Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng việt..
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT
CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 2PHÂN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
1 Đặt vấn đề:
Trong thực tế chúng ta đã biết, nhiệm vụ giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của
hệ thống giáo dục Quốc dân Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà giáo dục khác nhau Tuổi mầm non trẻ mới bắt đầu trong quá trình học nói, chính vì vậy mà cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ, đặc biệt là Dân tộc thiểu số là vô cùng quan trọng Bởi vì các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ của trẻ, nên khó khăn trong việc tiếp nhận Tiếng việt, dẫn đến cháu khó tiếp thu lời giảng của cô bằng ngôn ngữ Tiếng việt Chính vì vậy việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là vấn đề cần được quan tâm, nhằm hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho việc học Tiếng việt ở các bậc học tiếp theo
2 Lý luận:
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta sử dụng lời nói để trò chuyện, đàm thoại, thảo luận, trình bày những hiểu biết, suy nghĩ, giải thích một vấn đề nào đó trong cuộc sống như: Kể lại được sự việc, câu chuyện đã được nghe, được chứng kiến, hay tự mình nghĩ ra, sáng tạo ra Trẻ cần tập nghe, hiểu lời nói của cô của những người xung quanh Sau đó tập trình bày suy nghĩ và sự hiểu biết của mình theo ngôn ngữ Tiếng việt Muốn phát triển ở trẻ kỷ năng, hiểu và nói được ngôn ngữ Tiếng việt theo cô, theo tôi trước hết phải cuốn hút trẻ tham gia vào hoạt động phát triển ngôn ngữ qua trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc cho trẻ nghe, cho trẻ làm quen với chữ cái và thông qua các môn học khác, hoặc ở mọi lúc mọi nơi Là vô cùng quan trọng nhưng hình thành như thế nào đây mới thật là điều không phải dễ
3 Thực tiễn:
Bản thân tôi là một người Hiệu trưởng của trường mầm non Thượng Nung, quản lý với tổng số CB-GV-NV là 18 người và số cháu là 165 cháu Trong đó số trẻ dân tộc thiểu số chiếm 100% Hầu hết trẻ dân tộc H.Mông đến trường đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không nghe được tiếng Việt, bố mẹ trẻ lại ít quan tâm đến việc động viên trẻ đến lớp, còn trẻ chưa có ý thức về vấn đề nề nếp trong lớp học, trẻ không
Trang 3chịu đến lớp để học Là người quản lý tôi đã trăn trở và xây dựng kế hoạch từ đầu năm học, để phân công giáo viên trực tiếp đến nhà trẻ để huy động các cháu ra lớp Đấy cũng là một điều khó khăn rồi nhưng còn vấn đề gian nan hơn nữa là trẻ ngồi trong lớp lớ ngớ, không tích cực tham gia vào các hoạt động, cô nói điều gì trẻ cũng không hiểu cứ nhìn cô và không trả lời cô Giáo viên thường phải thực hiện các nhiêm vụ “Cô nói, cô nghe, cô trả lời” và để trẻ nhắc lại mà không đúng ví dụ:
Cô nói con “Bò” thì trẻ nói là con “Bồ” Đối với trẻ dân tộc thiểu số chịu rất nhiều thiệt thòi Điều kiện tiếp súc với môi trường xung quanh, xã hội còn ít, tầm nhìn của trẻ còn hạn chế, tất cả đồ dùng học tập đối với trẻ cũng thật là xa lạ, nên việc học đến với trẻ cũng thật là ngỡ ngàng Bởi vì trẻ không hiểu hết ngôn ngữ tiếng Việt của cô
Với tình hình thực tế của trẻ dân tộc thiểu số như vậy, bản thân tôi luôn trăn trở, suy nghĩ nhiều lúc thấy vô cùng lo lắng, không biết làm gì và làm như thế nào, bằng phương pháp gì? để giúp trẻ hiểu và nói được Tiếng việt một cách trôi chảy, chính vì điều băn khoăn trăn trở ấy bản thân tôi đã tìm tòi nghiên cứu một số
“Biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số”
Nhằm giúp trẻ dân tộc ham thích được đến lớp và muốn học được tiếng Việt để trẻ
tự tin trong cuộc sống và hứng thú học tập, tham gia vào các hoạt động trong
trường mầm non đạt kết quả tốt hơn
II Mục đích viết sáng kiến kinh nghiệm:
Tăng cường tiếng Việt cho trẻ Dân tộc thiểu số là một việc làm hết sức cần thiết, tưởng chừng như rất dễ nhưng thực tế lại rất khó, mà nó đòi hỏi cả một quá trình, phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ Dạy trẻ làm quen với tiếng Việt là dạy cái gì, dạy như thế nào? Trẻ làm quen với tiếng việt với tư cách là bộ môn khoa học hay với tư cách là một công cụ, một phương tiện giao tiếp Cách trả lời những câu hỏi trên sẽ liên quan tới việc lựa chọn nội dung, phương pháp cho trẻ dân tộc tiếp cận, làm quen dần với tiếng Việt Từ đó tôi mạnh dạn đưa ra một số “Biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số” Để giúp cho giáo viên có kiến thức và biện pháp về việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, nhằm giúp trẻ nắm những kiến thức cơ bản của bậc học Mầm non như sau:
1 Trên cơ sở thực tế tổ chức tăng cường tiếng việt cho dân tộc thiểu số:
Trang 4Đưa ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng phương pháp và các hình thức tổ chức tăng cường tiếng Việt cho trẻ độ tuổi mầm non Tại trường mầm non Thượng Nung Nhằm tạo điều kiện giúp trẻ nghe và hiểu được lời hướng dẫn các hoạt động của giáo viên, thông qua việc tăng cường tiếng Việt dân tộc thiểu số
2 Điều kiện giúp trẻ hiểu được thông tin của người dạy và học tiếng Việt tốt
nhất: Người giáo viên tổ chức các hoạt động trong lớp đạt kết quả như: Trò
chuyện với trẻ bằng tiếng Việt và thể hiện các hành động tương ứng với lời nói,
giúp trẻ dần thích ứng với ngôn ngữ thứ hai
III Nhiệm vụ viết sáng kiến kinh nghiệm
1 Nhiệm vụ cơ bản của sáng kiến: Là đưa ra một số biện pháp tăng cường tiếng
Việt cho trẻ mầm non nói chung và trẻ dân tộc thiểu số ở trường
mầm non Thượng Nung nói riêng
2 Các biện pháp thực tiễn: Lãnh đạo nhà trường và giáo viên cần nắm được tâm lý
và nguyện vọng của trẻ Để từ đó xây dựng các phương pháp, hình thức, biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ngay ở độ tuổi mầm non
VI Phương pháp nghiên cứu
Sáng kiến này được thực hiện với những phương pháp sau
1 Phương pháp tham khảo tài liệu: Phương pháp này giúp cho sự định hướng của
sáng kiến
2 Phương pháp kiểm tra, đánh giá: Tôi kiểm tra tiếng Việt của trẻ trong một năm
học 2010-2011, trẻ ở nhà so sánh với trẻ đến lớp học hàng ngày
3 Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính, để kiểm nghiệm những
phương pháp và biện pháp nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinh nghiệm Sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của trường mầm non Thượng Nung năm học 2010-2011
PHẦN II: NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận
1 Cơ sơ khoa học:
Trang 5Tiếng Việt rất quan trọng đối với mọi người dân việt nam Đặc biệt đối với trẻ dân tộc thiểu số Song trong thực tế hiện nay đa số trẻ vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số, trước khi đến trường chỉ sống trong gia đình, ở các thôn bản nhỏ, trong môi trường tiếng mẹ đẻ Do vậy trẻ chỉ nắm được tiếng mẹ đẻ ở dạng khẩu mgữ Trẻ biết rất ít hoặc thậm trí không biết tiếng Việt Trong khi đó tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong trường và cơ sở giáo dục khác Trên thực tế tiếng nói các dân tộc thiểu số, hầu như chưa có vai trò rõ rệt trong việc hỗ trợ tiếng Việt trong giáo dục Vì vậy, cho đến nay nhìn
chung việc dạy - học tiếng Việt cũng như việc dạy học bằng Tiếng việt ở các vùng dân tộc thiểu số chỉ đạt kết quả thấp Đặc biệt ở trường mầm non Thương Nung chúng tôi đa số các cháu dân tộc H.Mông nghe và nói tiếng Việt rất kém, mặc dù
cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng dễ dàng đối với học sinh dân tộc thiểu số Ở đây học sinh chỉ dùng tiếng Việt nói với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình Đa phần giáo viên phản ánh tình trạng người dạy và người học không hiểu nhau Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc Giáo Dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn Vì vậy là người quản lý một trường mầm non vùng sâu, vùng xa với 100% các cháu là dân tộc thiểu số Tôi nhận thấy cần có những biện pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ tuổi mầm non
Đó là người lãnh đạo nhà trường cần tích cực tham mưu với cấp uỷ chính quyền địa phương, kịp thời và bài bản, có hiệu quả, tập chung chỉ đạo sâu sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ vướng mắc, giải quyết khó khăn, đảm bảo kết quả dù rất nhỏ nhưng nhìn thấy rõ, đo kiểm minh bạch, khách quan để cha mẹ học sinh và cộng đồng tin tưởng, đồng thuận ủng hộ Thêm vào đó phải có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ đạo và đội ngũ giáo viên, giáo dục song ngữ Điều kiện quyết định là triển khai thành công một mô hình thích hợp và khả thi về tăng cường tiếng Việt cho trẻ
2 Cơ sở thực tiễn:
Trang 6Nhà trường cần tranh thủ sự hỗ trợ về mọi mặt của nhiều tổ chức, trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện tăng cường Tiếng việt cho trẻ, đó là nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục nói chung, mầm non nói riêng
Từ đó xẽ đáp ứng việc nâng cao được chất lượng Giáo Dục cho trẻ em vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số
Dạy tiếng Việt cho trẻ nói chung, dạy tiếng dân tộc nói riêng đều bắt đầu bằng việc dạy và phát triển vốn từ cho trẻ trước hết dạy trẻ tập nói các từ gần gũi, sau đó các câu nói đơn giản, rồi mới đến câu phức tạp Tuỳ theo khả năng của trẻ, cô giáo dạy trẻ ở các mức độ khác nhau Khi trẻ mới bắt đầu học tiếng Việt, cô giáo dạy một vài từ trong một ngày Khi trẻ đã có một số vốn từ nhất định, mức độ tiếp thu ngôn ngữ của trẻ nhanh hơn thì cô giáo có thể dạy trẻ số từ nhiều hơn Các từ được ôn luyện thường xuyên trong các hoạt động khác nhau, ngữ cảnh, ngôn ngữ khác nhau, trẻ mẫu giáo 5 tuổi có khả năng học được từ 300 đến 500 từ Tiếng Việt trong một năm
* Tóm lại:
Việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số, tuỳ theo điều kiện khả năng của từng lớp, từng trẻ để đưa ra các biện pháp tích cực như: Dạy Tiếng Việt thông qua chữ cái, kể chuyện, đọc thơ và các hoạt khác… Việc lặp lại các từ chính là để trẻ nghe và ghi nhớ các câu, từ trong từng nội dung bức tranh Ví dụ: Cô mời bạn Tùng đi tìm bức tranh có hình ảnh (người mẹ bế em bé) Để trẻ làm quen với từ (Mẹ bế em bé)
II Thực trạng các biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻdân tộc thiểu số:
1 Đặc điểm chung
a Thuận lợi:
Trường mầm non Thượng Nung là một trường vùng sâu, vùng xa và đặc biệt khó khăn Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo chính quyền địa phương, các đồng chí chuyên môn Phòng GD&ĐT Võ Nhai
Đặc biệt là có sự cần cù chịu khó và tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của tập thể cán
bộ, giáo viên trong nhà trường và sự phối kết hợp giúp đỡ từ phía Hội cha mẹ học
Trang 7sinh Đã tạo cho trường mầm non Thượng Nung yên tâm về mặt tinh thần và ổn định về cơ sở vật chất
- Gây hứng thú cho trẻ hoạt động, có môi trường xanh - sạch - đẹp, tạo được môi trường đảm bảo các hoạt động trong lớp, giúp trẻ có đủ điều kiện để phát triển tiếng Việt
- Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, năng động có trình độ 18/18 = 100% đạt trình
độ chuẩn và 4/18 = 22,2% CB-GV-VN đạt trình độ trên chuẩn
b Khó khăn:
Dân cư sống không tập chung, 100% là đồng bào dân tộc thiểu số, việc bất đồng ngôn ngữ giữa cô và trẻ, do vậy làm ảnh hưởng đến việc chăm sóc giáo dục trẻ Địa hình phức tạp việc đi đến lớp học của trẻ mầm non còn gặp nhiều khó khăn Mặt bằng kinh tế của người dân còn thấp, chủ yếu làm ruộng, làm nương, một số phụ huynh chưa nhận thức được rõ về tầm quan trọng của việc dạy tiếng Việt cho con em mình nó có tác dụng cần thiết như thế nào đối với việc nhận thức và hình thành nhân cách của trẻ
Đặc biệt các lớp ở điểm lẻ còn rất khó khăn, lớp học chưa đúng quy cách, việc sử dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương để làm đồ dùng đồ chơi hoặc phương tiện chuyển tải kiến thức tiếng Việt đến với trẻ còn hạn chế
Chưa có tài liệu dạy dạy tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số
2 Thực trạng việc quá trình đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số ở trường Mầm non Thượng Nung:
Khi nhà trường chưa có kế hoạch đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì chúng ta thấy kết quả được thể hiện qua bảng kiểm tra đầu vào như sau:
Lĩnh vực GD trẻ
Trẻ không hiểu
Trẻ hiểu
Trẻ rất hiểu
Phát triển ngôn ngữ 80/165 = 48,5% 55/165 = 33,3% 30/165 = 18,2%
Trang 8Phát triển nhận thức 85/165 = 51,5% 58/165 = 35,2% 22/165 = 13,3% Phát triển TC-XH 88/165 = 53,3 60/165 = 36,4% 17/165 = 10,3% Phát triển thể chất 65/165 = 39,4% 70/165 = 42,4% 20/165 = 12,1% Phát triển thẩm mỹ 60/165 = 36,4% 58/165 = 35,2% 47/165 = 28,5%
Để góp phần đưa các biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ mầm non Là người lãnh đạo nhà trường tôi đã chỉ đạo cán bộ, giáo viên tổ chức họp tuyên truyền phụ huynh tích cực hợp tác với nhà trường, cùng thống nhất dạy tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mội nơi Đặc biệt khi trẻ ở nhà các thành viên trong gia đình cần dùng tiếng Việt giao lưu với trẻ thường xuyên Mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm gần gũi trò chuyện với trẻ kết hợp với cử chỉ, hành động để trẻ dần được làm quen với tiếng Việt một cách tự nhiên không gò bó Ví dụ: Thông qua biện pháp trực quan hành động giúp cho người học tiếp thu có hiệu quả và học ngôn ngữ mới một cách tự nhiên hứng thú Mục đích của phương pháp này nhằm giúp cho người học đạt được các mục đích như: hiểu và sử dụng ngôn ngữ mới trong giao tiếp, hình thành và rèn luyện kỹ năng nghe, nói một ngôn ngữ mới Không cho trẻ nói khi chưa thực hiện thành thạo được các hành động, để có thể tập trung lắng nghe chuẩn xác Khi đã nghe rõ, hiểu, thuộc và tự tin làm đúng, trẻ xẽ tự muốn nói và có thể tự thực hành với bạn của mình, giáo viên cần cho trẻ đều được thực hành ở mỗi lần học Chỉ sử dụng ngôn ngữ đơn giản, ngắn gon, không dẫn dắt, giảng giải nhiều vì trẻ chưa hiểu tiếng Việt
Khi dạy trẻ, giáo viên cần xác định trước những loại từ, câu nào xẽ sử dụng khi hướng dẫn trẻ Nên sử dụng các điệu bộ cử chỉ để ra hiệu cho
trẻ hiểu ý đồ của mình, thay cho việc nói nhiều của người dạy Lúc đầu dạy từ 1-2
từ dễ hiểu kết hợp với hành động như: Đứng lên, ngồi xuống đến ngày hôm sau
cô giáo cần cho trẻ ôn lại những gì được học ngày hôm trước, để khắc sâu sự ghi nhớ bằng hình thức chơi mà không cần phải giữ nguyên thứ tự từ các bước ngày hôm trước dạy nữa ví dụ: Đứng lên - ngồi xuống, ngồi xuống - đứng lên, rửa tay - rửa chân…Dạy tiếng Việt với biện pháp trực quan hành động với đồ vật, biện pháp này dạy trẻ các từ mới như: Cái bàn, cái ghế, quyển vở…
Trang 9Ngoài ra còn sử dụng các biện pháp dạy trẻ học tiếng Việt qua kể chuyện, đóng vai, đối với mỗi câu chuyện, làm các đồ chơi minh hoạ, đơn giản tượng trương cho các nhân vật chính, sử dụng các nhân vật có sẵn để làm đồ dùng minh hoạ Hoặc trẻ học tiếng Việt thông qua việc dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt Nội dung chủ yếu của việc dạy này là giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng chữ cái Chúng ta có thể coi việc giúp trẻ làm quen với chữ cái là cốt lõi của việc làm quen với Tiếng việt có nghĩa là việc cho trẻ làm quen với chữ cái chưa phải là tất cả những nội dung công việc giúp trẻ làm quen với tiếng Việt Cách gọi làm quen với Tiếng việt thường gợi ra một phạm vi nội dung rộng rãi hơn so với cách gọi làm quen với chữ cái Do đó có thể thấy nội dung dạy trẻ làm quen với tiếng Việt không chỉ là dạy trẻ phát âm, dạy trẻ tập tô 29 chữ cái mà còn dạy trẻ đọc đúng các chữ cái, các từ trong tranh, hiểu được nội dung của từ và biết dùng
từ để diễn đạt thành câu, muốn được như vậy trước hết ta phải giúp trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái trong Tiếng việt
Có một số ít trẻ nói được tiếng Việt nhưng chưa biết các chữ cái hay từ ngữ của Tiếng việt Vì vậy việc dạy trẻ làm quen với chữ cái giúp trẻ nhận biết chính xác cấu tạo của chữ cái, cách phát âm để từ đó trẻ nghe cô phát âm để tìm được chữ cái tương ứng, nhìn chữ cái phát âm được chữ cái
Ví dụ : Hôm nay cô cho trẻ nhận biết chữ s – x chẳng hạn:
Cô cho trẻ xem tranh " Hoa Sen xanh" cho trẻ đọc từ : Hoa sen xanh
Trẻ nhận biết trong từ Hoa sen xanh có bao nhiêu tiếng ? Có mấy con chữ cái ? Rồi cô ghép thẻ chữ rời cho cháu nhận biết dấu thanh tìm chữ đã học rồi phát âm lại những chữ đó Còn lại cô giới thiệu cho trẻ làm quen s- x, tôi phân tích các nét
cơ bản cấu tạo nên chữ cái s-x, cho trẻ phát âm chữ s-x nhiều lần giúp trẻ khắc sâu cấu tạo của chữ cái và trẻ nhận biết một cách chính xác từng chữ cái
2 Cung cấp vốn TV cho trẻ thông qua việc làm quen với chữ cái:
Sau khi giúp trẻ làm quen và nắm được 29 chữ cái trong Tiếng việt tôi tiến hành cho trẻ tham gia các trò chơi với chữ cái, cho trẻ tập tô chữ cái giúp trẻ dần dần nắm được toàn bộ hệ thống chữ cái qui định trong chương trình, đồng thời chính xác hoá cách phát âm Do đặc điểm của lứa tuổi nên việc giáo dục trẻ mẫu giáo được tiến hành theo phương châm học bằng chơi, chơi mà học Từ đó tôi luôn nghĩ
Trang 10cần phải phát huy hết tác dụng của các trò chơi để dạy trẻ Điều đáng chú ý là trẻ mầm non xã Thượng Nung rất ham thích được học qua hình ảnh trực quan, tổ chức hoạt động học thông qua các trò chơi Mỗi khi được nhìn thấy đồ dùng, đồ chơi trẻ rất vui, thích tìm hiểu sờ mó và cùng nhau khám phá nắm bắt được đặc điểm này chúng tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Ví dụ: Trò chơi tìm chữ cái s-x trong bài thơ "Hoa sen" Tôi viết bài thơ lên giấy rô
ki (mỗi tờ tranh đã được viết nôi nội dung một bài), tôi mời lớp tôi chia làm 2 đội lên dùng bút tìm và gạch chân chữ s-x có trong từ có trong mỗi câu thơ và dộc chữ cái mình đang gạch chân đội nào tìm gạch chân được nhiều chữ s-x thì chiến thắng
và được tuyên dương
Tôi còn cho trẻ nhận biết và phát âm chữ cái qua nhiều trò chơi khác như "Nối chữ cái với từ có chứa chữ cái đó"… "Dạy trẻ phát âm tiếng Việt thông qua trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu của cô"
Tăng cường tiếng Việt thông qua trò chơi gắn chữ cái trên đồ dùng, đồ chơi, " Xếp chữ cái bằng hột hạt"
"Xếp các nét cơ bản tạo thành chữ cái"
Bên cạnh đó tôi luôn tranh thủ thời gian tự làm thêm một số đồ dùng đồ chơi để cho trẻ được thực hành trải nghiệm Tôi thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm Tiếng việt một cách chuẩn hơn.Từ đó cũng góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt, cháu hứng thứ trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm đúng chữ cái do tôi cung cấp Tôi tiến hành lên kế hoạch chỉ đạo giáo viên áp dụng việc cung cấp tiếng việt vào các hoạt động như:
3 Tăng cường tiếng việt cho trẻ thông qua môn văn học:
Để giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống Tôi nghĩ trước hết cần dạy trẻ những kỹ năng chú ý nghe và phát âm thông qua môn văn học là vô cùng cần thiết.Trước khi vào dạy học thơ hay kể một câu chuyện nào đó, điều đầu tiên tôi chú ý là lựa chọn bài thơ, câu chuyện không quá dài, có nội dung hấp dẫn trẻ để cung cấp, vì trẻ dân tộc