng 7,0%; thịt lợn hơi xuất chuồng tăng 10,8% so với năm 2006 và tăng gấp 1,5 lần so với năm 2005, bình quân 4 năm tăng 9,45% Chăn nuôi gia cầm, thuỷ sản và các con đặc sản cũng được khuyến khích phát triển Sản lượng thuỷ sản năm 2008 so với năm 2007 tăng 10,6% Riêng sản lượng tôm tăng 10,8% Giá trị sản xuất ngành thuỷ sản năm 2008 so với năm 200 tăng 11,8%, gấp 1,7 lần năm 2005 và bình quân 4 năm tăng 10,8% năm
Những năm qua tỉnh Thái Bình đã chuyển 6000 ha diện tích cấy lúa, làm muối sang nuôi trồng các cây, con có hiệu quả kinh tế cao hơn Năm 2008 giá trị sản phẩm trồng trọt trên 1 ha đất nông nghiệp của tỉnh đạt 48,5 triệu đồng,
so với năm 2007 tăng 3,67%, so với năm 2005 tăng 18,9% Toàn tỉnh đã có
140 xã, thị trấn xây dựng được 269 cánh đồng với diện tích 2842 ha, đạt giá trị sản xuất bình quân 63,4 triệu đồng/ha năm
Trang 35Khó khăn và hạn chế của nông nghiệp là: Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững, khả năng chống đỡ thiên tai còn hạn chế; kinh tế hộ gia đình, kinh tế tư nhân trong nông nghiệp, nông thôn còn yếu Tác động của công nghiệp vào nông nghiệp và thuỷ sản chưa rõ nét, công nghiệp chế biến nông, hải sản chậm phát triển Giá cả vật tư nông nghiệp, phân hoá học, thuốc trừ sâu, tăng cao hơn hẳn giá nông sản, nên tỷ lệ lãi của người nông dân thấp.
2 Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp của Thái Bình năm 2008 Giá trị sản xuất (GTSX) công nghiệp và xây dựng ước đạt 6.105 tỷ đồng , tăng 25,49% so với năm 2006 (kế hoạch 25,00) Trong đó , công nghiệp 5.189 tỷ đồng , tăng 26,9% (kế hoạch 25,5%), xây dựng 91 tỷ đồng , tăng 17,9%(kế hoạch 17,03%).GTSX công nghiệp của kinh tế nhà nước 570 tỷ đồng , tăng 4,2 %, kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh đóng góp quan trọng vào giá trị sản xuất công nghiệp với 4.418 tỷ đồng, tăng 30,00%.kinh tế khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đatj 203 tỷ đồng , tăng 29,50 % Năm 2005 toàn tỉnh có 173 làng nghề đạt tiêu chuẩn 100% số xã có nghề (năm 2001 có 82 làng nghề) Nghề
và làng nghề được mở rộng và phát triển, đã giải quyết việc làm tại chỗ, giảm
hộ thuần nông, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần từng bước đô thị hoá nông thôn Đồng thời tỉnh có chủ trương phát triển mạnh các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung Đến nay có 5 khu công nghiệp là Phúc Khánh, Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Hải, Cầu Nghìn, Xuân Hoà và phát triển các cụm công nghiệp ở tất cả các huyện, thành phố
Thái Bình đã tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp bằng mọi nguồn vốn huy động được và xây dựng các khu này để làm nòng cốt cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và phát triển đô thị Từ năm 2001 đến 2005, có 109 dự án hoàn thành, đi vào sản xuất, với số vốn đầu tư 1600 tỷ đồng, tạo việc làm cho gần 2,5 vạn lao động
Trang 36Thái Bình đã tích cực sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo Nghị định 103/CP, đa dạng hoá các loại hình sản xuất công nghiệp Từ năm 2001 đến năm 2005 đã thành lập 890 doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ phần hoá hầu hết các doanh nghiệp nhà nước.
Trong sản xuất công nghiệp chú trọng phát triển những ngành nghề sử dụng nguyên liệu địa phương như: sản phẩm nông sản, thực phẩm, sản phẩm sành, sứ, thuỷ tinh, dệt, da, may mặc,v.v
Hạn chế của sản xuất công nghiệp Thái Bình thời kỳ 2001- 2005 là các
cơ sở sản xuất chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ, tỷ trọng công nghiệp thấp Lực lượng lao động kỹ thuật còn ít, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển công nghiệp kỹ thuật cao Số sản phẩm khẳng định thương hiệu chưa được nhiều Chưa có nhà máy lớn, có giá trị sản xuất cao, tạo ra sự tăng trưởng đột biến trong công nghiệp,v.v
Trang 37Do những năm qua đầu tư xây dựng được chú ý nên đã tạo ra được 9652
tỷ đồng giá trị TSCĐ cho tỉnh Các tầng lớp dân cư cũng đã đầu tư xây dựng và mua sắm thiết bị với số vốn khá lớn, chiếm khoảng trên 60% tổng số vốn đầu
tư toàn xã hội, làm cho nền kinh tế của tỉnh có nhiều khởi sắc, bộ mặt thành phố và nông thôn có nhiều thay đổi
GTSX ngành xây dựng từ năm 2005 đến nay luôn tăng ở mức khá: năm
2008 tăng 14,7% so với năm 2007 và gấp 1,5 lần so với năm 2005, bình quân hàng năm tăng 8,8%
4 Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, thương mại, dịch vụ.
Các công trình giao thông vận tải trong những năm qua được đầu tư đúng mức Cầu Tân Đệ, quốc lộ 10, các cầu cống, bến phà, bến bãi, được hoàn thành, hệ thống giao thông nông thôn tiếp tục đầu tư cải tạo, nâng cấp Đặc biệt các tuyến đường nối các thôn xóm do xã quản lý (có trên 2000 km) hầu như đã được rải nhựa và bê tông
Về vận tải, đã cổ phần hoá công ty xe khách, giải thể xí nghiệp vận tải hàng hoá, cho phép thành lập các công ty tư nhân, liên doanh, liên kết với tỉnh ngoài và có đủ các thành phần kinh tế tham gia vận tải
Phương tiện vận tải được đầu tư, nâng cấp, vận tải hành khách phần lớn bằng xe có chất lượng cao, đảm bảo vận chuyển an toàn và đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu đi lại của nhân dân
Vận tải hàng hoá, phát triển mạnh cả đường bộ, đường sông, đường biển Khối lượng vận tải và doanh thu vận tải những năm qua tăng nhanh Năm 2008 vận tải hàng hoá đạt 9 triệu tấn, tăng gấp 3,2 lần so với năm 2005, khối lượng hành khách vận chuyển đạt 6,4 triệu lượt người gấp 2,3 lần Doanh thu vận tải hàng hoá và hành khách đạt 500 tỷ đồng, tăng gấp 5 lần so với năm 2005
Giá trị sản xuất ngành vận tải năm 2008 tăng gấp 2,7 lần năm 2005, bình quân hàng năm tăng 21,65%