1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau

213 707 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 21,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về hiện trạng tình hình sạt lở bờ biển, cửa sông ra biển của tỉnh thông qua các kết quả khảo sát, đo đạc thực địa; Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi – xói vùng ven biển; Các quy luật diễn biến rủi ro sạt lở từ các yếu tố tự nhiên, đặc biệt là từ gió mùa và Các tác động của biến đổi khí hậu lên thủy động lực học, dòng chảy... Đề tài đã tổ chức điều tra được một cách có hệ thống các vị trí sạt lở, và có nguy cơ sạt lở cùng hệ thống các điều kiện tài nguyên thiên nhiên có liên quan. Đây là bộ dữ liệu quan trọng cần được tham khảo trong quá trình quy hoạch sử dụng đất đai ven biển hay xây dựng các công trình ven biển. (1). Tổ chức điều tra được 20 vị trí (tuyến, điểm,…) đang sạt lở nguy hiểm. Trong đó có 9 vị trí thuộc bờ biển phía Tây và 10 vị trí thuộc bờ biển phía Đông

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 2

1.1 NHỮNGVẤNĐỀCHUNG 2

1.1.1 Các thông tin chung về dự án 2

1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ 2

1.1.2.1 Mục tiêu 2

1.1.2.2 Nhiệm vụ 3

1.2 CÁCKẾTQUẢCẦNĐẠTĐƯỢC 3

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG VEN BIỂN CÀ MAU VÀ VÙNG PHỤ CẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN SẠT LỞ BỜ BIỂN 6

2.1 VỊTRÍĐỊALÝVÀRANHGIỚIHÀNHCHÍNH 6

2.2 ĐẶCĐIỂMĐỊAHÌNH-ĐỊAMẠOĐỚIBỜBIỂNCÀMAUVÀVÙNGPHỤCẬN 8 2.2.1 Địa hình đáy biển ven bờ tỉnh Cà Mau và vùng phụ cận 8

2.2.2 Đặc điểm địa mạo đáy biển ven bờ tỉnh Cà Mau và vùng phụ cận 11

2.2.3 Lịch sử phát triển địa hình đáy biển ven bờ Cà Mau và vùng phụ cận trong thời kỳ gần đây 15

2.3 CÁCĐẶCTRƯNGTHỦYĐỘNGLỰCHỌCVÙNGBIỂNCÀMAU 19

2.3.1 Hoàn lưu gió mùa và dòng chảy do gió gây nên 19

2.3.1.1Các đặc trưng của trường gió trên khu vực biển và đất liền vùng mũi Cà Mau 19 2.3.1.2 Dòng chảy do gió 20

2.3.2 Chế độ triều trên biển Đông và vịnh Thái Lan 24

2.3.2.1 Tính chất của giao động triều trên biển và trong vịnh 24

2.3.2.2 Chế độ triều và dòng triều lưu trong khu vực nghiên cứu 25

2.3.2.3 Dòng chảy tổng hợp 27

2.3.3 Chế độ sóng 27

2.3.3.1 Chế độ sóng trên biển 27

2.3.3.2 Hoạt động của Bão 29

2.4 ĐẶCĐIỂMTHẠCHĐỘNGLỰCVÙNGBỜBIỂN 32

2.5 ĐƯỜNGBỜBIỂNCÀMAUVÀNHỮNGĐỘNGTHÁIDIỄNBIẾN 33

2.5.1 Những vấn đề chung 33

2.5.2 Đặc điểm hình thái và hình thái động lực bờ biển 34

2.5.3 Bồi tụ và xói lở đáy biển 35

2.5.3.1 Đáy biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng - triều 35

2.5.3.2Đáy biển xâm thực tích tụ trước cửa sông do tác động của sông và dòng triều36 2.5.3.3 Đáy biển tích tụ-xói lở do tác động sông biển 36

2.5.4 Bồi tụ và xói lở bờ biển 37

2.5.5 Mối quan hệ hoạt động bồi tụ - xói lở bờ và đáy biển 38

2.6 DÂNSỐVÀPHÂNBỐDÂNCƯVENBIỂNTỈNHCÀMAU 38

2.6.1 Dân số tỉnh Cà Mau 38

2.6.2 Phân bố dân cư ven biển Cà Mau 41

Trang 2

2.6.2.1 Dân số và nguồn nhân lực 41

2.6.2.2 Dự báo dân số và lao động ven biển Cà Mau 44

2.7 TÀINGUYÊNTHIÊNNHIÊNVÙNGVENBIỂNTỈNHCÀMAU 45

2.7.1 Đất đai và đặc điểm sử dụng đất vùng ven biển Cà Mau 45

2.7.1.1 Tài nguyên đất 45

2.7.1.2 Hiện trạng sử dụng đất các huyện ven biển 46

2.7.2 Tài nguyên nước 47

2.7.3 Tài nguyên rừng 49

2.7.4 Tài nguyên biển 50

2.7.5 Tài nguyên khoáng sản 52

2.7.6 Tài nguyên du lịch 54

CHƯƠNG III: HIỆN TRẠNG SẠT LỞ BỜ BIỂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẨN CẤP CHO CÁC KHU VỰC TRỌNG ĐIỂM 55

3.1 TÌNHHÌNHSẠTLỞ BỜ BIỂNTỈNHCÀ MAU 55

3.1.1 Tổng quan chung 55

3.1.2 Thực trạng bồi lắng, sạt lở khu vực ven biển tây tỉnh Cà Mau 55

3.1.2.1 Đoạn 1: từ kênh Tiểu Dừa đến cửa Khánh Hội……….58

3.1.2.2 Đoạn 2: Từ Cửa Khánh Hội đến Thị trấn Sông Đốc 58

3.1.2.3 Đoạn 3: Từ Sông Đốc đến cửa Cái Đôi Vàm 59

3.1.2.4 Từ Cửa Cái Đôi Vàm đến Cửa Bảy Háp 59

3.1.2.5 Khu vực Cửa Bảy Háp 60

3.1.2.6 Khu vực Cửa sông Ông Lớn 63

3.1.2.7 Khu vực từ cửa sông Cửa Lớn đến sông Cái Mòi 65

3.1.2.8 Khu vực từ sông Cái Mòi đến rạch kênh Hai Thiện 65

3.1.2.9 Khu vực từ kênh Hai Thiện đến rạch Mũi 66

3.1.2.10 Khu vực từ rạch Mũi đến rạch Tàu 67

3.1.3 Thực trạng bồi lắng, sạt lở khu vực ven biển Đông tỉnh Cà Mau 67

3.1.3.1 Đoạn 1: Cửa biển Gành Hào 68

3.1.3.2 Đoạn 2: Từ cửa Gành Hào đến cửa Giá Lồng Đèn 70

3.1.3.3 Đoạn 3: Từ cửa Giá Lồng Đèn tới cửa Hố Gùi 70

3.1.3.4 Đoạn 4: Từ cửa Hố Gùi tới cửa Bồ Đề 71

3.1.3.5 Đoạn 5: Từ cửa Bồ Đề tới cửa Rạch Gốc 72

3.1.3.6 Đoạn 6: Từ cửa Rạch Gốc tới khu du lịch Khai Long (kênh Năm Ô Rô) 72

3.1.3.7 Đoạn 7: Khu du lịch Khai Long (kênh Năm Ô Rô đến Rạch Thọ) 73

3.1.3.8 Đoạn 8: Khu du lịch Khai Long (Rạch Thọ) đến Đất Mũi 76

3.1.4 Tổng hợp thực trạng sạt lở các khu vực trọng điểm ven biển tỉnh Cà Mau (cả biển Tây và biển Đông) 76

3.2 XÁCĐỊNHSƠBỘNGUYÊNNHÂNGÂYSẠTLỞ,BỒILẮNGBỜBIỂN 78

3.2.1 Nguyên nhân ngoại sinh 78

3.2.2 Tác động của con người 80

3.3 ĐỀXUẤTGIẢIPHÁPBẢOVỆCHỐNGSẠTLỞCHOCÁCKHUVỰCTRỌNG ĐIỂMKHAILONGVÀGÀNHHÀO 81

3.3.1 Giải pháp bảo vệ chống sạt lở bờ biển khu du lịch Khai Long 82

3.3.1.1 Xác định nguyên nhân gây sạt lở bờ biển Khai Long 82

Trang 3

3.3.1.2 Đặc điểm địa chất bờ biển khu du lịch Khai Long 83

3.3.1.3 Tổng quan quy hoạch khu du lịch Khai Long 85

3.3.1.4 Giải pháp kỹ thuật phòng, chống sạt lở 86

3.3.1.5 Các phương án thiết kế xây dựng công trình 88

3.3.2 Giải pháp bảo vệ chống sạt lở Cửa biển Gành Hào 92

3.3.2.1 Xác định nguyên nhân gây sạt lở cửa biển Gành Hào 92

3.3.2.2 Giải pháp kỹ thuật phòng, chống sạt lở bờ biển Gành Hào 94

3.3.2.3 Các phương án thiết kế xây dựng công trình 98

3.4 CÁCGIẢIPHÁPBỔSUNGBẢOVỆCHỐNGSẠTLỞBỜBIỂNĐANGÁPDỤNG TRÊNĐỊABÀNTỈNHCÀMAU 104

3.4.1 Những giải pháp chống sạt lở đã áp dụng ở Cà Mau và nhận xét đánh giá sơ bộ 105 3.4.2 Kết luận sơ bộ 111

CHƯƠNG IV: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH SỐ PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ RỦI RO SẠT LỞ BỜ BIỂN TỈNH CÀ MAU 113

4.1 TỔNGQUANCHUNGVỀRỦIROSẠTLỞ 113

4.1.1 Tổng quan về rủi ro sạt lở 113

4.1.2 Mục tiêu xác định rủi ro sạt lở 114

4.1.3 Phạm vi nghiên cứu 114

4.1.4 Các nội dung cần đạt được trong phân tích đánh giá rỉu ro 117

4.2 CƠSỞLỰACHỌNMÔHÌNH 117

4.2.1 Cơ sở lựa chọn mô hình 117

4.2.2 Mô hình tích hợp MIKE21/3 Coupled Model FM 118

4.2.2.1 Các module sử dụng đồng thời 118

4.2.2.2 Cơ sở dữ liệu đầu vào 119

4.3 KẾTQUẢHIỆUCHỈNHMÔHÌNHTOÁN 123

4.3.1 Các bước hiệu chỉnh thông số mô hình tính thủy động lực học 123

4.3.2 Hiệu chỉnh thông số mô hình sóng 133

4.3.3 Hiệu chỉnh thông số mô hình vận chuyển bùn cát 140

4.4 CÁCPHƯƠNGÁNTÍNHTOÁN 142

4.4.1 Nghiên cứu rủi ro sạt lở VBCM hiện trạng 142

4.4.2 Nghiên cứu rủi ro sạt lở VBCM do BĐKH và NBD 143

4.5 KẾTQUẢTÍNHTOÁNVÀTHẢOLUẬN 144

4.5.1 Nhận xét về rủi ro sạt lở VBCM qua phân tích số liệu thực đo 144

4.5.2 Nhận xét về rủi ro sạt lở VBCM qua phân tích số liệu tính toán 147

4.5.2.1 Chế độ thủy động lực học (HD) hiện trạng (năm 2009) 147

4.5.2.2 Chế độ sóng biển hiện trạng (năm 2009) 151

4.5.2.3 Chế độ bồi xói hiện trạng (năm 2009) 154

4.5.3 Dự báo về rủi ro sạt lở VBCM do tác động của BĐKH 156

4.5.3.1 Đối với các quá trình thủy động lực học 156

4.5.3.2 Đối với sóng biển 160

4.5.3.3 Đối với các quá trình bồi xói 162

4.5.3.4 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của BĐKH và NBD lên các yếu tố rủi ro sạt lở VBCM thông qua hiệu số giá trị của các yếu tố này vào năm 2050 164

4.6 ĐỀXUẤTGIẢIPHÁPGIẢMTHIỂURỦIRO 167

Trang 4

4.7 KẾTLUẬNVỀRỦIROSẠTLỞ 172

CHƯƠNG V: TỔNG HỢP ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ CHỐNG SẠT LỞ CHO CÁC KHU VỰC TRỌNG ĐIỂM 175

5.1 CĂNCỨĐỀXUẤT 175

5.2 ĐỀXUẤTGIẢIPHÁPBẢOVỆCHỐNGSẠTLỞCHOCÁCKHUVỰCTRỌNG ĐIỂMVENBIỂNTÂY 175

5.2.1 Các vị trí sạt lở trọng điểm 176

5.2.2 Giải pháp bảo vệ Đoạn từ bờ Bắc Vàm Lung Ranh đến bờ Nam Vàm kênh Hương Mai dài khoảng 4,5km 176

5.2.3 Giải pháp bảo vệ Đoạn đường bờ từ kênh Hai Thiện đến Rạch Tàu dài khoảng 3km thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển 178

5.2.4 Giải pháp bảo vệ Các cửa sông như của Sào Lưới, Đá Bạc, Ông Đốc, Mỹ Bình, Cái Cám 178

5.3 ĐỀXUẤTGIẢIPHÁPBẢOVỆCHỐNGSẠTLỞCHOCÁCKHUVỰCTRỌNG ĐIỂMVENBIỂNĐÔNG 179

5.3.1 Các vị trí sạt lở trọng điểm 179

5.3.2 Giải pháp bảo vệ Đoạn cửa sông Gành Hào và Khai Long 179

5.3.3 Giải pháp bảo vệ Đoạn tiếp nối từ cửa sông Gành Hào về phía Già Lồng Đèn khoảng 3km 179

5.3.4 Giải pháp bảo vệ cho các đoạn còn lại ven biển Đông 180

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 181

KẾTLUẬN 181

KIẾNNGHỊ 183

PHỤ LỤC 184

Trang 5

MỞ ĐẦU

Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau (là một trong số 28 tỉnh, thành phố ven biển của Việt Nam) có vị trí đặc biệt trong Chiến lược phát triển kinh tế biển của cả nước Với 254 km bờ biển, bao bọc bán đảo Cà Mau, tiếp giáp cả biển Đông và biển Tây (Vịnh Thái Lan), vùng biển, ven biển và các cụm đảo thuộc tỉnh Cà Mau có vị trí đặc biệt quan trọng về gìn giữ an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế của cả nước, nhất

là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trong những năm gần đây tình hình sạt lở bờ biển, cửa biển ở Đồng Bằng sông Cửu Long nói chung và ở Cà Mau nói riêng trở nên hiện tượng khá phổ biến, là mối đe doạ nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của nhà nước, của dân và gây mất diện tích đất ven bờ, mất thảm thực vật, môi trường tự nhiên, mất ổn định kinh tế, xã hội của khu vực, ảnh hưởng đến quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Đường bờ biển dài, đối lưu giữa biển và đất liền lớn, biến đổi của thiên nhiên thất thường, hạn hán, bão lũ thất thường, rừng phòng hộ ven biển bị chặt phá, cháy rừng là những nguyên nhân chính dẫn đến gia tăng tình hình sạt lở ngày càng trầm trọng ở Cà Mau

Nhìn chung, hiện tượng sạt lở các cửa sông đổ ra biển, bờ biển xảy ra ở hầu khắp trên địa bàn tỉnh Cà Mau, là mối đe dọa lớn tới ổn định dân sinh, kinh tế, xã hội của tỉnh Tuỳ mức độ sạt lở nhiều, ít khác nhau, có nhiều nguyên nhân gây sạt lở khác nhau tới các vùng bờ biển như: Nền đất yếu, sóng, gió, thuỷ triều, dòng chảy sông – biển, con người,… nhưng đã gây thiệt hại vô cùng to lớn

Mặc dù thực trạng sạt lở đang diễn ra trên diện rộng và khá mạnh, nhưng những điều tra, khảo sát, đo đạc và nghiên cứu cụ thể về tình hình sạt lở bờ biển ở Cà Mau đang còn hạn chế, đặc biệt là các điểm sạt lở tiềm ẩn Từ trước đến nay chúng ta chỉ chạy theo các điểm đã sạt lở để khống chế chúng, luôn ở thế bị động, chưa tìm rõ nguyên nhân chi tiết dẫn đến sạt lở gây lãng phí tiền bạc, của cải của Nhà Nước và thiệt hại của nhân dân Các điểm sạt lở vẫn chưa giải quyết triệt để được mặc dù một

số khu vực đã áp dụng các biện pháp công trình bảo vệ bờ

Trước tình hình đó, UBND tỉnh Cà Mau đã giao cho sở Tài nguyên và Môi

trường phối hợp với đơn vị tư vấn là Viện Kỹ Thuật Biển thực hiện dự án “Điều tra,

đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau”

Trang 6

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1.1 Các thông tin chung về dự án

Tên dự án: “Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các

giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh

Cà Mau” (Trường hợp thực hiện cho vùng ven biển, cửa sông ra biển)

Cơ quan đầu tư: UBND tỉnh Cà Mau

Cơ quan quản lý đầu tư: Sở Tài nguyên và Môi trường Cà Mau

Đơn vị tư vấn: Viện Kỹ Thuật Biển - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Việt Nam Thời gian thực hiện: 6 tháng (Từ tháng 7/2010 đến tháng 12/2010)

Căn cứ pháp lý:

- Dự án điều tra, đánh giá tình hình sạt sở tại các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất đã được UBND tỉnh Cà Mau cho phép về mặt chủ trương tại Công văn số: 3307/UBND-

NĐ ngày 10 tháng 9 năm 2008

- Công văn số 838/CV-STNMT ngày ngày 02 tháng 10 năm 2008 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau chọn Viện Kỹ Thuật biển - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi Việt Nam là đơn vị tư vấn lập dự án và dự toán điều tra, đánh giá tình hình sạt sở tại các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất đã được UBND tỉnh Cà Mau

1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ

1.1.2.1 Mục tiêu

Mục tiêu của dự án: “Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh

Cà Mau” (Trường hợp nghiên cứu là vùng ven biển, cửa sông ra biển) là:

Đánh giá được tổng quan tình hình sạt lở vùng ven biển, cửa sông ra biển tỉnh

Cà Mau, từ đó xác định được các vùng có nguy cơ sạt lở cao

Đưa ra được các giải pháp bảo vệ các vùng có nguy cơ sạt lở cao (biện pháp công trình và phi công trình) trên cơ sở nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu đại

Trang 7

diện một số điểm sạt lở trọng điểm nhằm bảo vệ tài nguyên đất của tỉnh Cà Mau

1.1.2.2 Nhiệm vụ

Từ mục tiêu của dự án, yêu cầu đặt ra của đơn vị chủ quản là đánh giá được tổng quan tình hình sạt lở vùng ven biển, cửa sông ra biển từ đó đưa ra được giải pháp hợp lý nhằm bảo vệ các vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất của tỉnh Cà Mau, một số nhiệm vụ chính để đáp ứng được mục tiêu trên cần thực hiện như sau:

- Thu thập đầy đủ các tài liệu cơ bản về vùng nghiên cứu ven biển tỉnh Cà Mau (về tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, môi trường, địa hình, địa mạo, sản xuất, rừng, thủy hải văn, các loại bản đồ, hệ thông công trình thủy lợi, )

- Khảo sát hiện trường về thực trạng sạt lở các vùng ven biển, cửa sông ra biển, rừng phòng hộ, sản xuất, thực trạng dân sinh kinh tế, để từ đó đánh giá tổng quan sạt lở và ảnh hưởng của chúng đến xã hội, sản xuất, kinh tế và an ninh nói chung

- Đo đạc một số các yếu tố hiện trường tại các điểm nóng đại diện nhằm đánh giá chính xác hơn các nguyên nhân, cơ chế sạt lở, mức độ diễn biến sạt lở tiếp theo, kết hợp với các phần mềm máy tính phân tích đánh giá để đưa ra các giải pháp bảo vệ bờ hợp lý (Đo đạc về địa hình, thủy văn dòng chảy, mực nước, sóng, gió, địa chất)

- Công tác nội nghiệp phải đưa ra được các báo cáo khoa học phân tích đánh giá

về thực trạng sạt lở, tìm ra được các nguyên nhân và đưa ra được các giải pháp hợp lý bảo vệ bờ, phòng chống sạt lở nhằm bảo vệ tài nguyên đất của tỉnh Cà Mau

- Chuyển giao kết quả thực hiện cho đơn vị quan lý là Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau

a) Khảo cứu, thu thập, xử lý tài liệu cơ bản

 Khảo cứu, thu thập, xử lý tài liệu cơ bản hiện có vùng dự án từ những đề tài, dự án

đã thực hiện trước đây, từ số liệu thống kê và điều tra thường xuyên của tỉnh:

 Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội, khí tượng, địa hình, địa mạo, vùng nghiên cứu

 Thu thập tài liệu sạt lở vùng nghiên cứu

 Thu thập tài liệu mực nước, thủy triều một số trạm đo ven biển như trạm Gành Hào, trạm Ông Đốc

Trang 8

 Thu thập về sóng, gió, bão, đặc biệt là những cơn bão lớn đã đổ bộ vào bờ biển Cà Mau những năm qua

 Thu thập, số hoá và xử lý các loại bản đồ, ảnh viễn thám, không ảnh,

b) Điều tra, khảo sát và đo đạc hiện trường vùng sạt lở

 Điều tra hiện trường về các vấn đề liên quan đến sạt lở, môi trường tự nhiên,

rừng phòng hộ, sử dụng đất các vùng bờ biển

 Khảo sát, đo đạc tài liệu về địa hình các điểm nóng sạt lở (2 vị trí đại diện là

cửa Gành Hào « sạt lở » và ven biển khu du lịch Khai Long « vừa lở và bồi »):

 Khống chế mặt bằng đường chuyền cấp 2 suốt chiều dài tuyến sạt lở là 6,5km Từ đó dẫn truyền cao độ ra xung quanh

 Khống chế cao độ thuỷ chuẩn hạng 4, sử dụng máy định vị vệ tinh để khống chế

 Đo vẽ trắc dọc tuyến sạt lở suốt chiều dài tuyến sạt lở là 6,5km

 Đo vẽ trắc ngang trên cạn suốt chiều dài 6,5km, chiều ngang đo là 0,2km/mặt cắt từ đường bờ sang hai bên, và 0,3km dài/mặt cắt L = (6,5/0,3)*0,2 = 4,3km Mục đích để xác định hình thức, quy mô và tính tóan công trình bảo

 Bình đồ tổng thể: 1/5.000; h=2m Để xem xét đánh giá sạt lở, kết hợp trong chạy mô hình và tính toán xác định công trình bảo vệ bờ

 Khảo sát, đo đạc tài liệu về địa chất phục vụ tính toán quy mô, kỹ thuật công

trình bảo vệ bờ phòng chống sạt lở:

 Khoan khảo sát địa chất, lấy mẫu đất nguyên dạng Sơ bộ chọn chiều sâu mỗi

lỗ khoan là 10m để xác định tầng đất, khoan 02 điểm tại đầu và cuối tuyến khảo sát tại Khai Long

 Thí nghiệm 17 chỉ tiêu cơ lý mẫu đất

 Thí nghiệm xác định chỉ tiêu cơ lý mẫu đất nguyên dạng

Khảo sát, đo đạc thuỷ – hải văn:

 KS thủy văn tại 2 vị trí sạt lở trọng điểm; Khai Long đo 2 trạm bên lở, bên bồi và Gành Hào đo 1 trạm

Trang 9

 Đo mực nước 3 ngày đêm Tại các vị trí đo lưu tốc dòng chảy sẽ tiến hành song song đo mực nước

 Đo sóng gió ven biển 3 ngày đêm tại 2 trạm đo

Mẫu nước xác định bùn cát lơ lửng trong nước biển và nước cửa sông

c) Xử lý số liệu, lập báo cáo chuyên đề đánh giá

 Báo cáo điều tra hiện trường về tình hình sạt lở, kèm theo các bản đồ, hình ảnh hiện trạng sạt lở

 Báo cáo khảo sát đo đạc địa hình (2 điểm nóng đã chọn)

 Báo cáo khảo sát đo đạc địa chất (2 điểm nóng đã chọn)

 Báo cáo khảo sát đo đạc thuỷ - hải văn (2 điểm nóng đã chọn)

 Nghiên cứu xác định nguyên nhân, cơ chế gây xói lở, xu thế diễn biến xói lở tại các điểm có nguy cơ cao bằng mô hình thuỷ lực sông-biển

d) Đề xuất các giải pháp KH-CN phòng chống sạt lở tại những điểm có nguy

cơ sạt lở cao ven biển vùng dự án

 Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phi công trình

 Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp công trình

Trang 10

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG VEN BIỂN CÀ MAU VÀ VÙNG PHỤ CẬN CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN SẠT LỞ BỜ BIỂN

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ RANH GIỚI HÀNH CHÍNH

Cà Mau là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nằm trọn trên bán đảo Cà Mau Tỉnh được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện: Thành phố Cà Mau và các huyện: Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển

Toạ độ địa lý phần đất liền toàn tỉnh:

+ Từ 8o30’ ’’N đến 9o10’ ”N vĩ độ Bắc

+ Và từ 104o8’ ”E đến 105o05’ ”E kinh độ Đông

Ranh giới hành chính của tỉnh:

+ Phía Bắc của tỉnh tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang;

+ Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bạc Liêu;

+ Phía Nam và phía Đông - Nam tiếp giáp với Biển Đông;

+ Phía Tây tiếp giáp với biển Tây (vịnh Thái Lan)

Diện tích đất liền của tỉnh là 5.329,16 km2, bằng 13,13% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước

Tỉnh được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện: Gồm thành phố Cà Mau và các huyện: Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển

Phạm vi ranh giới trên đất liền của Vùng ven biển bao gồm 6 huyện ven biển

của tỉnh Cà Mau gồm các huyện: U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân, Năm Căn, Ngọc Hiển và Đầm Dơi với 22 xã, thị trấn có tổng chiều dài bờ biển là 254 km (8% chiều dài

bờ biển cả nước) Tổng diện tích đất liền của VBVBCM rộng 4022 km2, chiếm 75% diện tích toàn tỉnh (5329 km2)

Trang 11

Hình 2.1: Bản đồ vị trí tỉnh Cà Mau trên địa bàn ĐBSCL

Về địa lý kinh tế, vùng biển và ven biển Cà Mau nằm trong vòng cung biển các nước Đông Nam Á, có chung đường biên giới trên biển với các nước trong khu vực Đây cũng là nơi có tuyến đường biển quan trọng và thuộc loại nhộn nhịp hàng đầu thế giới Trong tương lai, nếu kênh đào KRA (Thái Lan) được xây dựng thì tuyến đường biển này sẽ đi qua Vịnh Thái Lan, qua vùng biển Cà Mau Từ đó sẽ mở ra cơ hội lớn

để vùng ven biển Cà Mau (VBCM) phát triển mạnh các lĩnh vực như vận tải quốc tế,

Trang 12

các dịch vụ biển, tài chính ngân hàng, sửa chữa tàu biển và thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển Đây cũng là vùng có tiềm năng lớn về dầu khí và hệ thống ống dẫn dầu và khí đốt của các nước ASEAN, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác thăm dò, khai thác và kinh doanh sản phẩm dầu khí và các sản phẩm khác

Xét về cực tăng trưởng: Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau nằm trong tiểu vùng

Cà Mau - Cần Thơ - An Giang - Kiên Giang, một trong 4 tiểu vùng kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long đang được quy hoạch thành vùng kinh tế trọng điểm của ĐBSCL Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan, Vùng biển và ven biển tỉnh Cà Mau được kết nối trong các tam giác phát triển du lịch như : Cà Mau - Rạch Giá - Phú Quốc; Cà Mau - Cần Thơ - Hà Tiên

Một số dự án lớn đang được tiến hành như dự án đường hành lang ven biển phía nam, đường Hồ Chí Minh (giai đoạn II) đến Đất Mũi Cà Mau Như vậy, trong mối liên kết vùng thì biển và ven biển tỉnh Cà Mau sẽ nằm trong 2 hướng liên kết phát triển chính là vùng Cà Mau - Cần Thơ và Cà Mau - Kiên Giang - An Giang

PHỤ CẬN

2.2.1 Địa hình đáy biển ven bờ tỉnh Cà Mau và vùng phụ cận

a) Các nhân tố thành tạo địa hình đáy biển ven bờ ĐBSCL

Các nhân tố và quá trình thành tạo địa hình đáy biển ven bờ ĐBSCL bao gồm: Đặc điểm địa chất, các quá trình biển (sóng, thuỷ triều, dòng chảy), ảnh hưởng của sông, vai trò của rừng ngập mặn và tác động của con người

Cấu trúc địa chất và kiến tạo:

Về cấu trúc địa chất và kiến tạo, các nghiên cứu từ trước đến nay chỉ ra rằng vùng đáy biển ven bờ ĐBSCL nói chung trải dài trên nhiều đới cấu trúc khác nhau - từ bồn trũng vịnh Thái Lan kéo dài qua phần phía tây bắc của đới nâng Côn Sơn đến trũng Cửu Long Các bồn này được lấp đầy bởi các trầm tích nguồn gốc khác nhau có tuổi từ Eoxel đến Đệ Tứ và nói chung cả hai đều đang tiếp tục sụt lún Tuy nhiên, sự sụt lún này đã được đền bù bởi quá trình trầm tích Do đó, vùng delta sông Mekong tiếp tục tiến ra biển về cả hai phía với tốc độ khác nhau

Hiện nay vùng nghiên cứu được xếp vào đới phát sinh động đất mạnh trên lãnh thổ Việt Nam (với cường độ có thể đạt tới cấp 5,1-5,5 độ richte và độ sâu chấn tiêu từ 15-20 km) phát triển dọc theo đứt gãy Thuận Hải - Minh Hải

Về mặt thành phần vật chất, hầu hết đáy biển ven bờ ĐBSCL cũng như dải đồng bằng ven biển đều được cấu tạo bởi trầm tích bở rời rất trẻ (tuổi Holoxen - hiện

Trang 13

đại, Pleistoxen muộn) Các thành tạo này hiện nay lại lộ ra cả ở đáy biển và bờ biển nên thường xuyên bị cải biến

Ảnh hưởng của sông Mekong:

Đặc điểm thuỷ động lực cũng như địa hình và trầm tích đáy vùng biển ven bờ ĐBSCL chịu ảnh hưởng rất lớn của sông Mekong - một con sông lớn nhất Đông Nam

Á (cả về chiều dài lẫn diện tích lưu vực) chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Diện tích lưu vực sông Mekong khoảng 800.000km2 (1 trong 30 sông có diện tích lưu vực lớn nhất trên thế giới), chiều dài khoảng 4.500 km (1 trong 15 sông dài nhất thế giới), trong khi đó tổng khối lượng nước đưa vào biển của nó lại được xếp thứ 6 so với các sông khác trên thế giới với tổng lượng nước gần 400 x 109 m3/năm, trong đó khoảng 1/3 lượng nước trong mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau) và 2/3 lượng nước tập trung vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) Với khối lượng nước to lớn như vậy nên hàng năm sông Mekong mang ra biển một lượng trầm tích cũng rất đáng kể Đến nay, nhiều tài liệu đều cho rằng, hàng năm sông Mekong tải ra biển khoảng 80 triệu tấn bùn cát

Tác động của sóng biển:

Ở phần phía đông, theo số liệu quan trắc tại trạm Vũng Tàu, hàng năm sóng hướng đông bắc và sóng hướng đông là hai hướng sóng tác động đến bờ chiếm ưu thế với tổng tần suất là 42,8 % Độ cao sóng cực đại vào mùa hè khoảng 2,5m, còn mùa đông là 3,0m Còn ở phần phía tây hướng sóng tác động đến bờ chiếm ưu thế lại là hướng tây - tây nam với tổng tần suất là 31%

Các hướng gió và sóng này đã có ảnh hưởng đáng kể đến việc di chuyển vật liệu trầm tích trên vùng biển nghiên cứu Theo biểu thức xác định vị trí sóng biển bắt đầu tác động đến đáy h/H=0,14 (h là độ cao sóng cực đại, H là độ sâu) thì ranh giới khu bờ hiện đại ở đây được xác định tại độ sâu khoảng 20m (vì độ cao sóng cực đại là 3,0m)

Các hoạt động của sóng đã gây ra mài mòn - xói lở và tích tụ trên toàn bộ vùng nghiên cứu, trong đó đặc biệt là bờ biển

Tác động của thuỷ triều:

Vì đáy biển ở đây khá thoải, biên độ thuỷ triều lại lớn nên mỗi khi triều rút kiệt bãi biển lộ ra khá rộng có khi đến 2-3km Điều này quan sát được khá rõ ở khu vực đất Mũi và ở nhiều khu vực khác Hơn nữa, do chế độ bán nhật triều, nên thời gian triều dâng và triều rút cũng rất nhanh Do đó mỗi ngày, các vùng cửa sông ở đây đều chịu tác động rất thường xuyên của dòng triều Cũng do đặc điểm như vậy nên đây là vùng

có tác động sông-triều rõ rệt

Tác động của dòng chảy:

Trang 14

Vùng biển ven bờ ĐBSCL dòng chảy có hiện tượng thay đổi hướng ở các khu

vực khác nhau vào các thời kỳ khác nhau trong năm Ở phần phía tây đất mũi Cà Mau vào các tháng 1,4,5,10 - dòng chảy có hướng Đông bắc là chủ yếu còn vào các tháng 7-9 thì hướng dòng chảy chủ yếu lại là hướng nam

Còn ở phần phía đông của bán đảo Cà Mau, dòng chảy thay đổi theo mùa rất rõ rệt: Mùa đông là hướng tây nam, mùa hè là hướng đông bắc Tốc độ dòng chảy mùa đông thường lớn hơn mùa hè

Vai trò của rừng ngập mặn:

Rừng ngập mặn là một nhân tố động lực quan trọng góp phần vào sự phát triển địa hình bờ biển ở khu vực Giữa rừng ngập mặn và hoạt động bồi tụ - xói lở có một mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Rừng ngập mặn góp phần tích cực thúc đẩy cho qúa trình tích tụ phát triển nhanh chóng hơn Ngược lại, quá trình bồi tụ nhanh chóng lại tạo điều kiện cho rừng ngập mặn phát triển tốt

Ảnh hưởng của dao động mực nước biển

Dao động mực nước biển là một nhân tố địa mạo bờ biển quan trọng quyết định

sự di chuyển ranh giới tác động của các quá trình ngoại sinh lên khu bờ

Người ta nhận thấy rằng, mực nước biển lại đang có xu hướng dâng lên trong khoảng 100 năm trở lại đây Sự gia tăng mực nước làm cho độ dốc của đáy biển tăng lên hoặc làm cho đường bờ di chuyển về phía lục địa Kết quả là làm thay đổi mực tác động của sóng và thuỷ triều Trong đa số trường hợp dẫn đến sự xói lở bở biển

Tác động của con người

Tại vùng biển ven bờ tỉnh Cà Mau và khu vực phụ cận, các hoạt động của con người ảnh hưởng đến quá trình địa mạo bờ thông qua việc tác động đến rừng ngập mặn

Việc phá huỷ rừng ngập mặn đã làm mất hàng rào che chắn bảo vệ bờ khỏi tác động trực tiếp của sóng Từ đó dẫn đến bờ biển bị xói lở

Tất cả các nhân tố nêu trên đều có mối liên hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau tạo nên hoàn cảnh địa động lực ngoại sinh rất phức tạp ở vùng biển ven bờ Cà Mau và phụ cận Chính mối tương tác phức tạp và diễn ra liên tục này đã tạo nên bộ

mặt địa hình ở khu vực cũng rất đa dạng

b) Đặc điểm địa hình đới bờ biển Cà Mau và vùng phụ cận

Cà Mau là một tỉnh có địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ), cao trình phổ biến từ 0,5 - 1m so với mặt nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặc sông - biển hỗn hợp có địa hình cao hơn; Các khu vực trầm tích biển - đầm lầy hoặc đầm lầy có địa hình thấp

Trang 15

hơn (trung bình vă thấp trũng) chiếm tới 89% Địa hình bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, đồng thời phần lớn diện tích của tỉnh thuộc dạng đất ngập nước ven biển, nền đất yếu

Địa hình đây biển vùng biển Că Mau tương đối bằng phẳng, độ dốc đây biển thấp, ít chướng ngại vật Chất đấy chủ yếu lă bùn - cât mịn, bùn - vỏ sò Độ sđu vùng biển không lớn (lă vùng biển nông): Biển Tđy (vịnh Thâi Lan) độ sđu không quâ 65m, đường đẳng sđu 24m câch bờ biển Tđy trung bình 42 hải lý, câch bờ biển Đông trung bình 28 hải lý; Đường đẳng sđu 50m câch bờ biển Đông 120-150 hải lý

Đ.toío 2 ÒAG Í ÒL ÑÒA ĐRNĐ ÑAÙÓ BIEK N VAØ ÑÖ Ô ØNG BÔ Ø ÍĐÏÏ C VÏÏ COĐ NG TAÙC NGĐIEĐ N CÖ ÙÏ SOÙNG BIEK N VAØ MÖ Ï C NÖ Ô ÙC TOK NG ĐÔ Ï Í (MÛûnh TOK NG ĐÔ Ï Í)

GĐI CĐÏÙ: Đeô tó Û ñoô: ÏTM ( m);

Đeô cÛo ñoô : NhÛø Nö ôùc (cm); TÛø ê ưêeôï gog c:

BÛûn ñoă tyû ưeô 1:10.000, 1:25.000 (1986-2000) hÛûê ñoă tyû ưeô 1:50.000 (1986); Sog hoùÛ thÛùng 12 nÛí m 2001; TÛùc gêÛû: Ngïyeên Đïõï NhÛh n vÛø coh ng íö ï Chư íö û dïïng cho mïï c ñích nghêeh n cö ùï ơhoÛ hóc veă íoùng vÛø mö ïc nö ôùc mö ùc toơ ng theơ )

Hình 2.2: Bản đồ địa hình vùng biển Că Mau vă vùng phụ cận

2.2.2 Đặc điểm địa mạo đây biển ven bờ tỉnh Că Mau vă vùng phụ cận

Bề mặt hiện nay của địa hình đây biển ven bờ (0-20m nước) ĐBSCL mới được thănh tạo trong thời kỳ gần đđy (tất nhiín theo nghĩa địa chất) dưới tâc động tương hỗ lẫn nhau giữa câc nhđn tố nội lực vă ngoại lực như vừa níu Việc tìm hiểu đặc điểm địa mạo cũng như câc quâ trình tiến hoâ năy có ý nghĩa rất lớn cả trong khoa học lẫn trong thực tiễn

Đặc điểm địa hình, địa mạo khu vực: Theo nguyín tắc hình thâi - động lực,

đây biển ven bờ ĐBSCL được chia thănh ba đới hình thâi khâc nhau lă: Đới bêi biển, đới bar ngầm vă đới sườn bờ ngầm Tương ứng với chúng lă ba đới động lực: Đới sóng vỗ bờ, đới sóng biến dạng vă phâ huỷ vă đới sóng lan truyền

a) Địa mạo trong đới sóng vỗ bờ

Trang 16

Đới sóng vỗ bờ là phần trên cùng của khu bờ biển hiện đại Địa hình tương ứng với đới động lực này là bãi biển Tuỳ thuộc vào vai trò của các nhân tố tạo bãi, có thể chia ra một số kiểu địa hình dưới đây

- Bãi biển tích tụ do tác động của sóng

Bãi biển được cấu tạo bởi cát mịn Nguồn tác động của sóng, chúng được tích tụ đều do sông mang ra, sau đó dưới tác động của sóng chúng được tích tụ lại theo

cơ chế di chuyển ngang của bồi tích

- Bãi biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng - triều

Bãi biển này thường được phân bố ở phần bờ nằm giữa các cửa sông hoặc phần sát đường bờ (phần trong của bãi) hiện nay được đặc trưng bởi độ dốc đáng kể hơn so với những nơi khác Trắc diện của bãi được thể hiện dưới dạng 1 sườn còn gọi là trắc diện bãi biển không đầy đủ Bãi biển chủ yếu được cấu tạo bởi cát, cát sạn đôi khi có lẫn các sạn sỏi và các mảnh vụn vỏ sinh vật Quá trình địa mạo hiện đại đang diễn ra ở đây là xói lở phần bãi cao và tích tụ ở phần bãi thấp dưới tác động của cả sóng và thuỷ triều Nguồn trầm tích cung cấp cho quá trình tích tụ chủ yếu đều do sông mang ra, một phần là sản phẩm xói lở bờ Sau đó dưới tác động của sóng chúng được tích tụ lại theo cơ chế di chuyển ngang của bồi tích

- Bãi biển tích tụ do tác động sông-biển

Kiểu bãi biển này được phân bố ở phần ngoài trước các cửa sông đến độ sâu khoảng 4-5 mét Chiều rộng đạt tới 15-20 km hoặc lớn hơn Thực chất đó là các bar cửa sông, ở đây các bar nằm song song với hướng dòng chảy dưới tác động của thuỷ triều chiếm ưu thế Vì vậy, theo động lực thành tạo thì avandelta Mekong thuộc loại sông - triều

- Bãi biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng

Kiểu địa hình này được phân bố ở phần phía đông và tây của bán đảo Cà Mau Vật liệu cấu tạo nên bãi biển rất đa dạng từ cát mịn đến trung lẫn nhiều vụn vỏ

sò ốc đến cát thô, cuội sạn, thậm chí cả tảng (như phía đông bãi Đất Dốc)

- Trũng xâm thực trước cửa sông do tác động của sông và dòng triều

Các trũng này đều phân bố ở phía trước cửa sông chính, chúng có dạng kéo dài hình phễu theo hướng của dòng chảy Phần sâu nhất của các trũng này có thể đạt đến 10 mét, thông thường là 7,0 - 8,0 mét Vật chất cấu tạo nên đáy của các trũng đều là bùn - sét chặt xít Từ những đặc điểm hình thái địa hình và thành phần vật chất như vậy, chứng tỏ đáy biển ở khu vực này đang bị xói lở khá mạnh dưới tác động cửa dòng chảy sông và triều Đặc biệt khi triều xuống, tốc

Trang 17

độ dòng nước được tăng lên rõ rệt, nên khả năng xâm thực càng trở nên mạnh hơn, tạo ra một số thành tạo địa hình thuộc đới sóng vỡ và biến dạng

b) Địa hình trong đới sóng vỡ và biến dạng

Địa hình trong đới này phân bố trong phạm vi độ sâu từ 5 đến 20 mét với các kiểu địa hình chính như sau:

- Đồng bằng tích tụ lượn sóng do tác động của sóng

Đồng bằng này phân bố ở phía đông mũi Cà Mau và nằm trong khoảng độ sâu

từ 4-10m Tên gọi là đồng bằng tích tụ lượn sóng vì có các gờ nổi cao so với đáy khoảng 4-5mét và các rãnh trũng sâu xen kẽ nhau và kéo dài song song với nhau Các rãnh trũng được lấp đầy bởi trầm tích hạt mịn chủ yếu là bùn sét, còn lại các gờ cao lại cấu tạo bởi cát

- Đồng bằng tích tụ nghiêng thoải do tác động của sóng-triều

Kiểu địa hình này nằm ở phía ngoài kiểu địa hình bãi biển cùng tên trong đới sóng vỗ bờ Chiều rộng của nó đạt 8-10 km, còn độ nghiêng khoảng 0,001 Trầm tích trên bề mặt đồng bằng chủ yếu là bùn Nguồn vật liệu cung cấp là vật chất lơ lửng được đưa từ phía cửa sông Mekong tới và một phần do phá huỷ bờ được đưa ra

- Đồng bằng tích tụ - xói lở do tác động của sóng - dòng chảy

Kiểu địa hình này phân bố ở phía đông bắc vùng ĐBSCL, từ 5-20 mét độ sâu

Có diện tích rất đáng kể, có dạng gần như hình vuông với mỗi chiều khoảng 50km Độ nghiêng bề mặt khoảng 0,0001 Trầm tích bề mặt là bùn sét và bùn sét lẫn cát

- Đồng bằng tích tụ nghiêng dốc do tác động sông - biển

Đồng bằng này tạo thành một dải hẹp bao quanh phần phía đông của avandelta Mekong từ độ sâu khoảng 5m đến 18-20 mét thành một dải liên tục theo hướng gần bắc - nam phía ngoài các cửa sông Chiều rộng và độ dốc của đồng bằng này tương ứng khoảng 4-7km và 0,002-0,003 Bề mặt khá bằng phẳng Trầm tích bề mặt chủ yếu là bùn - sét màu xám đến xám xanh Nguồn vật liệu trầm tích chủ yếu do sông Mekong mang ra

c) Địa hình trong đới sóng lan truyền

Địa hình trong đới sóng lan truyền hầu như không chịu tác động của sóng Đới này nằm ở độ sâu trong khoảng 18-20 mét trở lên Nhân tố động lực là dòng chảy gần đáy Trong đới này, có thể chia thành các loại sau:

- Đồng bằng tích tụ - xói lở lượn sóng do tác động của dòng chảy gần đáy

Kiểu đồng bằng này trong khoảng độ sâu từ 18-20 đến 24-26 mét

Trang 18

So sánh với các số liệu đo sâu trước đây cho thấy rằng, hiện nay địa hình đáy đã

bị đào khoét sâu hơn, nhưng lại phẳng hơn Các quá trình tích tụ - xói lở san phẳng địa hình và cải biến trầm tích đáy vẫn đang tiếp diễn mạnh mẽ

- Đồng bằng tích tụ - xói lở tương đối bằng phẳng do tác động của dòng chảy

gần đáy:

Kiểu địa hình này phân bố ở góc đông nam của vùng nghiên cứu Khoảng độ sâu từ 20 mét đến dưới 30 mét Bề mặt đáy khá bằng phẳng không có các gờ cao Trên các mặt cắt địa hình đáy, trắc diện là một đường nghiêng thoải một cách đều đặn về phía độ sâu lớn hơn

Bề mặt địa hình đáy được cấu tạo chủ yếu bởi bùn sét lẫn cát - bột và bùn sét Chứng tỏ đồng bằng này được thành tạo do tác động của dòng chảy gần đáy

- Đồng bằng tích tụ - xói lở nghiêng thoải do tác động của dòng chảy gần đấy

chiếm ưu thế:

Kiểu đồng bằng này phân bố ở phần phía tây của vùng nghiên cứu Nhìn chung,

bề mặt đáy ở đây hầu như nằm ngang, phản ánh điều kiện động lực ở đây - đó là dòng chảy gần đáy - không đến nỗi yếu lắm nên đã không xẩy ra sự lắng đọng vật liệu hạt mịn khi cách xa bờ

- Đồng bằng tích tụ lấp đầy vùng trũng

Kiểu đồng bằng này phân bố ở phía nam khu vực nghiên cứu (mũi Cà Mau) trong phạm vi độ sâu trên 25 mét Cấu tạo nên bờ đồng bằng này là cát Nguồn vật liệu cung cấp cho quá trình lấp đầy chính là xói lở các vùng địa hình cao, do tác động của dòng chảy gần đáy Hiện nay, các hoạt động san lấp vẫn đang diễn

ra khá mạnh mẽ

d) Các kiểu bờ biển

Bờ biển khu vực nghiên cứu được chia thành 3 kiểu:

- Bờ xói lở trên trầm tích bở rời

Kiểu bờ xói lở phát triển trên trầm tích bở rời phát triển khá phổ biến và chiếm

tỷ lệ đáng kể dọc bờ biển ĐBSCL Do xói lở bờ, thảm rừng ngập mặn ở nhiều nơi cũng đang bị phá huỷ và dần dần biến mất Tác nhân gây xói lở chủ yếu là sóng, nhưng chỉ hoạt động mạnh vào thời gian triều cường

Có thể phân biệt hai loại xói lở bờ cấu tạo bởi trầm tích bở rời là: Xói lở trên các thành tạo bùn - sét chặt xít và xói lở trên các thành tạo cát

Tại một số khu vực phía biển Đông hoạt động xói lở xảy ra cả trên bờ cấu tạo bởi bùn sét lẫn các bờ cát Trong quá trình xói lở này, các vật liệu mịn được đưa

đi xa hơn, còn cát lại được sóng mang vào bờ vùi lấp rừng ngập mặn Và cứ

Trang 19

như thế: Cát làm chết rừng ngập mặn, bờ lại bị xói lở mạnh hơn, bờ biển tiếp tục di chuyển về phía lục địa

- Bờ tích tụ

Kiểu bờ này chỉ gặp ở một số nơi trước cửa sông Vật liệu cung cấp đều do sông mang kết hợp với các điều kiện thuỷ động lực và sự tham gia tích cực của rừng ngập mặn

- Bờ tích tụ và xói lở

Nét đặc trưng của kiểu bờ này là có sự xen kẽ các đoạn bờ bị xói lở và các đoạn đang được bồi tụ Các đoạn bờ xói lở là rừng ngập mặn đang bị phá huỷ Còn các đoạn bờ tích tụ là bãi bùn thấp với các thế hệ rừng ngập mặn khác nhau

2.2.3 Lịch sử phát triển địa hình đáy biển ven bờ Cà Mau và vùng phụ cận trong

thời kỳ gần đây

Có thể nói rằng sự hình thành và phát triển địa hình khu vực nghiên cứu đã xảy

ra trong mối quan hệ rất phức tạp giữa các môi trường lục địa và biển xen kẽ nhau nhiều lần vào giai đoạn Kainozoi, đặc biệt là trong kỷ Đệ Tứ Tuy nhiên bộ mặt địa hình đáy biển ven bờ Cà Mau và vùng phụ cận hiện nay mới chỉ được hình thành và tiến hoá trong khoảng thời gian rất ngắn gần đây Dựa vào những đặc điểm địa hình và trầm tích cấu tạo có thể chia lịch sử phát triển địa hình đáy biển ven bờ Cà Mau và vùng phụ cận thành hai giai đoạn : Pleistoxen muộn phần trên và Holoxen Để giải thích lịch sử phát triển, sử dụng mốc thời gian như sau : Ranh giới Pleitoxen giữa và muộn là 125.000 năm ; Pleistoxen và Holoxen là 10.000 năm, trong đó Holoxen dưới

và giữa là 6.000 năm còn Holoxen giữa và trên (hay hiện đại) là 2000 năm

Giai đoạn Pleistocen muộn (Q 2

III )

Đó là trầm tích sét loang lổ trong các mẫu ống phóng, có nơi lộ ra trên bề mặt đáy và các trầm tích cát sạn khác, trong đó có các kiểu kết vón laterit Điều đó có nghĩa là, sau khi các trầm tích được xác định có tuổi Pleistoxen thượng, phần trên (Q2

III) được thành tạo, thì khu vực này thoát khỏi mực nước và bị tác động của các quá trình địa mạo trên lục địa Sự kiện này có lẽ liên quan với thời kỳ băng hà cuối cùng của kỷ Đệ Tứ - gọi là băng hà Wurm làm cho mực nước lúc bấy giờ thấp hơn hiện nay khoảng 90-100 mét tạo ra một đồng bằng lục địa rất rộng lớn

Do tác động của các quá trình địa mạo trên lục địa, các trầm tích bị phong hoá, hoạt động chia cắt - bóc mòn xảy ra làm cho bề mặt này bị biến đổi khá sâu sắc Khu vực này trở thành vùng phong hoá - bóc mòn để cung cấp vật liệu trầm tích cho vùng biển cổ nằm ở đâu đó trong Biển Đông hiện nay Vào cuối Pleistoxen thượng, khoảng 18.000-17.000 năm trước mực nước biển lại bắt đầu tăng lên

Trang 20

Nếu xem nước là một môi trường rất linh động và dễ dàng san bằng mặt nước của mình khi có sự chênh lệch, thì những điều vừa trình bày ở trên có thể rất thống nhất với nhau, còn sự sai khác về độ sâu có thể do nguyên nhân nâng hạ kiến tạo

Từ những điều trình bày trên cho thấy, vào cuối Pleistoxen đầu Holoxen, khu vực nghiên cứu vẫn chưa bị nước biển tràn ngập Còn dòng sông Mekong lúc đó chảy

ra biển qua đồng bằng lục địa này, mà hiện nay dấu vết còn thể hiện rõ ràng trên địa hình đáy Trong thời gian này, mực nước biển vẫn tiếp tục dâng lên tạo điều kiện hình thành nên bộ mặt địa hình hiện nay

Giai đoạn Holoxen

Sự thay đổi mực nước trong Holoxen trên phạm vi vùng đáy biển ven bờ rất rõ ràng trên phần lục địa ven biển Đã có một số kết quả xác định tuổi trầm tích Holoxen

Đó là vỏ hàu ở Long Xuyên: 5680 năm, ở Đồng Tiến: 5800 năm, giồng Cai Lậy: 4550 năm Các thành tạo này đều nằm ở độ cao từ 3-5 mét so với mực nước hiện nay, còn trầm tích Holoxen có liên quan với biển của đồng bằng sông Cửu Long chỉ dày khoảng vài chục mét Tuy nhiên, chưa phát hiện được các trầm tích nguồn gốc biển có tuổi cổ hơn 8000 năm

Như vậy, vào đầu Holoxen, phần lớn đáy biển trong khu vực nghiên cứu vẫn còn nằm trong chế độ lục địa Khi đó, mực nước đạt đến độ sâu hiện nay khoảng 25-30m Dấu ấn này hiện nay được thể hiện khá rõ ở tính phân bậc của địa hình đáy biển

ở đây và hoàn toàn trùng với kiểu địa hình đồng bằng xói lở - tích tụ bằng phẳng phát triển trên trầm tích phong hoá loang lổ như đã đề cập ở trên Sau đó mực nước biển tiếp tục dâng lên và các thành tạo địa hình này bị ngập dưới mực nước biển

Sau khi đạt tới mức cực đại, mực nước biển lại hạ thấp dần Các thành tạo trầm tích dần dần thoát khỏi mực nước biển và lại chịu tác động của các quá trình lục địa Các giồng cát Cai Lậy, Giồng Đá ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đã được thành tạo trong điều kiện này Sau đó mực nước biển lại hạ thấp dần cho đến vị trí hiện nay Trong quá trình này, các vùng đất thấp ven bờ biển và cửa sông đã được hình thành rải rác ở nhiều nơi trong khu vực nghiên cứu

Biến động địa hình trong giai đoạn hiện nay

Những biến đổi này hoặc là do xói lở hoặc do bồi tụ gây ra và có thế dễ dàng nhận ra trên thực tế khi so sánh các bản đồ địa hình, ảnh hàng không và ảnh vệ tinh trước đây và hiện nay

Một số nơi, đặc biệt tại các đoạn bờ gần cửa sông, hoạt động xói lở bờ cũng xảy

ra khá mạnh dưới tác động của thuỷ triều kết hợp với dòng chảy sông Hoạt động này

đã tạo ra loại cửa sông hình phễu khá điển hình So sánh với hải đồ do Bộ Tư lệnh Hải quân Việt Nam xuất bản trước đây, độ sâu ở các khu vực này đều tăng lên rất rõ rệt

Trang 21

bản đồ địa hình UTM tỷ lệ 1:50.000 xuất bản năm 1965, hiện nay đã bị chia cắt xâm thực bởi dòng chảy và biến thành các rãnh sâu và các khối sót xâm thực được thể hiện khá rõ trên các băng đo sâu hồi âm

Quá trình xói lở làm sâu thêm đáy biển cũng được ghi nhận trên hầu hết đáy biển khu vực nghiên cứu nằm trong phạm vi đới sóng lan truyền

Như vậy, với bờ biển trong khu vực nghiên cứu từ Hà Tiên đến Gò Công hiện nay đang được phát triển và biến đổi dưới tác động của ba nhân tố động lực chính: Sông, sóng và thuỷ trỉều Trong quá trình này, các hoạt động xói lở - xâm thực đáy giữ vai trò chủ đạo

Từ những đặc điểm nói trên có thể rút ra một số kết luận sau:

- Sự hình thành và tiến hoá địa hình vùng biển ven bờ Cà Mau và vùng phụ cận chịu sự tác động mạnh mẽ của cả các nhân tố địa phương lẫn nhân tố khu vực Trong số các nhân tố khu vực cần lưu ý hơn cả là tác động của sông, sóng, thuỷ triều, dòng chảy gần đáy và tác động của con người

- Theo vai trò chiếm ưu thế của các nhân tố tạo địa hình, khu vực nghiên cứu có thể được chia thành 16 kiểu địa hình Trong đó 4 kiểu địa hình trong đới sóng

vỗ bờ, 5 kiểu địa hình trong đới sóng phá huỷ và biến dạng, 4 kiểu địa hình trong đới sóng lan truyền và 3 kiểu bờ Tất cả các kiểu địa hình này đều được sinh ra trong giai đoạn hiện đại

- Hiện nay, san phẳng địa hình đáy và cải biến lại lớp trầm tích trên mặt dưới tác động của dòng chảy gần đáy là quá trình địa mạo hiện đại chiếm ưu thế Theo quy mô không gian thì qúa trình san phẳng địa hình do xói lở chiếm ưu thế hơn tích tụ

- Do xu thế xói lở bờ và đáy biển khu vực nghiên cứu ngày càng gia tăng, nên cần quan tâm nghiên cứu chi tiết hơn về quy mô của hoạt động xói lở và bồi tụ

để tìm ra biện pháp quản lý hữu hiệu, để bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên địa hình ven bờ

Trang 22

Hình 2.3: Bản đồ địa mạo vùng biển Cà Mau và vùng phụ cận

TÂƯ Ù SÁÏ

TÂƯ Ù BA

NƯ Ơ ÙC CÂẢĨ

BEG N LÏỒ NG VĨNÂ TÂÏẬN TÂƯ Ù MƯ Ơ ØI MỘT

DƯ Ơ NG RẠ CÂ

ỊÓM MÏÕI

Ị RẠ CÂ TẦ Ï

RẠ CÂ GOG C

GÀNÂ ÂÀO

CHÚ GIẢI

1 Bãi biển tích tụ do tác động của sóng

2 Bãi biển tích tụ do tác động của sông biển

3 Bãi biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng triều

4 Bãi biển tích tụ - Xói lở do tác động của sóng

5 Đồng bằng tích tụ nghiêng dốc do tác động của sông biển

6 Đồng bằng tích tụ nghiêng thoải do tác đông của sóng triều

7 Đồng bằng tích tụ - Xói lở do tác động của dòng chảy-sóng

8 Đồng bằng tích tụ mài mòn lượn sóng do tác động của sóng

9 Đồng bằng tích tụ xói lở lượn sóng do t/đ của d/c gần đáy

10 Đồng bằng tích tụ xói lở nghiêng thoải do t/đ của d/c gần đáy

11 Đồng bằng tích tụ-xói lở-gợn sóng do dòng chảy gần đáy

12 Đồng bằng tích tụ lấp đầy vùng trũng

13 Trũng xâm thực do tác động của sông triều

IV - CÁC KIỂU BỜ Bờ xói lở trên trầm tích bở rời Bờ tích tụ Bờ tích tụ - Xói lở

I - ĐỊA HÌNH TRONG ĐỚI SÓNG VỖ BỜ

II - ĐỊA HÌNH TRONG ĐỚI SÓNG BIẾN DẠNG VÀ PHÁ HUỶ

III - ĐỊA HÌNH TRONG ĐỚI SÓNG LAN TRUYỀN

2 12

8

5 4

Trang 23

2.3 CÁC ĐẶC TRƯNG THỦY ĐỘNG LỰC HỌC VÙNG BIỂN CÀ MAU 2.3.1 Hoàn lưu gió mùa và dòng chảy do gió gây nên

2.3.1.1 Các đặc trưng của trường gió trên khu vực biển và đất liền vùng mũi Cà

Mau

Động lực quan trọng nhất cần xét là các dòng chảy trên biển (hải lưu) Dòng hải lưu sinh ra có thể do nhiều nguyên nhân: Do thủy triều, do gió, do độ nghiêng của mặt nước, do động lực, do mật độ khác nhau Tùy nơi, tùy lúc mỗi một dạng dòng chảy nào đó sẽ chiếm một vị trí nhất định, trong đó dòng chảy do thủy triều là mạnh nhất,

kế đến là dòng chảy do gió

Ở trong vùng nghiên cứu dòng chảy do gió và thủy triều là thành phần chính cần xét

Trong 1 năm ở đây có 2 mùa gió chính:

- Gió mùa Tây Nam từ tháng VI đến tháng IX

- Gió mùa Đông Bắc từ tháng XI đến tháng IV

Do gió chuyển động trên mặt Biển và mặt Đất có khác nhau, nên tùy theo gió đến (mùa gió) và mặt tiếp xúc (Biển và Đất liền) mà hướng gió lệch đi theo hướng ban đầu Vì vậy mà trên bờ Đông và bờ Tây trong một mùa gió hướng gió không giống nhau

Nói chung trong mùa gió Đông Bắc, gió đến bờ Đông trước sẽ chuyển hướng theo chiều kim đồng hồ khi sang bờ Tây Ngược lại trong mùa gió Tây Nam, gió đến

bờ Tây trước sẽ chuyển hướng ngược chiều kim đồng hồ khi sang bờ Đông Độ lệch lớn lên, khi gió mạnh lên và giảm dần khi gió yếu đi

Trong những tháng chuyển tiếp tốc độ gió yếu dần và trên 2 bờ gió có cùng hướng

Trên mặt Biển gió đồng nhất hơn trên Đất liền

Phân bố hướng gió trên bờ Đông, bờ Tây xem trong bảng …

Bảng 2.1 Phân bố hướng gió theo các tháng ở vùng Biển ven bờ phía Đông và phía

Tây mũi Cà Mau

Trang 24

Trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc: hướng gió khống chế ở vùng ven bờ phía Tây

là Đông Nam và Đông Trong vùng ven bờ phía Đông, hướng gió khống chế là Đông Bắc và Đông

Trong thời kỳ gió mùa Tây Nam: Ở vùng biển ven bờ phía Tây hướng gió chủ yếu là Tây Trong vùng biển ven bờ phía Đông, hướng gió khống chế là Tây Nam

Trong năm có thể xem tháng II đại diện cho mùa gió Đông và tháng VIII đại diện cho mùa gió mùa hè Nhìn chung tốc độ gió trong vùng biển ven bờ phía Tây có giá trị nhỏ hơn ven bờ phía Đông Tốc độ gió trung bình tại bờ phía Tây 3,6m/s trong thời kỳ gió Đông Bắc và 3,4m/s trong thời kỳ gió mùa Tây Nam Tại khu vực bờ Đông, trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc tốc độ gió trung bình khoảng 4,5m/s và gió mùa Tây Nam là 3,5m/s Trong các cơn giông sức gió có thể từ 15m/s – 20m/s

2.3.1.2 Dòng chảy do gió

a) Dòng chảy do gió trên biển Đông

Gió và dòng chảy trên biển Đông trong các tháng thịnh hành vào mùa khô – mùa mưa trình bày trên các hình 2.4-2.8

Vào mùa khô dòng nước lạnh và mặn chảy từ phía Bắc xuống trùng với gió mùa Đông Bắc áp sát vào bờ Đông BĐCM, với tốc độ trung bình từ 0,4 – 0,9m/s Vào thời kỳ này dòng biển có thể gây xói lở mạnh các vùng trống gió và trực diện với gió không được bảo vệ và chuyển bùn cát đó xuống phía Nam

Trong mùa mưa, gió mùa Tây Nam đẩy ngược dòng nước lạnh ra xa bờ tạo điều kiện cho lưỡi nước mang phù sa sông Cửu Long tỏa xuống phía Nam

b) Dòng hải lưu trong vịnh Thái Lan

 Dòng chảy do gió Tây Nam:

Nét bao trùm của hoàn lưu nước trong vịnh trong mùa gió Tây Nam là sự di

chuyển của nước theo chiều kim đồng hồ Trên nền hoàn lưu đó là các cuộn xoáy

tách ra từ vòng chuyển động lớn Trong số các xoáy nhỏ có:

 Xoáy ổn định – vùng đỉnh vịnh Thái Lan

 Xoáy ít ổn định – bờ Tây vịnh

 Vùng ven biển Rạch Giá – không có xoáy, ổn định và rõ ràng, song dòng chảy

đổi hướng do địa hình phức tạp

 Dọc bờ biển Cà Mau – Kiên Giang hướng dòng trong mọi trường hợp song

song với đường bờ, đa số hướng từ Mũi lên Rạch Giá phù hợp với đường

dòng của xoáy nhỏ hình thành ngay bờ biển Cà Mau nhìn ra vịnh Thái Lan

Trang 25

Hướng dòng chảy nói trên có lợi cho việc vận chuyển bùn cát từ ngoài vào phía dọc bờ biển vùng này (tuy nguồn bùn cát vào thời kỳ này không nhiều)

Trong thời kỳ gió mùa Tây Nam đỉnh Cà Mau đóng vai trò của điểm phân lưu

dòng gió (1 hướng lên Rạch Giá – 1 hướng ra biển Đông) Tốc độ gió Tây Nam không

lớn như trong mùa gió Đông Bắc, nên vùng Mũi nói chung an toàn với sóng gió

Trong suốt mùa gió Tây Nam, hầu hết trong vịnh Thái Lan đều có hiện tượng

mức nước giảm thấp, trừ vùng Rạch Giá có hiện tượng dâng nước (nước dâng cao)

Vào mùa gió Tây Nam, vận tốc dòng chảy dư ở Tây Bắc vịnh đạt giá trị cao nhất, trên mặt có thể đạt tới 30 – 35cm/s Trung bình có thể đạt tới 15 – 20cm/s Ở vùng đỉnh mũi Cà Mau và bờ Tây tốc độ dòng chảy dư cũng đạt đến 10-15cm/s

 Dòng chảy do gió mùa Đông Bắc:

Khi đi xuống phía Nam và tiến vào vịnh Thái Lan, gió mùa Đông Bắc đã bị biến tướng mạnh mẽ Khối nước ấm trong vịnh bị khối nước lạnh từ phía Bắc tràn xuống khống chế, nên diễn biến của nhiệt và dòng chảy do nhiệt do dị trọng trong mùa gió Đông Bắc cần được lưu ý Chế độ hoàn lưu của nước trong vịnh trong mùa gió Đông Bắc không hoàn toàn đối xứng với hoàn lưu trong gió Tây Nam Chỉ riêng ở

phía Tây Bắc vịnh 1 xoáy thuận sẽ thay thế cho xoáy nghịch, tồn tại trong suốt mùa

gió Tây Nam ở đó

Trên các phần còn lại của vịnh cường suất hoàn lưu trung bình khá phân tán và

độ tương phản của nó với chế độ hoàn lưu trong gió mùa Tây Nam không đáng kể

 Điều đáng chú ý nhất là gió mùa Đông Bắc tạo nên một sức ép động lực rất mạnh của dòng hải lưu lạnh trên cửa vịnh Thái Lan Điều này dẫn tới một hiệu ứng đáng kể là:

 Sự hội tụ các dòng từ biển Đông xuống và từ vịnh Rạch Giá tới khu vực Tây Nam mũi Cà Mau – một nguyên nhân quan trọng trong cơ chế tạo nên bãi bồi Tây Nam

 Kết quả của sự hội tụ là đường vận chuyển vật chất từ vịnh ra biển Đông ở 2 bờ vịnh bị đóng lại, chỉ còn một khe hẹp giữa lòng vịnh là còn có trao đổi

Trong mùa gió Đông Bắc trên khắp vịnh có hiện tượng nước dâng – chỉ có một vùng nhỏ ở vịnh Rạch Giá là ngược lại: Nước rút Mức nước dâng trung bình tháng I có thể đạt tới +16cm – trong lúc ở Rạch Giá nước rút giảm –16cm Bờ biển Cà Mau – Kiên Giang là nơi có độ nghiêng lớn nhất (về cả 2 phía âm và dương)

Trong mùa gió Đông Bắc tốc độ dòng chảy dư ở vùng Nam Bán đảo Cà Mau có thể đạt tới 35cm/s trên tầng mặt, trung bình từ 20 – 25cm/s – cao nhất trên toàn vịnh Đó là những con số cần được lưu ý trong công tác bảo vệ bờ

Trang 26

Hình 2.4 Trường mực nước và dòng chảy pha triều dâng ở bờ biển phía Tây

Hình 2.5 Trường mực nước và dòng chảy tại đỉnh triều ở bờ phía Tây

Trang 27

Hình 2.7 Trường mực nước và dòng chảy tại chân triều ở bờ biển phía Đông và

triều rút ở bờ biển phía Tây Hình 2.6 Trường mực nước và dòng chảy vào chân triều ở bờ biển phía Tây

Trang 28

2.3.2 Chế độ triều trên biển Đông và vịnh Thái Lan

2.3.2.1 Tính chất của giao động triều trên biển và trong vịnh

(1) Triều truyền vào biển Đông và từ đó vào các vịnh Thái Lan, vịnh Bắc Bộ đã được trình bày trong nhiều tài liệu, sách tham khảo Dưới đây chỉ tóm tắt một

số thông tin làm cơ sở cho việc phân tích đặc điểm thủy văn vùng biển bao quanh Mũi Cà Mau

Tính chất của sóng triều phụ thuộc vào quy mô, kích thước các biển – cửa vào

và trục chuyển động – hình dáng đường bờ

Một số đặc trưng của biển Đông và các cửa vào như sau:

Bảng 2.2: Một số đặc trưng của biển Đông và các cửa vào vịnh Thái Lan

Diện tích (km2)

Dãi (km)

Hình 2.8 Trường mực nước và dòng chảy vào pha triều dâng tại bờ biển phía Đông

Trang 29

Cửa Đài Loan thông ra T.B.Dương 150 Singapo

đến đảo Đài Loan

50-60 Một số cửa nhỏ ở phía Nam thông ra

biển Sulu, Java

<20-30

Từ những đặc trưng trên có thể thấy biển Đông nối thông với Đại Dương hầu

như qua 1 cửa: Eo biển Bashi

(2) Triều truyền vào biển Đông từ hướng Bắc xuống vùng vịnh Thái Lan có pha triều chậm nhất

- Sóng triều truyền đến cửa vào biển Đông chủ yếu là sóng bán nhật triều

(chiếm ưu thế) Sóng nhật triều có vị trí thứ yếu Song trong quá trình truyền triều trên các vùng biển Đông từ Bắc xuống Nam tính chất thứ yếu của nhật triều lúc vào cửa được chuyển thành chủ yếu Hầu hết trên vùng biển khơi biển Đông vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan đều do nhật triều chiếm chỗ Sự chuyển hóa đó được giải thích do tác động cục bộ của biển Đông (kích thước,

độ sâu và trục chuyển động)

- Nếu trên Đại Dương giao động thủy triều do lực hấp dẫn vũ trụ tạo nên và trong điều kiện rộng lớn của Đại Dương, là hình thức chuyển động tự do – thì khi vào biển Đông do kích thước nhỏ bé của các cửa, lực hấp dẫn gần như bị triệt tiêu

và triều biển Đông trở thành những giao động theo Vào đến các vịnh giao động theo đó chịu tác động cuỡng bức của các vịnh và trở thành dao động riêng

(3) Các thông số động học của dao động như sau:

- Phần biển phía Đông Nam vịnh Thái Lan, dao động lắc xảy ra theo phương của trục vịnh, xuôi theo chiều gió Tây Nam đến vịnh Rạch Giá

- Phần biển Tây Bắc theo phương ngược lại chu kỳ dao động gần 12 giờ (gần với chu kỳ M2, S2)

- Khi tốc độ gió đạt 10m/s biên độ dao động này gấp 2 lần biên độ sóng M2 tại đây (đạt đến 20 – 25cm/s) gây nên những hiện tượng bất thường tại vịnh Rạch Giá

2.3.2.2 Chế độ triều và dòng triều lưu trong khu vực nghiên cứu

Trên bờ biển Đông thủy triều mang tính bán nhật triều không đều Mỗi ngày

dòng triều thay đổi 4 lần (2 lần triều dâng, 2 lần triều rút) Dòng triều mang tính thuận nghịch – chảy dọc theo bờ

Trang 30

Những tài liệu thực đo cho thấy độ lớn thủy triều lớn nhất ở vùng cửa sông Cửu Long A = 3,7m vào thời kỳ triều cường, A = 2,7m vào thời kỳ nước kém Từ đó giảm dần về phía mũi Cà Mau Trên biển Đông, trong phạm vi vùng nghiên cứu vào thời kỳ nước lớn A = 3,2m ở cửa Gành Hào; A = 3,0m ở cửa Bồ Đề và A = 2,2m ở vùng Mũi

Độ lớn thủy triều giảm nhanh đến cửa Bảy Háp A = 1,1m; Rạch Giá < 1,0m

Trên bờ Tây, từ mũi Cà Mau đến mũi Ông Trang và Gò Công dòng triều mang

tính nhật triều không đều (triều đổi dòng 2 lần trong ngày), chạy dọc theo bờ

Pha triều chậm dần từ biển Đông vào đến đỉnh vịnh Tốc độ dòng triều khi triều dâng đạt đến 1,2 – 1,5m/s trên bờ biển Đông 0,5 – 0,8m/s trên bờ biển phía Tây Trong pha triều rút tốc độ bé hơn

Trên hình 2.9 trình bày đường quá trình mức nước biển Đông, biển Tây ở 2 đầu sông Cửa Lớn trong tháng XI – XII/1995 (cửa Bồ Đề trên biển Đông và cửa Ông Trang trên biển Tây) (Tài liệu TT Nghiên cứu ĐBSCL) Các mức nước tương ứng như sau:

Bảng 2.3: Đường quá trình mực nước cửa Bồ Đề và Ông Trang tháng XI – XII/1995

Trang 31

Qua kết quả phân tích của nhiều tác giả, cho thấy dòng chảy tổng hợp là kết quả phức tạp của các dòng chảy do gió, dòng triều lưu, dòng mật độ, trong đó dòng triều lưu và dòng chảy do gió đóng vai trò chính

Dòng triều lưu thay đổi theo chu kỳ ngày đêm Dòng chảy do gió thay đổi theo chu kỳ mùa Đó là 1 tổ hợp phức tạp, TS Nguyễn Hữu Nhân đã giải quyết bài toán cho vùng vịnh bằng mô hình MECCA

Các kết quả cho thấy:

- Dòng triều là thành phần chính trong dòng chảy tổng hợp trên vịnh (chiếm 70 – 80%), vào mùa gió Đông Bắc hướng dòng chảy tầng mặt nằm trong cung Đông Nam quay sang Nam và Tây Bắc theo chiều kim đồng hồ Vào mùa gió Tây Nam ngược lại

- Phía Tây Bắc vịnh cường suất dòng chảy trong gió Tây Nam thường lớn hơn gió Đông Bắc 20 – 25cm/s, có thể đạt tới 50 – 60cm/s trên tầng mặt, 40 – 50cm

Tổng hợp kết quả tính toán của những tác giả có thể thấy:

Trong mùa khô (gió Đông Bắc) dòng chảy dọc bờ Đông đổ xuống phía Nam

với tốc độ trung bình khoảng 40 – 90cm/s, trong trường hợp dòng triều, dòng gió,

dòng mật độ cùng hướng – tốc độ có thể đến 150cm/s Đến mũi Cà Mau quay sang Tây Bắc theo hướng bờ Tây – tạo thành vùng giao hội ở vùng Mũi là nguồn gốc chính của bồi lắng vùng bãi

Trong thời kỳ mùa gió Tây Nam, dòng chảy theo hướng ngược lại – chuyển động ngược chiều kim đồng hồ Tốc độ trung bình khoảng 40 – 50cm/s Nguồn phù sa

do dòng chảy trong thời kỳ này ít hơn

2.3.3 Chế độ sóng

2.3.3.1 Chế độ sóng trên biển

Chế độ sóng tại vùng biển ven bờ Cà Mau khá phù hợp với chế độ gió Chế độ sóng trong một năm có hai mùa rõ rệt như chế độ gió

Trang 32

Sóng trên biển Đông đóng 1 vai trò quan trọng trong quá trình động lực ven

bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích Mùa sóng hướng Đông Bắc có tần suất xuất hiện lớn vào tháng XI năm trước đến tháng I năm sau Mùa sóng hướng Tây Nam có tần suất xuất hiện cực đại vào tháng VIII và tháng IX đối với vùng phía Tây BĐCM, mùa Đông sóng có hướng tản mạn hơn và thịnh hành là hướng Nam chỉ đạt 28%, còn mùa

hè sóng thịnh hành hướng Tây chiếm khoảng 52% Độ cao sóng trong gió mùa Đông

Bắc khá lớn Theo tài liệu của Nguyễn Hữu Nhân, tính trung bình có 6% trường hợp

quan trắc được độ cao sóng từ 2m trở lên (cấp V trở lên) tập trung vào tháng I Trong

mùa gió Tây Nam, gió lớn tập trung vào tháng 5 Độ cao sóng cũng nhỏ hơn so với gió mùa Đông Bắc trong tháng I

Trên vùng biển Tây, mùa sóng Đông Bắc ngắn hơn, chỉ kéo dài từ tháng 11

đến hết tháng 1 Hướng sóng thịnh hành là hướng Đông Bắc (26 9%) Tuy nhiên độ cao sóng nhỏ, chỉ khoảng 0.5 m Phần lớn thời gian là biển lặng (72 4%) Tháng 12 là tháng tiêu biểu cho mùa sóng Đông Bắc Mùa sóng Tây Nam bắt đầu từ tháng 3 và kết thúc vào tháng 9 Có thể nói mùa sóng Tây Nam gần như thịnh hành suốt trong năm Các hướng sóng thịnh hành là sóng hướng Tây (62 7%) và Tây Nam (14.7%) Độ cao sóng trung bình khá lớn lên tới 1.2 m Tháng 7 và tháng 8 là những tháng thường có sóng lớn

Hình 2.10 Trường sóng vào mùa mưa tại đỉnh triều

Trang 33

2.3.3.2 Hoạt động của Bão

Về mùa hè, bão, áp thấp nhiệt đới với gió mạnh, thường kéo theo mưa lớn và các hiện tượng nguy hiểm khác như sóng lớn, nước dâng cao có tác động trực tiếp vùng ven biển, theo thống kê trong khoảng thời gian 30 năm của thời kỳ 1960-1990, thì không có một cơn bão và áp thấp nhiệt đới nào đổ bộ hoặc có ảnh hưởng trực tiếp đến vùng biển Cà Mau - Bạc Liêu và vùng biển kế cận xảy ra, ngoại trừ một cơn xuất hiện vào tháng IV

Về mùa đông theo thống kê trong khoảng thời gian 30 năm (1960-1990), số cơn bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp hoặc có ảnh hưởng đến vùng biển Cà Mau

- Bạc Liêu và vùng biển kế cận là 18-20 cơn, trong đó có 8 cơn trực tiếp đổ bộ vào khu vực nghiên cứu gây hậu quả lớn và chủ yếu là xảy ra vào thời kỳ cuối thu sang đầu mùa đông, đặc biệt là vào thời kỳ tháng XI của năm

Trận bão điển hình gây thiệt hại lớn nhất từ trước tới giờ là cơn bão số 5 - cơn bão Linda (năm 1997) đã đổ bộ vào bờ biển Cà Mau - Bạc Liêu, gây ra thiên tai thế kỷ

ở Nam Bộ nói chung và Cà Mau - Bạc Liêu nói riêng

LAM DONG

BINH THUAN DONG NAI TAY NINH

LONG AN

TIEN GIANG

BA RIA VUNG TAU

KIEN GIANG

AN GIANG

CAN THO

CA MAU SOC TRANG TRA VINH BEN TRE VINH LONG DONG THAP TP.HO CHI MINH

Hình 2.11 : Quỹ đạo bão Linda và dữ liệu về địa hình + không gian mô phỏng hiện

tượng nước dâng do bão

Trang 34

Hình 2.12 : Trường sóng do bão Linda vào lúc 8 giờ ngày 2 tháng 11 năm 1997

Hình 2.13 : Độ cao mực nước dân trung bình của bão Linda gây ra

Trang 35

Hình 2.14: Bản đồ thủy động lực vùng ven biển Cà Mau và vùng phụ cận

0 50 100

0 50 100

CHÚ GIẢI

Hướng và tốc độ dòng chảy mùa hè < 30 cm/s Hướng và tốc độ dòng chảy mùa hè > 30 cm/s Hướng và tốc độ dòng chảy mùa đông < 30 cm/s

Hướng và tốc độ dòng chảy mùa đông > 30 cm/s Đường đẳng sâu đáy biển

Trạm đo dòng chảy liên tục

Trạm đo thủy triều Trạm mặt rộng theo mạng lưới 2.5x2.5 km và 5x5 km

GIAO ĐỘNG TÂÏĨÛ TRIỀ Ï TẠ I TRẠ M RẠ CÂ GIÁ

TRI TÔ NCÔ TÔ

VĨNÂ ÊÂÏÙVĨNÂ TRẠCÂ

DƯ Ơ NG RẠ CÂ

ỊÓM MÏÕI

Ị RẠ CÂ TẦ Ï

RẠ CÂ GOG C

Minh Hoà VỊNH RẠCH GIÁ

Hòn Lại Sơn

HV-7

QĐ Nam Du

HV-8

Hòn Chuối Hòn BuôngHV-6

C Sông Ông Đốc

20

5 1 0

15

5

GS Trần Như Hối & cộng sự

Trang 36

2.4 ĐẶC ĐIỂM THẠCH ĐỘNG LỰC VÙNG BỜ BIỂN

Vùng biển bao quanh mũi Cà Mau gồm có các tướng thạch động lực như sau đại diện cho từng môi trường thuỷ động lực

- Trầm tích cát bùn sạn biển nông ven bờ cổ (Q IV 1-2 )

Các thành tạo này phân bổ liền kề với trầm tích sạn cát bùn ở vùng phía tây Hòn Sơn, xung quanh quần đảo Nam Du, quần đảo Bà Lụa, quần đảo An Thới Trầm tích có màu xám đến xám sẫm, hàm lượng sạn chủ yếu là sạn laterit thay đổi từ 14-18%, cát 48-59%, bùn 27-32%

- Trầm tích cát bùn biển nông ven bờ (Q IV 1-2 )

Trầm tích cát bùn biển nông phân bố ở diện tích khá rộng từ khu vực Hòn Sơn

ra tới quần đảo Nam Du - An Thới và phía ngoài khơi Đá Bạc, độ sâu 10 -20m Trầm tích thường có màu xám, xám xanh, xám xi măng Thành phần cát thường chiếm trên 60%, bùn nhỏ hơn 40%

Trầm tích cát bùn được thành tạo trong giai đoạn biển tiến Flandrian, môi trường biển nông ven bờ Hiện nay trên bề mặt các trầm tích này vẫn đang bị xáo trộn bởi các hoạt động của sóng, dòng chảy đáy

- Trầm tích bùn cát biển nông ven bờ (Q IV 1-2 )

Trầm tích bùn cát biển nông phẩn bố ở biển phía tây Hòn Đá Bạc, đông Hòn Sơn, phía nam Hòn Ninh Hoà, tây Đảo Hòn Chuối

Đó là kiểu trầm tích luôn cộng sinh với trầm tích cát bùn và thường thành tạo ở nơi có địa hình trũng

Trầm tích bùn cát được thành tạo trong môi trường biển nông vào giai đoạn biển tiến Flandrian

- Trầm tích cát sạn bãi triều hiện đại (Q IV 3 )

Thành phần trầm tích: Sạn 12,4 - 15,5%, cát 78 - 85%, độ chọn lọc từ tốt tới trung bình So: 1,4 - 1,8, độ mài tròn trung bình R0: 0,4-0,5 Các trầm tích này hiện tại vẫn đang được tiếp tục tái tạo và hình thành

- Trầm tích cát bùn biển nông ven bờ hiện đại (Q IV 3 )

Phân bố phía ngoài Vụng Rạch Giá độ sâu 5 - 10m nước, trầm tích có màu xám đến xám nâu Thành phần trầm tích cát thường > 55%, bùn thường < 45%, độ chọn lọc trung bình So: 1,6-2,0, độ mài tròn trung bình R0: 0,5-0,6

Trầm tích cát bùn được thành tạo do quá trình tương tác sông biển Hiện nay quá trình này vẫn đang được tiếp diễn

Trang 37

- Trầm tích bùn cát tiền châu thổ tương tác sông biển hiện đại (Q IV 3 )

Tướng trầm tích này phân bố ven bờ ở Vụng Rạch Giá, Vụng Cây Dương độ sâu 0-5m nước Trầm tích có màu xám nâu Thành phần: bùn >52%, cát < 48%, trong đó vụn sinh vật thường chiếm tỷ lệ nhỏ <5%

Trầm tích bùn cát ở đây được hình thành từ nguồn vật liệu được cung cấp từ hệ thống kênh rạch Rạch Giá, Kiên Lương đặc biệt là từ khi đào kênh thoát lũ miền Tây thì lượng phù sa đổ vào Vụng Rạch Giá càng nhiều và càng đẩy nhanh quá trình tích tụ trầm tích ở đây

- Trầm tích bùn sét biển nông ven bờ hiện đại (Q IV 3 )

Tướng trầm tích bùn sét biển nông ven bờ hiện đại phân bố diện tích khá rộng ở khu vực từ Sông Đốc tới vùng mũi Cà mau, độ sâu 0-20m nước Đây là khu vực

có trầm tích hạt mịn nhất trong toàn bộ vùng biển ven bờ Việt Nam

Bùn sét ở đây được thành tạo với nguồn cung cấp vật liệu chính là do các dòng bồi tích mang từ hệ thống sông Cửu Long tới

Động lực chính di chuyển và lắng đọng trầm tích bùn sét trong khu vực chủ yếu

là động lực của dòng chảy biển

Nhìn chung đặc điểm thạch động lực vùng biển ven bờ (0-20m nước) bao quanh Cà Mau thể hiện rõ hai vùng, hai chế độ thạch động lực rõ rệt:

 Vùng ven biển Đông chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ động lực biển Đông Trong đó đới 0-15-20m nước là chế độ thạch động lực hiện đại, quá trình lắng đọng trầm tích trong khu vực này là quá trình phân dị trầm tích từ hệ thống sông Cửu Long Còn trong đới > 20m nước là thuộc chế độ thạch động lực cổ (khoảng Holocen sớm-giữa) Các trầm tích thành tạo trong khu vực đó được thành tạo trong khoảng 5000 năm trở về trước với thuỷ động lực thống trị là thuỷ động lực biển, và hiện nay phần bề mặt của các trầm tích ở đây, một phần đang bị tái tạo lại do chế độ thuỷ động lực hiện đại

 Vùng ven biển Tây chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ động lực vịnh Thái Lan và động lực biển hầu như thống trị cả hai đới 0-15m nước và ngoài 15m nước Tuy nhiên trong đới ngoài 15m nước các vật liệu trầm tích được thành tạo trong chế

độ thuỷ động lực cổ (Holocen sớm - giữa) Còn đới từ 0-15m nước các vật liệu trầm tích được thành tạo trong chế độ thuỷ động lực hiện đại

2.5.1 Những vấn đề chung

Trang 38

Bờ biển theo định nghĩa là 1 dải đất rộng, trên đó diễn ra mối tương tác giữa Biển và Lục địa Nó được bao gồm 1 phần nổi (không ngập) và 1 phần ngập nước gọi

- Phần nổi của bờ biển được xét từ đường bờ không ngập nước lúc triều cao

vào phía trong

- Phần sườn bờ tính từ đường bờ đến độ sâu –20m Trong phạm vi này bờ biển được xem là khá ổn định trong nhiều năm, tuy đường bờ thay đổi liên tục

- Bờ biển được xem là đới chuyển tiếp giữa biển và lục địa, một đới động lực và tương tác Bờ biển tiếp nhận năng lượng và vật chất của biển – là một đới nhạy cảm, giàu tiềm năng và đa dạng sinh học của các hệ sinh thái

2.5.2 Đặc điểm hình thái và hình thái động lực bờ biển

Bờ biển Cà Mau dài 254km tính từ cửa sông Gành Hào phía Đông đến cửa sông Cái Tàu phía Tây

Hướng chung của đoạn đường bờ từ vùng các cửa sông Cửu Long đến mũi Cà

Mau là Đông Bắc – Tây Nam (song song với các hướng gió thịnh hành) Đoạn bờ biển

Cà Mau hướng về phía Nam, hướng an toàn nhất trên bờ biển phía Đông đối với sóng gió Hướng đường bờ đó bảo đảm cho sự tích tụ của bờ bãi và phát triển

Địa hình che chắn quan trọng nhất cho vùng này có thể là các bãi bồi rộng lớn trước cửa sông Tiền – sông Hậu Các dòng chảy từ sông ra biển cũng có tác dụng đẩy dòng hải lưu ra xa trong mùa nước lớn và cản sóng gió

Đường bờ rõ ràng, bên bờ biển phía Đông được khống chế bởi giới hạn xâm thực của sóng gió và dòng biển Đường đồng mức –20m cách xa đường bờ 17 ÷ 18km

về phía Đông Đường giới hạn thủy triều thấp nhất cách xa đường bờ 1 ÷ 2,5km

Bờ phía Tây thoải hơn Đường đồng mức –20m cách đường bờ 25 ÷ 30km, song đường giới hạn thủy triều thấp chỉ cách đường bờ dưới 800m – do biên độ triều

Cao trình của đường bờ thay đổi từ 0,6 ÷ 1,8m và phụ thuộc chủ yếu vào vật liệu trên bãi Vật liệu thô bảo đảm cho cho bãi cao, vách đứng, dạng bào mòn Ở những vùng bãi bùn đường bờ thấp, vách thoải, dạng sụt lở

Bờ biển bị chia cắt bởi nhiều cửa sông rạch: Phía biển Đông có (từ lớn đến bé) cửa Bồ Đề, Gành Hào, rạch Gốc, Trảng Tràm và rất nhiều rạch nhỏ Tràm Giông, Kiến

Trang 39

Vàng, rạch Đinh, Láng Cháo, Máng Chim, rạch Hố Gùi, rạch Giá Nhiều kênh được đào nối các sông rạch nội đồng với biển Đông; Phía biển Tây có: Cửa sông Bảy Háp, Ông Trang, Sông Đốc là các cửa sông lớn

Theo nguyên tắc hình thái – động lực vùng bờ biển được chia thành 3 đới: Đới bãi biển: Tương ứng với đới sóng vỗ bờ; Đới bar ngầm: Tương ứng với đới sóng biến dạng và phá hủy; Đới sườn bờ ngầm: Tương ứng với đới sóng lan truyền

- Đới sóng vỗ bờ được chia ra một số kiểu địa hình bãi biển, căn cứ vào trầm

tích bãi và yếu tố động lực (thông thường có độ sâu từ 4 ÷ 5m)

- Căn cứ vào các đặc trưng của đới sóng biến dạng và phá hủy (có độ sâu từ 5 ÷

15m), người ta phân thành các kiểu đồng bằng

- Căn cứ vào các đặc trưng của đới sóng lan truyền, người ta chia thành các loại đồng bằng nằm ở độ sâu từ 18 ÷ 20m trở lên

Các đồng bằng dưới mặt nước biển được hình thành trong quá khứ

Căn cứ vào tài liệu điều tra, phân tích các bãi biển và đồng bằng các chuyên gia

có kết luận: Các bãi biển vùng BĐCM thuộc loại bãi biển tích tụ – xói lở do tác động

của sóng Vật liệu cấu tạo bãi là cát mịn (có bùn sét)

Phía ngoài của bãi biển tích tụ – xói lở là đồng bằng tích tụ lượn sóng (phía Đông mũi Cà Mau)

Trên đồng bằng này có các gờ nổi cao so với đáy đến 4 ÷ 5m và các rãnh trũng sâu kéo dài song song với nhau Các rãnh trũng được lấp đầy bởi trầm tích hạt mịn, chủ yếu là bùn sét, các gờ cao cấu tạo bởi cát

Phía ngoài đồng bằng tích tụ – xói lở do sóng là đồng bằng tích tụ – xói lở do sóng và dòng chảy sát đáy

Bề mặt địa hình được cấu tạo chủ yếu từ bùn sét lẫn cát bột

Sự phân loại trên đây của các tác giả có thể dựa chủ yếu vào giai đoạn hình thành – cần được tìm hiểu sâu hơn về mặt lịch sử phát triển

Tất cả các kiểu địa hình nói trên đều được sinh ra trong giai đoạn hiện đại Hiện nay san phẳng địa hình đáy và cải biến lại lớp trầm tích trên mặt dưới tác động của dòng chảy gần đáy là quá trình địa mạo chiếm ưu thế Theo quy mô không gian thì quá trình san phẳng địa hình do xói lở chiếm ưu thế hơn là tích tụ

2.5.3 Bồi tụ và xói lở đáy biển

2.5.3.1 Đáy biển tích tụ - xói lở do tác động của sóng - triều

Khu vực từ Nam vịnh Rạch Giá tới Hòn Đá Bạc do bờ được cấu tạo chủ yếu là bùn sét vì thế dưới tác động của sóng và thuỷ triều mà hoạt động bồi tụ xói lở xảy ra đồng thời trên suốt chiều dài bờ và chúng thường đan xen với nhau

Trang 40

Tại khu vực Cửa Bảy Háp, bề mặt địa hình có cấu tạo bởi bùn sét Phần phía Bắc hiện nay nhiều đoạn đang bị xói lở nên mặt bãi là lớp bùn sét chặt xít

Ở đáy biển từ Rạch Tàu tới cửa Mỹ Thanh (Sóc Trăng) hoạt động bồi tụ xói lở

do tác động của sóng và thuỷ triều xảy ra mạnh mẽ trên một diện rộng kéo dài từ bờ (1-2m nước) đến 5m nước Đặc biệt từ Cà Mau tới Bắc Gành Hào hình thành một đới chuyển tiếp giữa hai khu vực xói lở mạnh ven bờ và tích tụ cao ở độ sâu 5-15m nước

2.5.3.2 Đáy biển xâm thực tích tụ trước cửa sông do tác động của sông và dòng

triều

Các hoạt động xâm thực tích tụ này xảy ra ở phía trước sông như Gành Hào, Bồ

Đề, Rạch Gốc… Chúng có dạng kéo dài hình phễu, hình quạt theo hướng của dòng chảy kéo dài về phía biển Tại đây đáy biển đang bị xói lở khá mạnh dưới tác động của dòng chảy sông và triều

Tại khu vực cửa Gành Hào và cửa Bồ Đề, các trũng xâm thực thấy biểu hiện rõ trên địa hình đáy Các trũng có kích thước không lớn và có dạng hình quạt hoặc hình lưỡi kéo dài về phía biển

2.5.3.3 Đáy biển tích tụ-xói lở do tác động sông biển

Kiểu địa hình này chỉ hình thành ở khu vực các sông lớn của hệ thống sông Cửu Long đến 4 ÷ 5 mét

Đáy biển tích tụ do tác động sông-biển:

Do tác động của các yếu tố động lực sông biển xảy ra quá trình tích tụ trầm tích

ở một số vùng cửa sông ven biển

Xung quanh bán đảo Cà Mau: Từ Nam Hòn Đá Bạc đến Rạch Tàu

Cũng do tác động của sông biển ở độ sâu 5 đến 18 ÷ 20m nước xảy ra hoạt động tích tụ mạnh mẽ ở phần rìa ngoài của Avandelta Mê Kông

Nguồn vật liệu trầm tích chủ yếu do sông Mê Kông chuyển tải ra biển

Tại khu vực Cửa Bảy Háp, quá trình tích tụ do tác động của sông biển diễn ra tương đối mạnh mẽ

Đáy biển tích tụ do tác động của sóng-thuỷ triều

Hoạt động tích tụ này chỉ xảy ra ở vùng biển phía Nam từ Hà Tiên đến Sóc Trăng Ở độ sâu 5÷15m Chiều rộng của dải này từ 8 đến 15 ÷ 20km Nguồn vật liệu chủ yếu vẫn là do các hệ thống sông lớn cung do quá trình chuyển tải của sóng, dòng chảy dọc bờ

Theo sơ đồ bồi tụ - xói lở tỷ lệ 1/50.000, khu vực Gành Hào và Bồ Đề quá trình này gặp ở độ sâu 5m nước trở ra Thành phần trầm tích chủ yếu là bùn sét, bùn cát

Ngày đăng: 03/05/2016, 01:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.7 Trường mực nước và dòng chảy tại chân triều ở bờ biển phía Đông và - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 2.7 Trường mực nước và dòng chảy tại chân triều ở bờ biển phía Đông và (Trang 27)
Bảng 2.2: Một số đặc trưng của biển Đông và các cửa vào vịnh Thái Lan - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Bảng 2.2 Một số đặc trưng của biển Đông và các cửa vào vịnh Thái Lan (Trang 28)
Hình 2.10 Trường sóng vào mùa mưa  tại đỉnh triều - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 2.10 Trường sóng vào mùa mưa tại đỉnh triều (Trang 32)
Hình 3.1: Sơ đồ phân đoạn đánh giá hiện trạng sạt lở ven biển Tây - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 3.1 Sơ đồ phân đoạn đánh giá hiện trạng sạt lở ven biển Tây (Trang 60)
Hình 3.2: Sơ đồ phân đoạn đánh giá hiện trạng sạt lở ven biển Đông - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 3.2 Sơ đồ phân đoạn đánh giá hiện trạng sạt lở ven biển Đông (Trang 72)
Hình 4.1.  Lõi vùng nghiên cứu và các đối tượng có liên quan - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.1. Lõi vùng nghiên cứu và các đối tượng có liên quan (Trang 119)
Hình 4.6. Diễn biến lưu lượng giờ thực đo qua mặt cắt Châu Đốc từ năm 2005 đến - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.6. Diễn biến lưu lượng giờ thực đo qua mặt cắt Châu Đốc từ năm 2005 đến (Trang 127)
Hình 4.12. So sánh kết quả tính toán và thực đo lưu lượng qua mặt cắt cửa sông Định An - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.12. So sánh kết quả tính toán và thực đo lưu lượng qua mặt cắt cửa sông Định An (Trang 134)
Hình 4.17. So sánh kết quả tính toán và thực đo độ cao sóng có nghĩa tại trạm sóng 2 - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.17. So sánh kết quả tính toán và thực đo độ cao sóng có nghĩa tại trạm sóng 2 (Trang 140)
Hình 4.19. So sánh kết quả tính toán và thực đo độ cao sóng có nghĩa tại trạm sóng 4 - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.19. So sánh kết quả tính toán và thực đo độ cao sóng có nghĩa tại trạm sóng 4 (Trang 141)
Hình 4.20. So sánh kết quả tính toán và thực đo thành phần vân tốc dòng chảy theo trục - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.20. So sánh kết quả tính toán và thực đo thành phần vân tốc dòng chảy theo trục (Trang 142)
Hình 4.31 Trường mực nước và dòng chảy mùa kiệt kịch bản 2050 vào pha - Điều tra, đánh giá tình hình sạt lở các điểm nóng và đề xuất các giải pháp bảo vệ vùng có nguy cơ sạt lở cao nhằm bảo vệ tài nguyên đất tỉnh Cà Mau
Hình 4.31 Trường mực nước và dòng chảy mùa kiệt kịch bản 2050 vào pha (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w