MỤC LỤC _________________________________________________________Trang MỤC LỤC i DANH SÁCH BẢNG iii DANH SÁCH HÌNH iv PHẦN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 1 3. Phạm vi nghiên cứu 2 3.1 Phạm vi về không gian 2 3.2 Phạm vi về thời gian 2 3.3 Phạm vi về nội dung 2 4. Phương pháp nghiên cứu 2 4.1 Phương pháp thu thập số liệu 2 4.2 Phương pháp phân tích 2 PHẦN NỘI DUNG 3 1. Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài 3 1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt 3 1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động 4 1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử 5 2. Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 7 2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 7 2.1.1 Tổng quan thị trường 7 2.1.2 Người tiêu dùng 8 2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng 9 2.1.4 Hành vi mua sắm trực tuyến 12 2.2 Tình hình phát triển việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam 13 2.2.1 Thực trạng việc thanh toán bằng thẻ 13 2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng thẻ qua mạng 14 2.2.3 Thực trạng thanh toán bằng thẻ cào qua mạng 15 2.3 Minh họa quy trình thanh toán qua mạng 17 3. Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 18 3.1 Thành tựu đạt được 18 4. Một số biện pháp để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 20 4.1 Biện pháp khắc phục những rủi ro khi thanh toán qua mạng 20 4.2 Biện pháp để thúc đẩy thanh toán qua mạng 22 PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24 1. Phần kết luận 24 2. Phần kiến nghị 24 2.1 Đối với doanh nghiệp 24 2.2 Đối với nhà nước 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 DANH SÁCH BẢNG Bảng 1. Dự báo tỷ lệ mua sắm trực tuyến năm 2015 13 DANH SÁCH HÌNH Hình 1. Sơ đồ thanh toán qua mạng 3 Hình 2. Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm 11 Hình 3. Số lượng và tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam 11 Hình 4. Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 20062013 14 Hình 5. Quy trình xử lý việc thanh toán bằng thẻ cào 16 Hình 6. Quy trình thanh toán qua mạng 17 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, Thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành một phương thức thanh toán phổ biến với rất nhiều quốc gia trên thế giới. Người ta không còn phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc...cho những giao dịch kinh tế. Việc áp dụng TMĐT trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tất yếu của thời đại. Cùng với sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin điển hình là mạng toàn cầu Internet làm cho TMĐT và thanh toán trực tuyến đã không còn là những khái niệm xa lạ đối với nhiều người Việt Nam. Tuy TMĐT không còn là vấn đề mới mẻ, nhưng rất nhiều người Việt Nam thậm chí còn chưa hiểu rõ bản chất, lợi ích của TMĐT chứ chưa nói đến việc áp dụng nó. Do đó, quá trình phát triển TMĐT ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu khách quan về quy luật vận động và phát triển thương mại điện tử để từ đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vực hoạt động thương mại này. Theo thống kê của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện số người dùng internet cũng đã xấp xỉ 38 triệu người, chiếm 40% dân số, tỷ lệ truy cập internet đứng thứ ba khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Indonesia. Tuy nhiên đa phần số lượng người truy cập Internet mỗi ngày với mục đích chính là chat (tán gẫu qua mạng) hay để đọc tin tức. Rất ít người trong số đó mạnh dạn tham gia vào hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua mạng. Nguyên nhân chính là do tâm lí người tiêu dùng Việt Nam còn e ngại, thích nhìn tận mắt, sờ tận tay hơn là hình ảnh minh họa và thói quen thanh toán bằng tiền mặt từ xưa tới nay. Xuất phát từ những nguyên nhân đó, với mong muốn mỗi người dân Việt Nam sẽ hiểu biết ngày một sâu sắc tầm quan trọng của TMĐT, đưa TMĐT vào trong hoạt động phát triển nền kinh tế quốc gia cũng như phát triển việc thanh toán qua mạng để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập. Mặt khác, thanh toán qua mạng là yêu cầu bắt buộc và cần thiết để xúc tiến TMĐT, đưa TMĐT Việt Nam lên tầm cao mới, bắt kịp với tốc độ phát triển của thế giới. Việc triển khai các hoạt động thanh toán trực tuyến nhằm tiết giảm tối đa thời gian, nhân lực là một biện pháp mà nhiều doanh nghiệp thực hiện để giảm thiểu chi phí trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay. Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam. Đề xuất các giải pháp để thanh toán qua mạng ở Việt Nam ngày một tốt hơn. 3. Phạm vi nghiên cứu 3.1 Phạm vi về không gian Đề tài được thực hiện tại Việt Nam. 3.2 Phạm vi về thời gian Số liệu sử dụng trong đề tài là từ năm 2012 đến năm 2014. Đề tài được thực hiện từ ngày 18032015 đến 18042015. 3.3 Phạm vi về nội dung “Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam”. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp thu thập số liệu Số liệu thứ cấp được thu thập trên Internet. 4.2 Phương pháp phân tích Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam. Từ mô tả và đánh giá ở trên tiến hành đề xuất biện pháp để có thể ứng dụng việc thanh toán qua mạng ngày một hiệu quả hơn. PHẦN NỘI DUNG 1. Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài 1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Hiểu đơn giản, thanh toán qua mạng là (dịch vụ trung gian) giúp bạn chuyển tiền thật từ tài khoản ngân hàng thành 1 loại tiền ảo trên mạng. Các cá nhân, tổ chức dùng tiền ảo này để giao dịch trên mạng với nhau rồi sau đó lại chuyển ngược tiền ảo này thành tiền thật trong tài khoản ngân hàng. Hình 1. Sơ đồ thanh toán qua mạng Mua sắm trực tuyến là quá trình mà người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá, dịch vụ từ một người bán trong thời gian thực, mà không có một dịch vụ trung gian, qua Internet. Nó là một hình thức thương mại điện tử. Một cửa hàng trực tuyến, eShop, cửa hàng điện tử, internet cửa hàng, webshop, webstore, cửa hàng trực tuyến, hoặc cửa hàng ảo gợi lên sự tương tự vật lý của sản phẩm, dịch vụ mua tại một cửa hàng bán lẻ gạchvàvữa hoặc trong một trung tâm mua sắm. Quá trình này được gọi là BusinesstoCustomer, gồm người bán là doanh nghiệp và người mua là người tiêu dùng (B2C). Khi một doanh nghiệp mua từ một doanh nghiệp khác được gọi là BusinesstoBusiness (B2B). Khi có giao dịch trung gian, thì quá trình giao dịch bảo mật hơn rất nhiều giúp bảo vệ tài khoản ngân hàng của bạn và việc thanh toán trao đổi cũng đơn giản hơn. Chính vì vậy, hiện nay có khá nhiều các dịch vụ trung gian hoạt động hỗ trợ chúng ta trong việc giao dịch trực tuyến với mỗi 1 dịch vụ sẽ đi kèm 1 loại tiền ảo có tên và mệnh giá quy đổi ra tiền thật khác nhau. Thẻ thanh toán là gì? Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động. Là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa Ngân hàngTổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. 1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động Thương mại điện tử (TMĐT), hay còn gọi là ecommerce, ecomm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính. TMĐT dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trực tuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệ thống tự động thu thập dữ liệu. TMĐT hiện đại thường sử dụng mạng World Wide Web là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể bao gồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũng như điện thoại. TMĐT còn nhiều rào cản: theo số liệu thống kê VNNIC, hiện tại khối các doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ đăng kí khoảng 200.000 tên miền (bao gồm cả tên miền Việt Nam .VN và tên miền quốc tế), trong đó mỗi doanh nghiệp thường đăng kí nhiều hơn 1 tên miền. Trong khi đó tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là hơn 500.000 doanh nghiệp, điều này có nghĩa là tỉ lệ doanh nghiệp có trang tên miền hoặc website mới chỉ trên 20%. Nguyên nhân là do thói quen mua sắm của người tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; người mua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì người tiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạt như mong muốn. Hệ thống pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân vẫn còn thiếu những quy định, chế tài cụ thể về bảo vệ đối tượng sử dụng TMĐT. Nhìn chung, việc phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát. Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt: Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do các Ngân hàng thương mại (NHTM) phát hành, lắp đặt ngày càng tăng nhưng tác dụng giảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn. Trong buổi giao lưu trực tuyến do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 862009, TS.Dương Hồng Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, theo thống kê, khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt. Theo người dân phản ánh, việc thanh toán tiền mua hàng, trả phí dịch vụ qua máy POS còn rất hạn chế vì không có đủ máy quét cho nhiều loại thẻ của nhiều ngân hàng. Để trả tiền mua hàng, khách hàng phải rút tiền mặt từ máy ATM lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị. Ông Lưu Trung Thái Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội giải thích điều này: hệ thống POS lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị của các ngân hàng hiện nay chưa được kết nối với các hệ thống của ngân hàng khác, dẫn đến ít tiện ích cho các thẻ ATM nội địa của các ngân hàng Việt Nam. Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960. Nhưng đến nay, phương tiện thanh toán này ngày càng giảm. Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiều thuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt; Ông Vũ Huy Toản Phó Giám đốc NHNN thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi ro. Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán không có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ của NHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâm thanh toán bù trừ séc. 1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử + Tiết kiệm thời gian: đây là ưu điểm lớn nhất mà mọi người đều đồng ý. Trong cuộc sống bận rộn, việc sử dụng thời gian một cách hợp lý là cần thiết. Nếu muốn mua một sản phẩm nào đó bạn phải mất công, mất thời gian tìm sản phẩm, đến nơi bán hàng...Thay vì lãng phí thời gian như vậy bạn chỉ cần nhấn chuột vào trang web mua hàng trực tuyến, chọn sản phẩm mình muốn mua rồi bấm nút đặt hàng hoặc mua hàng, nhân viên giao hàng sẽ đưa tới địa chỉ bạn mong muốn. Mua hàng online giúp bạn tiết kiệm thời gian tối đa và bớt đi rắc rối của cuộc sống. + So sánh giá cả dễ dàng: tất cả giá cả đều có sẵn tại các website bán hàng trực tuyến. Mua hàng qua mạng của người bán là một công ty, doanh nghiệp bao giờ cũng an toàn hơn mua của người bán là một cá nhân. Mua hàng qua trang web của công ty bao giờ cũng mua được hàng chính hãng, chất lượng của công ty đó. Ngoài ra nên chọn người bán có uy tín được nhiều bình chọn của người mua, hoặc những sản phẩm trong top bán chạy của trang web. Bạn được biết giá trước khi quyết định mua hàng, lựa chọn sản phẩm phù hợp với túi tiền của mình. Không ít người mua món hàng mình không thích chỉ vì “hỏi giá mà không mua thấy hơi kỳ kỳ”. So sánh để chọn lựa cái tốt nhất, đó là điều mà khi mua sắm ai cũng quan tâm. Bạn có thể hoàn toàn yên tâm chọn đặt hàng ở những website uy tín, giá cả phải chăng. + Lựa chọn đa dạng: nhiều người không biết rằng họ có thể tìm kiếm và mua các sản phẩm hàng ngày qua các trang trực tuyến. Các trang web mua bán trực tuyến giúp mọi người có thể lựa chọn hàng nghìn sản phẩm khác nhau cùng một lúc. Ngày càng nhiều shop online ra đời với mọi loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của nhiều người với hàng trăm mặt hàng và hàng ngàn thiết kế có sẵn. Tùy vào mục đích và kinh tế, bạn có thể chọn được loại sản phẩm thích hợp một cách nhanh chóng. Lựa chọn món quà phù hợp cho người lớn tuổi hay người trẻ tuổi dễ dàng mà không cần phải băn khoăn, bối rối mua gì thì phù hợp. Người tiêu dùng có thể tìm thấy tất tật các mặt hàng, từ đồ gia dụng, điện tử, nội ngoại thất, thời trang, thực phẩm… đến các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, làm đẹp… đồ cũ, mới đều có hết. Không những thế, khách hàng còn có thể tìm thấy ở “chợ điện tử” những món hàng không thể tìm được ở nội địa, đặc biệt là những món hàng xách tay như nước hoa, đĩa nhạc, sách báo … Mua sắm online giúp bạn “quẳng” cơn đau đầu đi. + Giá thành rẻ: vì không phải thanh toán các khoản tiền mặt bằng, chi phí cửa hàng nên đa phần các website bán hàng online đều cung cấp sản phẩm với mức giá thấp hơn khi bạn mua bên ngoài mà chất lượng vẫn đảm bảo. Bí quyết để tiết kiệm với mua hàng trực tuyến là mua với số lượng nhiều. Khi mua hàng với số lượng nhiều thì khách hàng có thể nhận được sự giảm giá hoặc chiết khấu và đôi khi con số đó có thể lên tới 50% hoặc còn hơn thế nữa. Và trong các dịp lễ hội, thì các website bán hàng trực tuyến có những chương trình khuyến mãi, hoặc các trò chơi có thưởng rất hấp dẫn: như các mặt hàng làm đẹp: mỹ phẩm khuyến mãi, đồ gia dụng, đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe,... tạo cho khách hàng có cảm giác thú vị, và tiết kiệm túi tiền để có thể mua nhiều sản phẩm hơn. + Chủ động, an toàn ở mọi tình huống: nếu khách hàng băn khoăn về việc thanh toán trực tuyến nhưng không biết có nhận được hàng không thì sự ra đời của các hình thức thanh toán trực tuyến như Paypal, Ngân lượng, Bảo kim…với tính năng thanh toán tạm giữ, bảo vệ người mua hàng tuyệt đối cung cấp các dịch vụ thanh toán đa dạng, khách hàng có thể đổi hàng (không áp dụng cho sản phẩm cá nhân), có thể khiếu nại, góp ý,.. và được hỗ trợ 247. + Tránh nơi đông đúc: khách hàng không phải đổ mồ hôi, không phải chịu đựng cọ quẹt, xô đẩy, chen lấn để chọn lựa hàng, không phải chen chúc, xếp hàng chờ thanh toán ở siêu thị, không phải đau họng khi cao giọng nhắc lại yêu cầu nhiều lần trong đám đông. Và đặc biệt hơn còn tránh được nguy cơ trộm cắp, móc túi, lừa đảo trong đám đông hay mất xe vì không có nơi đỗ xe. + Tiết kiệm xăng dầu: không cần phải mất công đi lại dù trời mưa dầm hay nắng gắt, không tốn tiền xăng dầu đi lại vất vả. Khách hàng chỉ cần ngồi tại nhà, văn phòng hay bất cứ đâu để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng ngay tại địa chỉ mong muốn, giảm thiểu chi phí đi lại. Thông thường, các website này sẽ cung cấp dịch vụ đưa hàng tận nơi nếu nơi giao hàng không quá xa trung tâm, hơn nữa còn thỏa sức cân nhắc giá cả, mẫu mã giữa những cửa hàng mà vị trí thực sự của nó cách xa nhau cả chục thậm chí là cả trăm kilomet chỉ trong một thời gian ngắn. + Mạng lưới mua sắm rộng: mạng lưới Internet toàn cầu mở rộng trên khắp mọi nơi vì vậy người mua có thể mua sắm tại các tỉnh thành khác, thậm chí mua hàng ở nước ngoài mà không phải bước chân ra khỏi cửa. Mua hàng qua mạng có rất nhiều lợi thế khi chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng internet, khách hàng chỉ việc ngồi một chỗ mà có thể mua sắm khắp thế giới. + Thủ tục đăng ký mua hàng đơn giản: mua hàng trực tuyến trở nên ngày càng phổ biến nên các thủ tục đăng ký mua bán cũng được đơn giản hóa hết mức có thể. Các website mua hàng trực tuyến với hệ thống đăng ký và mua hàng đơn giản nhất cùng các hướng dẫn và minh họa cụ thể giúp khách hàng sử dụng dễ dàng. Chỉ sau vài cú nhấp chuột thì đã có thể mua sản phẩm mong muốn. + Những lợi ích khác: mua hàng online ngày càng có nhiều lợi ích, chẳng hạn như mua hàng đơn giản hơn, có thể đánh giá sản phẩm qua những phản hồi của các khách hàng trước, nhận được những khuyến mãi, giảm giá, quà tặng vào dịp đặc biệt qua việc đăng ký khách hàng thân thiết, đăng ký thành viên và có thể cập nhật thông tin các sản phẩm mới và nhiều lợi ích khác. 2. Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam Một ứng dụng của TMĐT là các hoạt động mua bán trên mạng đã thúc đẩy nhu cầu mở rộng các hình thức hỗ trợ thanh toán, hỗ trợ giao hàng, sử dụng chữ ký số, tiền điện tử, cổ phiếu mạng, an toàn dữ liệu, bảo mật dữ liệu,... của các doanh nghiệp. Trên thực tế, ngay cả khi các doanh nghiệp chưa có điều kiện để tham gia vào hoạt động kinh doanh trực tuyến, các doanh nghiệp cũng vẫn thường tiến hành nhiều hình thức tự giới thiệu về mình trên mạng như một bước chuẩn bị ban đầu cho việc chính thức gia nhập vào đội ngũ kinh doanh trên mạng của mình. 2.1.1 Tổng quan thị trường Thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh mẽ và thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh doanh. Thống kê trên Cổng thông tin quản lý hoạt động TMĐT, đến hết năm 2013 đã có 202 website TMĐT bán hàng được duyệt thông báo và 116 website cung cấp dịch vụ TMĐT được xác nhận đăng ký. Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều website bán hàng hoạt động nhưng chưa được chứng nhận của Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin – Bộ Công Thương, ước tính doanh số từ TMĐT B2C khoảng 2.2 tỷ USD trong năm 2013. Giá trị mua hàng trực tuyến trung bình của một người đạt khoảng 120 USD. Sản phẩm được lựa chọn mua sắm tập trung vào các mặt hàng như thời trang, mỹ phẩm, đồ công nghệ và điện tử, đồ gia dụng, vé máy bay và một số mặt hàng khác. Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt, kế đến là thanh toán qua ngân hàng, hình thức thanh toán trung gian qua các website TMĐT chiểm tỷ lệ thấp. 2.1.2 Người tiêu dùng Thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông Trung bình, một người giành khoảng 2 giờ mỗi ngày để truy cập Internet. Thời gian sử dụng Internet chiếm khoảng 31.5% tổng thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông và tỷ lệ này có xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi. Ảnh hưởng của các kênh thông tin đến hành vi mua sắm: Truyền hình vẫn là kênh thông tin chính cung cấp thông tin sản phẩm và thương hiệu đến người tiêu dùng. Theo nghiên cứu của Nielsen 2014, số người tiêu dùng ( chiếm 57%) sử dụng truyền hình nhằm cập nhật thông tin về sản phẩm. Tuy nhiên, mạng xã hội mới là kênh thông tin người tiêu dùng cho là đáng tin cậy nhất (69%) và có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua sắm (69%). Tâm lý mua sắm trực tuyến (có dấu 2 chấm ko?) Lý do chính thúc đẩy người dùng mua sắm online là “tiết kiệm về thời gian” và “có thể mua hàng trên mạng với giá rẻ” hơn hàng bán lẻ trên thị trường. Đối với những người chưa mua hàng online, ý định mua sắm online có thể nảy sinh khi họ biết “bạn bè hay người thân đã từng mua những mặt hàng như thế nào online và có trải nghiệm tốt” và họ cảm thấy “sản phẩm được bảo hành hoặc bảo đảm”. 6 yếu tố quan trọng quyết định việc mua hàng + Nếu tôi biết bạn bègia đình đã từng mua món hàng này online và có trải nghiệm tốt có 29% + Nếu tôi có bảo bảo hành đảm đi cùng với sản phẩm có 12% + Nếu sản phẩm mua online rẻ hơn so với mua tại cửa hàng bán lẻ thông thường có 11% + Nếu tôi có thể trả tiền mặt có 8% + Nếu có khuyến mãi đáng kể hơn so với cửa hàng bán lẻ thông thường có 8%. + Nếu tôi được hoàn tiền cho sản phẩm bị hư hoặc lỗi có 8% (Theo Source: GooleTNS 2014. Đối tượng: Người chưa từng mua hàng online). 2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng Nhìn chung, những trở ngại khiến người tiêu dùng còn e ngại khi mua sắm trực tuyến là: sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo (77%), giá cả không thấp so với mua trực tiếp (40%), dịch vụ vận chuyển và giao nhận còn yếu, lo ngại thông tin cá nhân bị tiết lộ và cách thức đặt hàng trực tuyến còn quá rắc rối. Nghiên cứu sâu hơn về nhóm người chưa từng mua hàng online, GoogleTNS cho biết rào cản phổ biến nhất là người mua không thể chạm vào mặt hàng (57%). Các khách hàng tiềm năng lo ngại “hàng mua trên Internet có khả năng là hàng cũhàng giả” (49%). (Nguồn: Google Study 2014) Internet là phương tiện truyền thông cao cấp Trước hết, Internet là phương tiện truyền thông duy nhất hiện nay có thể thu hút được một số lượng lớn các khách hàng tiềm năng. Những nhà kinh doanh nhạy cảm đã nhận thấy Internet không chỉ là một mạng thông thường. Nó là một thị trường toàn cầu. Với một trang web, cả thế giới đều có thể truy cập vào gian hàng trên mạng của công ty. Nhờ vậy mà các việc kinh doanh trên mạng có thể tiếp cận với hàng trăm triệu người sử dụng Internet từ khắp nơi trên thế giới. Thứ hai, mạng là sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nhỏ có thể có một trang chủ cho hoạt động thương mại của mình hiệu quả như trang chủ của một công ty lớn. Chi phí cho việc truy cập và xây dựng các thông tin phục vụ cho việc quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trên mạng tương đối thấp đã giúp cho điều này trở thành hiện thực. Thứ ba, Internet chứa đựng khả năng của một phương tiện tryền thông mang tính đa phương tiện. Nó giúp cho các thông điệp mà doanh nghiệp muốn đem đến cho khách hàng của mình trên mạng được trình bày hiệu quả và ấn tượng hơn hẳn so với các phương tiện truyền thông khác. Một trang chủ trên mạng cho phép ta có thể trình bày một cách phức tạp và tinh vi một sản phẩm của công ty. Tất cả các thông tin có thể viết và trình bày theo thể thức của phương tiện in ấn như báo chí, tạp chí, tờ rơi cũng có trong thông điệp trên Internet. Công nghệ hình ảnh và âm thanh chuyển động kết hợp với máy móc và các kênh phát mới, tốc độ cao hơn giúp cho việc đưa ra âm thanh, nhạc, hình ảnh thuận tiện như trên tivi và ngày càng dễ truy cập hơn. Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể dễ dàng di chuột và nhấn chuột để kết nối tới các thông tin khác. Những kết nối này có thể bao gồm các thông tin như bảng giá, catalogues, các hướng dẫn, hình ảnh trưng bày về sản phẩm và một mẫu đơn đặt hàng điện tử. Thứ tư, Internet vừa mang các đặc điểm của phương tiện truyền thông đại chúng lại vừa mang đặc điểm của phương tiện thông tin cá nhân. Internet kết hợp khả năng chuyển tải các thông điệp tới một số lượng lớn độc giả của các phương tiện truyền thông đại chúng với khả năng phản hồi và tương tác của các phương tiện thông tin các nhân. Nhờ có bản chất tương tác của Internet, người sử dụng có thể đóng một vai trò tích cực hơn trong quá trình thông tin so với các phương tiện truyền thông khác. Đây là một đặc trưng mà các phương tiện thông tin đại chúng khác không thể có được. Trong khi đặc trưng việc cung cấp thông tin của các phương tiện truyền thông đại chúng còn mang tính thụ động, thì việc cung cấp thông tin trên mạng lại theo yêu cầu của người sử dụng, nghĩa là việc điều khiển quá trình thông tin liên lạc nghiêng về phía người sử dụng hơn là bản thân phương tiện truyền thông. Khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng lại càng hướng việc điều khiển quá trình thông tin về phía người sử dụng và tạo ra các cơ cấu nội dung thông tin phù hợp với sở thích và mối quan tâm cụ thể của từng cá nhân người sử dụng. Khả năng này đã tạo cho các quảng cáo trên mạng một đặc tính mà các hình thức quảng cáo khác không có được, đó là tính tương tác. Thứ năm, Internet không chỉ là một kênh thông tin mà còn là kênh giao dịch và phân phối. Sở dĩ có được đặc tính này là nhờ khả năng tương tác và phản hồi của Internet. Khách hàng có thể vừa tìm thông tin lại vừa có thể thực hiện ngay việc mua bán và thanh toán ở ngay trên mạng. Không một phương tiện truyền thông nào có thể thực hiện được các chức năng marketing này ngay lập tức mà không cần đến sự hỗ trợ của các phương tiện khác. Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm Những vấn đề về niềm tin và sự không chắc chắn khiến cho người tiêu dùng chưa mạnh dạn tham gia mua sắm trực tuyến, tỷ lệ người mua online trên tổng số người có nghiên cứu thông tin về sản phẩm còn thấp, chỉ khoảng 16%. Đa số người mua tìm kiếm online nhưng mua sắm offline. Họ sử dụng Internet như một công cụ hỗ trợ ra quyết định mua sắm, như: so sánh giáchất lượng sản phẩm, lựa chọn nhãn hiệu, xem bài reviewslời khuyên về sản phẩm định mua, tìm chương trình khuyến mãi, xem địa chỉ bán hàngthông tin liên hệ người bán. Những sản phẩm thường được tìm kiếm online nhưng mua sắm offline là Bảo hiểm ôtô (75%), Tivithiết bị đi kèm (71%), Vé xem phim (68%), Đồ nội thấtthiết bị lớn (62%), Hàng tạp hóa (46%) và Quần áo (36%). . Hình 2. Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm Người sử dụng Internet khách hàng tiềm năng Hình 3. Số lượng và tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam Kết quả các cuộc thống kê điều tra đều cho thấy, phần lớn những người sử dụng Internet là những người có trình độ văn hóa cao, có nghề nghiệp chuyên môn ổn định và thu nhập cao. Thống kê chung 30% số người sử dụng Internet trên thế giới hiện nay có ít nhất một bằng tốt nghiệp đại học. Con số này ở Anh là 50%, ở Trung Quốc là 60%, ở Mexico là 67% và ở Ireland là 70%. Họ cũng là những người có tuổi đời trung bình trẻ, tuổi trung bình người sử dụng Internet tại Mỹ là 36, ở Trung Quốc và Anh là 30 (UNDP Human Development Report). Họ cũng là những người rất bận rộn, đánh giá cao và ưa thích việc truy cập đơn giản vào cả một thế giới những dịch vụ mà họ có thể tiếp cận từ bàn làm việc của mình một việc mà chỉ có Internet mới có thể giúp họ thay vì phải ra phố mua hàng hay gọi điện cho các cửa hàng cách xa chỗ ở hoặc nơi làm việc. Do có thu nhập cao, họ cũng là những người có khả năng mua hàng nhiều hơn trong xã hội. Theo các kết quả thống kê, năm 2010 gần một nửa những người truy cập Internet đã thực hiện mua bán trên mạng. Bên cạnh đó, do dành nhiều thời gian cho Internet, những người này dành ít thời gian hơn cho các phương tiện truyền thông khác. Vì vậy kinh doanh qua mạng sẽ vô cùng hiệu quả khi doanh nghiệp muốn tiếp cận với nhóm khách hàng mục tiêu này. 2.1.4 Hành vi mua sắm trực tuyến Mặc dù thói quen mua sắm trực tuyến chưa thật sự phổ biến phổ biến ở Việt Nam nhưng hứa hẹn nhiều tiềm năng trong thời gian tới do Internet ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình mua sắm. Khảo sát của Google 2014 cho thấy, có 19% số người online có mua sắm trực tuyến trong vòng 1 tuần qua (xét tại thời điểm khảo sát), và 55% tìm kiếm thông tin online nhưng mua sắm offline. Thiết bị sử dụng để mua sắm online là PCLaptop (77%), Điện thoại thông minh (14%) và Máy tính bảng (4%). 44% số người online chưa từng mua hàng trực tuyến nhưng có mong muốn mua hàng trên mạng trong vòng 12 tháng tới, mặt hàng mà nhóm người này dự định mua là quần áo. Khi mua online, người mua thường cân nhắc, xem xét 1 đến 3 nhãn hiệu và nghiên cứu thông tin về sản phẩm qua Internet. Đa số người mua mua sắm qua các website bán hàng (61%), website mua hàng theo nhóm (51%) và các diễn đàn xã hội (45%). Một số ít người mua sắm qua các sàn giao dịch TMĐT (19%) và qua các ứng dụng mobile (6%). Đối tượng mua sắm thường xuyên là cán bộ quản lýnhân viên văn phòng (41%) và học sinh, sinh viên (37%). Nữ giới (59%) mua sắm trực tuyến nhiều hơn nam giới (41%). Dự báo: Với những hoạt động quảng cáo trực tuyến ngày càng mạnh mẽ theo nhiều hình thức, tỷ lệ người dùng Internet tham gia mua sắm trược tuyến đến năm 2015 dự báo sẽ có xu hướng tăng. Giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 sẽ tăng thêm 30 USD so với năm 2013, doanh số TMĐT B2C Việt Nam năm 2015 ước đạt trên dưới 4 tỷ USD. Một khi số lượng người tham gia mua sắm trực tuyến gia tăng là tín hiệu tốt cho ngành TMĐT, đặc biệt là hình thức thanh toán qua mạng. Ước tính dân số VN 2015 Ước tính truy cập Internet 2015 Ước tính giá trị mua hàng trực tuyến mỗi năm người năm 2015 Ước tính tham gia mua sắm trực tuyến Mức độ tăng trưởng Tỷ lệ 93 triệu dân 45% 150 USD Cao 70% Trung bình 65% Thấp 60% Bảng. Dự báo tỷ lệ mua sắm trực tuyến năm 2015 Nguồn: Dự báo của cục TMĐT và CNTT. 2.2 Tình hình phát triển việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam 2.2.1 Thực trạng việc thanh toán bằng thẻ Thị trường thẻ ở Việt Nam: Vào cuối tháng 62007, cả nước có trên 20 ngân hàng phát hành thẻ thanh toán với khoảng 6,2 triệu thẻ. Hầu hết các ngân hàng đã trang bị máy ATM với khoảng 3.820 máy, số thiết bị chấp nhận thẻ lên đến 21.875. Hiện các ngân hàng phát hành hai loại thẻ chính là thẻ tín dụng quốc tế và ghi nợ. Sự ra đời của các hiệp hội, liên minh trong hệ thống các ngân hàng thanh toán thẻ Việt Nam (với bốn thành viên sáng lập gồm: Vietcombank, Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu, Ngân hàng thương mại Cổ phần xuất nhập khẩu Eximbank và First Vinabank). Đặc biệt là sự thành lập của bốn liên minh thẻ (liên minh lớn nhất do Vietcombank chủ trì) với 21 ngân hàng khác. Tính đến ngày 30062011, có tổng số 49 ngân hàng phát hành thẻ, trong đó có 18 ngân hàng phát hành thẻ ghi nợ quốc tế và 17 ngân hàng phát hành thẻ tín dụng quốc tế, với trên 200 thương hiệu thẻ khác nhau. Nếu như năm 2006, toàn thị trường mới có khoảng 5 triệu thẻ thì đến tháng 12 năm 2013 có tới hơn 66 triệu thẻ, cao gấp 13 lần. Thẻ trả trước cũng xuất hiện trong một vài năm trở lại đây, tính đến tháng 6 năm 2011 là hơn 900 nghìn thẻ, chiếm hơn 2,5% tổng số thẻ toàn thị trường. Lợi ích chủ yếu từ hoạt động kinh doanh thẻ nội địa của các ngân hàng là số dư tiền gửi không kỳ hạn cá nhân gắn với tấm thẻ ghi nợATM. Hình 4. Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 Bên cạnh tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ thì thị trường thẻ ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những vấn đề như: thị trường thẻ thanh toán ở Việt Nam vẫn còn phát triển rời rạc và cắt khúc; tỷ lệ người sử dụng tiền mặt vẫn ở mức cao và sự thiếu kết nối giữa ngân hàng, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, hàng hóa khiến người tiêu dùng chưa mạnh dạn tham gia cũng như thụ hưởng các tiện ích từ thương mại điện tử. 2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng thẻ qua mạng Hiện nay, các trang web dịch vụ mua sắm trực tuyến có hướng đầu tư sâu hơn về mặt chất lượng để phát triển. Các doanh nghiệp đã chú trọng đến đầu tư nâng cấp chất lượng giao diện website, cung cấp dịch vụ tốt hơn như truy cập nhanh, giao diện đẹp, dễ sử dụng, cung cấp nhiều thông tin cho từng sản phẩm về giá cả, xuất xứ. Tác động của TMĐT đến con người hiện đại Các sàn giao dịch thương mại trực tuyến được hoạt động dưới hình thức những siêu thị điện tử kinh doanh nhiều mặt hàng và tùy theo lợi thế, mục đích của từng siêu thị điện tử sẽ có một vài nhóm hàng hóa chủ lực. Vì vậy, không khác gì những mô hình chợ trực tiếp, chợ trên mạng cũng tập trung khá phong phú về chủng loại cũng như mẫu mã. Hiện cả nước có khoảng 80 doanh nghiệp kinh doanh sàn giao dịch điện tử, trong đó không ít trang web đã tạo được uy tín trên thị trường. Có đến hơn 10.000 mặt hàng thuộc các ngành hàng như: kim khí điện máy, quà lưu niệm, hoa, sách, quần áo, hàng thể thao, trò chơi, trang sức, mỹ phẩm, kinh doanh quảng cáo,... Đối với người mua: nhờ TMĐT người mua sẽ có nhiều cơ hội kiểm tra món hàng và tham khảo thật chi tiết doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm trước khi quyết định lựa chọn món hàng, có cơ hội tham khảo để chọn giá cả vừa ý nhất với mình, mà không phải chịu bất cứ sự khó chịu nào từ phía người bán hàng. Hơn thế, người mua còn nhận được sự tư vấn trực tuyến, dễ dàng đặt món hàng theo yêu cầu của mình với bất kỳ nhà cung cấp hay sản xuất nào trên toàn thế giới; có cơ hội mua được hàng với giá rẻ cũng như mua được những món hàng độc đáo, mới lạ mà không tốn nhiều thời gian, công sức cho việc tìm kiếm. Tuy nhiên, nếu không sáng suốt để lựa chọn thì như tất cả các dạng thương mại khác, nguy cơ chọn phải hàng kém chất lượng, cũng như gặp một số dạng lừa đảo trực tuyến, gian lận thương mại có thể xảy ra. Đối với người bán: nhờ có TMĐT người bán có nhiều cơ hội để quảng bá và bán được sản phẩm của mình đến tất cả mọi nơi vì thị trường không biên giới, tiết kiệm được chi phí song người bán cũng có thể sẽ phải chịu nhiều sự cạnh tranh từ rất nhiều phía đòi hỏi họ phải nỗ lực hết sức để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn và lợi nhuận trên mỗi món hàng sẽ ngày càng ít hơn. TMĐT thật sự làm cho con người xích lại gần nhau hơn, tin tưởng hơn và mang lại sự tiện lợi hơn. 2.2.3 Thực trạng thanh toán bằng thẻ cào qua mạng Thanh toán mua sắm online bằng thẻ cào điện thoại là phương thức mới cho phép người dùng thanh toán hoặc nạp tiền thông qua sử dụng mã thẻ trả trước của các mạng điện thoại di động, có mệnh giá phù hợp với giá trị giao dịch mong muốn. Việc tích hợp phương thức nạp thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã mở ra một tiện ích mới cho người tiêu dùng. Khách hàng chỉ cần cào mã thẻ điện thoại của nhà mạng, nhập mã số vào và nhấn nút nạp thẻ là đã hoàn tất quá trình nạp thẻ của mình. Khi đó, số tiền khách nạp sẽ có trong tài khoản ví điện tử và có thể thanh toán cho bất kỳ món hàng nào trên các website có tích hợp cổng thanh toán trực tuyến này. Quy trình xử lý: Đăng nhập tài khoản nội dung số Nhập mã thẻ cào trả trước Xác nhận hoàn thành giao dịch. Hình 5. Quy trình xử lý việc thanh toán bằng thẻ cào Là giải pháp cổng thanh toán cho các hình thức như: Phí chơi game, ebook, trả phí để download, trả phí để đọc truyện, trả phí để xem phim..., phần mềm, dịch vụ... có giá trị nhỏ, chỉ bằng cách sử dụng các thẻ điện thoại Viettel, Mobi, Vinaphone. Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều cổng thanh toán trực tuyến nhưng phần lớn mới chỉ đáp ứng cho các khách hàng có tài khoản Internet Banking, phải chuyển khoản qua ATM, hay chuyển khoản ngân hàng, gửi tiền đến tài khoản ví điện tử của mình. Việc này vẫn làm mất thời gian của khách hàng khi phải đi lại nhiều lần để thực hiện lệnh chuyển tiền hay chuyển khoản. Việc nạp tiền từ thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã đem lại tiện ích to lớn cho người dùng nhất là những người dùng điện thoại smart phone có thể thanh toán hàng hóa trực tiếp trên điện thoại. Danh sách các nhà cung cấp mã thẻ cào như: MobiFone, Viettel, VinaPhone,… Việc nạp tiền từ thẻ cào điện thoại vào ví điện tử đã đem lại tiện ích to lớn cho người dùng. Chỉ cần trong vòng 30 giây, khách hàng đã có tiền trong tài khoản để mua món hàng mình cần. Bên cạnh đó, thẻ điện thoại được bán và sử dụng rộng rãi nên bạn sẽ không phải mất công đi ra ngân hàng, hay chờ đợi nhân viên ngân hàng hoàn tất các thủ tục cho mình. Thẻ điện thoại được bán rộng rãi, dễ dàng mua ở bất cứ đâu. Với dịch vụ này, các doanh nghiệp bán và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng,… sẽ mang lại cho khách hàng một kênh thanh toán tiện lợi, dễ sử dụng. Khách hàng chỉ cần sử dụng mã thẻ cào trả trước của các mạng viễn thông để thực hiện thoanh toán cho đơn hàng, thao tác thanh toán được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng qua SMS hoặc internet. 2.3 Minh họa quy trình thanh toán qua mạng Hình 6. Quy trình thanh toán qua mạng Giải thích quy trình: 1. Người mua đặt lệnh mua trên website của người bán sau khi đã chọn hàng hóa. Sau đó người mua khai báo thông tin thẻ tín dụng của mình. 2. Thông tin thẻ tín dụng của người mua được chuyển thẳng đến ngân hàng của người bán (trong trường hợp người bán có Merchant Account – xem giải thích bên dưới) hoặc chuyển thẳng đến nhà cung cấp dịch vụ xử lý thanh toán qua mạng (gọi là Third Party – Bên thứ ba, xem giải thích bên dưới) mà người bán đã chọn. Thông tin thẻ tín dụng không được lưu trên server của người bán, do đó, hạn chế khả năng bị hacker đánh cắp thông tin. 3. Ngân hàng của người bán hoặc Bên thứ ba này sẽ kiểm tra tính hợp lệ của thẻ với ngân hàng nơi phát hành thẻ, thông qua giao thức SET. Việc kiểm tra này được thực hiện tự động rất nhanh, trong vòng vài giây. 4. Ngân hàng phát hành thẻ sẽ phản hồi (được mã hóa theo quy định) cho ngân hàng của người bán hoặc bên thứ ba về tính hợp lệ của thẻ. 5. Sau đó thông tin này được giải mã và gửi về cho người bán. 6. Người bán dựa trên thông tin phản hồi này quyết định bán hay không bán. Nếu bán thì sẽ gửi email xác nhận cũng như hóa đơn và các văn bản cần thiết khác cho người mua, đồng thời xử lý đơn hàng. Nếu không bán thì giao dịch coi như kết thúc, người bán cũng gửi thông điệp cho người mua, nêu rõ lý do không bán. 3. Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 3.1 Thành tựu đạt được Giá trị pháp lý của chứng từ điện tử đã được công nhận: đây được xem là thành tựu rất lớn trông ngành TMĐT. Nó là cơ sở để các doanh nghiệp và người tiêu dùng yên tâm vì được bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia, đồng thời cũng giải quyết công bằng hơn khi có tranh chấp liên quan đến hoạt động TMĐT xảy ra. Mở rộng đối tượng triển khai và ứng dụng thanh toán trực tuyến: việc này không còn quá lạ đối với Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã tham gia hợp tác với nhiều ngân hàng đã tạo thuận lợi cho khách hàng của họ trong việc thanh toán có nhiều sự lựa chọn hơn. Đa dạng hoá các loại hình thanh toán: Khách hàng ngày càng có nhiều lựa chọn hình thức thanh toán qua thẻ ATM, thẻ cào….tránh được những thủ tục phức tạp và thuận lợi hơn cho cả hai bên mua và bán. Tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực TMĐT của các doanh nghiệp đã có những thay đổi vượt bậc góp phần đẩy mạnh việc mua bán qua mạng: Việt Nam là một nước đang phát triển, đi lên theo xu hướng công nghiệp hóa mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới và điều đó kéo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là ngành TMĐT non trẻ. Một loạt các hình thức kinh doanh mới trên các phương tiện điện tử liên tục xuất hiện: + Bán hàng online. + Dịch vụ tải nhạc, hình nền, tra cứu thông tin... + Báo điện tử, chơi game online... Đa dạng các phương thức thanh toán trong TMĐT: phương thức B2B là người mua và người bán đều là doanh nghiệp hay phương thức B2C là người bán là doanh nghiệp, người mua là người tiêu dùng. 3.2 Hạn chế Khách quan: Về phía pháp luật: + Việc ban hành văn bản thi hành luật Giao dịch điện tử diễn ra còn chậm. Từ cuối năm 2006 đến nay thì vẫn chưa có thêm nghị định nào được ban hành. + Những quy định về cấp phép thành lập website hay mua bán tên miền chưa phù hợp với thực tiễn. Trường hợp bán vé điện tử của Vietnam Airlines là một ví dụ. Trước đây, vé máy bay (cuống vé) được coi là một loại hóa đơn, nhưng khi chuyển sang bán vé điện tử thì sẽ không có cuống vé, thay vào đó là những chứng từ điện tử được lưu giữ trong hệ thống thông tin của công ty hàng không. Mặc dù pháp luật coi chứng từ điện tử có giá trị như văn bản và như bản gốc, nhưng thực tế Tổng cục Thuế chưa sẵn sàng chấp nhận các chứng từ điện tử này, chính vì thế mà Vietnam Airlines được yêu cầu khi bán vé điện tử vẫn phải kèm theo phiếu thu bằng giấy. Yêu cầu này làm cho vé điện tử chỉ là một giải pháp nửa vời, vì trái với mục tiêu giảm chi phí quản lý gắn với giấy tờ và gây khó khăn cho việc bán vé hoàn toàn qua mạng. Về phía công nghệ: +Muốn việc thanh toán qua mạng được diễn ra thì người mua hàng phải có thẻ thanh toán. + Virus tấn công: Việc hacker tấn công nhiều modem WiFi gia đình rồi đổi mật khẩu, cấu hình và tên WiFi thành “china hacker” là hết sức nguy hiểm đối với người dùng Internet. Khi nắm được mạng WiFi gia đình, hacker có thể lấy cắp tài khoản giao dịch tài chính, email, Facebook… hoặc tạo ra mạng botnet (mạng được điều khiển từ xa) để phá hoại trên diện rộng. Vụ tấn công này có thể liên quan đến virus Chameleon. Sau khi nhiễm vào máy tính cá nhân qua các đường mạng, USB… , virus này sẽ tấn công thiết bị WiFi được thiết lập tên (username) và mật khẩu đăng nhập (password). Chính điều này khiến doanh nghiệp bị hack mất rất nhiều khách, hay chính doanh nghiệp bị khách hàng mình lừa đảo. Về phía khách hàng: vẫn phần đông khách hàng e ngại sử dụng thanh toán qua mạng vì tiền mặt vẫn là hình thức thanh toán chủ yếu trong các giao dịch mua bán trực tuyến. Tiếp theo là hình thức chuyển khoản qua ngân hàng, thẻ thanh toán. Do thói quen thích nhìn tận mắt, sờ tận tay đã ăn sâu vào tâm lý người Việt bởi họ nghĩ rằng chỉ có như vậy mới thì đảm bảo được chất lượng. Cuộc sống tại Việt Nam chưa công nghiệp hóa đến mức quá bận rộn để click mua hàng trên mạng. Ngay cả ở những thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, dù công nghệ phát triển mạnh mẽ, sức ép từ công việc nhưng hình thức mua bán trực tuyến vẫn không quá phổ biến. Vấn đề khác là niềm tin giữa bên bán và bên mua: + Đối với doanh nghiệp: Không tin tưởng khách hàng Điển hình của việc này là yêu cầu khách hàng thanh toán trước toàn bộ giá trị đơn hàng hoặc chịu phí tổn phát sinh. Tất nhiên đây chỉ là sự phòng ngừa của các nhà bán lẻ, nhưng nó lại khiến người mua thấy khó chịu, phiền phức và nảy sinh tâm lý không an tâm. Chăm sóc kém khiến khách hàng không hài lòng trong bán lẻ trực tuyến Đặc điểm của bán lẻ trực tuyến là không có sự tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, chính vì vậy hệ thống chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ là rất quan trọng. + Đối với khách hàng: Sản phẩm không được hiển thị xác thực Không thấy được hình ảnh thực tế của sản phẩm luôn là băn khoăn lớn nhất của khách hàng khi mua sắm trực tuyến. Chính vì vậy họ thường yêu cầu rất cao những thông tin về sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Thông tin về đặc điểm, tính năng của sản phẩm không đúng với thực tế, được nói quá khoa trương. Đặc biệt là giá bán và những chương trình khuyến mãi đi kèm không rõ ràng, gây nhiều hiểu lầm và dẫn đến tranh chấp. Quy trình mua và thanh toán không rõ ràng và không đảm bảo an toàn Mua bán trên mạng diễn ra trên môi trường ảo nên các công đoạn chọn hàng, đặt mua và thanh toán khó có thể theo dõi cặn kẽ. Khách hàng thường rất quan tâm về vấn đề này, nếu quy trình mua hàng phải trải qua quá nhiều bước rắc rối, không logic sẽ làm cho họ thấy khó chịu, nản lòng. Phương thức thanh toán không đảm bảo an toàn và hệ thống bảo mật kém cũng sẽ làm mất lòng tin của khách hàng. Hệ thống liên lạc kém Hệ thống liên lạc đôi khi bị các nhà bán lẻ bỏ qua khi triển khai website, trong khi đây cũng là một yếu tố quan trọng để kết nối doanh nghiệp với khách hàng. Không gặp trực tiếp được người bán, vậy khách hàng khi có ý kiến phản hồi, khiếu nại hay muốn tìm hiểu kĩ hơn thì biết liên lạc với ai? Khi khách hàng cần tư vấn thì nhân viên phải ngay lập tức trả lời. Như thế mới giữ chân được khách hàng, vì nếu họ phải chờ đợi lâu họ sẽ chuyển sang những nơi cung cấp khác. Về mặt chủ quan: Các doanh nghiệp vẫn đang ở tâm lí vừa làm vừa thăm dò thị trường. Nhiều đơn vị bán hàng qua mạng vẫn chưa hiểu rõ sự khác biệt giữa bán hàng online và bán hàng offline truyền thống. Chưa phát huy hết lợi thế online nên khó có thể đánh trúng tâm lí người tiêu dùng cần gì. 4. Một số biện pháp để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 4.1 Biện pháp khắc phục những rủi ro khi thanh toán qua mạng Ngăn chặn tình trạng thẻ giả mạo trong giao dịch qua mạng cho các doanh nghiệp Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thời gian gần đây thường hay xảy ra những vụ việc người Việt Nam đứng tên thành lập công ty, ký hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ với một số ngân hàng, sau đó sử dụng thẻ giả thanh toán qua các máy chấp nhận thanh toán thẻ để rút tiền, tư lợi cá nhân (chủ yếu là giao dịch thanh toán thẻ quốc tế). Điều này không những ảnh hưởng lớn đến ngành Ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến ngành TMĐT cũng như việc phát triển nền kinh tế Việt Nam nói chung. Để khắc phục tình trạng nêu trên thì cần các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ phải kiểm tra, rà soát các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (tập trung vào các đơn vị hoạt động trong thời gian ngắn, 0102 tháng); tăng cường kiểm tra và giám sát các quy trình thanh toán thẻ (đặc biệt là thẻ quốc tế) phát sinh tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ. Khi phát hiện các giao dịch đáng ngờ thì cần chủ động phối hợp cơ quan công an để có biện pháp xác minh, xử lý; đồng thời báo cáo kịp thời NHNN. Rà soát các điều kiện, thủ tục phát triển đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ; tiến hành phân loại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ để khoanh vùng rủi ro, tăng cường các biện pháp giám sát và chú trọng đào tạo cho nhân viên trong việc nhận biết, đánh giá độ tin cậy của các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ trước khi ký kết hợp đồng. Phổ biến, thông báo đến từng nhân viên trong đơn vị (đặc biệt các nhân viên giao dịch) về phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm thẻ để qua công tác nghiệp vụ có thể phòng ngừa, phát hiện, tố giác các dấu hiệu tội phạm. Áp dụng các giải pháp công nghệ bảo mật tiên tiến đối với hệ thống thanh toán thẻ. Tăng cường phổ biến cho khách hàng bằng các hình thức cảnh báo, nhắc nhở thích hợp tại ATMPOS để khách hàng đề cao cảnh giác, tham gia phòng chống tội phạm và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Khắc phục những sự cố xảy ra do sơ suất về mặt kĩ thuật Để khắc phục những sơ suất trong kỹ thuật của nhân viên khi xảy ra việc nhầm lẫn truyền dữ liệu; vô tình nhấp chuột làm mất dữ liệu của khách hàng hoặc máy tính bị virut tấn công là không khó, nhưng điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra trình độ của đội ngũ nhân viên cũng như xây dựng phần mềm chống vitut tấn công, hệ thống website, thanh toán qua mạng đơn giản và hiệu quả. Ngoài ra để đề phòng những rủi ro hiểm hoạ do thiên tai, sự cố bất ngờ hay những hành động chiến tranh khủng bố... thì việc lưu trữ dữ liệu trong TMĐT ở nhiều nơi với nhiều hình thức là việc làm rất có ý nghĩa. Việc làm này tạo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh trên mạng cũng như đảm bảo việc phát triển lâu dài và bền vững cho doanh nghiệp. Khắc phục những rủi ro thường gặp khác Các biện pháp nêu trên đều là những biện pháp cần thiết để phòng tránh những rủi ro bất trắc trong thanh toán TMĐT. Song cho dù có áp dụng biện pháp nào đi chăng nữa cũng không thể đảm bảo an toàn một cách tuyệt đối bởi có rất nhiều rủi ro mang tính khách quan. Rủi ro có thể xảy ra hoặc không, lúc này hay lúc khác, mang lại tai hoạ lớn, vừa hay nhỏ... con người đều hoàn toàn không lường trước được. Vì vậy, để đảm bảo an toàn hơn trong quá trình giao dịch trên mạng, ngoài áp dụng các biện pháp nêu trên, các doanh nghiệp kinh doanh nên tham gia bảo hiểm các rủi ro trong kinh doanh trên mạng. Hiện nay, một số công ty bảo hiểm nước ngoài đã tung ra thị trường một loại dịch vụ bảo hiểm mới là “Bảo hiểm Internet Internet insurance” cũng ở ngay trên mạng Internet. Mặc dù chưa phải là đầy đủ, song những biện pháp nêu là các bước cơ bản để phòng ngừa và hạn chế những rủi ro tổn thất có thể gặp phải trong quá trình kinh doanh trên mạng của các doanh nghiệp. 4.2 Biện pháp để thúc đẩy thanh toán qua mạng Nhà nước phải cung cấp nhanh chóng các dịch vụ hỗ trợ Thương mại điện tử, phát triển internet đến vùng sâu vùng xa Những kinh nghiệm thực tế trên thế giới cho thấy để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng phát triển thì vai trò Nhà nước phải được thể hiện rõ nét trên hai lĩnh vực: cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và cụ thể. Nếu như thiếu đi một cơ sở pháp lí thì việc hoạt động của các doanh nghiệp trở nên khó khăn cũng như việc lúng túng mua hàng của người tiêu dùng khi thực hiện giao dịch kéo theo việc khó khăn trong vấn đề quản lí của các cơ quan Nhà nước. Đối với Việt Nam đang trong giai đoạn mới của quá trình phát triển TMĐT, đầu tiên cần xây dựng hệ thống các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương để phát triển đồng bộ. Bên cạnh đó ban hành các luật, nghị định nhằm thực thi pháp luật, ngăn chặn các hành vi gian lận và lừa đảo trong thanh toán qua mạng. Thứ hai, Nhà nước cần đầu tư mạng lưới Internet đến vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo để có thể thu hút khách hàng tìm hiểu và tham gia vào TMĐT. Phát triển hoạt động kinh doanh thẻ ở Việt Nam Việt Nam là một quốc gia có nhiều tiềm năng trong việc phát triển kinh doanh thẻ so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Tại các đô thị lớn, do có thu nhập cao, mức sống được cải thiện cộng với công nghệ thông tin ngày càng phát triển, tâm lí tiêu dùng của người dân đặc biệt là giới trẻ ngày càng thay đổi rõ rệt. Đa phần họ thích mua sắm ở siêu thị và các trung tâm thương mại cao cấp. Mặt khác, để hòa hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin cũng như thể hiện phong cách sống năng động, tỷ lệ tiêu dùng trẻ thanh toán qua thẻ ngày càng lớn. Vì vậy việc thanh toán qua mạng cũng ngày càng tăng. Nhưng nếu chỉ có những khách hàng tiêu dủng trẻ sử dụng hình thức giao dịch này thì TMĐT đã mất đi một số lượng khách hàng lớn. Do đó, cần xây dựng chiến lược thu hút dân cư mở tài khoản thanh toán qua ngân hàng. Chiến lược kinh doanh ấy phải được các ngân hàng phối hợp với các doanh nghiệp kinh doanh bằng TMĐT và phía Nhà nước, bao gồm: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược giao tiếp khuếch trương. Thường xuyên họp bàn để đưa ra các dự án xây dựng hệ thống thẻ nghiệp vụ ngân hàng có khả năng đáp ứng môi trường kinh doanh đang biến động từng ngày dựa trên nhu cầu của khách hàng. Mở rộng dịch vụ thanh toán bằng thẻ qua ngân hàng và phát triển hình thức thanh toán mới như thông qua điện thoại di động hoặc ví điện tử Người tiêu dùng tại Việt Nam vẫn chưa đặt niềm tin vào mua sắm trực tuyến, họ vẫn có cái nhìn thiếu thiện cảm với các hình thức kinh doanh trên mạng. Thực tế, có rất nhiều khách hàng phản ánh rằng sản phẩm họ nhận được khác xa với những gì họ nhìn thấy trên website, do vậy niềm tin vào TMĐT cũng bị lung lay. Do đó tâm lý mua hàng theo thói quen nhìn tận mắt, sờ tận tay và thanh toán bằng tiền mặt từ xưa tới nay khiến người tiêu dùng khó có thể thay đổi trong một sớm một chiều. Giải pháp được đưa ra là các doanh nghiệp cũng như các nhà mạng có thể bổ sung một số hình thức thanh toán mới như thông qua điện thoại di động hoặc sử dụng ví điện tử (là một tài khoản điện tử, có chức năng như một chiếc ví tiền trong thế giới Internet nhằm hỗ trợ ngư
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH SÁCH BẢNG iii
DANH SÁCH HÌNH iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Phạm vi về không gian 2
3.2 Phạm vi về thời gian 2
3.3 Phạm vi về nội dung 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Phương pháp thu thập số liệu 2
4.2 Phương pháp phân tích 2
PHẦN NỘI DUNG 3
1 Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài 3
1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt .3
1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động 4
1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử 5
2 Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 7
2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 7
2.1.1 Tổng quan thị trường 7
2.1.2 Người tiêu dùng 8
2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng 9
2.1.4 Hành vi mua sắm trực tuyến 12
2.2 Tình hình phát triển việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam 13
2.2.1 Thực trạng việc thanh toán bằng thẻ 13
2.2.2 Thực trạng thanh toán bằng thẻ qua mạng 14
2.2.3 Thực trạng thanh toán bằng thẻ cào qua mạng 15
2.3 Minh họa quy trình thanh toán qua mạng 17
3 Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 18
3.1 Thành tựu đạt được 18
4 Một số biện pháp để thúc đẩy việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam 20
4.1 Biện pháp khắc phục những rủi ro khi thanh toán qua mạng 20
4.2 Biện pháp để thúc đẩy thanh toán qua mạng 22
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 24
1 Phần kết luận 24
Trang 22 Phần kiến nghị 24
2.1 Đối với doanh nghiệp 24
2.2 Đối với nhà nước 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 3DANH SÁCH BẢNGBảng 1 Dự báo tỷ lệ mua sắm trực tuyến năm 2015 13
Trang 4DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Sơ đồ thanh toán qua mạng 3
Hình 2 Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm 11
Hình 3 Số lượng và tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam 11
Hình 4 Tốc độ tăng trưởng thẻ ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2006-2013 14
Hình 5 Quy trình xử lý việc thanh toán bằng thẻ cào 16
Hình 6 Quy trình thanh toán qua mạng 17
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, Thương mại điện tử (TMĐT) đã trởthành một phương thức thanh toán phổ biến với rất nhiều quốc gia trên thế giới.Người ta không còn phải mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc cho những giaodịch kinh tế Việc áp dụng TMĐT trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tấtyếu của thời đại Cùng với sự phát triển nhanh chóng công nghệ thông tin điểnhình là mạng toàn cầu Internet làm cho TMĐT và thanh toán trực tuyến đã khôngcòn là những khái niệm xa lạ đối với nhiều người Việt Nam Tuy TMĐT khôngcòn là vấn đề mới mẻ, nhưng rất nhiều người Việt Nam thậm chí còn chưa hiểu rõbản chất, lợi ích của TMĐT chứ chưa nói đến việc áp dụng nó Do đó, quá trìnhphát triển TMĐT ở Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc đòi hỏi phải
có những công trình nghiên cứu khách quan về quy luật vận động và phát triểnthương mại điện tử để từ đó xây dựng và triển khai chiến lược phát triển lĩnh vựchoạt động thương mại này
Theo thống kê của trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), hiện số người dùnginternet cũng đã xấp xỉ 38 triệu người, chiếm 40% dân số, tỷ lệ truy cập internetđứng thứ ba khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Indonesia Tuy nhiên đaphần số lượng người truy cập Internet mỗi ngày với mục đích chính là chat (tángẫu qua mạng) hay để đọc tin tức Rất ít người trong số đó mạnh dạn tham gia vàohoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua mạng Nguyên nhân chính là do tâm língười tiêu dùng Việt Nam còn e ngại, thích nhìn tận mắt, sờ tận tay hơn là hìnhảnh minh họa và thói quen thanh toán bằng tiền mặt từ xưa tới nay
Xuất phát từ những nguyên nhân đó, với mong muốn mỗi người dân ViệtNam sẽ hiểu biết ngày một sâu sắc tầm quan trọng của TMĐT, đưa TMĐT vàotrong hoạt động phát triển nền kinh tế quốc gia cũng như phát triển việc thanh toánqua mạng để nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập Mặt khác,thanh toán qua mạng là yêu cầu bắt buộc và cần thiết để xúc tiến TMĐT, đưaTMĐT Việt Nam lên tầm cao mới, bắt kịp với tốc độ phát triển của thế giới Việctriển khai các hoạt động thanh toán trực tuyến nhằm tiết giảm tối đa thời gian, nhânlực là một biện pháp mà nhiều doanh nghiệp thực hiện để giảm thiểu chi phí trongbối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn
đề tài: “Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam”
làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
Trang 6- Đánh giá thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp để thanh toán qua mạng ở Việt Nam ngày một tốt hơn
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài được thực hiện tại Việt Nam
3.2 Phạm vi về thời gian
- Số liệu sử dụng trong đề tài là từ năm 2012 đến năm 2014
- Đề tài được thực hiện từ ngày 18/03/2015 đến 18/04/2015
3.3 Phạm vi về nội dung
“Tìm hiểu thực trạng việc thanh toán qua mạng hiện nay ở Việt Nam”
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập trên Internet
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
1 Một số khái niệm, định nghĩa trong đề tài
1.1 Thanh toán qua mạng – một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
Hiểu đơn giản, thanh toán qua mạng là (dịch vụ trung gian) giúp bạn chuyển
tiền thật từ tài khoản ngân hàng thành 1 loại tiền ảo trên mạng Các cá nhân, tổchức dùng tiền ảo này để giao dịch trên mạng với nhau rồi sau đó lại chuyển ngượctiền ảo này thành tiền thật trong tài khoản ngân hàng
Hình 1 Sơ đồ thanh toán qua mạng Mua sắm trực tuyến là quá trình mà người tiêu dùng trực tiếp mua hàng hoá,
dịch vụ từ một người bán trong thời gian thực, mà không có một dịch vụ trunggian, qua Internet Nó là một hình thức thương mại điện tử Một cửa hàng trựctuyến, eShop, cửa hàng điện tử, internet cửa hàng, webshop, webstore, cửa hàngtrực tuyến, hoặc cửa hàng ảo gợi lên sự tương tự vật lý của sản phẩm, dịch vụ muatại một cửa hàng bán lẻ gạch-và-vữa hoặc trong một trung tâm mua sắm Quá trìnhnày được gọi là Business-to-Customer, gồm người bán là doanh nghiệp và ngườimua là người tiêu dùng (B2C) Khi một doanh nghiệp mua từ một doanh nghiệpkhác được gọi là Business-to-Business (B2B)
Khi có giao dịch trung gian, thì quá trình giao dịch bảo mật hơn rất nhiều giúpbảo vệ tài khoản ngân hàng của bạn và việc thanh toán trao đổi cũng đơn giản hơn.Chính vì vậy, hiện nay có khá nhiều các dịch vụ trung gian hoạt động hỗ trợ chúng
ta trong việc giao dịch trực tuyến với mỗi 1 dịch vụ sẽ đi kèm 1 loại tiền ảo có tên
và mệnh giá quy đổi ra tiền thật khác nhau
Trang 8Thẻ thanh toán là gì? Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một phương tiện thanh
toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại cácNgân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động Là phương thức ghi sổ những sốtiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tínhkết nối giữa Ngân hàng/Tổ chức tài chính với các điểm thanh toán (Merchant) Nócho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thànhphần tham gia thanh toán
1.2 Hệ thống thanh toán tài chính tự động
Thương mại điện tử (TMĐT), hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC,
là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet vàcác mạng máy tính TMĐT dựa trên một số công nghệ như chuyển tiền điện
tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng, tiếp thị Internet, quá trình giao dịch trựctuyến, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), các hệ thống quản lý hàng tồn kho, và các hệthống tự động thu thập dữ liệu TMĐT hiện đại thường sử dụng mạng World WideWeb là một điểm ít nhất phải có trong chu trình giao dịch, mặc dù nó có thể baogồm một phạm vi lớn hơn về mặt công nghệ như email, các thiết bị di động cũngnhư điện thoại
TMĐT còn nhiều rào cản: theo số liệu thống kê VNNIC, hiện tại khối các doanhnghiệp Việt Nam mới chỉ đăng kí khoảng 200.000 tên miền (bao gồm cả tên miềnViệt Nam VN và tên miền quốc tế), trong đó mỗi doanh nghiệp thường đăng kínhiều hơn 1 tên miền Trong khi đó tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay làhơn 500.000 doanh nghiệp, điều này có nghĩa là tỉ lệ doanh nghiệp có trang tênmiền hoặc website mới chỉ trên 20% Nguyên nhân là do thói quen mua sắm củangười tiêu dùng và khâu thanh toán khiến TMĐT Việt Nam chậm phát triển; ngườimua và người bán vẫn thực hiện theo phương thức “tiền trao cháo múc”, vì ngườitiêu dùng lo ngại mua phải sản phẩm không dùng được hoặc chất lượng không đạtnhư mong muốn Hệ thống pháp lý bảo vệ thông tin cá nhân vẫn còn thiếu nhữngquy định, chế tài cụ thể về bảo vệ đối tượng sử dụng TMĐT Nhìn chung, việcphát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát
* Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt:
Một trong các phương tiện thanh toán khá phổ biến hiện nay là thẻ thanh toángiao dịch qua máy ATM, máy POS; tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do cácNgân hàng thương mại (NHTM) phát hành, lắp đặt ngày càng tăng nhưng tác dụnggiảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêm tốn Trong buổi giao lưutrực tuyến do Thời báo Kinh tế Sài Gòn tổ chức ngày 8/6/2009, TS.Dương HồngPhương, Phó Vụ trưởng Vụ Thanh toán thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chobiết, theo thống kê, khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt Theo ngườidân phản ánh, việc thanh toán tiền mua hàng, trả phí dịch vụ qua máy POS còn rất
Trang 9hạn chế vì không có đủ máy quét cho nhiều loại thẻ của nhiều ngân hàng Để trảtiền mua hàng, khách hàng phải rút tiền mặt từ máy ATM lắp đặt tại các cửa hàng,siêu thị Ông Lưu Trung Thái - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội giải thíchđiều này: hệ thống POS lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị của các ngân hàng hiệnnay chưa được kết nối với các hệ thống của ngân hàng khác, dẫn đến ít tiện ích chocác thẻ ATM nội địa của các ngân hàng Việt Nam.
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960 Nhưng đến nay,phương tiện thanh toán này ngày càng giảm Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiềuthuận lợi và nhanh chóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa chongười bán và người bán chỉ cần cầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhậnđược tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiện nay, tỷ lệ thanh toán bằng sécmới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt; Ông Vũ Huy Toản - PhóGiám đốc NHNN thành phố Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân thanh toán bằngséc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạn mức phải thanh toán bằngséc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự lo ngại củangười bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi
ro Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bánkhông có tài khoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệthống thanh toán bù trừ của NHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâmthanh toán bù trừ séc
1.3 Lợi ích của thanh toán điện tử trong thương mại điện tử
+ Tiết kiệm thời gian: đây là ưu điểm lớn nhất mà mọi người đều đồng ý Trongcuộc sống bận rộn, việc sử dụng thời gian một cách hợp lý là cần thiết Nếu muốnmua một sản phẩm nào đó bạn phải mất công, mất thời gian tìm sản phẩm, đến nơibán hàng Thay vì lãng phí thời gian như vậy bạn chỉ cần nhấn chuột vào trangweb mua hàng trực tuyến, chọn sản phẩm mình muốn mua rồi bấm nút đặt hànghoặc mua hàng, nhân viên giao hàng sẽ đưa tới địa chỉ bạn mong muốn Mua hàngonline giúp bạn tiết kiệm thời gian tối đa và bớt đi rắc rối của cuộc sống
+ So sánh giá cả dễ dàng: tất cả giá cả đều có sẵn tại các website bán hàng trựctuyến Mua hàng qua mạng của người bán là một công ty, doanh nghiệp bao giờcũng an toàn hơn mua của người bán là một cá nhân Mua hàng qua trang web củacông ty bao giờ cũng mua được hàng chính hãng, chất lượng của công ty đó Ngoài
ra nên chọn người bán có uy tín được nhiều bình chọn của người mua, hoặc nhữngsản phẩm trong top bán chạy của trang web Bạn được biết giá trước khi quyếtđịnh mua hàng, lựa chọn sản phẩm phù hợp với túi tiền của mình Không ít ngườimua món hàng mình không thích chỉ vì “hỏi giá mà không mua thấy hơi kỳ kỳ”
So sánh để chọn lựa cái tốt nhất, đó là điều mà khi mua sắm ai cũng quan tâm Bạn
có thể hoàn toàn yên tâm chọn đặt hàng ở những website uy tín, giá cả phải chăng
Trang 10+ Lựa chọn đa dạng: nhiều người không biết rằng họ có thể tìm kiếm và muacác sản phẩm hàng ngày qua các trang trực tuyến Các trang web mua bán trựctuyến giúp mọi người có thể lựa chọn hàng nghìn sản phẩm khác nhau cùng mộtlúc Ngày càng nhiều shop online ra đời với mọi loại sản phẩm phù hợp với nhucầu của nhiều người với hàng trăm mặt hàng và hàng ngàn thiết kế có sẵn Tùy vàomục đích và kinh tế, bạn có thể chọn được loại sản phẩm thích hợp một cách nhanhchóng Lựa chọn món quà phù hợp cho người lớn tuổi hay người trẻ tuổi dễ dàng
mà không cần phải băn khoăn, bối rối mua gì thì phù hợp Người tiêu dùng có thểtìm thấy tất tật các mặt hàng, từ đồ gia dụng, điện tử, nội ngoại thất, thời trang,thực phẩm… đến các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, làm đẹp… đồ cũ, mới đều
có hết Không những thế, khách hàng còn có thể tìm thấy ở “chợ điện tử” nhữngmón hàng không thể tìm được ở nội địa, đặc biệt là những món hàng xách tay nhưnước hoa, đĩa nhạc, sách báo … Mua sắm online giúp bạn “quẳng” cơn đau đầu đi.+ Giá thành rẻ: vì không phải thanh toán các khoản tiền mặt bằng, chi phí cửahàng nên đa phần các website bán hàng online đều cung cấp sản phẩm với mức giáthấp hơn khi bạn mua bên ngoài mà chất lượng vẫn đảm bảo
Bí quyết để tiết kiệm với mua hàng trực tuyến là mua với số lượng nhiều Khimua hàng với số lượng nhiều thì khách hàng có thể nhận được sự giảm giá hoặcchiết khấu và đôi khi con số đó có thể lên tới 50% hoặc còn hơn thế nữa
Và trong các dịp lễ hội, thì các website bán hàng trực tuyến có những chươngtrình khuyến mãi, hoặc các trò chơi có thưởng rất hấp dẫn: như các mặt hàng làmđẹp: mỹ phẩm khuyến mãi, đồ gia dụng, đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm chăm sócsức khỏe, tạo cho khách hàng có cảm giác thú vị, và tiết kiệm túi tiền để có thểmua nhiều sản phẩm hơn
+ Chủ động, an toàn ở mọi tình huống: nếu khách hàng băn khoăn về việc thanhtoán trực tuyến nhưng không biết có nhận được hàng không thì sự ra đời của cáchình thức thanh toán trực tuyến như Paypal, Ngân lượng, Bảo kim…với tính năngthanh toán tạm giữ, bảo vệ người mua hàng tuyệt đối cung cấp các dịch vụ thanhtoán đa dạng, khách hàng có thể đổi hàng (không áp dụng cho sản phẩm cá nhân),
có thể khiếu nại, góp ý, và được hỗ trợ 24/7
+ Tránh nơi đông đúc: khách hàng không phải đổ mồ hôi, không phải chịu đựng
cọ quẹt, xô đẩy, chen lấn để chọn lựa hàng, không phải chen chúc, xếp hàng chờthanh toán ở siêu thị, không phải đau họng khi cao giọng nhắc lại yêu cầu nhiềulần trong đám đông Và đặc biệt hơn còn tránh được nguy cơ trộm cắp, móc túi,lừa đảo trong đám đông hay mất xe vì không có nơi đỗ xe
+ Tiết kiệm xăng dầu: không cần phải mất công đi lại dù trời mưa dầm hay nắnggắt, không tốn tiền xăng dầu đi lại vất vả Khách hàng chỉ cần ngồi tại nhà, vănphòng hay bất cứ đâu để lựa chọn, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng ngay tại địa
Trang 11chỉ mong muốn, giảm thiểu chi phí đi lại Thông thường, các website này sẽ cungcấp dịch vụ đưa hàng tận nơi nếu nơi giao hàng không quá xa trung tâm, hơn nữacòn thỏa sức cân nhắc giá cả, mẫu mã giữa những cửa hàng mà vị trí thực sự của
nó cách xa nhau cả chục thậm chí là cả trăm kilomet chỉ trong một thời gian ngắn.+ Mạng lưới mua sắm rộng: mạng lưới Internet toàn cầu mở rộng trên khắp mọinơi vì vậy người mua có thể mua sắm tại các tỉnh thành khác, thậm chí mua hàng ởnước ngoài mà không phải bước chân ra khỏi cửa Mua hàng qua mạng có rấtnhiều lợi thế khi chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng internet, khách hàng chỉviệc ngồi một chỗ mà có thể mua sắm khắp thế giới
+ Thủ tục đăng ký mua hàng đơn giản: mua hàng trực tuyến trở nên ngày càngphổ biến nên các thủ tục đăng ký mua bán cũng được đơn giản hóa hết mức có thể.Các website mua hàng trực tuyến với hệ thống đăng ký và mua hàng đơn giản nhấtcùng các hướng dẫn và minh họa cụ thể giúp khách hàng sử dụng dễ dàng Chỉ sauvài cú nhấp chuột thì đã có thể mua sản phẩm mong muốn
+ Những lợi ích khác: mua hàng online ngày càng có nhiều lợi ích, chẳng hạnnhư mua hàng đơn giản hơn, có thể đánh giá sản phẩm qua những phản hồi của cáckhách hàng trước, nhận được những khuyến mãi, giảm giá, quà tặng vào dịp đặcbiệt qua việc đăng ký khách hàng thân thiết, đăng ký thành viên và có thể cập nhậtthông tin các sản phẩm mới và nhiều lợi ích khác
2 Thực trạng của việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
2.1 Quá trình ứng dụng việc thanh toán qua mạng ở Việt Nam
Một ứng dụng của TMĐT là các hoạt động mua bán trên mạng đã thúc đẩy nhucầu mở rộng các hình thức hỗ trợ thanh toán, hỗ trợ giao hàng, sử dụng chữ ký số,tiền điện tử, cổ phiếu mạng, an toàn dữ liệu, bảo mật dữ liệu, của các doanhnghiệp Trên thực tế, ngay cả khi các doanh nghiệp chưa có điều kiện để tham giavào hoạt động kinh doanh trực tuyến, các doanh nghiệp cũng vẫn thường tiến hànhnhiều hình thức tự giới thiệu về mình trên mạng như một bước chuẩn bị ban đầucho việc chính thức gia nhập vào đội ngũ kinh doanh trên mạng của mình
2.1.1 Tổng quan thị trường
Thương mại điện tử trên thế giới cũng như ở Việt Nam tiếp tục phát triển mạnh
mẽ và thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh doanh Thống kê trên Cổng thông tin quản
lý hoạt động TMĐT, đến hết năm 2013 đã có 202 website TMĐT bán hàng đượcduyệt thông báo và 116 website cung cấp dịch vụ TMĐT được xác nhận đăng ký.Tuy nhiên, trên thực tế có rất nhiều website bán hàng hoạt động nhưng chưa đượcchứng nhận của Bộ Công Thương, Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thôngtin – Bộ Công Thương, ước tính doanh số từ TMĐT B2C khoảng 2.2 tỷ USD trongnăm 2013 Giá trị mua hàng trực tuyến trung bình của một người đạt khoảng 120
Trang 12USD Sản phẩm được lựa chọn mua sắm tập trung vào các mặt hàng như thờitrang, mỹ phẩm, đồ công nghệ và điện tử, đồ gia dụng, vé máy bay và một số mặthàng khác Tại Việt Nam, phần lớn người mua sắm sau khi đặt hàng trực tuyến vẫnlựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt, kế đến là thanh toán qua ngân hàng, hìnhthức thanh toán trung gian qua các website TMĐT chiểm tỷ lệ thấp.
2.1.2 Người tiêu dùng
Thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông Trung bình, một người giànhkhoảng 2 giờ mỗi ngày để truy cập Internet Thời gian sử dụng Internet chiếmkhoảng 31.5% tổng thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông và tỷ lệ này có
xu hướng ngày càng tăng, đặc biệt là ở những người trẻ tuổi
- Ảnh hưởng của các kênh thông tin đến hành vi mua sắm:
Truyền hình vẫn là kênh thông tin chính cung cấp thông tin sản phẩm và thươnghiệu đến người tiêu dùng Theo nghiên cứu của Nielsen 2014, số người tiêu dùng (chiếm 57%) sử dụng truyền hình nhằm cập nhật thông tin về sản phẩm Tuy nhiên,mạng xã hội mới là kênh thông tin người tiêu dùng cho là đáng tin cậy nhất (69%)
và có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua sắm (69%)
- Tâm lý mua sắm trực tuyến (có dấu 2 chấm ko?)
Lý do chính thúc đẩy người dùng mua sắm online là “tiết kiệm về thời gian” và
“có thể mua hàng trên mạng với giá rẻ” hơn hàng bán lẻ trên thị trường Đối vớinhững người chưa mua hàng online, ý định mua sắm online có thể nảy sinh khi họbiết “bạn bè hay người thân đã từng mua những mặt hàng như thế nào online và cótrải nghiệm tốt” và họ cảm thấy “sản phẩm được bảo hành hoặc bảo đảm” 6 yếu tốquan trọng quyết định việc mua hàng
+ Nếu tôi biết bạn bè/gia đình đã từng mua món hàng này online và có trảinghiệm tốt có 29%
+ Nếu tôi có bảo bảo hành/ đảm đi cùng với sản phẩm có 12%
+ Nếu sản phẩm mua online rẻ hơn so với mua tại cửa hàng bán lẻ thông thường
có 11%
+ Nếu tôi có thể trả tiền mặt có 8%
+ Nếu có khuyến mãi đáng kể hơn so với cửa hàng bán lẻ thông thường có 8%.+ Nếu tôi được hoàn tiền cho sản phẩm bị hư hoặc lỗi có 8%
(Theo Source: Goole/TNS 2014 Đối tượng: Người chưa từng mua hàng online)
2.1.3 Điều gì gây trở ngại cho người tiêu dùng
Nhìn chung, những trở ngại khiến người tiêu dùng còn e ngại khi mua sắm trựctuyến là: sản phẩm kém chất lượng so với quảng cáo (77%), giá cả không thấp sovới mua trực tiếp (40%), dịch vụ vận chuyển và giao nhận còn yếu, lo ngại thôngtin cá nhân bị tiết lộ và cách thức đặt hàng trực tuyến còn quá rắc rối Nghiên cứu
Trang 13sâu hơn về nhóm người chưa từng mua hàng online, Google/TNS cho biết rào cảnphổ biến nhất là người mua không thể chạm vào mặt hàng (57%) Các khách hàngtiềm năng lo ngại “hàng mua trên Internet có khả năng là hàng cũ/hàng giả” (49%).(Nguồn: Google Study 2014)
* Internet là phương tiện truyền thông cao cấp
Trước hết, Internet là phương tiện truyền thông duy nhất hiện nay có thể thu hút
được một số lượng lớn các khách hàng tiềm năng Những nhà kinh doanh nhạycảm đã nhận thấy Internet không chỉ là một mạng thông thường Nó là một thịtrường toàn cầu Với một trang web, cả thế giới đều có thể truy cập vào gian hàngtrên mạng của công ty Nhờ vậy mà các việc kinh doanh trên mạng có thể tiếp cậnvới hàng trăm triệu người sử dụng Internet từ khắp nơi trên thế giới
Thứ hai, mạng là sân chơi bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp Một doanh
nghiệp nhỏ có thể có một trang chủ cho hoạt động thương mại của mình hiệu quảnhư trang chủ của một công ty lớn Chi phí cho việc truy cập và xây dựng cácthông tin phục vụ cho việc quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp trên mạng tươngđối thấp đã giúp cho điều này trở thành hiện thực
Thứ ba, Internet chứa đựng khả năng của một phương tiện tryền thông mang
tính đa phương tiện Nó giúp cho các thông điệp mà doanh nghiệp muốn đem đếncho khách hàng của mình trên mạng được trình bày hiệu quả và ấn tượng hơn hẳn
so với các phương tiện truyền thông khác Một trang chủ trên mạng cho phép ta cóthể trình bày một cách phức tạp và tinh vi một sản phẩm của công ty Tất cả cácthông tin có thể viết và trình bày theo thể thức của phương tiện in ấn như báo chí,tạp chí, tờ rơi cũng có trong thông điệp trên Internet Công nghệ hình ảnh và âmthanh chuyển động kết hợp với máy móc và các kênh phát mới, tốc độ cao hơngiúp cho việc đưa ra âm thanh, nhạc, hình ảnh thuận tiện như trên tivi và ngàycàng dễ truy cập hơn Bên cạnh đó, khách hàng còn có thể dễ dàng di chuột vànhấn chuột để kết nối tới các thông tin khác Những kết nối này có thể bao gồmcác thông tin như bảng giá, catalogues, các hướng dẫn, hình ảnh trưng bày về sảnphẩm và một mẫu đơn đặt hàng điện tử
Thứ tư, Internet vừa mang các đặc điểm của phương tiện truyền thông đại chúng
lại vừa mang đặc điểm của phương tiện thông tin cá nhân Internet kết hợp khảnăng chuyển tải các thông điệp tới một số lượng lớn độc giả của các phương tiệntruyền thông đại chúng với khả năng phản hồi và tương tác của các phương tiệnthông tin các nhân Nhờ có bản chất tương tác của Internet, người sử dụng có thểđóng một vai trò tích cực hơn trong quá trình thông tin so với các phương tiệntruyền thông khác Đây là một đặc trưng mà các phương tiện thông tin đại chúngkhác không thể có được Trong khi đặc trưng việc cung cấp thông tin của cácphương tiện truyền thông đại chúng còn mang tính thụ động, thì việc cung cấp
Trang 14thông tin trên mạng lại theo yêu cầu của người sử dụng, nghĩa là việc điều khiểnquá trình thông tin liên lạc nghiêng về phía người sử dụng hơn là bản thân phươngtiện truyền thông Khối lượng thông tin khổng lồ trên mạng lại càng hướng việcđiều khiển quá trình thông tin về phía người sử dụng và tạo ra các cơ cấu nội dungthông tin phù hợp với sở thích và mối quan tâm cụ thể của từng cá nhân người sửdụng Khả năng này đã tạo cho các quảng cáo trên mạng một đặc tính mà các hìnhthức quảng cáo khác không có được, đó là tính tương tác
Thứ năm, Internet không chỉ là một kênh thông tin mà còn là kênh giao dịch và
phân phối Sở dĩ có được đặc tính này là nhờ khả năng tương tác và phản hồi củaInternet Khách hàng có thể vừa tìm thông tin lại vừa có thể thực hiện ngay việcmua bán và thanh toán ở ngay trên mạng Không một phương tiện truyền thôngnào có thể thực hiện được các chức năng marketing này ngay lập tức mà không cầnđến sự hỗ trợ của các phương tiện khác
* Vai trò của Internet trong quá trình mua sắm
Những vấn đề về niềm tin và sự không chắc chắn khiến cho người tiêu dùngchưa mạnh dạn tham gia mua sắm trực tuyến, tỷ lệ người mua online trên tổng sốngười có nghiên cứu thông tin về sản phẩm còn thấp, chỉ khoảng 16% Đa sốngười mua tìm kiếm online nhưng mua sắm offline Họ sử dụng Internet như mộtcông cụ hỗ trợ ra quyết định mua sắm, như: so sánh giá-chất lượng sản phẩm, lựachọn nhãn hiệu, xem bài reviews/lời khuyên về sản phẩm định mua, tìm chươngtrình khuyến mãi, xem địa chỉ bán hàng/thông tin liên hệ người bán
Những sản phẩm thường được tìm kiếm online nhưng mua sắm offline là Bảohiểm ôtô (75%), Tivi/thiết bị đi kèm (71%), Vé xem phim (68%), Đồ nội thất/thiết
bị lớn (62%), Hàng tạp hóa (46%) và Quần áo (36%)