Tính cấp thiết của đề tài Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệKH&CN cùng với phát triển Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nềntảng và động lực đẩ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA LUẬT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
Lớp Đại học Luật từ xa
Tên đề tài: Vai trị của khoa học, cơng nghệ đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Giảng viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Tấn Tài
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Trường
Mã số sinh viên: 154111088
Tên lớp: DX11L50
Trang 219 tháng 9 năm 2014
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
- DCCS: Dân chủ cơ sở
- CNH: Công nghiệp hóa
- HĐH: Hiện đại hóa
- HĐND: Hội đồng nhân dân
- UBND: Ủy ban nhân dân
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
khoa học của riêng tôi, trên cơ sở kế thừa các công trình
đi trước, dưới sự hướng dẫn của thầy Trương Tấn Tài
và chưa từng công bố trên bất cứ phương tiện nào.
Nếu sai sự thật tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
và hủy bỏ kết quả học tập.
Người cam đoan
Nguyễn Văn Trường
Trang 4Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện đề cương nghiên cứu khoa học này, do nhữngnguyên nhân khách quan và trình độ người thực hiện còn hạn chế nên không tránhkhỏi những sai sót, mong thầy và các bạn nhận xét và cho ý kiến để đề tài này thêmhoàn thiện
Qua đây tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trương Tấn Tài đã tận tình hướngdẫn tôi hoàn thành đề cương nghiên cứu khoa học này
Đại học Trà Vinh, ngày 17 tháng 9 năm 2014
Trang 5MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU……… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài……… 2
3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài……… 2
II NỘI DUNG……… 3
Chương 1 Thực trạng khoa học, công nghệ của Việt Nam……… 3
1.1 Những thành tựu……… 3
1.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu……… 5
Chương 2 Bối cảnh, cơ hội và thách thức……… 9
2.1 Bối cảnh quốc tế……… 9
2.2 Bối cảnh trong nước……… 11
2.3 Cơ hội và thách thức ……… 12
Chương 3 Quan điểm và mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ………… 13
3.1 Quan điểm phát triển khoa học và công nghệ ……… 13
3.2 Mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ ……… 15
Chương 4 Nhiệm vụ trọng tâm phát triển khoa học ……… 18
4.1 Các nhiệm vụ trọng tâm nghiên cứu trong khoa học xã hội ……… 18
4.2 Các nhiệm vụ trọng tâm nghiên cứu trong khoa học tự nhiên……… 20
4.3 Các hướng công nghệ trọng điểm ……… 21
III KẾT LUẬN ……… 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 27
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định phát triển khoa học và công nghệ(KH&CN) cùng với phát triển Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nềntảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước.Mặc dù nước ta còn nghèo, nhưng trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng
và Nhà nước, đặc biệt là sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ KH&CN trong cảnước, tiềm lực KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp đáng
kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh
Tuy nhiên, trình độ KH&CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp sovới các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới cònhạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước KH&CN nước
ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, trước xu thế phát triển mạnh mẽcủa KH&CN và kinh tế tri thức trên thế giới
Thách thức lớn nhất trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay là
sự yếu kém về chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp của nềnkinh tế, dẫn đến nguy cơ kéo dài tình trạng tụt hậu của nước ta so với các nướctrong khu vực và khó có thể thực hiện được mục tiêu CNH, HĐH Điều này đòi hỏiKH&CN phải góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước
Tư tưởng phát triển KH & CN của Đảng ta đã được thể hiện trong các vănkiện: Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1981; Nghị quyết số 26-NQ/
TW của Bộ chính trị; Nghị quyết TW 2 khóa VIII; Nghị quyết Đại hội IX năm
2001 và đặc biệt là "Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đến năm 2010" màĐảng ta đưa ra trong văn kiện Đại hội IX là tập trung xây dựng nền KH&CN nước
ta theo hướng hiện đại và hội nhập, phấn đấu đạt trình độ trung bình tiên tiến trong
Trang 7khu vực vào năm 2010, đưa KH&CN thực sự trở thành nền tảng và động lực đẩymạnh CNH, HĐH đất nước Chiến lược phát triển KH & CN có nhiệm vụ chủ yếusau: Xây dựng hệ thống KH & CN nước ta có liên kết, có động lực có năng lực đủmạnh và được quản lý theo những cơ chế thích hợp; đẩy mạnh hội nhập quốc tế về
KH & CN; góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnhtranh của nền kinh tế; phục vụ các hiệu quả có mục tiêu của Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 2001 - 2010 đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Vai trò của khoa học, công nghệ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học.
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
PGS.TS Tăng Văn Khiên, với công trình “Vai trò của khoa học công nghệ
đối với phát triển kinh tế xã hội”, công trình đã góp phần quan trọng vào việc làm
rõ vai trò của khoa học công nghệ trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội chungcủa thế giới và ngay cả Việt Nam, nhất là trong giai đoạn thế giới có sự chuyểnmình mạnh mẽ trong sự hợp tác cùng phát triển trên sân chơi chung WTO
Đây là những lý luận hết sức quan trọng, nhằm định hướng các bước đi cơbản để Việt Nam có hướng thay đổi nền giáo dục theo hướng hiện đại, xây dựngcon người mới đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử cụ thể
- Phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩ duy vật
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp Logic
Trang 8NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
1.1 Những thành tựu
1.1.1 Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua,chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trởlên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong đó, có khoảng 34nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN thuộc khu vực nhànước Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất nước.Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủđược tri thức, công nghệ hiện đại trong một số ngành và lĩnh vực
Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CN vớitrên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó
có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 30trường ngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu,các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăngcường và nâng cấp Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoahọc, phát triển công nghệ với sản xuất - kinh doanh
Mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự nỗ lực rất lớn củaNhà nước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH&CN đã đạt 2%, đánhdấu một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư phát triểnKH&CN của Đảng và Nhà nước
Trang 91.1.2 Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế
-xã hội.
Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳng địnhgiá trị khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ ChíMinh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa họcphục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; gópphần vào thành công của công cuộc đổi mới nói chung và vào quá trình đổi mới tưduy kinh tế nói riêng
Các kết quả điều tra cơ bản và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyênthiên nhiên đã phục vụ xây dựng luận cứ khoa học cho các phương án phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trongviệc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từnước ngoài Nhờ đó, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đãđược nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Đặcbiệt, trong lĩnh vực nông nghiệp KH&CN đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi
có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưanước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực trở thành một trong những nước xuấtkhẩu gạo, cà phê, v.v hàng đầu trên thế giới
Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệsinh học, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy, đã gópphần nâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nângcao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế Khoa học vàcông nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nhânlực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huytruyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc
1.1.3 Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới
Trang 10Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN được tổ chức từ trung ương đến địaphương đã đẩy mạnh phát triển KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương
Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự ánKH&CN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế tuyển chọn tổchức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyêntắc dân chủ, công khai Hoạt động của các tổ chức KH&CN đã mở rộng từ nghiêncứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN Quyền tự chủ của các tổ chức, cánhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăng cường Quyền tự chủ về hợptác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN được mở rộng
Vốn huy động cho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kểnhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Đã cải tiến một bướcviệc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian.Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN từng bước đượchoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các
-bộ, cơ quan ngang -bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
1.1.4 Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tíchcực của các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến học, khuyến tài đã đưa KH&CNđến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức nông,lâm, ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của khoa học ngàycàng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước KH&CN của người dân trong thời gianqua đã tăng lên rõ rệt
1.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
Trang 111.2.1 Những yếu kém
Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng nhìn chung KH&CNnước ta còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảng cách khá xa so với thế giới và khuvực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế - xã hội
Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém: Đội ngũ cán bộKH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếucán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngànhnghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp,đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp Trang thiết bị của các viện nghiên cứu,trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sởsản xuất tiên tiến cùng ngành Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầuđào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vựcKH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệpCNH, HĐH đất nước Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tưvấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng cònyếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu củahội nhập khu vực và quốc tế Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN,giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổchức nghiên cứu - các trường đại học và các doanh nghiệp So với các nước trongkhu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảng cách nghiên cứu KH&CN trongdân số và mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo rất lớn về tiềm lực và kết quảhoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu - pháttriển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít Nhìn chung, năng lực KH&CN nước ta cònyếu kém, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắnkết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội Trình độ côngnghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp và lạc hậu: Ngoài những công nghệ tiêntiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vực như bưu chính - viễn thông, dầu
Trang 12khí, hàng điện tử tiêu dùngsản xuất điện, xi măng, nhìn chung trình độ công nghệcủa các ngành sản xuất nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3 thế hệ công nghệ so vớicác nước trong khu vực Tình trạng này hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặngtính hành chính
Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào,chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kếtquả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặtchẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tác đánh giá nghiệm thu kết quảnghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế Cơ chế quản lý các tổ chứcKH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủquyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tínhnăng động, sáng tạo Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức khôngphù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán
bộ Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, phát huykhả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa cónhững chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sáchthu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, khôngkhuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN Cơ chế quản lýtài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, chưahuy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế tự chủ về tàichính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nênhiệu quả còn hạn chế
Thị trường KH&CN chậm phát triển Hoạt động mua, bán công nghệ và lưuthông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian,
Trang 13môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệuquyền sở hữu trí tuệ.
b) Những nguyên nhân chủ yếu
Đường lối chính sách phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước chưa đượcquán triệt đầy đủ và chậm được triển khai trong thực tiễn: Quan điểm KH&CN lànền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các nghị quyếtcủa Đảng nhưng trên thực tế chưa được các cấp, các ngành, các địa phương quántriệt đầy đủ và triển khai trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội
Nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KH&CNchậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉ đạothực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế
Năng lực của các cơ quan tham mưu, quản lý KH&CN các cấp còn yếu kém:
Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp ăn sâu vào tiềm thức và thói quen củakhông ít cán bộ KH&CN và quản lý KH&CN đã tạo ra sức ỳ không dễ khắc phụctrong cơ chế mới, không đáp ứng được yêu cầu về đổi mới quản lý KH&CN trongnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bối cảnh toàn cầu hoá và hộinhập quốc tế Chưa làm rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt độngKH&CN mà Nhà nước cần đầu tư phát triển như: các lĩnh vực KH&CN trọngđiểm, ưu tiên; nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển; nghiên cứu cơ bản;nghiên cứu mang tính công ích, v.v ; cũng như chưa có cơ chế, chính sách phùhợp đối với các hoạt động KH&CN cần và có thể vận dụng cơ chế thị trường, nhưnghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN
Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệthống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tác quản lý các tổ chứcKH&CN còn mang nặng tính hành chính Chậm tổng kết thực tiễn để nhân rộngcác điển hình tiên tiến về gắn kết giữa nghiên cứu KH&CN với giáo dục - đào tạo
và sản xuất - kinh doanh
Trang 14Đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ còn hạn hẹp: Đầu tư xây dựngtiềm lực KH&CN trong thời gian dài còn chưa được chú trọng đúng mức, thiếu tậptrung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến cơ sở hạ tầng KH&CN lạc hậu,hiệu quả đầu tư thấp Thiếu quy hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học trình độcao ở các lĩnh vực KH&CN ưu tiên, đặc biệt là cán bộ KH&CN đầu ngành, các
"tổng công trình sư"
Cơ chế quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học
và công nghệ: Cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp củaNhà nước, độc quyền của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh,làm cho các doanh nghiệp nhà nước có tư tưởng ỷ lại, chưa quan tâm đến ứng dụngcác kết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ Thiếu cơ chế, chính sáchhữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với sản xuất - kinh doanh và khuyến khíchdoanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN Hệ thống tài chính, tiền tệkém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồnvốn để đầu tư cho KH&CN
CHƯƠNG 2 BỐI CẢNH, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM.
2.1 Bối cảnh quốc tế
a) Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ
Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngàycàng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báotrước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người
Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v , xã hội loài người đangtrong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nềnkinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ
Trang 15-hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá.
Khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàngđầu Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN Lợi thế
về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọnghơn Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo,ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế Thời gian đưakết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn Lợi thếcạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi dụng các công nghệ mới để tạo
ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi củakhách hàng Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính và KH&CN, các công ty xuyênquốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến
b) Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Đây vừa
là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để bảo vệlợi ích quốc gia
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt,những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng caochất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý,đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế,các thành tựu to lớn của công nghệ thông tin - truyền thông, xu hướng phổ cậpInternet, phát triển thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử,Chính phủ điện tử, v.v đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia
và từng doanh nghiệp
Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồnnhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định
Trang 16về pháp lý, v.v thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ traođổi quốc tế là điều khó tránh khỏi.
2.2 Bối cảnh trong nước
Sau hơn 15 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng,làm nền tảng cho giai đoạn phát triển mới: nền kinh tế có mức tăng trưởng cao,liên tục; tình hình chính trị, xã hội ổn định; xu thế dân chủ hoá, xã hội hoá ngàycàng mở rộng; đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác quốc tếđược cải thiện
Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướngđẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vàonăm 2020; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết thực hiện các thoả thuậntrong khuôn khổ AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, tích cực chuẩn
bị tham gia WTO; tăng cường đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh
tế tập thể, khuyến khích khu vực dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệpvừa và nhỏ; đẩy mạnh cải cách hành chính, v.v
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 của nước ta đã xác địnhmục tiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đếnnăm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại;nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lựckinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao
Trong bối cảnh đó, KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa họccho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước; đóng góp thiết thực vào việcnâng cao hiệu quả và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các mụctiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010