1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục

15 8,8K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm 214 chữ trong nguyên bản chữ Hán, ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lý Công Uẩn đã bày tỏ với bề tôi

Trang 1

Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục.

Thảo luận 1

Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức

thuyết phục

Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn là một bài Chiếu có kết cấu chặt chẽ, gồm 214 chữ (trong nguyên bản chữ Hán), ý tứ sâu xa, ngôn từ phong phú và thuyết phục, Lý Công Uẩn đã bày tỏ với

bề tôi và thần dân của mình hai vấn đề quan trọng: Lý do phải dời đô và việc lựa chọn, xây dựng Kinh đô mới

Phần đầu của bài Chiếu làm nhiệm vụ đặt vấn đề và có dung lượng câu chữ lớn hơn phần sau Điều đó là hợp lý bởi nó có nhiệm vụ thuyết phục hàng triệu thần dân, đặc biệt là với

những người mà quyền lợi đã gắn bó với Hoa Lư từ bao đời nay, sức ỳ ở họ là rất lớn Đó là chưa nói tới những lực lượng chống đối, những kẻ quyền quý vừa bị tước đoạt ngôi bá chủ thiên hạ đang lẩn quất trong núi rừng Hoa Lư hiểm trở, họ

cũng đang chờ đợi thời cơ để lật ngược thế cờ từ tay vị vua trẻ Việc dời đô vì vậy ngoài những lý do cao cả mang ý nghĩa dân tộc, thời đại, còn là một việc nên nhanh chóng tiến hành để giúp Lý Công Uẩn thoát khỏi áp lực của các thế lực cũ, củng cố

và khẳng định địa vị độc lập, tự chủ của mình ở một miền đất mới.

Mở đầu bài Chiếu, Lý Công Uẩn đưa ra những dẫn chứng hùng hồn từ sử sách Trung Hoa cho thấy việc dời đô xưa nay không hiếm nhưng thiên đô là một việc lớn không thể chỉ tuân theo lợi ích vị kỷ của mỗi cá nhân Việc làm của các vua Bàn Canh nhà Thương, Thành Vương nhà Chu không phải là việc làm tự tiện theo riêng mình mà với mục đích chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận lợi

Trang 2

thì thay đổi Đó là lý do khiến cho vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh Đây chính là mục đích của việc dời đô và cũng là phương châm hành động của Lý Công Uẩn Vị Hoàng đế vốn là một danh tướng dũng mãnh đã mở đầu bài Chiếu bằng những kinh nghiệm xương máu rút ra từ lịch sử để thuyết phục lòng người bằng lý lẽ hùng hồn chứ không phải bằng quyền uy của một người đứng đầu thiên hạ Ông khẳng định việc làm của mình là vì lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển dài lâu của dân tộc, chọn nơi trung tâm đất nước, trước hết là để tính kế lâu dài, đem lại ấm no cho con cháu Việc làm ấy là hoàn toàn thuận theo ý trời, hợp với lòng dân - những người

đã chán ghét cựu triều và đặt niềm tin vào triều đại mới sẽ đem lại sự ổn định cho đất nước Từ việc xác định rõ lý do và việc cấp bách phải dời đô, Lý Công Uẩn đã nói đến chuyện

trong nước: Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình,

khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại

không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tốn, muôn vật không được thích nghi Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không dời đổi Nạn cát cứ đã thành tai họa của dân tộc một thời Một đất nước sẽ chưa thật sự trưởng thành một khi các vị hoàng đế thắng trận, để củng cố địa vị và lực lượng

cứ phải đóng đô cát cứ trên quê hương mình, cố thủ giữ mình với một tầm nhìn thiển cận Cố đô Hoa Lư với địa thế núi rừng, sông nước hiểm trở, đã có một vai trò hết sức quan trọng

trong công cuộc thống nhất đất nước của người anh hùng

Đinh Bộ Lĩnh và là hậu phương vững chắc cho chiến công oanh liệt của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, nhưng nay nó không còn phù hợp với công cuộc xây

dựng và phát triển một quốc gia hùng mạnh thời bình nữa Địa thế Hoa Lư với núi rừng bao bọc chỉ phù hợp với những trận chiến ở quy mô nhỏ, không có tầm bao quát toàn cục đất

nước, hợp với thế phòng thủ hơn tấn công, lại không phải ở nơi trung tâm đất nước, giao thông chủ yếu chỉ bằng đường thủy Cuối triều Tiền Lê, sau khi Lê Hoàn mất, các hoàng tử

Trang 3

chém giết lẫn nhau tranh giành ngai vàng gây nên bao cảnh nồi da xáo thịt Lê Long Đĩnh, vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê lại là một bạo chúa, lấy việc chém giết, dâm dục làm vui Đất nước rơi vào cảnh suy thoái, trầm luân, lòng người ly

tán Trong một bối cảnh như vậy, việc thiên đô là hợp lẽ tự

nhiên, thuận theo lòng người Nếu là một ông vua tầm , con người vì dân, vì nước ấy đã chọn Đại La Việc làm đó đã thể hiện tầm nhìn xa tthường, vị kỷ, có lẽ Lý Công Uẩn đã cho dời

đô về quê mình, cũng là quê hương của vị quân sư đại tài Vạn Hạnh Đó là châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang - vốn cũng là một nơi

đô hội, dân cư đông đúc, mùa màng tươi tốt, đất đai phì nhiêu, bằng phẳng Nhưng không rông rộng, tầm nhìn chiến lược lâu dài của một bậc minh quân, đặt trách nhiệm với non sông, đất nước lên trên mọi lợi ích cá nhân vị kỷ Việc dời đô và lựa chọn Kinh đô mới đã chứng tỏ bản lĩnh và sự lớn mạnh, trưởng

thành của dân tộc Việt trên bước đường phát triển của mình

Cả dân tộc đã giống như một dòng sông lớn, dòng sông ấy đã băng mình ra biển cả đại dương, kiên quyết vượt qua những thác ghềnh hiểm trở, nó không còn chịu uốn mình lẩn khuất trong những mương mạch chật hẹp nữa Việc dời đô khỏi Hoa

Lư để xây dựng Kinh đô mới, nơi trung tâm hội tụ khí thiêng của sông núi sẽ đưa dân tộc thoát ra khỏi sự cát cứ vùng miền

và cũng là thoát khỏi những nghĩ suy chật hẹp để vươn mình lên những tầm tư tưởng lớn lao, tạo nên vị thế mới cho đất nước, sẽ là tiền đề làm xuất hiện một thế hệ những người anh hùng mới, kết tinh tư tưởng dân tộc và thời đại, tài giỏi thông tuệ về nhiều phương diện, mang dáng vóc và uy danh của dân tộc Đại Việt Lý Công Uẩn chính là đại diện cho thế hệ đầu tiên của những con người khổng lồ về trí tuệ và thể chất đó Tiếp nối ông sẽ là những vị vua như Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, những danh tướng như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão Tiền đồ tốt đẹp đáng tự hào ấy được bắt đầu từ ngày chiến thuyền của Lý

Công Uẩn dời rừng núi Hoa Lư để tiến về phía Bắc.

Trang 4

Lời lẽ mở đầu của bài Chiếu vừa hào hùng, có sự kết hợp giữa

lẽ và tình, với sự suy luận mạch lạc, đem lại cho người nghe, người đọc một nhận thức sâu sắc về lẽ phải và sự hợp lý của việc phải dời đô Sức thuyết phục của bài Chiếu không ở chỗ dài lời, dàn trải Thông qua phép đối, dưới hình thức văn biền ngẫu, Lý Công Uẩn đã đưa ra những lập luận, lý lẽ và chứng cứ hết sức thuyết phục Đó không phải là những lời lẽ cứng nhắc, thuần túy mệnh lệnh của bậc đế vương (vốn là văn phong

quan phương của thể Chiếu) mà đó chính là lý lẽ của sự thông tuệ, thấu hiểu, của niềm cảm thông, của nghệ thuật hùng biện xuất phát từ lợi ích chung của dân tộc, là lời tâm tình bộc trực của một vị minh quân Sự kết hợp giữa lý và tình có sức thuyết phục cao, giàu cảm xúc, cùng với lối xưng hô thân mật và nỗi niềm đau xót cho dân chúng và giang sơn đất nước (Trẫm rất đau xót về việc đó, không thể không đổi dời) sẽ là giọng điệu chung xuyên suốt bài Chiếu.

Đoạn mở đầu của bài Chiếu đã tạo được niềm tin tưởng trong lòng người về mục đích cao cả của việc cần thiết phải dời đô Nhưng đoạn tiếp theo không kém quan trọng là phải thuyết phục được muôn dân chọn thành cổ Đại La để xây dựng Kinh

đô mới Cả hai phần đều hết sức thiết yếu, hỗ trợ lẫn nhau, sự thành công của nhiệm vụ thứ nhất sẽ là tiền đề cho thắng lợi của nhiệm vụ tiếp theo.

Chỉ một thời gian ngắn, sau khi được quần thần đưa lên ngai vàng, Lý Công Uẩn đã có ý định dời đô Ý định đó nảy sinh vào tháng Giêng thì đến tháng Bảy mùa thu năm Canh tuất (1010) công cuộc vĩ đại đó đã được tiến hành Rõ ràng bên cạnh sự anh minh, Lý Công Uẩn còn là một ông vua có tính cách quyết đoán và táo bạo Đại La dưới con mắt của nhà chiến lược thiên tài Lý Công Uẩn có một vị trí thuận lợi đủ đường Nơi đây đã từng là kinh đô một thuở dưới thời cai trị của Cao Biền, một người nổi danh về tài xem phong thủy Nơi ấy cũng đã từng chứng kiến những chiến công oanh liệt của các thế hệ con dân đất Việt đánh đuổi quân đô hộ để giải phóng giang sơn đất

Trang 5

nước Và cũng không phải là ngẫu nhiên khi Ngô Vương sau khi đánh đuổi quân Nam Hán, giành lại độc lập cho dân tộc đã chọn mảnh đất Cổ Loa cao ráo xưa kia của Thục đế An Dương Vương - một địa danh rất gần thành Đại La để định đô Nhưng

điều quan trọng còn là bởi: Đại La ở vào nơi trung tâm trời

đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem

khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời Mục đích cuối cùng của việc lựa chọn kinh đô mới cũng nhất quán với mục đích của việc dời đô khỏi Hoa Lư, đó là vì lợi ích của dân và tương lai lâu bền của

xã tắc Có những người phê phán cái nhìn có tính chất phong

thủy của Lý Công Uẩn khi chọn mảnh đất Đại La để xây dựng Kinh đô mới, nhưng cần phải nói rằng chính cái nhìn có tính chất linh nghiệm đó (ngày nay khoa học đã chứng minh vận dụng phong thủy trong việc chọn thế đất trong xây dựng và thiết kế là một cách lựa chọn cần thiết, có tính khoa học,

tránh được những tổn thất không đáng có do không hiểu biết

về địa hình và thổ địa) đã góp phần quan trọng vào việc tìm ra cho dân tộc một vùng đất xứng danh để xây dựng Kinh đô cho muôn đời Một Kinh đô vừa ở tư thế tấn công, lại vừa ở vị trí phòng thủ thuận lợi trong thế đối đầu với các thế lực xâm lược phương Bắc Đó là nơi trung tâm của bốn phương đất nước, giao thông thuận tiện, xung quanh Kinh đô là những vùng đất

cổ trù phú lâu đời của tộc Việt với những truyền thống tốt đẹp

đã tồn tại hàng trăm năm Đó chính là chốn địa linh, địa lợi của đất Việt, nơi trung tâm hội tụ tinh hoa của giống nòi Sau một nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử đã chứng minh rằng cái nhìn của Lý Công Uẩn là cái nhìn xuyên thấu lịch sử, cái nhìn của bậc hào kiệt biết mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời.

Trang 6

Kết thúc bài Chiếu vị vua anh minh viết: Trẫm muốn dựa vào

sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở Các khanh nghĩ thế

nào? Câu nói ấy thể hiện tinh thần dân chủ vốn là truyền

thống của cộng đồng Việt trong những giờ phút quyết định của lịch sử.

Chiếu dời đô là áng văn chương có vẻ đẹp toàn diện: Đó là vẻ đẹp hài hòa của sự thông tuệ, của tấm lòng yêu nước thương dân, của sự hy sinh và lòng quả cảm, của lòng tự tin, tự hào dân tộc, của sự suy ngẫm cho hiện tại và tương lai, của sự tiếp nối truyền thống, của khát vọng cháy bỏng về một đất nước độc lập, thống nhất, thịnh vượng và hùng mạnh Bài Chiếu vừa

là áng văn chính luận súc tích, có kết cấu chặt chẽ, lập luận lôgic, vừa thể hiện lòng nhân ái bao la với thứ ngôn từ hùng biện, thuyết phục và độ lượng, nhân ái mà lại mang tinh thần đối thoại dân chủ.

Lý Công Uẩn - Ý nghĩa của việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La và

sự hình thành đô thị Thăng Long ( 14/05/2012 - 15:08:56 )

Chọn kinh đô là việc cần thiết nhất trong những buổi đầu khai quốc,

nhưng để chọn được vị trí đóng đô mang tầm chiến lược về nhiều mặt là điều không dễ Để làm được điều này yêu cầu phải có là một nhà lãnh đạo tài ba, có tầm nhìn sáng suốt Việc Lý Công Uẩn sau khi lên ngôi đã quyết định dời đô từ vùng đất Hoa Lư chật hẹp về Đại La có thế đất bằng phẳng đã chuyển vị thế đất nước từ phòng thủ sang thế phát triển lâu dài, đặt nền móng cho việc xây dựng kinh đô Thăng Long trở thành đô thị phát triển thịnh vượng, là trung tâm của đất nước về sau, mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của dân tộc

Lý Công Uẩn vốn thông minh từ nhỏ, xuất thân từ vùng đất văn hiến lâu đời, lại được sự dạy bảo của những vị cao tăng xuất chúng vào thời đó như Lý Khánh Văn, Sư Vạn Hạnh… đã giúp ông sớm bộc lộ tài năng cũng như đức độ của mình Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc và cùng với triều

Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc

Bắt đầu từ mùa thu năm 1010, một đoàn thuyền hướng từ Hoa Lư tiến về Đại

La, từ chỗ dựa vào vùng núi non hiểm trở để phòng thủ chuyển sang giai đoạn phát triển, mở mang cơ nghiệp của vương triều Lý và gây dựng nên vị thế của

Trang 7

của nước Việt tại vùng đất bằng phẳng, thế đất sông núi trước sau, rồng chầu

hổ phục, xứng đáng là nơi định đô muôn đời của các bậc đế vương

Việc dời đô mang ý nghĩa chuyển từ thế phòng thủ sang thế phát triển quốc gia trên nhiều mặt

Về chính trị – văn hóa: một vùng đất với nhiều lợi thế, đồng thời là đầu mối

giao thông, buôn bán quan trọng, địa hình rộng rãi là nơi hội tụ giao lưu văn hóa trong điều kiện có đầy đủ cơ sở kinh tế – xã hội, cư dân no ấm, văn hóa cũng dựa vào đó mà phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, để lại di sản Thăng Long văn hiến cho dân tộc Cùng với việc xây dựng hoàng thành Thăng Long, đã trở thành trung tâm văn hóa, chính trị của cả nước, chi phối một cách trực tiếp, điều hành mọi mặt của đời sống đất nước Đồng thời thể hiện ý đồ chính trị của nhà cầm quyền là để dễ điều hành, quản lý nhân dân; bên cạnh đó dễ dàng thu nguồn nhân lực vật lực từ nhân dân dể phục vụ, nuôi sống bộ máy hành chính nhà nước và các giai cấp và tầng lớp thống trị

Về hành chính: do địa hình thuận lợi, lại nằm giữa trung tâm của đất nước lúc

bấy giờ, nên việc thiết lập một mạng lưới hành chính một cách chặt chẽ từ trung ương lan tỏa ra những vùng xung quanh được tiến hành một cách có hệ thống, thậm chí đến những vùng cao ở Tây Bắc hay xuôi về phương Nam, từ

đó có thể dễ dàng đưa quân đi và thiết lập cơ sở hành chính ở các nơi này

Về quân sự: ở Hoa Lư (Ninh Bình) là một địa bàn chật hẹp chỉ mang ý nghĩa

phòng thủ là chính con tấn công và phát triển kinh tế thì rất khó khăn Việc vận động chiến đấu của binh lính thủy bộ gặp phải nhiều trở ngại do địa hình núi non hiểm trở, chỉ thuận lợi cho việc phòng thủ; còn ở Đại La địa hình bằng phẳng, có nhiều nhánh sông chằng chịt thông thương ngược lên mạng bắc, qua phía tây, xuôi về phương nam và có nhiều sông đổ ra biển qua nghiều cửa sông, phù hợp với cách đánh vận động chiến của cả hai bộ phận quân thủy bộ, đặc biệt là thủy binh, thế mạnh quân sự chính của cư dân Đại Việt lúc bấy giờ Với địa hình như thế có thể đưa quân đi tác chiến ở các khu vực tỏa ra từ

trung tâm Thăng Long

Về kinh tế: đây là một vùng hậu cần quan trọng, một nơi đồng bằng trù phú

mật ngọt, có khả năng cung cấp đầy đủ, thậm chí là dồi dào nguồn nhân lực, vật lực trong thời bình cũng như thời chiến Trong thời bình, thì cung cấp lực lượng lao động phát triển kinh tế và nguồn lương thực thực phẩm nuôi sống bộ máy nhà nước và cư dân nơi đây Trong thời chiến, thì cung cấp quân lực, lương thực thực phẩm, phương tiện chiến tranh và các loại vũ khí, trang thiết

bị cho quân đội Là một vùng có đất đai canh tác màu mỡ rộng lớn, cư dân đông đúc thuận lợi để phát triển nông nghiệp và nhiều ngành thủ công, thông qua việc giao lưu buôn bán qua nhiều con đường thủy bộ

Từ những ý nghĩa trên, thông qua tầm nhìn xa trông rông của Lý Thái Tổ đã tạo nên sự phát triển cho Thăng Long – Hà Nội đến ngày hôm nay Thăng

Trang 8

Long mãi là hình ảnh con rồng bay thẳng lên bầu trời xanh tượng trưng cho

sự phát triển của con dân đất Việt này

Đô thị Thăng Long hình thành

“Thăng Long đô hội rộn ràng

Gần xa vang tiếng kinh thành rồng bay”

Kinh đô Thăng Long được nhiều người biết đến bằng việc Lý Công Uẩn ra chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Đại La mà dựng nên Tuy thế, đó chỉ là về mặt kinh

đô còn về mặt thị tứ được hình thành ra sao để có được một đô thị sầm uất, nhộn nhịp trở thành trung tâm văn hóa của đất nước lúc bấy giờ thì quả là một quá trình được hình thành một cách có quy luật mang nặng tính phương Đông Quá trình hình thành đô thị theo quy luật mang nặng tính phương Đông được thể hiện bắt đầu bằng việc Lý Công Uẩn ra chiếu dời đô và kinh đô của đất nước được chính thức tọa lạc trên vùng đất Thăng Long Khi phần “đô” đã được định hình thì phần “thị” mới dần dần được hình thành và phát triển để cùng với phần “đô” hợp thành nên “đô thị” bậc nhất của đất nước Việc dời đô

về Thăng Long dã hình thành ở đây một bộ máy nhà nước trung ương, với hệ thống các cơ quan nhà nước, hệ thống quan lại, quý tộc, binh lính và một số tầng lớp khác phục vụ cho các cơ quan nhà nước phong kiến Bên cạnh đó, cũng đồng nghĩa với việc kéo theo một bộ phận người ăn không ngồi rồi và chuyên làm việc trong lĩnh vực hành chính, quân sự… Khi đó, sẽ kéo theo nhiều tầng lớp dân cư về đây sinh sống, ta có thể thấy:

Tầng lớp thợ xây dựng, kiến trúc và những thương nhân buôn bán vật liệu xây dựng tụ hội về đây khá đông để phục vụ nhu cầu xây dựng đền đài, cung điện,

phố xá, nhà cửa… của tầng lớp quý tộc, quan lại, những người giàu có và một

số tầng lớp khác trong xã hội Đồng thời, kéo theo một bộ phận lao động làm thuê và người ở để phục vụ cho cầu vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng và phục vụ cho sự giàu sang của tầng lớp thống trị Cũng từ sự tập trung đó, mà

hệ thống phố xá, nhà cửa, đền đài, cung điện,…được xây dựng một cách có

hệ thống và lộng lẫy sang trọng, để góp phần hình thành phần “thị”

Tầng lớp những người buôn bán nhỏ, thương nhân, thợ thủ công cũng quy tụ

về vùng đất này để tìm kế sinh nhai và phục vụ nhu cầu của các tầng lớp quan lại, quý tộc giàu có như mua sắm, sử dụng các loại hang hóa cao cấp, đồ mỹ nghệ Đây là những loại hàng hóa mang tính mang tính thưởng thức, trang trí…

Khi xây dựng kinh thành Thăng Long, các vị vua nhà Lý cần có một hệ thống quân đội bảo vệ kinh thành, bảo vệ các cơ quan nhà nước phong kiến như chùa, miếu, đền, đài… Từ đó, một bộ phận thợ rèn cũng quy tụ đến nhằm sản xuất vũ khí, quân trang, quân dụng và phương tiện chiến đấu cho các đội quân bảo vệ nhà vua, triều đình, kinh thành…

Khi chuyện an cư lạc nghiệp đã ổn định, đời sống vật chất dần được cải thiện thì nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần được chú ý đến Xuất phát từ nhu

Trang 9

cầu đó, bộ phận những người làm nghề hát tuồng, chèo, hát xướng, các họa

sỹ, nhà văn, nhà thơ… cũng được tập trung về vùng đất này, góp phần làm đa dạng các tầng lớp dân cư đô thị

Với việc chọn vị trí đóng đô tại vùng đất Thăng Long bằng phẳng, trước có sông, sau có núi còn đã biến nơi đây trở thành vùng đồng bằng trù phú, đồng thời được sự trị vì của vị thiên tử anh minh, đức độl nên đã thu hút khá lớn một

bộ phận nông dân về đây sinh sống lập nghiệp tại vùng ngoại kinh thành, góp phần tạo nên sự nhộn nhịp cho đô thị Thăng Long

Với sự tập trung, quy tụ của nhiều tầng lớp cư dân, nhiều dịch vụ buôn bán phát triển đã hình thành nên một thị tứ sầm uất, nhộn nhịp với hệ thống nhà cửa, phố xá, đền đài, cung điện uy nghi… Chính phần “thị tứ” này đã két hợp với phần “kinh đô” đã hình thành nên một “đô thị” Thăng Long phồn hoa, sung túc; một trung tâm văn hóa, hành chính bật nhất của đất nước ta thời bấy giờ Điều này cũng hợp quy luật với một nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở phương Đông nói chung và ở Việt Nam thời bấy giờ nói riêng là phần “đô” hình thành trước phần “thị”, để từ đó có sự kết hợp hoàn hảo tạo nên bộ mặt Thăng Long phát triển liên tục trong các thế kỷ sau

Lý Công Uẩn và "Chiếu dời đô" - áng văn bất hủ

Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý (1010-1225), khai sáng Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, sinh ra và được nuôi dưỡng, giáo dục nơi cửa chùa rồi được giới tăng sĩ ủng hộ, tôn phò làm vua Cống hiến có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất của Lý Công Uẩn sau khi lên làm vua là việc ông quyết định chọn thành Đại La làm kinh đô, dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, Hà Nội ngày nay

Việc Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của thời đại, của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đang vươn lên mạnh mẽ, vừa có tầm nhìn xa rộng và kế sách lo toan cho con cháu muôn đời sau Lý Công Uẩn làm vua 18 năm Trong thời gian ấy ông đã làm được một số việc mà quốc sử ghi chép như là những việc trọng đại Thứ nhất, Lý Công Uẩn cho xây dựng kinh thành Thăng Long có quy mô bề thế, bao gồm cung điện và một hệ thống các điện Càn Nguyên (làm chỗ thiết triều), điện Tập Hiền, điện Giảng Võ… cùng kho tàng, hào lũy Bốn mặt thành mở 4 cửa Tường Phù (phía Đông), Quảng Phúc (phía Tây), Đại Hưng (phía Nam), Diệu Đức (phía Bắc) Thứ hai, để đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, mà khi đó Phật giáo là Tôn giáo được tầng lớp quý tộc, cung đình cũng như dân chúng tôn sùng, Lý Công Uẩn đã cho xây cất nhiều chùa, như ở phía Nam kinh thành, ở phủ Thiên Đức (châu Cổ Pháp

cũ) Lý Thái Tổ là người đặt nền móng vững vàng cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý Thứ ba, khi vương triều Lý được thành lập, ở một số địa phương,

Trang 10

đặc biệt là ở vùng biên giới phía Bắc, có những thế lực nổi dậy cướp phá, cát

cứ Nhằm dẹp yên các cuộc khởi loạn và nắm được quyền uy của vương triều

Lý trên toàn lãnh thổ quốc gia, Lý Thái Tổ tiến hành những cuộc chinh phạt có hiệu quả ở châu Ái, châu Diễn, châu Vị Long, châu Thất Nguyên… Thứ tư, về đối ngoại, Lý Thái Tổ đã thiết lập được quan hệ ngoại giao khá tốt đẹp với triều Tống Bên cạnh những thành tích lớn trên, Lý Thái Tổ còn có công bước đầu xây dựng một bộ máy có quy chủ từ triều đình xuống tới châu, huyện, hương, ấp; bổ nhiệm một hệ thống quan chức Thái úy, Tổng quản, Khu mật sứ, Thái bảo, Thái phó, Tả hữu kim ngô, Tả hữu võ vệ, Ngự sử đại phu, Đô đốc

Thượng tướng quân và Viên ngoại lang Đồng thời, Lý Thái Tổ sau khi lên làm vua, đã sớm ban bố chiếu lệnh buộc những người trước kia trốn tránh phải trở

về quê cũ sản xuất; định lệ thuế khóa các loại… Trong chính sách thuế, ông có

sự chiếu cố đối với người già yếu, kẻ mồ côi, tàn tật, góa bụa Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư khen Lý Thái Tổ “là người khoan từ nhân thứ” Sử gia Ngô Thì Sĩ khi đánh giá nhà Lý, nhà Trần có viết: “Triều Lý nhân ái, triều Trần anh hùng” Nền nhân chính thời Lý được hình thành chính là từ Thái tổ Lý Công Uẩn Vương triều Lý do Lý Công Uẩn khai sáng tồn tại 215 năm, với 8 đời vua,

là một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam có những ông vua anh hùng cứu nước và khai sáng văn hiến dân tộc, như Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý

Nhân Tông (1072-1128); những nhà quân sự, chính trị kiệt xuất, như Lý

Thường Kiệt, Tô Hiến Thành… Khi khảo cứu về chế độ, điển chương thời Lý,

Lê Quý Đôn cũng như Phan Huy Chú đều nói, vì thời Lý cách xa quá lâu, tài liệu mất mát, thiếu thốn nhiều, song dựa vào các nguồn tài liệu sách vở, văn kiện hiện còn, chúng ta thấy những dấu ấn văn hóa khá rực rỡ của triều Lý vẫn

in khắc sâu trong lịch sử Việt Nam Thí dụ về cơ cấu tổ chức Nhà nước, về quan chế Phan Huy Chú đã khảo cứu chức “Á tướng” đời Lý là Tả hữu Tham tri chính sự là chức ở trong Chính phủ, dưới chức Tướng quốc Hoặc như Lục

bộ, theo Phan Huy Chú, ở nước ta chức Thượng thư đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ Đời Trần theo phép ấy của nhà Lý đặt chức Thượng thư hành khiển, Thượng thư hữu bật, sau mới chia ra

Thượng thư các bộ (bộ Lại, bộ Binh, bộ Hình) Về quân sự, nhà Lý buổi đầu

mô phỏng binh chế đời Đường… đời Tống, nhưng có nhiều sáng tạo độc đáo, trong đó cách hành quân, cách tác chiến chính người Tống lại phải học tập nhà Lý Những chiến tích quân sự bất diệt của đời Lý đã chứng minh nền quốc phòng và quân sự đương thời là vô cùng mạnh mẽ, tài giỏi Cùng với thành tích quân sự, nền ngoại giao triều Lý cũng giành được nhiều thắng lợi quan trọng Với một đường lối đối ngoại vừa khôn khéo, vừa cứng cỏi, vương triều

Lý đã buộc nhà Tống phải nể trọng, nên trong việc giải quyết về các vụ tranh chấp đất đai ở khu vực biên giới giữa nhà Lý với nhà Tống, phía nhà Lý

thường chiếm ưu thế, bởi vậy, lãnh thổ đất nước được bảo vệ chắc chắn, toàn vẹn Về phát triển kinh tế, dưới triều Lý còn có nhiều bước tiến bộ quan trọng, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy lợi, trong đó công trình đắp đê Cơ

Ngày đăng: 03/05/2016, 11:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w