1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO Tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lợi nhiệm kỳ 2004 2011

16 705 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 158,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuận lợi: Trong nhiệm kỳ qua, trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ II, cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Huyện ủy, UBND huyện, sự

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN

XÃ THẠNH LỢI

Số: /BC-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thạnh Lợi, ngày tháng năm 2011

BÁO CÁO Tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động của UBND xã Thạnh Lợi, nhiệm kỳ 2004 – 2011

Phần thứ nhất TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2004 – 2011

Thực hiện Kế hoạch số: 83/KH-UBND, ngày 26 tháng 10 năm 2010 của

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc báo cáo tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, nhiệm kỳ 2004 – 2011

Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lợi tiến hành xây dựng báo cáo tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, nhiệm kỳ 2004 – 2011, cụ thể như sau:

A ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

Thạnh Lợi là một xã vùng sâu của huyện Tháp Mười, có diện tích tự nhiên là 4.627,49 ha, có 1.276 hộ với 4.357 nhân khẩu, chia thành 5 ấp gồm: ấp

1, 2, 3, 4 và ấp 5

B NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN:

1 Thuận lợi:

Trong nhiệm kỳ qua, trên cơ sở Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ II, cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Huyện ủy, UBND huyện, sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng

ủy, sự quyết tâm lãnh đạo, điều hành của UBND xã và sự đồng tình hưởng ứng, thống nhất phấn đấu vương lên của toàn thể cán bộ, công chức và nhân dân xã nhà nên tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn xã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên

2 Khó khăn:

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình lãnh đạo điều hành, UBND xã vẫn còn những khó khăn hạn chế nhất định, đó là: Giá cả thị trường biến động, gây bất lợi cho người sản xuất, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tiềm ẩn nguy cơ bùng phát cao Thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm Các tệ nạn xã hội như: đá gà, đánh bài, trộm tuy từng bước được đẩy lùi nhưng vẫn còn xảy ra Chế độ tiền lương của cán bộ công chức nhất là những người hoạt động không chuyên trách cấp xã quá thấp so với giá cả thị trường hiện nay Từ đó phần nào cũng làm ảnh hưởng đến việc tổ chức và hoạt động của UBND xã trong nhiệm kỳ qua

Trang 2

Tuy có những khó khăn, hạn chế nhất định nhưng UBND xã đã quyết tâm vận dụng và cụ thể hóa những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng chương trình, kế hoạch cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của địa phương nên trong nhiệm kỳ qua đã đạt được một số kết quả quan trọng, cụ thể là:

I Về số lượng, cơ cấu thành viên UBND và tổ chức bộ máy của UBND xã:

1 Về cơ cấu, số lượng và chất lượng thành viên UBND xã nhiệm kỳ

2004 – 2011:

Thực hiện Nghị định số: 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ, Nghị định 09/NĐ-CP, Nghị định 121/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của UBND Tỉnh, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế đội ngũ cán bộ xã Tại kỳ họp thứ nhất HĐND xã khóa II, nhiệm kỳ 2004 – 2011 đã bầu ra 05 thàng viên UBND xã gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 03 thành viên

Trong nhiệm kỳ, UBND xã xây dựng 03 tờ trình đề nghị HĐND xã nhất

trí cho thôi làm nhiệm vụ thành viên UBND xã (ông Trần Văn Tình, Ông Nguyễn Thanh Tuấn, Ông Trần Văn Nhiều do chuyễn công tác khác), xây dựng

03 tờ trình bầu bổ sung thành viên UBND nhiệm kỳ 2004 – 2011 (Ông Nguyễn Thanh Tuấn(Giếng), ông Bùi Công Tấn, ông Đoàn Văn Tuấn), 02 tờ trình bầu

bổ sung Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã Tính đến thời điểm hiện nay, thành viên UBND xã vẫn còn đủ 05 đồng chí gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, 03 thàng viên UBND xã phụ trách Công an, Quân sự và Nông nghiệp

2 Về Tổ chức bộ máy của UBND xã:

Thực hiện Nghị định số: 114/2003/NĐ-CP, Nghị định số:

121/2003/NĐ-CP, Nghị định số: 92/2009/NĐ-CP và Quyết định số: 16/2010/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã Đến tháng 11 năm 2010, tổng số cán bộ của xã là 51 người, trong đó: Cán bộ chuyên trách 10, công chức 07,

những người hoạt động không chuyên trách cấp xã 19 (không tính công an viên thường trực), những người hoạt động không chuyên trách ở ấp 15 người (không tính công an viên phụ trách ấp); có 43 người là đảng viên, chiếm tỷ lệ 84,31%.

Trong tổng số cán bộ chuyên trách, công chức và những người hoạt động không chuyên trách xã, ấp có:

+ Trình độ học vấn THPT là 38 chiếm tỷ lệ 74,51%, THCS là 13 chiếm tỷ

lệ 25,49% Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 1 chiếm tỷ lệ 1,96%,Trung cấp 12 chiếm tỷ lệ 23,53%, sơ cấp 9 chiếm tỷ lệ 17,65%, đang học Trung cấp 1 Trình

độ chuyên môn nghiệp vụ: Trung cấp 16 chiếm tỷ lệ 31,37%, đang học Đại học

8, Trung cấp 6

II Nhận xét, đánh giá kết quả đạt được và các vướn mắc, hạn chế, tồn tại:

1 Về số lượng và chất lượng thành viên UBND xã:

Tổng số thành viên UBND xã hiện nay là 5 đồng chí, được phân công đều

ở các lĩnh vực hoạt động chuyên môn thuộc UBND xã; chất lượng hoạt động tốt, hàng năm đều hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng ở địa

Trang 3

phương Hàng tháng đều có tổ chức họp thành viên UBND đề ra và quán triệt những vấn đề trọng tâm cần thực hiện của địa phương

2 Về bố trí cán bộ:

Các chức danh chủ chốt và cán bộ chuyên môn của UBND xã được sắp xếp đúng theo quy định tuy còn khuyết chức danh Chủ tịch HĐND và 01 Công chức Văn hóa - xã hội nhưng chất lượng và hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng cao

3 Về chức năng, nhiệm vụ:

Căn cứ Quy chế, Chương trình hoạt động của UBND xã đề ra ngay từ đầu nhiệm kỳ, các ngành và cán bộ chuyên môn đã chủ động triển khai thực hiện tốt mối quan hệ liên ngành, thực hiện tích cực và có hiệu quả công tác tham mưu đề xuất với UBND xã Mối quan hệ giửa Ủy ban nhân dân xã và các cán bộ chuyên môn với các ngành, các phòng, ban chuyên môn của huyện ngày càng chặt chẽ hơn thông qua công tác thông tin báo cáo, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn, tháo gỡ những khó khăn ở cơ sở Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được tổ chức thực hiện có hiệu quả hơn

III Về hoạt động của UBND xã

A Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND xã:

1 Đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành:

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, UBND xã đã xây dựng quy chế làm việc theo đúng quy định của Chính phủ Hàng năm, trong quá trình tổ chức hoạt động đều

có bổ sung, sữa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương Đồng thời UBND xã cải tiến lề lối làm việc và chế độ thông tin báo cáo theo quy định của cấp trên và quy chế đề ra,

- Các ngành, các ấp trong hoạt độngđã từng bước thực hiện tốt quy chế làm việc của UBND xã Từ đó công việc được giải quyết tốt hơn, nhanh hơn, chính xác, kịp thời và mang lại hiệu quả cao, phát huy được tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, hạn chế được việc đùn đẩy công việc lên cấp trên

- Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND xã trong quá trình điều hành công việc được phân công theo chức năng, thẩm quyền đã cơ bản thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của mình, đảm bảo cho hoạt động của UBND xã, giải quyết tốt các yêu cầu của tổ chức và công dân Ngoài

ra, Chủ tịch và Phó Chủ tịch xã còn dành 1/4 thời gian đi công tác các ấp, trực tiếp nắm tình hình phát sinh tại ấp và cho ý kiến chỉ đạo tại chổ hoặc xin ý kiến tập thể UBND xã đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể nhằm tháo gỡ những khó khăn, kịp thời giúp các ấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên trong nhiệm kỳ qua, việc thực hiện quy chế làm việc của UBND xã cũng còn một số hạn chế nhất định:

- Sự phối hợp giữa các ngành, các ấp đôi lúc còn chưa chặt chẽ, trong tổ chức thực hiện chưa kiểm tra thường xuyên, những vấn đề mới phát sinh chưa được xử lý kịp thời

- Chế độ thông tin báo cáo tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng và các

đề xuất cần chỉ đạo giải quyết còn yếu

- Văn phòng UBND xã tham mưu giúp việc trực tiếp cho Chủ tịch, Phó

Trang 4

Chủ tịch và phục vụ hoạt động của HĐND – UBND trong nhiệm kỳ qua đã có nhiều cố gắng, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ Tuy nhiên, việc nắm bắt tình hình, kiểm tra thực hiện các Nghị quyết của HĐND, các văn bản của UBND xã, đề xuất kế hoạch còn hạn chế, cần khắc phục nhằm đáp ứng tốt hơn sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của UBND xã trong thời gian tới

2 Công tác tuyên truyền và thực thi pháp luật:

Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản Luật mới ban hành được quan tâm UBND xã tiến hành xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai kịp thời

từ trong nội bộ ra đến quần chúng nhân dân, nhằm tạo điều kiện cho cán bộ và nhân dân nắm bắt kịp thời về những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tích cực tham gia thực hiện Từ đó hạn chế được tình trạng cán

bộ và nhân dân vi phạm pháp luật

3 Công tác ban hành văn bản:

Công tác ban hành văn bản cũng được thực hiện đúng qui định của pháp luật Từ năm 2004 đến nay, UBND xã đã ban hành tổng số 1.757 văn bản, trong đó: 678 quyết định, 105 kế hoạch, 181 báo cáo, 793 văn bản khác Riêng thẩm quyền của Trưởng Công an xã đã ban hành 262 quyết định xử phạt vi phạm hành chính

B Kết quả thực hiện nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND xã và những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.

I Những kết quả đạt được:

- Nhiệm kỳ 2004 – 2011 là nhiệm kỳ có nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra, đặc biệt là dịch rầy nâu bùng phát trên diện rộng, bệnh vàng lùn-lùn xoắn lá phát triển mạnh đã làm ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Trong quá trình lãnh đạo, điều hành, UBND xã đã bám sát sự chỉ đạo của UBND Huyện, chủ trương của Đảng uỷ, Nghị quyết của HĐND xã để xây dựng các Chương trình, kế hoạch, đề ra các giải pháp tháo gỡ những khó khăn trong từng lĩnh vực, thúc đầy kinh tế - xã hội tiếp tục phát triển

1 Về phát triển kinh tế:

1.1 Về sản xuất nông nghiệp:

- Cây lúa: Phát huy thế mạnh là cây lúa, trong nhiệm kỳ qua, UBND xã

đã tập trung lãnh đạo vận động nhân dân làm thuỷ lợi, xây dựng, gia cố, tôn cao các tuyến đê bao để đảm bảo về diện tích lúa sản xuất 2 vụ và từng bước nâng lên 3 vụ ở những khu vực đủ điều kiện Kết quả là từ năm 2004 diện tích sản xuất lúa 2 vụ là:6.800 ha, năng xuất bình quân 5 tấn/ha, sản lượng lúa đạt 32.000

tấn Đến năm 2010, diện tích sản xuất lúa 2 vụ là 7.538 ha (trong đó có 800 ha sản xuất lúa vụ 3), năng suất bình quân 6,37 tấn/ha, sản lượng đạt 47.730,4 tấn (trong đó lúa chất lượng cao chiếm 1/3 sản lượng).

- Chuyễn dịch cây trồng: Diện tích trồng cây màu tuy có tăng nhưng số

lượng không đáng kể Hiện nay diện tích trồng cây màu là 28 ha, trong đó sen 16,8 ha, dưa hấu 10 ha, cây ớt 1,2 ha

- Chăn nuôi: Được duy trì và tiếp tục phát triển theo hướng chăn nuôi có

sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan thú y Đến nay đàn bò có 50 con, đàn heo có

450 con, đàn gia cầm trên 1.572 con Chăn nuôi thuỷ sản từng bước phát triển

do tận dụng khai thác lợi thế mùa lũ để nuôi cá Kết quả diện tích nuôi trồng

Trang 5

thuỷ sản tính đến năm 2010 là 2,8 ha chủ yếu là nuôi trong ao, hầm, lồng bè.

- Về điện khí hoá:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ II, UBND xã đã xác định phải hoàn chỉnh hệ thống tưới tiêu bằng điện để phục vụ sản xuất là nhiệm

vụ trong tâm Qua triển khai thực hiện mặc dù gặp khó khăn về ngân sách và công tác vận động Nhưng với sự quyết tâm cao, đến nay bằng nhiều nguồn vốn, đến nay đã xây dựng được 09 trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu cho 1.450,3 ha chiếm 38,7 % diện tích sản xuất toàn xã

- Về cơ giới hoá: Chương trình cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp

được tập trung đẩy mạnh, tăng dần tỷ lệ cơ giới hoá trong khâu thu hoạch Qua triển khai chương trình cơ giới hoá đã có 45% diện tích sản xuất được thu hoạch bằng máy Qua đó đã góp phần tích cực vào việc giảm giá thành sản xuất, hạ tỷ

lệ hao hụt, giảm áp lực nhân công thu hoạch, từng bước nâng cao chất lượng lúa hang hoá Hiện nay toàn xã có: 11 máy gặt đập liên hợp, 25 máy gặt xếp dãy, 32 máy suốt, 31 máy xới, 05 lò xấy lúa, 45 công cụ xạ hàng

1.2 Về kinh tế tập thể:

Mặc dù còn có những khăn nhất định, nhưng kinh tế tập thể của xã từng bước phát triển nhất là trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Trong nhiệm kỳ qua,

xã đã tập trung lãnh đạo các ngành, các ấp tích cực thực hiện nên có bước phát triển Đến nay toàn xã có 27 tổ kinh tế hợp tác chủ yếu hoạt độngtrong lĩnh vực

sản xuất nông nghiệp

1.3 Về Thương mại, dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp:

Năm 2004 có 13 hộ đến năm 2010 có 54 hộ mua bán phần nào đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của nhân dân

1.4 Giao thông xây dựng cơ bản:

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có bước phát triển khá, trong những năm qua bằng nguồn vốn của Trung ương, Tỉnh, Huyện và các thành phần kinh tế, xã

đã tập trung đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm, trọng tâm tập trung trên các lĩnh vực như: giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế, chợ và các công trình phục vụ dân sinh đã tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của xã Hiện nay, Huyện , Tỉnh đang khảo sát, khoan thăm dò địa chất 04 cây cầu và tiến hành đền bù tuyến tỉnh lộ 845 tạo nhiều cơ hội trong phát triển kinh tế - xã hội của xã

1.5 Tài chính - Ngân sách:

Theo kế hoạch đề ra của nhiệm kỳ 2004 – 2011, hàng năm thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn xã đều đạt chỉ tiêu trên giao, cụ thể là:

+ Năm 2004: Tổng thu 450.182.376đ

Tổng chi 450.182.376đ + Năm 2005: Tổng thu 752.590.070đ

Tổng chi 669.530.000đ + Năm 2006: Tổng thu 965.640.000đ đạt 165,63%

Tổng chi 865.487.000đ đạt 148,45%

+ Năm 2007: Tổng thu 1.223.324.000đ đạt 148,28%

Tổng chi 1.210.155.000đ đạt 146,68%

+ Năm 2008: Tổng thu 1.707.390.000đ đạt 178,22%

Trang 6

Tổng chi 1.469.506.000đ đạt 153,39%

+ Năm 2009: Tổng thu 1.804.091.000đ đạt 143%

Tổng chi 1.703.049.000đ đạt 135%

+ Năm 2010: Tổng thu 1.904.317.488đ đạt 131%

Tổng chi 1.902.293.167đ đạt 130,65%

Nhìn chung qua kết quả thu, chi ngân sách những năm qua trên địa bàn xã được cân đối, đảm bảo, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

2 Các lĩnh vực Văn hoá – xã hội:

2.1 Giáo dục và đào tạo:

Giáo dục và đào tạo từng bước phát triển ổn định, mạng lưới trường lớp được xây dựng đều khắp các ấp, tạo điều kiện thuận lợi cho con em học tập Hiện nay địa phương có 02 trường Mẫu giáo, có 10 lớp với 208 học sinh; 02 trường Tiểu học và 3 điểm ở ấp, có 29 lớp với 593 học sinh; 01 trường THCS,

có 8 lớp với 237 học sinh

Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp hàng năm đều tăng và đạt chỉ tiêu đề ra, tỷ

lệ học sinh bỏ học giảm, số học sinh tốt nghiệp các cấp luôn ổn định và đạt ở mức cao Công tác phổ cập giáo dục THCS được công nhận hoàn thành năm

2007, xã đã duy trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học và THCS theo quy định

2.2 Chăm sóc sức khoẻ nhân dân:

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ mạng lưới y tế cơ

sở được tập trung củng cố và kiện toàn, 4/5 ấp đều có tổ y tế Trạm y tế có Bác

sĩ, nữ hộ sinh phục vụ Công tác khám, điều trị bệnh cho nhân dân được nâng cao, các Chương trình y tế Quốc gia được quan tâm thực hiện tốt, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến cuối năm 2010 đạt 14,48% Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường được kiểm tra thường xuyên nên hạn chế được các loại dịch bệnh xảy ra

2.3 Công tác đền ơn đáp nghĩa, giải quyết việc làm, giảm nghèo và dân số:

- Phong trào đền ơn đáp nghĩa được quan tâm, tạo thành một phong trào rộng rãi trong nhân dân Năm năm qua, từ nhiều nguồn vốn, xã đã xây dựng được 05 căn nhà tình nghĩa, 17 suất hỗ trợ đời sống, tổng kinh phí trên 207 triệu đồng Đời sống của gia đình chính sách được quan tâm chăm sóc kịp thời, công tác bảo trợ xã hội được quan tâm đúng mức, an sinh xã hội đảm bảo tốt

Công tác giải quyết việc làm, giảm hộ nghèo được các ngành, các ấp triển khai thực hiện bằng nhiều giải pháp, thông qua việc lồng ghép các chương trình,

dự án, phong trào tương trợ nhau vượt khó với Chương trình quốc gia gải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo; tổ chức dạy nghề, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ xây dựng nhà ở,….đã tạo thêm thuận lợi và nhiều việc làm cho người lao động, giúp người nghèo vươn lên thoát nghèo, góp phần giảm hộ nghèo ở địa phương Qua triển khai thực hiện có trên 400 lao động đi làm việc trong và ngoài Tỉnh hàng năm Hỗ trợ xây dựng 25 căn nhà tình thương cho hộ nghèo khó khăn về nhà ở Xét cho hộ nghèo vay vốn 30 triệu đồng/hộ để đầu tư vào sản xuất tăng thu nhập Ngoài ra còn giải ngân các dự án giải quyết việc làm, cho vay sinh viên, cho vay xuất khẩu lao động,….với tổng dư nợ hiện nay trên

Trang 7

địa bàn xã là trên 7 tỷ đồng tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo có việc làm ổn định, tăng thu nhập vươn lên thoát nghèo, góp phần giảm hộ nghèo xuống 04 hộ, chiếm tỷ lệ 0,35% theo tiêu chí cũ và tăng lên 204 hộ chiếm tỷ lệ 17,89% theo tiêu chí mới vào cuối năm 2010

Công tác dân số - gia đình và trẻ em thực hiện đạt nhiều kết quả nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành sâu, sát, kịp thời của cấp uỷ Đảng, chính quyền, đội ngũ cán bộ chuyên trách và mạng lưới cộng tác viên cơ sở luôn được chú trọng Công tác truyền thông gắn với kế hoạch hoá gia đình thường xuyên được tổ chức, đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ tự nguyện thực hiện các biện pháp tránh thai ngày càng tăng, đã góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã xuống 0,11% vào năm 2010 Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được xã hội quan tâm và chăm sóc ngày càng tốt hơn

2.4 Văn hoá thông tin, thể dục thể thao:

Hoạt động văn hoá, thông tin phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ chính trị địa phương

Các phong trào gia đình thể thao, người tập luyện thường xuyên đều tăng hàng năm Kết quả đến cuối năm 2010 có 318 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao chiếm tỷ lệ 27,9%; 820 người tập luyện thể thao thường xuyên, chiếm tỷ lệ 18,7% so với dân số toàn xã

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục có chuyễn biến; sồ hộ, ấp đạt chuẩn văn hoá ngày càng tăng Hiện nay, có 991 hộ đạt chuẩn gia đình văn hoá chiếm tỷ lệ 86,93%, có 03/5 ấp đạt ấp văn hoá, chiếm tỷ lệ 60%

3 Công tác Quốc phòng – An ninh:

Từ năm 2004 đến nay, công tác tuyển quân đều đạt và vượt chỉ tiêu trên giao, chất lượng ngày càng tăng, công tác chính sách hậu phương quân đội được quan tâm chú trọng Công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đạt chỉ tiêu đề ra, tất cả đều được huấn luyện theo đúng quy định Cán bộ Ban Chỉ huy Quân sự xã được đào tạo trung cấp Quân sự Lực lượng Quân sự ở các ấp được củng cố và kiện toàn, đảm bảo tốt trực sẳn sàng chiến đấu ở mọi tình huống

An ninh chí trị được giử vững, trật tự xã hội ổn định Hoạt động của lực lượng công an xã được nâng cao về chất và lượng Về tổ chức ngành công an xã được củng cố và bố trí đầy đủ theo Đề án số 01 của Công an Tỉnh và Pháp lệnh

về Công an xã Công an xã thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, mua sắm trang bị, công cụ hỗ trợ, chế độ chính sách được đảm bảo thực hiện tốt theo quy định Cấp uỷ, chính quyền địa phương trong thời gian qua luôn quan tâm đến lực lượng này nên ngành hoạt động đạt hiệu quả cao trong thời gian qua Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố và nâng cao, chất lượng hoạt động của Đội, Tổ Dân phòng được nâng lên

4 Xây dựng Chính quyền:

Chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, công tác phối hợp hoạt động giữa Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ngày được nâng cao Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Chính quyền trong việc thực hiện chủ trương

Trang 8

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương được tăng cường.

5 Về thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở:

Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh số: 34/2007/ PL-UBTVQH.11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XI về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 71/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Qui chế thực hiện dân chủ ổ cơ sở và ở cơ quan, đơn vị Uỷ ban nhân dân

xã đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai từ trong nội bộ ra đến tận quần chúng nhân dân nhằm làm cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thông hiểu để thực hiện Đồng thời, Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và ban hành quy chế hoạt động của cơ quan làm cho cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân trong cơ quan, đơn vị

6 Công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo:

Công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại – tố cáo của công dân cũng như công tác hoà giải ở cơ sở được Uỷ ban nhân dân xã đặc biệt quan tâm Các vụ việc tranh chấp, khiếu nại được giải quyết kịp thời Từ đó tình hình tranh chấp, khiếu kiện được kiềm chế, không xảy ra điểm nóng, hạn chế được tình trạng khiếu kiện vượt cấp

Từ năm 2004 đến nay, xã đã thụ lý 341 đơn gồm các lĩnh vực như: Hôn nhân gia đình, tranh chấp đất đai, hợp đồng vay mượn và một số lĩnh vực khác

Đã tổ chức hoà giải được 332 đơn, trong đó: hoà giải thành 265 đơn, không thành 31 đơn, chuyễn về trên 36 đơn, công dân tự rút 4 đơn, tồn 5 đơn

7 Công tác phòng chống tham nhũng:

Sau khi tiếp thu Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) và các Chương trình hành động của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và Đảng uỷ xã về tăng cường công tác lãnh đạo của Đảng uỷ đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Uỷ ban nhân dân xã đặc biệt quan tâm đến công tác này nên đã tiến hành xây dựng kế hoạch và Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân xã về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; đã tổ chức triển khai cho cán bộ, đảng viên, các ban, ngành, đoàn thể xã, ấp và nhân dân nắm rõ mục đích, yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng để kịp thời phát hiện, tố giác những hành vi có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng Cho nên trong nhiệm kỳ qua không có cán bộ nào vi phạm về tham nhũng

8 Công tác thông tin báo cáo:

Thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân xã, trong nhiệm kỳ qua,

Uỷ ban nhân dân xã luôn đảm bảo tốt chế độ thông tin, báo cáo từ xã đến huyện theo qui định Đồng thời cũng có thông tin từ xã đến ấp và các ngành về những chủ trương, chính sách mới ban hành để cán bộ và nhân dân biết mà tham gia thực hiện Định kỳ hàng tháng, 6 tháng, năm đều có báo cáo những kết quả làm được, những vấn đề còn vướn mắc, khó khăn lên Uỷ ban nhân dân cấp trên để kịp thời xin ý kiến, chủ trương của cấp trên nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướn mắc ở địa phương

C Lãnh đạo và thực hiện công tác cải cách hành chính:

1 Công tác cải cách hành chính:

Uỷ ban nhân dân xã đã từng bước cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong giải quyết công việc

Trang 9

hành chính, loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây phiền hà, khó khăn cho nhân dân

Nhiệm kỳ qua, thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Uỷ ban nhân dân Tỉnh, các thủ tục hành chính được đơn giản hoá, hiệu quả quản lý Nhà nước được tăng cường, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức và nhân dân được nâng lên rõ rệt, trong giải quyết công việc giảm bớt phiền hà cho nhân dân Song bên cạnh đó, vẫn còn một số thủ tục gây khó khăn cho nhân dân như: một số mẫu biểu không đúng qui định trong lĩnh vực vay vốn ngân hàng, làm cho người dân phải đi lại nhiều lần

2 Kết quả thực hiện cơ chế “Một cửa”:

“Một cửa” là nơi tập trung đầu mối để giao dịch, tiếp nhận và trả kết quả giải quyết hồ sơ hành chính theo yêu cầu của tổ chức và công dân Trong nhiệm

kỳ qua, tổng số hồ sơ hành chính trong các lĩnh vực được giải quyết là 38.215 hồ sơ

Nhìn chung trong nhiệm kỳ qua, hầu hết các hồ sơ trên các lĩnh vực đều được thực hiện giải quyết đúng thời gian qui định, có một số hồ sơ giải quyết trước hạn

3 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính:

Tổng số đội ngũ cán bộ, công chức năm 2004 là đồng chí, đã sắp xếp theo Quyết định 31 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh chi nghĩ hưởng chế độ là 07 đồng chí,

hiện nay còn 37 đồng chí (gồm cán bộ lãnh đạo, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở xã).

4 Công tác bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: a) Về công tác bố trí, sử dụng cán bộ:

Công tác phân cấp quản lý cán bộ, công chức được quan tâm và thực hiện đúng qui định của pháp luật Việc tuyển dụng, sử dụng, bố trí cán bộ, công chức được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ Khi tuyển dung, sử dụng, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyễn, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức đều được đưa ra tập thể bàn bạc và biểu quyết theo đa số

b) Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức:

Tổng số cán bộ được đào tạo về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ tại các trường trong và ngoài Tỉnh là: 43 đồng chí Trong đó: đã được đào tạo là 22 đồng chí; đang học là 8 đồng chí; dự kiến năm 2011 đưa đi đào tạo là 13 đồng chí khi có thông báo chiêu sinh của các trường trong và ngoài Tỉnh

c) Nhận xét, đánh giá bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức:

Nhìn chung, cán bộ, công chức sau khi qua đào tạo, bồi dưỡng đa số đều phát huy tốt, trình độ cán bộ, công chức từng bước được nâng lên Mỗi cán bộ, công chức được bố trí, phân công phù hợp với nhiệm vụ được giao, đã đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân

d) Kết quả thực hiện tinh giản biên chế:

Thực hiện Quyết định số: 31/2008/QĐ-UBND ngày 22 tháng 8 năm 2008 của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng Tháp, xã đã sắp xếp cho 07 đồng chí được nghĩ hưởng chế độ trợ cấp một lần Trong đó: Cán bộ chuyên trách: 04 đồng chí, cán

bộ không chuyên trách 03 đồng chí Nhìn chung, sau khi sắp xếp đến nay, tình

Trang 10

hình biên chế của xã tạm ổn định, nhưng vẫn còn khuyết một số chức danh như: Chủ tịch HĐND

5 Cải cách Tài chính công:

Việc phân cấp quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước được xã thực hiện theo qui định Hàng năm, xã chủ động lập kế hoạch phân bổ thu – chi ngân sách cho các đơn vị theo Nghị quyết HĐND xã, đảm bảo cân đối thu – chi ngân sách đúng qui định Những khoản chi đột xuất, mới phát sinh đều được thông qua HĐND xã và ngành tài chính cấp trên phê duyệt

6 Hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước:

Sau khi triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước, áp dụng các công cụ, phương tiện, phương pháp quản lý trong cơ quan quản lý cấp xã Hiện nay, Uỷ ban nhân dân

xã đã trang bị 09 máy vi tính, 06 máy in, kết nối mạng internet, mạng Mega Lan nội bộ của cơ quan Đảng để phục vụ cho công tác của Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã và các Đoàn thể nhân dân

D Đánh giá chung:

1 Ưu điểm:

Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như: giao thông nông thôn, điện, nước sạch, trạm bơm điện, trường học, trạm y tế,…….và các công trình phục vụ dân sinh được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao

An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cơ quan Nhà nước được tăng cường, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được đổi mới về nội dung và hình thức nên

có nhiều tiến bộ, chất lượng và hiệu quả được nâng lên

Đạt được những kết quả trên là do sự quan tâm lãnh, chỉ đạo kịp thời, sâu xác của các cơ quan Đảng, Nhà nước cấp trên, của Đảng uỷ, HĐND xã Đồng thời là do sự tập trung lãnh đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân xã, sự nỗ lực phấn đấu phát huy nội lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong xã đã cụ thể hoá, tổ chức thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước cấp trên, Nghị quyết Đảng bộ xã lần thứ II và Nghị quyết của HĐND xã khóa II, nhiệm kỳ 2004 – 2011 đã đề ra

2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân:

2.1: Những hạn chế, tồn tại:

Tăng trương kinh tế tuy đạt chỉ tiêu đề ra và ở mức cao nhưng chưa thật

sự bền vững, do phụ thuộc vào ngành sản xuất nông nghiệp Nếu xảy ra dịch bệnh, thiên tai bất ngờ sẽ ảnh hương hưởng đến việc phát triển kinh tế của xã

Tỷ trọng chăn nuôi còn thấp, chưa khai thác mạnh lợi thế mùa lũ,…

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tuy có chuyển biến nhưng còn thấp Xoá đói - giảm nghèo chưa vững chắc, công tác xã hội hoá giáo dục còn chậm Va quẹt giao thông, trộm, tệ nạn xã hội còn xảy ra

2.2 Nguyên nhân:

- Khách quan:

Cơ sở hạ tầng chưa phát triển mạnh, giá cả nhiều mạt hàng đầu vào dùng trong sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu,… tăng cao, thời tiết diễn biến bất

Ngày đăng: 03/05/2016, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w