1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo tin lành trái phép ở khu vực biên giới

79 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 641,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, muốn làm tốt công tác vận động quần chúng tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới được tốt, trước hết phải làm tốt công tác vận động già làng, trư

Trang 1

LUẬN VĂN:

Nâng cao hiệu quả vận động già làng, trưởng bản tham

gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu

vực biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu

Trang 2

Mở đầu

1- Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, lợi dụng chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tìm mọi cách phát tán tài liệu phản động, xuyên tạc, bóp méo sự thật về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, vu cáo chính quyền đàn áp tôn giáo, kêu gọi

sự can thiệp giúp đỡ từ nước ngoài; tìm mọi cách mua chuộc lôi kéo, dụ dỗ, kích động quần chúng lạc hậu tham gia vào các hoạt động tôn giáo trái phép hòng tập trung lực lượng chống đối chính quyền nhân dân, gây mất ổn định về chính trị, kinh tế, văn hoá,

xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước, trong

đó đặc biệt là khu vực biên giới tỉnh Lai Châu Trước yêu cầu đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới, những năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu đã triển khai nhiều biện pháp công tác đấu tranh phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép và đã đạt được những kết quả nhất định góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

ở khu vực biên giới Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, nhất là công tác vận động quần chúng phát huy vai trò của các lực lượng tại chỗ - trong đó có đội ngũ các già làng, trưởng bản

Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, vai trò của già làng, trưởng bản rất quan trọng, tiếng nói của họ có sức thuyết phục rất lớn đối với các thành viên trong làng, bản, đôi khi chi phối hầu hết các mặt hoạt động trong đời sống, sinh hoạt của quần chúng nhân dân các dân tộc Do vậy, muốn làm tốt công tác vận động quần chúng tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới được tốt, trước hết phải làm tốt công tác vận động già làng, trưởng bản, phát huy cao nhất vai trò của họ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội góp phần xây dựng các làng, bản luôn ổn định, vững mạnh về chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội tạo nên một thế trận lòng dân có khả năng

Trang 3

biên giới Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: "Nâng cao hiệu quả vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu" có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, trước mắt

cũng như lâu dài

2- Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu

3- Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải làm rõ cơ sở lý luận liên quan đến công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu

- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của

Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu

4- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Nội dung, phương pháp vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội Biên phòng

- Phạm vi nghiên cứu :

Trang 4

Công tác vận động quần chúng đối với già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu từ năm 2000 đến nay

5- Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận:

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo và vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp; khảo sát điều tra; tổng kết thực tiễn; lôgic lịch sử và phương pháp chuyên gia

6- Kết cấu luận văn

Luận văn kết cấu gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo

Trang 5

Chương 1

cơ sở lý luận về công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của bộ đội biên phòng

1.1- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác quần chúng, và vấn đề dân tộc, tôn giáo

1.1.1- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác quần chúng

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò to lớn của quần chúng nhân dân đối với tiến trình phát triển của xã hội - lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn khẳng định vai trò to lớn của quần chúng nhân dân cũng như công tác vận động quần chúng nhân dân đối với cách mạng Việt Nam Những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta được thể hiện ở những nội dung sau:

- Vai trò quần chúng nhân dân: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò vô cùng to lớn của quần chúng nhân dân đối với cách mạng Việt Nam Bác khẳng định:

"Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", "Nước lấy dân làm gốc", "gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"

- Vai trò công tác vận đồng quần chúng (VĐQC): Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: "Lực lượng của nhân dân rất to lớn, việc dân vận rất quan trọng, dân vận kém thì việc gì cũng khó, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công", Người còn nói "làm việc gì cũng phải có quần chúng, không có quần chúng thì không thể làm được Việc

gì có quần chúng tham gia bàn bạc khó mấy cũng trở nên dễ dàng và làm được tốt"

Người còn chỉ ra cách thức làm dân vận "Dân vận là vận động tất cả lực lượng nhân dân, không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hiện công việc nên làm những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao"

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã huấn thị trong ngày thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang 03/3/1959: "Công an và Bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ mà quân đội và Công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành tốt được Khi tổ chức được nhân dân thì việc gì cũng làm được"

Đảng ta luôn xác định công tác tuyên truyền, vận động nhân dân là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu, là cơ sở xây dựng lực lượng cách mạng; công tác dân vận là điều

Trang 6

kiện để Đảng liên hệ với nhân dân nhằm củng cố bản chất cách mạng của Đảng và phát huy sức mạnh của nhân dân, là nguyên tắc, điều kiện sống còn của một Đảng cách mạng kiểu mới Đảng ta tập trung nỗ lực cao nhất cho đoàn kết và luôn nhất quán trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đó là quá trình đoàn kết toàn dân, hoạt động vì lợi ích của nhân dân, lợi ích dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Đảng phải dựa vào nhân dân để làm cách mạng, giành và giữ chính quyền thì chính quyền đó là của dân, do dân

và vì dân Cho nên "các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là đầy tớ của dân" Đảng ta luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, tin tưởng vào khả năng sáng tạo và sức mạnh của quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, đáp ứng một phần tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân "Phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân"

Khi bước vào giai đoạn cách mạng XHCN, Đảng ta đã sớm xác định đây là quá trình đấu tranh đầy gay go, phức tạp Vì vậy Đảng ta xác định: "Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng kết hợp với phát động một phong trào thi đua rộng lớn trong công nhân, nông dân, tri thức và tầng lớp nhân dân khác Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12-1986) nước ta bước vào quá trình đổi mới sâu sắc và toàn diện trên nhiều lĩnh vực

Sự nghiệp đổi mới ấy, chỉ có thể thành công khi nó trở thành ý chí, nguyện vọng và sự nghiệp của toàn xã hội Để thực hiện được điều đó "Công tác quần chúng phải được tiến hành bằng sức mạnh tổng hợp của cả Đảng, chính quyền và các đoàn thể theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý"

Trong thời kỳ đổi mới, để tăng cường khối đại đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tạo dựng phong trào cách mạng của quần chúng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần ổn định chính trị, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, giữ vững định hướng XHCN, bảo vệ độc lâp và chủ quyền quốc gia Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI) ngày 27-3-1990 về "Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân" đã xác định:

Một là, cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân

Hai là, động lực thúc đẩy phong trào quần chúng chính là đáp ứng lợi ích thiết

thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân

Trang 7

Ba là, các hình thức tập hợp quần chúng phải đa dạng

Bốn là, công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể

Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII của Đảng khẳng định: "Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì dân và do dân Chính những ý kiến nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua bao khó khăn thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu như hôm nay Để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên, giành những thành tựu to lớn hơn, cần thực hiện tốt hơn nữa việc mở rộng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, cả ở trong nước và ở nước ngoài, phát huy dân chủ, động viên tối đa sức mạnh của toàn thể dân tộc, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh"

Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định: "Nhân dân tích cực thực hiện đổi mới trên mọi lĩnh vực, tạo ra nhiều điển hình tiên tiến, kinh nghiệm hay và nhân tố mới, từ đó Đảng có cơ sở để tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận, đẩy mạnh công tác đổi mới Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Để công cuộc đổi mới thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia"

Công tác vận động quần chúng có tầm quan trọng hết sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện công tác vận động quần chúng là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, cơ quan đoàn thể và mọi cán bộ, đảng viên

1.1.2- Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc và Tôn giáo

1.1.2.1- Về vấn đề dân tộc

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, kề vai sát cánh với nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước Các dân tộc thiểu số nước ta cư trú xen kẽ trên các địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng

về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái Đồng bào các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây dựng đất nước Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá riêng, góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hoá Việt Nam thống nhất

Trang 8

Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

và Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách với những nội dung cơ bản là: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển Đây vừa là quan điểm vừa là động lực, vừa là mục tiêu của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta Đảng ta khẳng định:

“Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam

Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc

Phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh, quóc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề

xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế- xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng xoá đói giảm nghèo, khai thác hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của địa phương trong cả nước

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị”

Thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm nâng cao dân trí, cải thiện dân sinh, tạo điều kiện cho các dân tộc và miền núi phát triển kịp miền xuôi Phát triển kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc, nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào, các giá trị, bản sắc văn hoá dân tộc được bảo tồn và phát triển

Trang 9

Đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng với yêu cầu của địa phương Giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi, kết hợp phát triển kinh tế- xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở các địa bàn sung yếu, vùng sâu, vùng xa, biên giới ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh, phát huy sức mạnh tại chỗ để đạp tan mọi âm mưu phá hoại của địch, kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá lại sự nghiệp xây dựng CNXH của nước ta

1.1.2.2- Về vấn đề tôn giáo

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, vấn đề tôn giáo đã được Đảng và Nhà nước

ta xác định rõ trong Nghị quyết 24/ NQ- TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị là:

“Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; “Các giáo hội và tổ chức giáo hội nào có đường hướng hành đạo gắn

bó với dân tộc, tôn chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với pháp luật Nhà nước, có tổ chức phù hợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nước xem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động”

Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo phải nhằm tăng cường khối đại đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng ta khẳng định:

“Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác VĐQC nhân dân, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị”

Làm tốt công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước đó là thực hiện tốt công tác vận động đồng bào có đạo, các tín đồ, chức sắc và các tổ chức tôn giáo hưởng ứng tham gia phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước Đây là trách nhiệm của các ngành, các đoàn thể quần chúng, tổ chức xã hội của Đảng và Nhà nước ta Nhằm phát triển kinh tế- xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở vùng đồng bào tôn giáo, đồng thời

Trang 10

"Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào

Nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân không ai được xâm phạm quyền tự do ấy

Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật

Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau"

Đối với đạo Tin lành được Đảng và Nhà nước xác định: là một tôn giáo; tôn

trọng tự do tín ngưỡng của tín đồ Tin lành, trên cơ sở đó đáp ứng những nhu cầu bình thường chính đáng của tín đồ Không phân biệt đối xử tín đồ đạo Tin lành với các tín đồ tôn giáo khác trong nghĩa vụ quyền lợi của công dân, không dùng các biện pháp hành chính để ép buộc quần chúng bỏ đạo Tin lành Đồng thời Đảng và Nhà nước ta cũng khẳng định:

Từng hệ phái Tin lành chỉ được xem xét cho phép hoạt động khi có hiến chương, điều lệ, đường hướng hoạt động phù hợp với chính sách và pháp luật, nhân vật chủ chốt theo đường hướng tiến bộ, không mang yếu tố chính trị phản động, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các hệ phái được sinh hoạt tín ngưỡng cá nhân tại

cơ sở thờ tự hợp pháp và tại gia đình theo sự hướng dẫn và quản lý của Nhà nước tại cơ

sở

Tổ chức quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện đầy đủ các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách đối với đạo Tin

Trang 11

lành Đồng thời tổ chức thực hiện tốt các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân và tạo điều kiện để đồng bào theo đạo Tin lành gắn bó với cộng đồng, tham gia ngày càng tốt hơn các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tăng cường công tác vận động và tạo điều kiện thuận lợi để các chức sắc, tín đồ Tin lành thực hiện tốt chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được sinh hoạt tôn giáo của đạo Tin lành đi vào nề nếp bình thường phù hợp với pháp luật; động viên mọi chức sắc tín đồ sống "tốt đời, đẹp đạo", "phụng sự thiên chúa, phục vụ tổ quốc và dân tộc" Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, tự do theo hoặc không đạo và không theo đạo của mọi công dân; nghiêm cấm việc ép buộc đồng bào theo đạo hoặc bỏ đạo; kiên quyết đấu tranh với âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo, đội lốt đạo Tin lành để kích động lôi kéo đồng bào ta gây chia rẽ dân tộc, chống phá đất nước

Hướng dẫn, giúp đỡ tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) thực hiện các hoạt động tôn giáo đúng theo hiến chương, điều lệ của giáo hội và tuân thủ quy định của pháp luật

Đối với đồng bào ở miền núi phía Bắc mới theo đạo Tin lành và có nhu cầu tín ngưỡng để có chủ trương phù hợp theo hướng:

Đối với bộ phận đồng bào đã có thời gian theo đạo Tin lành và có nhu cầu tín ngưỡng thực sự, trước mắt hướng dẫn cho đồng bào sinh hoạt tôn giáo tại gia đình, hoặc nơi nào có nhu cầu thì hướng dẫn cho đồng bào đăng ký sinh hoạt đạo ở địa điểm thích hợp tại bản, làng Khi hội đủ các điều kiện thì tạo thuận lợi cho đồng bào sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật

Đối với bộ phận đồng bào đã theo đạo, nay có nhu cầu trở lại với tín ngưỡng truyền thống của dân tộc mình, cần tạo điều kiện giúp đỡ để đồng bào thực hiện ý nguyện đó

Thông báo công khai cho đồng bào biết rõ những người đội lốt chức sắc Tin lành

để hoạt động chống phá đất nước, gây chia rẽ dân tộc và những hành vi vi phạm pháp luật của họ, cũng như biện pháp xử lý và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta Xử lý nghiêm những người hoạt động truyền đạo trái pháp luật

Trang 12

Từ những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về giải quyết vấn đề dân tộc và tôn giáo để giải quyết tận gốc vấn đề truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới tỉnh Lai Châu Chúng ta phải thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Đồng thời phải phát huy sức mạnh tổng hợp của tổ chức đoàn thể chính quyền địa phương trong việc đấu tranh với các hoạt động trái với điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21/2004/PL-UBTVQH11, Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg của Chính phủ và Điều 124 của Bộ luật hình sự nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.2- Chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng

Chức năng của Bộ đội Biên phòng được Đảng và Nhà nước ta xác định rõ trong Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 8-8-1995 của Bộ Chính trị là:

Bộ đội Biên phòng là một lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng và Nhà nước,

là thành phần của Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền và an ninh biên giới quốc gia theo nhiệm vụ và quyền hạn được giao Đồng thời là lực lượng thành viên của khu vực phòng thủ tỉnh, huyện biên giới

Nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của Bộ đội Biên phòng được quy định trong Nghị quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị đó là:

Liên hệ chặt chẽ với quần chúng, dựa vào quần chúng để thực hiện nhiệm vụ, đồng thời tuyên truyền, vận động nhân dân vùng biên giới tăng cường đoàn kết dân tộc, thực hiện các chủ trương và chương trình kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước tích

Trang 13

cực xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên vùng biên giới

Theo Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng thì nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng được xác định:

Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, tham gia xây dựng cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân vững mạnh trong thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ở khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng và Nhà nước, là thành phần của quân đội nhân dân làm nòng cốt chuyên trách quản lý, bảo vệ chính quyền an ninh biên giới quốc gia Chính vì vậy mà Bộ đội Biên phòng tiến hành các hoạt động để giữ vững an ninh trật tự ở khu vực biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia Trong đó công tác đấu tranh chống truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới là một nhiệm vụ không thể thiếu được trong giai đoạn cách mạng hiện nay Để đấu tranh có hiệu quả với hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép thì chúng ta phải thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó Đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, trong đó công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép là hết sức cần thiết và không thể thiếu được

1.3- Nhận thức chung về công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội Biên phòng

"1 Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo

Trang 14

2 Trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài quy định tại khoản 1 điều này phải có sự chấp thuận của ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp huyện) nơi thực hiện"

Người truyền đạo phải là người tốt, được một tổ chức hợp pháp đào tạo đúng quy định của Nhà nước, được Nhà nước cho phép Chức sắc tôn giáo Tin lành đi truyền đạo theo đúng quy định của Nhà nước và trong phạm vi cho phép Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) và Hội thánh Tin lành miền Bắc đã được Nhà nước ta công nhận và được phép truyền đạo Nội dung, phương pháp truyền đạo phải theo đúng tôn giáo của mình, theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

- Truyền đạo Tin lành trái phép:

Trái phép là trái với pháp luật hoặc là với điều mà cấp có thẩm quyền cho phép Truyền đạo Tin lành trái phép còn gọi là truyền đạo Tin lành trái pháp luật, truyền ĐTLTP là các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và cách thức truyền đạo trái với các quy định của Hiến pháp và pháp luật

Trong đó tổ chức đi truyền đạo chưa được Nhà nước công nhậ tư cách pháp nhân

để hoạt động truyền đạo

Người đi truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo, chưa được uỷ ban nhân dân các cấp huyện cho phép hoặc là người không được tổ chức truyền đạo hợp pháp phái đi truyền đạo Những người chỉ hoạt động tôn giáo thuần tuý tiến hành truyền đạo nhằm mục đích thu lời cá nhân, có động cơ chính trị xấu và tự phong chức sắc trong tôn giáo là những người truyền đạo trái phép

Nội dung, cách thưc truyền đạo không đúng quy định lừa bịp quần chúng nhân dân theo đạo

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị định, pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo và hoạt động tôn giáo trong đó bao gồm cả hành đạo, quản đạo và truyền đạo Đảng và Nhà nước ta không cấm truyền đạo nhưng truyền đạo phải đúng với quy định của Hiến pháp và pháp luật, không được truyền đạo trái phép Đảng ta chỉ rõ:

Trang 15

“Nghiêm cấm việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia”

Tại điều 8 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo quy định:

"1 Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân

2 Không được lợi dụng quyền tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; khích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác"

1.3.1.2- Già làng, trưởng bản

- Theo từ điển tiếng Việt:

Già làng là người cao tuổi ở trong đồng bào dân tộc ít người

Trưởng bản là người đứng đầu một bản

Theo từ điển tiếng Việt nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2002:

Già làng là người cao tuổi được dân làng cử ra để điều khiển công việc chung ở vùng dân tộc thiểu số

Trưởng thôn (bản) là người đứng đầu phụ trách một thôn, bản về mặt hành chính Trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản là người có uy tín, tiếng nói và quyền lực cao nhất, thực tế trong nhiều trường hợp có người vừa là già làng vừa được bầu làm trưởng bản

Trong giai đoạn hiện nay tuỳ thuộc vào từng địa phương, từng dân tộc mà đưa ra các khái niệm về già làng, trưởng bản khác nhau Từ thực tiễn của đề tài tôi xin đưa ra

khái niệm về già làng, trưởng bản trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là: Già làng,

trưởng bản là người có liên hệ trực tiếp với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm bầu lên, có tri thức về một hay nhiều lĩnh vực, tiếng nói và hành động của họ có khả năng tác động, chi phối, điều khiển một bộ phận quần chúng nghe theo trong phạm vi làng, bản nhất định

Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng:

Trang 16

Già làng, trưởng bản là người có liên hệ trực tiếp với quần chúng trong làng, bản,

có uy tín và phải được quần chúng tín nhiệm bầu lên để đại diện cho họ điều hành các hoạt động chung của làng, bản

Già làng, trưởng bản phải có tri thức về một hay nhiều lĩnh vực nào đó trong đời sống xã hội Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số ngoài những phong tục tập quán, luật tục thì già làng, trưởng bản phải có những kiến thức về giao tiếp ứng

xử đối với các thành viên trong dân tộc, trong làng, bản của mình Bên cạnh đó, họ còn phải có kiến thức về pháp luật, những kinh nghiệm trong lao động sản xuất và làm kinh

tế

Già làng, trưởng bản có đủ khả năng chi phối, điều khiển một bộ phận quần chúng nhân dân nghe theo trong phạm vi làng, bản nhất định Bằng uy tín, tri thức và kinh nghiệm của mình trong cuộc sống, già làng, trưởng bản đứng lên lãnh đạo, điều hành mọi công việc trong làng, bản của mình theo đúng phong tục tập quán và pháp luật của Nhà nước

Già làng, trưởng bản là người có uy tín rất lớn trong đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG nói riêng Chính vì vậy, khi tiến hành công tác VĐQC BĐBP phải nhìn nhận đúng, tranh thủ họ, vận động họ tham gia vào các hoạt động giữ vững chủ quyền an ninh biên giới quốc gia

1.3.2- Vai trò, nội dung, phương pháp, yêu cầu vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội biên phòng

1.3.2.1- Vai trò

Trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản thường

có quan hệ đến các tổ chức dòng họ Họ có uy tín và chi phối ảnh hưởng rất lớn đối với quần chúng trong làng, bản Họ được suy tôn có uy tín đối với quần chúng và đứng ra duy trì các hoạt động truyền thống của đồng bảo dân tộc thiểu số Đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, ở KVBG người dân ít có quan hệ giao lưu văn hoá với xã hội bên ngoài thì già làng, trưởng bản lại càng được quần chúng kính nể nghe theo và vai trò của họ càng lớn:

Già làng, trưởng bản là những người đứng đầu làng, bản trong đó già làng là những người cao tuổi trong làng, bản Họ là những người có khả năng và được quần chúng tin tưởng nghe theo Trưởng bản là thành viên của bộ máy chính quyền cấp xã

Trang 17

thực hiện nhiệm vụ của chính quyền trong phạm vi theo cum dân cư, địa lý tự nhiên và truyền thống của mỗi dân tộc, được quần chúng nhân dân bầu lên để điều hành mọi hoạt động trong bản và được uỷ ban nhân dân xã công nhận (nhiệm kỳ 2,5 năm)

Già làng, trưởng bản là người nắm và hiểu rõ những quy ước, luật tục, phong tục lịch sử của làng, bản và pháp luật của Nhà nước

Trong đời sống cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số thì việc giải quyết mọi vấn đề xảy ra trong làng, bản phải có sự kết hợp hài hoà giữa luật tục và pháp luật Vì vậy, đội ngũ già làng, trưởng bản phải là người nắm vững và hiểu sâu sắc về luật tục và pháp luật thì mới có thể giải quyết tốt các mối quan hệ diễn ra trong đời sống của đồng bào; trong đó:

Già làng là người có hiểu biết về phong tục, tập quán và lễ nghi của làng, bản Trưởng bản là người có trình độ kiến thức về khoa học, kỹ thuật và pháp luật, họ rất năng động, nhiệt tình trong công việc

Chính vì vậy đây là mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giúp cho già làng, trưởng bản thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong giải quyết các vụ việc xảy ra trong làng, bản và duy trì những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc Việt Nam Đây là một khâu, mắt xích quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết giữa các gia đình, dòng họ, làng, bản và các dân tộc với nhau trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam

Già làng, trưởng bản là cầu nối giữa quần chúng nhân dân các dân tộc với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương và với BĐBP

Họ là những người ở gần dân, lắng nghe ý kiến của dân, phản ánh mọi tâm tư, nguyên vọng của quần chúng nhân dân lên trên đề giải quyết kịp thời Chính vì vậy mà

họ là cầu nối quan trọng giữa cấp uỷ, chính quyền địa phương với BĐBP

Già làng, trưởng bản là người có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số Họ vừa là người lãnh đạo của quần chúng nhân dân trong

làng, bản, vừa là quần chúng “đặc biệt” có uy tín và sự kính trọng của mọi người trong

làng, bản, lại vừa cầu nối hết sức quan trọng giữa quần chúng nhân dân với cấp uỷ, chính quyền địa phương và với BĐBP Từ vai trò hết sức quan trọng của già làng, trưởng bản trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG, để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới BĐBP phải biết

Trang 18

nhìn nhận, đánh giá, bồi dưỡng, xây dựng và tranh thủ những người có uy tín trong đồng bào dân tộc nhất là đội ngũ già làng, trưởng bản để giữ vững an ninh trật tự ở KVBG, xây dựng biên giới vững mạnh toàn diện, đặc biệt là trong phòng, chống truyền ĐTLTP nhằm giữ vững ANCT- TTATXH ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no cho đồng bào các dân tộc, góp phần xây dựng thành công CNXH

1.3.2.2- Nội dung

Công tác VĐQC là một nhiệm vụ chính trị cơ bản, quan trọng không thể thiếu được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của BĐBP Công tác VĐQC có ý nghĩa chiến lược cả trước mắt cũng như lâu dài của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới nói chung và trong đấu tranh phòng, chống truyền ĐTLTP nói riêng Đó chính

là việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, của các lực lượng, các đoàn thể quần chúng và của quần chúng nhân dân trong phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG của BĐBP nhất là việc phát huy vai trò của già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP là hết sức cần thiết và quan trọng cần tập trung vào một số nội dung cơ bản là:

- Tuyên truyền, giáo dục cho già làng, trưởng bản hiểu và nắm chắc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những chủ trương lớn của địa phương về chính sách dân tộc, tôn giáo Đây là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng, là cơ sở để tiến hành những nội dung khác Bởi vì chúng ta tuyên truyền, giáo dục cho già làng, trưởng bản nắm và hiểu được đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước từ đó thông qua họ để tuyên truyền cho quần chúng nhân dân Mà chỉ có và hiểu được thì quần chúng nhân dân mới tự giác chấp hành, không bị kẻ địch lợi dụng mua chuộc, lôi kéo vào các hoạt động trái pháp luật, kích động phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân Từ đó quần chúng nhân dân đứng lên tự đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP ở KVBG

- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng cho già làng, trưởng bản Giúp cho già làng, trưởng bản thấy được âm mưu của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng vào vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại cách mạng Việt Nam Nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng đang tiến hành hoạt động truyền ĐTLTP để phá hoại phong tục tập quán của các

Trang 19

dân tộc, gây mâu thuẫn giữa các gia đình, dòng họ, làng, bản làm mất an ninh trật tự ở KVBG, nhằm phá hoại sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước tiến tới xoá bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam Từ đó giúp già làng, trưởng bản đề cao cảnh giác trước những luận điệu sai trái, phản động của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch để tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân trong làng, bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP góp phần giữ vững ANCT- TTATXH trong làng, bản và giữ vững bản sắc văn hoá của các dân tộc

- Bồi dưỡng cho già làng, trưởng bản nội dung, phương pháp củng cố, xây dựng

hệ thống chính trị cơ sở, tổ chức, đoàn thể quần chúng trong làng, bản biên giới vững mạnh toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP Vì có nâng cao được chất lượng hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các tổ chức, đoàn thể quần chúng thì mới đủ khả năng lãnh đạo, tổ chức quần chúng Tạo được lòng tin của quần chúng vào đội ngũ cán bộ ở cơ sở, nhất là đội ngũ già làng, trưởng bản dân sẽ tin và nghe theo những gì họ nói, làm theo những gì

họ làm, không nghe theo những gì mà bọn phản động tuyên truyền, lừa bịp, xuyên tạc Các đoàn thể quần chúng phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động

để có đủ khả năng tập hợp và duy trì quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động của mình, không để kẻ địch dụ dỗ tham gia vào các tổ chức của đạo Tin lành, có như vậy mới ngăn chặn và đẩy lùi được các hoạt động truyền ĐTLTP ở KVBG

- Bồi dưỡng cho đội ngũ già làng, trưởng bản kỹ năng tuyên truyền, vận động nhân dân định canh, định cư, phát triển kinh tế- xã hội từng bước nâng cao đời sống vật chất tinh thần của quần chúng nhân dân Do đời sống của nhân dân qua nghèo khổ, trình

độ thấp, ít có điều kiện tiếp xúc, giao tiếp với bên ngoài; đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến quần chúng nhân dân bị kẻ địch lợi dụng mua chuộc, lôi kéo vào hoạt động của ĐTLTP Chính vì vậy mà đội ngũ già làng, trưởng bản phải tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân các dân tộc định canh, định cư phát triển kinh tế gia đình co điều kiện tiếp xúc với các phương tiện nghe nhìn, nâng cao được trình độ nhận thức, thấy được âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối tượng; xây dựng làng, bản vững mạnh toàn diện

- Vận động nhân dân giữ vững, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mình Mỗi dân tộc đều có một bản sắc văn hoá riêng tạo nên một nền văn hoá da dạng phong phú

Trang 20

của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Từ khi đạo Tin lành xâm nhập vào làm thay đổi căn bản nền văn hoá của các dân tộc thiểu số ở KVBG như phá bỏ bàn thờ, chỉ thờ Thiên chúa; chúng ta phải làm sao tuyên truyền, vận động nhân dân thấy được việc thờ phụng tổ tiên là một truyền thống lâu đời của dân tộc ta, từ đó mới giữ vững, phát huy được bản chất truyền thống lâu đời của dân tộc Kiên quyết đấu tranh loại bỏ tín ngưỡng, tôn giáo trái với thuần phong, mỹ tục với tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống, bài trừ mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu trong đời sống văn hoá của đồng bào các dân tộc

Khi tiến hành các nội dung của công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG chúng ta phải căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, phong tục tập quán, đặc điểm tâm lý, thái độ của đội ngũ già làng, trưởng bản

mà vận dụng cho phù hợp, kết hợp khéo léo giữa tình cảm và công việc, phải kết hợp giữa vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG đạt hiệu quả cao nhất

3.2.1.3- Phương pháp

Phương pháp vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG của BĐBP là hệ thống cách thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, tổ chức hướng dẫn già làng, trưởng bản ở KVBG tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP Nhằm giữ vững ANCT- TTATXH trong làng, bản góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia

Phương pháp vận động già làng, trưởng bản của BĐBP trong phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG được tiến hành bằng hai phương pháp đó là: Phương pháp vận động trực tiếp và phương pháp vận động gián tiếp được tiến hành theo các bước cụ thể: Điều tra nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục, cách thức tổ chức quần chúng, huấn luyện quần chúng và hướng dẫn quần chúng tham gia đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP

Phương pháp vận động trực tiếp: Là phương pháp mà cán bộ BĐBP trực tiếp

tiến hành tuyên truyền, vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG

Đây là phương pháp cơ bản được tiến hành thường xuyên liên tục, nó xuất phát

từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của BĐBP phải thường xuyên tiến hành công tác VĐQC nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia Vì vậy, khi

Trang 21

- Tiếp xúc trực tiếp tuyên truyền giáo dục cho già làng, trưởng bản nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và hoạt động đối với đạo Tin lành trong giai đoạn hiện nay Tuyên truyền cho họ thấy được âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối tượng đang lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng

- Bồi dưỡng cho già làng, trưởng bản về cách thức tổ chức cho quần chúng trong làng, bản đứng lên đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP như: cách tuyên truyền, vận động đến tập hợp quần chúng và tổ chức lực lượng

- Huấn luyện cho già làng, trưởng bản về cách thức tổ chức quần chúng đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP:

Một là, trang bị cho họ kiến thức cơ bản về công tác đấu tranh với hoạt động

truyền ĐTLTP

Hai là, mời họ đi tham quan các điển hình trong địa bàn

- Hướng dẫn già làng, trưởng bản tổ chức quần chúng đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP phải tiến hành từ từ, tuần tự từ trong gia đình, dòng họ đến làng, bản để chặn đứng và đẩy lùi hoạt động truyền ĐTLTP

Khi tiến hành phương pháp này đòi hỏi người cán bộ phải có sự chuẩn bị thật tốt, không nóng vội chủ quan đốt cháy giai đoạn thì mới đạt kết quả cao

Phương pháp vận động gián tiếp: Là phương pháp mà cán bộ, chiến sỹ BĐBP thông

qua người có uy tín đối với già làng, trưởng bản để tuyên truyền, vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG

Qua điều tra nghiên cứu chúng ta thấy rằng đồng chí cán bộ cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương của các cơ quan, ban ngành, BĐBP trong tỉnh, huyện rất có uy tín đối với già làng, trưởng bản trong địa bàn thì chúng ta sẽ đặt vấn đề với đồng chí đó đề nghị đồng chí giúp đỡ để vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP

Trang 22

Trong quá trình tiến hành công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP chúng ta phải vừa thực hiện phương pháp vận động trực tiếp và phương pháp vận động gián tiếp sẽ đạt được kết quả cao hơn

1.3.2.4- Yêu cầu

Khi tiến hành công tác VĐQC nói chung và công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP nói riêng người cán bộ làm công tác VĐQC phải nắm vững một số yêu cầu sau:

- Nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là chính sách dân tộc, tôn giáo Đây là yêu cầu mang tính bắt buộc vì khi chúng ta tiến hành các hoạt động công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào theo đạo, chúng ta phải nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay Từ đó chúng ta mới có thể đề ra chủ trương, biện pháp, đối sách cho phù hợp và tất cả các nội dung công tác của chúng ta mới đúng với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là cơ sở pháp lý của chúng ta

để tiến hành hoạt động, mặt khác nó là tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân được Đảng và Nhà nước cụ thể hoá thành các chủ trương, chính sách Có nắm chắc chúng ta mới thực hiện đúng và làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương chính xác trong xử lý, giải quyết các vụ việc xảy ra trong địa bàn, tạo được lòng tin với quần chúng nhân dân

- Nắm vững phong tục tập quán của từng dân tộc ở KVBG, phải có niềm tin và lòng thương yêu, tôn trọng đồng bào, nhất là đội ngũ già làng, trưởng bản Mỗi dân tộc

ở KVBG đều có một phong tục tập quán riêng, chính vì vậy chúng ta phải nắm vững được những phong tục tập quán đó để tiến hành tuyên truyền, vận động nhân dân cho phù hợp Đồng thời bỏ đi những hủ tục lạc hậu, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Bằng trình độ của bản thân chúng ta phải tạo được lòng tin với quần chúng và phải có niềm tin, lòng yêu thương quần chúng nhân dân các dân tộc, phải đồng cam cộng khổ cùng với già làng, trưởng bản kiên trì tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân xây dựng làng, bản vững mạnh toàn diện

- Phải có nội dung, phương pháp vận động phù hợp với phong tục tập quán, với đặc điểm tâm lý, đặc thù của đội ngũ già làng, trưởng bản Đây là yêu cầu đòi hỏi phải

Trang 23

có sự phối hợp khéo léo trong nội dung công việc tiến hành vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP với phong tục tập quán của từng dân tộc để nâng cao được hiệu quả công tác

- Khi tiến hành công tác vận động già làng, trưởng bản phải sâu sát, cụ thể, kết hợp giữa lời nói đi đôi với hành động trực quan Đây là yêu cầu đòi hỏi người cán bộ làm công tác VĐQC trong qua trình tiến hành thực hiện nhiệm vụ phải có sự chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cụ thể từng khâu, từng bước; kết hợp giữa nói và làm

Hiệu quả của công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG của BĐBP chưa thể hiện kết quả ngay mà nó sẽ diễn ra từ từ và cũng tồn tại rất lâu Chính vì vậy mà người làm công tác VĐQC phải kiên trì, khéo léo vận dụng linh hoạt các nội dung, hình thức cho phù hợp, đồng thời phải tuân thủ nguyên tắn trong công tác vận động già làng, trưởng bản là tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, quan tâm bồi dưỡng trình độ năng lực và phải động viên khen thưởng kịp thời khi họ có thành tích Tránh tình trạng tranh thủ theo kiểu “Vắt chanh bỏ vỏ” mà phải xây dựng để

sử dụng lâu dài và là hạt nhân quan trọng của thế trận long dân trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới

1.3.1.3- Nâng cao hiệu quả vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới

- Nâng cao hiệu quả: là làm cho kết quả đạt được cao hơn trước, đưa kết quả lên

mức cao hơn

Nâng cao hiệu quả công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin lành trái phép của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới là việc vận dụng các nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, vận động một cách linh hoạt, sáng tạo và đạt hiệu quả cao nhất tranh thủ được già làng, trưởng bản, tham gia tuyên truyền vận động nhân dân trong thôn bản tự giác đấu tranh với hoạt động truyền đạo Tin lành trái phép ở khu vực biên giới

Nâng cao hiệu quả công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG của BĐBP trên các nội dung cụ thể sau đây:

Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, cấp uỷ, chính quyền địa phương, các đoàn thể quần chúng và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác VĐQC, quần chúng nhân dân trên địa bàn Mọi người thấy được tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP trên

Trang 24

địa bàn là của mọi cấp, mọi ngành, không chỉ là của riêng BĐBP Vai trò của già làng, trưởng bản được phát huy trong việc tuyên truyền, tổ chức, hướng dẫn quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP, giữ vững tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, bảo vệ vững chắc phong tục, tập quán và truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc mình

Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các đoàn thể quần chúng được phát huy cao độ, có khả năng tập hợp, lãnh đạo, tổ chức quần chúng Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên, nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào trình độ và phẩm chất của người cán bộ, đảng viên ở cơ sở, luôn tin tưởng và nghe theo lời nói và hành động của già làng, trưởng bản, quyết tâm xây dựng làng, bản vững mạnh toàn diện

Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất

là chính sách dân tộc, tôn giáo được thực hiện một cách đầy đủ ở cơ sở Phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong hoạt động giám sát, mở rộng dân chủ ở cơ sở, mọi tâm

tư nguyện vọng và ý kiến của nhân dân được ghi nhận, báo cáo lên cấp trên một cách kịp thời, chính xác; hương ước làng bản được xây dựng và duy trì tốt

Hoạt động truyền ĐTLTP được ngăn chặn không lan rộng ra các địa bàn khác Mọi sinh hoạt tôn giáo của quần chúng nhân dân chỉ trong phạm vi gia đình Qua tuyên truyền, vận động của già làng, trưởng bản các hộ gia đình không theo đạo Tin lành mà quay trở về với tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc mình

Hiệu quả của công tác vận động già làng, trưởng bản trong phòng, chống truyền ĐTLTP, đó chính là việc tuyên truyền, giải thích cho quần chúng nhân dân nắm và hiểu được âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối tượng đối với cách mạng Việt Nam

Kết luận chương 1

Từ cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và tôn giáo Nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chống lại sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm phá hoại khối đoàn kết toàn dân, phá hoại

sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

Trang 25

Vì vậy mà mỗi cán bộ chiến sĩ BĐBP cần phải quán triệt, thực hiện đúng đắn mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhất là về vấn đề dân tộc và tôn giáo Vận dụng linh hoạt nội dung, hình thức phương pháp của công tác VĐQC vào nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới nói chung và đấu tranh với hoạt động truyền ĐTLTP ở KVBG nói riêng Bên cạnh đó chúng ta phải phát huy được vai trò của các lực lượng tại chỗ Trong đó công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG là hết sức cần thiết góp phần giữ vững ANCT- TTATXH, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc

Trang 26

Chương 2

Thực trạng Bộ đội Biên phòng tỉnh lai châu vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền đạo Tin Lành trái phép ở khu vực biên giới

2.1- Một số đặc điểm tình hình liên quan

2.1.1- Tình hình địa hình, khí hậu, thời tiết

Lai Châu là một tỉnh miền núi thuộc KVBG Tây Bắc, tiếp giáp với Trung Quốc,

có đường biên giới dài 273 km đi qua 3 huyện: Phong Thổ, Sìn Hồ, Mường Tè Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam- Trung Quốc, phía Đông giáp với tỉnh Lào Cai, phía Đông Nam giáp với tỉnh Điện Biên Tỉnh có diện tích tự nhiên là 9.065, 123 km2 Trên đường biên giới của tỉnh Lai Châu được cắm 5 cột mốc theo Công ước Pháp- Thanh, hiện còn tồn tại 2 cột mốc (Mốc số 1 và số 2) Số cột mốc sẽ được cắm theo Hiệp ước biên giới đất liền ngày 30/12/1999 là 109 mốc, hiện tại đã cắm được 53 mốc (Trong đó Việt Nam cắm được 23 mốc, Trung Quốc cắm được 30 mốc)

Địa hình KVBG tỉnh Lai Châu chủ yếu là núi cao, rừng rậm, hiểm trở, nhiều sông suối, thác ghềnh, đường sá nhỏ hẹp, nhiều nơi chưa có đường dân sinh, vận chuyển chủ yếu theo các đường mòn do người gùi, ngựa thồ Đây là trở ngại lớn nhất trong việc phát triển kinh tế- xã hội cũng như các hoạt động của BĐBP

Khí hậu KVBG tỉnh Lai Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa rất khắc nghiệt và được chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; mùa mưa thường có mưa lớn kéo dài gây ra lũ quét, sạt lở đường làm tắc nghẽn giao thông gây khó khăn rất lớn cho phát triển kinh tế-

xã hội, đặt biệt là công tác tuần tra biên giới, triển khai công tác xuống địa bàn và công tác thông tin liên lạc của BĐBP Mùa khô, nhiệt độ xuống thấp, rét đậm kéo dài, sương

mù, sương muối, độ ẩm cao, thiếu nguồn nước sinh ra nhiều dịch bệnh gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của nhân dân và cán bộ, chiến sĩ BĐBP, tác động rất lớn đến quá trình hoạt động và công tác BVBG

2.1.2- Tình hình nhân dân và các tổ chức chính trị ở khu vực biên giới tỉnh Lai Châu

Trang 27

Tình hình nhân dân, KVBG của tỉnh Lai Châu do đặc điểm tự nhiên và vị trí địa lý

đã tạo cho địa bàn biên giới có vị trí chiến lược quan trọng trên nhiều phương diện kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Tỉnh có diện tích tự nhiên là 9.065, 123 km2, dân số (tính đến năm 2004) là 313.511 người (mật độ: 35 người/ km2) Toàn tỉnh có 5 huyện và 1 thị

xã, 90 xã, phường, thị trấn, có 74 xã đặc biệt khó khăn, có 1003 bản, gồm 20 dân tộc anh em sinh sống Trong đó, KVBG có 3 huyện: Phong Thổ, Sìn Hồ và Mường Tè với 21 xã, 217 bản, có 9.764 hộ = 57.391 khẩu, gồm 10 dân tộc anh em sinh sống (Kinh, Mông, Dao, Thái,

Hà Nhì, Mảng ư, La Hủ, Giấy, Khơ Mú, Hoa) Trong đó: Dân tộc kinh có 178 hộ = 527 khẩu, dân tộc Dao có 2.973 hộ = 18.493 khẩu (chiếm 30,44 %), dân tộc Mông có 2.531 hộ = 15.613 khẩu (chiếm 25,92 %), dân tộc Hà Nhì 1.831 hộ = 10.680 khẩu (chiếm 18,35 %), còn lại là các dân tộc khác [phụ lục số] có những đặc điểm cụ thể là:

Về kinh tế, Lai Châu là một tỉnh nghèo (90 % ngân sách hàng năm do Trung ương

cấp), so với cả nước thì Lai Châu là một tỉnh chậm phát triển và còn gặp rất nhiều khó khăn Thành phần, cơ cấu kinh tế chưa phát triển các dân tộc ở KVBG chủ yếu canh tác nương rẫy với nền kinh tế tự cung tự cấp, lương thực chính là lúa, ngô, khoai, sắn Nhiều nơi đồng bào vẫn còn dựa vào phương thức canh tác lạc hậu do bị phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên thường bị mất mùa và thiếu ăn

Trong những năm qua, tỉnh Lai Châu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều chương trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 22/ NQ- BCT và Quyết định số 72/ QĐ- HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), chương trình 133, 135, 327, 661, chương trình 06, chương trình phát triển y tế, giáo dục, giao thông, chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng Nghị quyết 02/ NQ- TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lai Châu (cũ) về phát triển kinh tế- xã hội vùng cao, hỗ trợ cho 74 xã đặc biệt khó khăn Đến nay tỉnh đã tự trang trải được nhu cầu lương thực tại chỗ, đã từng bước xoá đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân các dân tộc

Mặc dù đời sống kinh tế của nhân dân tỉnh Lai Châu đã có sự chuyển biến ở một

số nơi tập trung dân cư, gần đường ô tô, có điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá nhưng nhìn chung đại đa số đồng bào ở KVBG tỉnh Lai Châu đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nhất là các xã, bản vùng cao biên giới Hiện nay, 100 % số xã giáp biên giới thuộc diện đặc biệt khó khăn, phần đa số xã có đường ô tô đến trung tâm xã nhưng chỉ đi được vào mùa khô Số hộ đói nghèo khoảng 3.826 hộ (chiếm tỉ lệ 30 % dân số

Trang 28

trong KVBG), số hộ có nhà tạm khoảng 8.432 hộ Có thể nói KVBG tỉnh Lai Châu là vùng dân cư có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất và tỉ lệ đói nghèo cao nhất so với các vùng khác của tỉnh Lai Châu và của cả nước [phụ lục số 07]

Địa bàn KVBG của tỉnh Lai Châu đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết Do canh tác lạc hậu, nạn đốt nương, chặt phá rừng đầu nguồn bừa bãi gây ra lũ lụt, đất bạc màu dẫn đến tình trạng di, dịch cư tự do và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào Từ đó, kẻ địch đã lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc gây tâm lý hoang mang, lo sợ và phục vụ cho âm mưu truyền đạo trái phép, kích động dân di cư đi nơi khác

Về văn hoá- xã hội, các dân tộc ở KVBG tỉnh Lai Châu sinh sống trong môi trường

rừng núi và canh tác nương rẫy là chính Do đó, đồng bào có những tín ngưỡng, lễ nghi liên quan đến việc làm nương rẫy, cúng ma Chính cơ sở kinh tế nương rẫy đã quy định toàn bộ đời sống văn hoá- xã hội của các tộc người mà trong văn hoá dân gian, luật tục đã phản ánh một cách sinh động

Vấn đề xã hội nổi lên của người Mông là: Bản thân người Mông vốn có tổ quốc riêng nhưng trong quá trình phát triển họ bị đàn áp phải di cư đi nhiều nước Chính vì thế, tâm tư nguyện vọng lớn của đồng bào Mông là muốn có tổ quốc riêng; điều đó đã dẫn tới hiện tượng xưng vua, đón vua và đi tìm tổ quốc mới

Về gia đình, dòng họ, làng bản: Gia đình có nhiều chức năng quan trọng trong mọi lĩnh vực đời sống, có tác động đến sự phát triển văn hoá, xã hội của các tộc người thiểu số ở Lai Châu Dòng họ là mắt xích quan trọng tạo dựng nên mối quan hệ xã hội

cổ truyền của cộng đồng và chi phối mọi mặt trong văn hoá mưu sinh, văn hoá ứng xử

và văn hoá tâm linh của mỗi dân tộc thiểu số Các thành viên trong dòng họ đều chịu sự chi phối chung của một tổ chức đó là ý thức dòng họ; ý thức dòng họ nhiều khi vượt lên trên các quy định hành chính, pháp luật, lớn hơn cả ý thức quốc gia, dân tộc; vượt ra khỏi biên giới quốc gia ý thức dòng họ còn biểu hiện khá sâu sắc ở việc bảo vệ tính mạng cho chính người thân trong dòng họ, bảo vệ sự sinh tồn và phát triển của dòng họ Các dòng

họ đều có người đứng đầu là trưởng tộc, trưởng dòng họ; họ là những người có tiếng nói quyết định, nhất là khi cần phải giải quyết những vấn đề khó khăn, phức tạp trong dòng họ

Ngoài ra, trong các tộc người thiểu số ở KVBG tỉnh Lai Châu còn tồn tại một tổ chức xã hội rất cơ bản, mang tính tổng hợp về dân cư, xã hội và văn hoá đó là làng, bản

Trang 29

Đứng đầu các bản là trưởng bản, người có chức năng duy trì, điều hành mọi công việc, hoạt động của bản, đại diện trong quan hệ với các tổ chức xã hội khác Như vậy, trong xã hội các dân tộc Tây Bắc, già làng, trưởng bản, trưởng tộc có uy tín, vai trò và tiếng nói của họ

có tác động mạnh tới quần chúng nhân dân Vì vậy, trong khi thực hiện công tác VĐQC, BĐBP phải nắm được vấn đề quan trọng này Đây là một nhân tố rất quan trọng, góp phần quyết định thành bại trong công tác vận động nhân dân tham gia phòng, chống di, dịch cư

tự do

Về giáo dục, vấn đề giáo dục trong tỉnh Lai Châu nói chung và KVBG nói riêng là

một vấn đề bức xúc, mặc dù trung tâm các xã đều có trường học phổ thông nhưng do làng, bản phân tán, đi lại khó khăn nên tỉ lệ trẻ em thất học còn rất cao Qua khảo sát cho thấy, số trẻ em thất học khoảng 1.916 em, số người mù chữ khoảng 6.170 người Cơ sở vật chất của các lớp học còn thiếu thốn, nhiều nơi xuống cấp nghiêm trọng Đội ngũ giáo viên thiếu về

số lượng và yếu về chuyên môn, nhất là đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số Một số bản còn tình trạng trống trường, trống lớp Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân, trước hết

là do đời sống còn nhiều khó khăn, nhận thức của đồng bào chưa đúng về vấn đề học tập, cho rằng học tập chưa phải là việc bức xúc mà thiết thực nhất vẫn là lao động “không đi học thì vẫn sống nhưng không lao động, không có cái ăn thì sẽ chết” Mặt khác, do phong tục tập quán của đồng bào thường dựng vợ gả chồng sớm, có con sớm cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học khi đang còn lứa tuổi học sinh [phụ lục số 06]

Về y tế, hầu hết các xã trong ở KVBG tỉnh Lai Châu đã có bệnh xá xã (19/21 xã)

Tuy nhiên, chất lượng hoạt động vẫn còn nhiều hạn chế do số lượng biên chế cán bộ y tế còn thiếu nhiều Cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị, phương tiện khám chữa bệnh thiếu, lạc hậu do đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc khám chữa bệnh tại chỗ cho đồng bào

Vì vậy, khi bệnh tật phát triển không được cứu chữa kịp thời đã gây nên tử vong cho người bệnh, do bất lực trước thực tại của cuộc sống nhiều người nương tựa vào sự cầu xin ở thần linh, đấng siêu nhiên Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng để đồng bào tìm đến với tôn giáo khi kẻ địch đã và đang tìm mọi cách để lợi dụng và tuyên truyền [phụ lục số 06]

Về tổ chức chính trị

Qua khảo sát thực tế trong 21 xã biên giới có 9 đảng bộ, 62 chi bộ xã với 813 đảng viên (chiếm gần 8,3 % dân số) Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể thường xuyên được củng cố, từng bước phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức thực hiện có

Trang 30

hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, duy trì tốt các phong trào chính trị-

xã hội ở địa phương Qua phân loại chất lượng hoạt động có 2 xã đạt vững mạnh, 10 xã khá, 8 xã trung bình và 1 xã yếu Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ sở đảng, chính quyền yếu kém, năng lực quản lý điều hành hạn chế, các đoàn thể quần chúng hoạt động không đều, hiệu quả thấp Còn không ít cán bộ chủ chốt chưa đọc thông viết thạo, đặc biệt là đội ngũ trưởng thôn, trưởng bản, trình độ lý luận chính trị rất hạn chế, ít được bồi dưỡng, tập huấn, không được thường xuyên cung cấp thông tin về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Cho nên, khi triển khai xuống đến cơ sở thường bị rơi vãi thậm chí hiểu sai, vận dụng không đúng hoặc chấp hành qua máy móc

vì thế đã làm giảm hiệu lực, vai trò của bộ máy ở cơ sở Khi việc quản lý hành chính bị buông lỏng, vai trò lãnh đạo của Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng bị suy giảm thì quan hệ cộng đồng, thôn bản truyền thống và quan hệ gia đình, dòng họ được tái hồi chi phối cộng đồng là điều dễ hiểu Điều đặc biệt ở đây là ở những vùng đồng bào mới chuyển đến kẻ địch đã lợi dụng những sơ hở, yếu kém của chính quyền cơ sở để lôi kéo, kích động già làng, trưởng bản, những người có uy tín thậm chí cả đảng viên có lập trường không vững vàng, nhận thức kém để phục vụ cho mục đích chính trị đen tối của chúng

Các xã trong KVBG tỉnh Lai Châu đều có lực lượng công an, dân quân xã, bản Các tổ chức này hàng năm được huấn luyện theo chương trình, kế hoạch của trên Lực lượng công an, dân quân xã, bản có tinh thần trách nhiệm và ý thức cảnh giác, thường xuyên phối hợp với BĐBP trong tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc và trong xử lý, giải quyết những vụ việc xảy

ra ở địa bàn Tuy nhiên, thực tế đời sống của cán bộ còn không ít khó khăn, chế độ đãi ngộ chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt nên nhiều lúc, nhiều nơi hoạt động của công an, dân quân

xã, bản không đều Mặt khác, do quan hệ họ hàng, quan hệ dòng tộc, thân tộc chi phối nên trong xử lý những trường hợp cụ thể thường thiếu tính kiên quyết Đây cũng là một trong những khó khăn chi phối đến sự phối hợp giữa BĐBP với công an, dân quân xã, bản trong xử

lý, giải quyết vấn đề di, dịch cư tự do [phụ lục số ]

Về đội ngũ già làng, trưởng bản: trong hoạt động của cấp uỷ, chính quyền địa

phương thì già làng, trưởng bản là bộ máy tự quản ở cơ sở có vai trò hết sức quan trọng Già làng bằng uy tín và sự hiểu biết của mình để lãnh đạo quần chúng, còn trưởng bản là người tham gia bộ máy hành chính chính quyền trong thời kỳ đổi mới ở cơ sở, đây là sự kết hợp hài

Trang 31

Đội ngũ già làng, trưởng bản có sự ảnh hướng rất lớn đến mọi mặt đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở KVBG tỉnh Lai Châu Chính vì vậy, mà việc tiến hành công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia bảo vệ chủ quyền ANBG là hết sức quan trọng và cần thiết Chúng ta phải quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt như tập huấn, đi tham quan, tặng quà nhân các ngày lễ, tết và được kiện toàn về tổ chức, cụ thể như: trưởng bản được cấp uỷ, chính quyền địa phương lựa chọn, tham khảo ý kiến của quần chúng nhân dân trong làng, bản Một bản bao giờ cũng được cơ cấu một trưởng bản, một phó bản để hỗ trợ nhau trong qua trình thực hiện công việc Họ đã phát huy tốt vai trò của mình trong giải quyết các vụ việc xảy ra trong làng, bản như: tranh chấp đất đai, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, bài trừ các hủ tục lạc hậu và các tệ nạn

xã hội Phát động phong trào quần chúng nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế-

xã hội nâng cao đời sống nhân dân, phong trào quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền ANBG, đấu tranh chống xâm canh, xâm cư, lấn chiếm biên giới; tham gia cùng với BĐBP trong quá trình phân giới cắm mốc

Trong giai đoạn hiện nay, kẻ địch và các loại đối tượng đang triệt để lợi dụng vai trò của già làng, trưởng bản để tiến hành hoạt động truyền ĐTLTP ở KVBG tỉnh Lai Châu Vì vậy mà công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP là hết sức quan trọng, góp phần giữ vững ANCT trong làng, bản, làm thất bại mọi âm mưu của địch và các loại đối tượng Trong những năm qua, nhờ làm tốt công tác vận động già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG của BĐBP tỉnh Lai Châu mà chúng ta đã chặn đứng và làm giảm tốc độ phát triển ĐTLTP ở KVBG trong 21 xã, 217 bản chỉ có 11 xã, 43 bản theo ĐTLTP

Già làng, trưởng bản đã vận động con em, nhân dân trong bản đứng lên tố cáo những tên cầm đầu và cam kết không theo đạo Tin lành, lập lại bàn thờ tổ tiên, điển hình

Trang 32

như ở xã Tông Qua Lìn (huyện Phong Thổ) Bên cạnh đó do trình độ nhận thức còn hạn chế nên một số già làng, trưởng bản còn bị kẻ địch lợi dụng, lôi kéo theo đạo Tin lành Theo số liệu thống kê năm 2005 thì có 17 trưởng bản theo ĐTLTP và một trưởng bản bị xúi dục tham gia di cư sang Trung Quốc

Từ thực trạng trên đặt ra chúng ta một vấn đề cần quan tâm đó là làm thế nào để tranh thủ một cách tối đa vai trò của già làng, trưởng bản tham gia phòng, chống truyền ĐTLTP ở KVBG Làm cho đạo Tin lành không thể xâm nhập vào các địa bàn khác và ở những địa bàn đã có đạo thì phải vận động nhân dân nhận thức đúng những quy định của pháp luật Nâng cao via trò của già làng, trưởng bản trong đồng bào dân tộc thiểu số chính là việc không để kẻ địch lợi dụng họ chống lại chính quyền nhân dân ở cơ sở

2.1.3- Tình hình tuyên truyền, phát triển đạo Tin lành trái phép của các thế lực phản động

Đạo Tin lành xâm nhập vào Việt Nam từ năm 1911 do hội truyền giáo CMA thuộc hội thánh Tin lành Bắc Mỹ (The Christan and Missionory Alhiance of America) Những năm 1930, sau khi phát triển được một số tín đồ ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định CMA và Hội thành Tin lành Việt Nam triển khai hoạt động truyền giáo lên vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Song, cũng như Công giáo, đạo Tin lành rất khó xâm nhập vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở cả khu Tây Bắc và Việt Bắc Đến năm 1954, chỉ có vài nhóm tín đồng chí nhỏ lẻ như nhóm người Thái ở Sơn La, người Mông ở Lào Cai, người Mường ở Hoà Bình Giai đoạn 1954 đến 1975 hầu hết các nhóm này không hoạt động tự tan giã riêng nhóm Tin lành trong người Dao ở Bắc Sơn (Lạng Sơn) có khoảng vài trăm tín đồ trở thành Chi hội chính thức của Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Bắc)

Từ giữa những năm 1980, dưới tên gọi đạo Vàng Chứ (trong dân tộc Mông), đạo Thìn Hùng (trong dân tộc Dao), đạo Tin lành phát triển trở lại vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc với tốc độ ngày càng nhanh, nhất là từ năm 1990 trở lại đây, do tác động của hoàn cảnh, do chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước ta nhất là chính sách tôn giáo nên đạo Tin lành có tốc độ phát triển nhanh nhất trong các tôn giáo

ở Việt Nam Đạo Tin lành là một tôn giáo có đường hướng, phương thức hoạt động năng động, luôn đổi mới về nội dung, phương pháp, hình thức cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể Trong giai đoạn hiện nay, đối tượng của đạo Tin lành không chỉ những

Trang 33

nười sống ở thành phố, thị trấn mà còn là quần chúng nhân dân các dân tộc thiểu số, đây

là đối tượng quan trọng, là vùng “đất mới” nơi chưa có một tôn giáo chính thống hoặc tín ngưỡng, tôn giáo cũ không còn phù hợp với đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc thiểu số Truyền đạo vào vùng này, đạo Tin lành đã phát huy được lợi thế vốn có như đơn giản về luật lệ, nhẹ nhàng về nghi thức, cách thức truyền đạo dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ về đặc điểm lịch sử, tâm lý, lối sống, phong tục tập quán cảu từng dân tộc, chủ động địa phương hoá, dân tộc hoá nên đã dễ hoà nhập hoặc gắn với những vấn đề dân tộc như: Tin lành Đề Ga, người Mông tự trị để lừa phỉnh quần chúng nhân dân theo đạo Chính vì vậy mà đạo Tin lành phát triển rất nhanh ở một số tỉnh như: Đắc Lắc, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu có số lượng tín đồ đông và lan rộng ra nhhiều dân tộc khác nhau

Đạo Tin lành xâm nhập vào tỉnh Lai Châu từ những năm 1987 Ban đầu bọn phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền quần chúng nhân dân bỏ thờ cúng tổ tiên theo Vàng Chứ (1987 đến 1991), từ theo Vàng Chứ chuyển sang Công giáo (1991 đến 1992) không có kết quả, không lôi kéo được quần chúng tin theo Các đối tượng phản động thông qua đài FEBC để tuyên truyền đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành Đến đầu năm 1993 ở một số xã của huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu đã theo đạo Tin lành các đối tượng cầm đầu làm đơn tập thể đưa lên các cấp có thẩm quyền của huyện, xã để xin theo đạo Tin lành Việt Nam Đến đầu năm 1994 thì ở Lai Châu những người Mông theo đạo Tin lành đã hình thành các tổ chức được gọi là Ban chấp sự gồm các chức danh như: Bí thư đạo, chủ tịch đạo, công an đạo, thư ký đạo, thủ quỹ đạo, thanh niên đạo, phụ nữ đạo Ban đầu chí có dân tộc Mông sau đó lan dần sang dân tộc Dao, La Hủ, Thái, Kinh Tính đến ngày 30/03/2004 số người bị lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lai Châu là: 2.367 hộ = 14.924 khẩu ở 111 bản, 30 xã, 5 huyện theo đạo Tin lành

Đạo Tin lành xâm nhập vào KVBG tỉnh Lai Châu từ năm 1993 chủ yếu là do các đối tượng cầm đầu về nhà thờ số 2, ngõ Trạm, Hà Nội học, sau đó về địa phương để truyền đạo Ngoài ra Hội thánh Tin lành miền Bắc còn cử các mục sư, giảng sư trực tiếp lên Lai Châu để giảng đạo liên tục từ năm 1993 đến năm 1996 Giảng sư Bùi Hoành Thử, Âu Tăng Vĩnh là những người khá tích cực, đã từng bị bắt ở Lai Châu đã thừa nhận nhiều lần chuyển tài liệu, ấn phẩm lên Tây Bắc cho đồng bào Mông Từ năm 1996 hoạt động truyền đạo Tin lành ngày càng diễn ra phức tạp, công khai; địa bàn đã lan

Trang 34

rộng số người theo đạo ngày càng tăng, hình thức tổ chức cầu nguyện ngày càng tinh vi,

có tổ chức Năm 2004 số hộ theo đạo Tin lành ở KVBG tỉnh Lai Châu là 902 hộ = 5.497 khẩu ở 43 bản, 11 xã biên giới, 3 huyện

Hiện nay ở KVBG tỉnh Lai Châu hoạt động truyền ĐTLTP xảy ra ở 3 huyện, 11

xã, 43 bản với 928 hộ = 5.627 khẩu, có 57 đối tượng cầm đầu với 16 điểm cầu nguyện; thành phần dân tộc theo đạo Tin lành bao gồm: Mông, Dao, La Hủ Tình hình trên xảy

ra tập trung chủ yếu ở các đồn biên phòng như: 277, 291, 293, 299, 305 [ phụ lục số ]

Đối tượng cầm đầu kích động quần chúng nhân dân trong đồng bào các dân tộc theo đạo Tin lành không hợp tác với BĐBP Thậm chí khhi các đội công tác của chúng

ta đến để tuyên truyền giải thích về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vận động nhân dân bỏ đạo hoặc không làm lễ tập trung thì chúng kích động quần chúng nhân dân chủ yếu là phụ nữ và trẻ em vây lấy đội công tác không cho chúng ta thực hiện nhiệm vụ

Hoạt động truyền ĐTLTP có sự tác động từ bên ngoài bằng các hình thức như: tham quan, du lịch, nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ để thâm nhập vào địa bàn KVBG và tiến hành hoạt động truyền ĐTLTP Thông qua người Mông ở nước ngoài, các tổ chức tôn giáo ở nước ngoài như: Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Phi- lip- pin để gửi tiền hàng, tài liệu cho các đối tượng trong nước cụ thể năm 2004 tại địa bàn 281 và 299

Trang 35

bộ, đảng viên để kích động, lôi kéo quần chúng Với nội dung tuyên truyền đơn giản, nhẹ nhàng không bị ràng buộc bởi các lễ nghi tôn giáo nên đã lôi kéo được quần chúng Bên cạnh đó chúng đã tập trung đi sâu vào lợi dụng những cán bộ ở cấp cơ sở để truyền đạo như trưởng bản nên hoạt động truyền đạo Tin lành đã phát triển rất nhanh

- Tiến hành hoạt động truyền ĐTLTP là nằm trong âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam của đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch nhằm tạo ra những vấn đề bất

ổn, mất đoàn kết từ bên trong, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, tạo ra những điểm nóng để nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của ta, dẫn đến xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam

Mỹ tăng cường tuyên truyền vu cáo Việt Nam "vi phạm nhân quyền", "vi phạm

tự do tôn giáo", Quốc hội Mỹ luật "tự do tôn giáo quốc tế", Luật HR2431, HR 3194, xếp Việt Nam vào các quốc gia "chưa có tự do tôn giáo", đòi Việt Nam thả "tù nhân tôn giáo" Tạo điều kiện giúp đỡ cho bọn phản động trong các tôn giáo ở nước ngoài tập hợp lại móc nối với bọn phản động trong nước để chống phá ta Thông qua các tổ chức tôn giáo của Mỹ, để móc nối với các tổ chức tôn giáo trong nước nhất là thông qua các

tổ chức phi Chính phủ NGO để giúp đỡ vật chất, chỉ đạo đường hướng hoạt động cho các tổ chức tôn giáo trong nước Kích động bọn phản động trong nước lôi kéo quần chúng đòi nhà nước ta công nhận các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp trong đạo Tin lành Bằng việc mở rộng phạm vi ảnh hưởng, lôi kéo, dụ dỗ, lừa bịp đồng bào dân tộc thiểu

số theo đạo Tin lành nhất là ở địa bàn biên giới những nơi cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

Đối với đồng bào dân tộc Mông, âm mưu cơ bản, thường xuyên của Mỹ và các thế lực thù địch là tiếp tục chia rẽ, lôi kéo, kích động tư tưởng hẹp hòi, kỳ thị, tự ty dân tộc tạo ra nhiều diễn biến phức tpạ mới về ANCT - TTATXH trên địa bàn trọng yếu

Trang 36

này Thông qua các hoạt động hỗ trợ, hậu thuẫn, chỉ đạo các hoạt động hướng tới mục tiêu hình thành khu vực tự trị của người Mông, kết hợp đòi độc lập, đòi tự trị tại khu vực Tây Bắc Đồng thời sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau để phá hoại, can thiệp vào Việt Nam, làm Việt Nam suy yếu tiến tới mất ổn định về chính trị - xã hội, đưa Việt Nam theo quỹ đạo của CNTB dưới sự khống chê s của Mỹ và phương Tây

ĐTLTP ở KVBG của tỉnh Lai Châu đây là một bộ phận của chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ mà chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch đã và đang tiến hành nhằm chống phá chế độ XHCN ở Việt Nam

- Phương thức thủ đoạn truyền đạo Tin lành của các thế lực thù địch

Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, các thế lực thù địch đưa người Mông từ bỏ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đến theo "Vàng Chứ", từ "Vàng Chứ" sang Giê Su với theo đạo Tin lành

Đài phát thanh FEBC (phát từ Manila - Phi-lip-pin) phát bằng tiếng Mông hướng dẫn người Mông theo "Vàng Chứ" đến với đạo Tin lành với kế hoạch lâu dài và kỹ lưỡng, kiên trì, có sức cuốn hút cao với công xuất mạnh đã tác động vào người Mông bằng nhiều thủ đoạn: lợi dụng việc xưng vua, đón ma trong xã hội truyền thống của người Mông để đưa đạo xâm nhập vào vùng này bằng hiện tượng Vàng Chứ, lợi dụng vào sự nhận thức thấp kém của đồng bào để lừa bịp, lôi kéo, kích động quần chúng Các thế lực thù địch đã nghiên cứu kỹ những phong tục tập quán, tín ngưỡng truyền thống của người Mông còn nặng nề, lạc hậu, đời sống còn nhiều khó khăn để tấn công vào mặt

tư tưởng để lôi kéo quần chúng theo ĐTLTP Nhất là những tập tục của người Mông về

ma chay, cưới xin, du canh du cư Kẻ địch còn triệt để lợi dụng thiếu sót của đội ngũ cán bộ cơ sở trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước để kích động chia rẽ quần chúng nhân dân với chính quyền sở tại và đi theo đạo Tin lành

Hội Thánh Tin lành miền Bắc là nhân tố trực tiếp hướng dẫn người Mông ở Lai Châu theo đạo Tin lành Các đối tượng cầm đầu tích cực truyền đạo đã được đài FEBC

và một số nhà thờ ở Yên Bái, Nghĩa Lộ hướng dẫn đến với nhà thờ số 2, ngõ Trạm, Hà Nội để học đạo Tin lành Hội thánh Tin lành miền Bắc tổ chức đón tiếp các đối tượng cầm đầu ân cần, chu đáo, tổ chức huấn luyện đạo, giảng kinh sách, hướng dẫn cho các đối tượng quay về địa bàn để truyền đạo Mặt khác họ còn cử các mục sư, giảng sư trực tiếp đến địa bàn để giảng đạo, cung cấp tài liệu, giúp đỡ những người nước ngoài đến

Trang 37

Lai Châu truyền đạo, hướng dẫn các tổ chức quốc tế gửi kinh sách, tài liệu cho người Mông ở Lai Châu và thúc đẩy sự phát triển có tổ chức của đạo Tin lành ở KVBG tỉnh Lai Châu

Thông qua các tổ chức phi Chính phủ vào Việt Nam (NGO), có tới 80% là các tổ chức Tin lành hoặc có liên quan đến Tin lành vào KVBG với các dự án xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế miền núi để tham gia vào hoạt động truyền đạo Tin lành Ngoài ra còn có các tổ chức, cá nhân khác người nước ngoài cũng đến KVBG với nhiều

lý do khác nhau để tiến hành truyền đạo Tin lành, cung cấp tài liệu, kinh sách, băng đài, quà cáp để lôi kéo quần chúng theo Đạo

Kẻ địch còn lợi dụng địa bàn các nước gần ta để đưa đón những kẻ cầm đầu sang

đó học tập, huấn luyện, cấp phát tài liệu, hỗ trợ vật chất để quay lại địa bàn truyền đạo Tin lành

- Hậu quả của hoạt động ĐTLTP ở KVBG tỉnh Lai Châu trong thời gian qua đã gây ra các tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội ở vùng đồng bào dân tộc cụ thể là:

Về kinh tế: gây ra ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, đến đời sống vật chất, tinh

thần của một bộ phận quần chúng nhân dân: Ban đầu thì hoang mang, lo sợ hoặc ảo tưởng về vấn đề không làm cũng có ăn nên bỏ sản xuất, nghỉ ngày thứ năm, chủ nhật để

tụ tập cầu nguyện; lúa chín không đi gặt, đem cả thóc giống ra để ăn Mặt khác lại phải đóng tiền, thóc, hoặc một sản phẩm nào đó trị giá bằng 10% thu nhập hàng tháng để làm quỹ, một số bệnh tật không được chữa chạy kịp thời chỉ cầu nguyện mà không đến bệnh viện Một số bộ phận không nhỏ nghe theo kẻ xấu bán nhà, tài sản, trâu bò, thóc gạo, bỏ ruộng nương di cư vào Tây Nguyên và đi nơi khác Cụ thể trong năm 2005, có 52 hộ bằng 37 khẩu đồng bào dân tộc Mông ở địa bàn xã Nậm Ban - huyện Sìn Hồ di cư đi Trung Quốc sau khi nghe tin "sắp xảy ra chiến tranh biên giới, Nhà nước Việt Nam không cho người Mông theo đạo Tin lành ở Việt Nam" Vì vậy mà đồng bào Mông ở hai bản Nậm Vạc và Chung Trải bỏ cả nhà cửa, ruộng vườn di cư đi Trung Quốc Di dịch cư dẫn đến gây mất ổn định tình hình ANCT, TTATXH, gây ra dư luận hoang mang trong địa bàn, đời sống gặp nhiều khó khăn, nghèo đói, bệnh tật, thất học là bạn đồng hành Nhất là khi quay trở lại dẫn đến khiếu kiện, tranh chấp đất đai trên địa bàn

Về văn hóa - xã hội: hoạt động truyền ĐTLTP ở KVBG tỉnh Lai Châu đã gây ra

những ảnh hưởng nghiêm trọng đến khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, đảo lộn trật tự

Trang 38

xã hội, văn hóa truyền thống, làm thay đổi phong tục tập quán, đánh mất giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Trong gia đình, dòng họ, làng bản hiện nay đã có sự phân biệt giữa nhóm theo đạo Tin lành với nhóm không theo đạo Tin lành phá hoại mối quan hệ bền chặt lâu đời Nhiều trường hợp cha, mẹ, con, cái, vợ chồng, anh em, họ hàng thân thích không nhìn mặt nhau, gia đình ly tán những người có đạo tự cho mình là có "con đường mới" còn những người không theo đạo là "kẻ ăn sống, nuốt tươi", "người đuôi dài" Nhiều người Mông bị kẻ xấu kích động, đang biến đổi tư tưởng, tình cảm, niềm tin của Đảng, vào cán bộ cấp ủy, chính quyền địa phương, thậm chí còn "quay lại" chống lại chính quyền

Về trật tự an toàn xã hội: Hoạt động truyền ĐTLTP gây mất ổn định tình hình

ANCT, TTATXH ở trong KVBG Nhất là ở địa bàn trọng điểm là xã Nậm Ban (Sìn Hồ)

và Tông Qua Lìn (Phong Thổ), từ hoạt động của đạo Tin lành là lập ra các ban chấp sự

để đối trọng với chính quyền nhân dân, đến việc tụ tập để nghe đài, đọc kinh sách đều làm cho tình hình trật tự trong làng bản bị đảo lộn Việc di cư tự do từ KVBG đi nơi khác và từ nơi khác đến KVBG đi kèm với nó là hoạt động truyền ĐTLTP lại càng làm cho tình hình ANCT, TTATXH trong địa bàn đã phức tạp lại càng phức tạp hơn Bên cạnh dó là việc phá rừng làm nương rẫy, làm nhà, thất học, nghèo đói dẫn đến việc buôn bán ma túy và các tệ nạn xã hội khác Những mâu thuẫn giữa những người theo đạo và người không theo đạo ngày càng căng thẳng Đặc biệt trong địa bàn KVBG của tỉnh Lai Châu hiện nay quần chúng nhân dân theo đạo sử dụng chính nhà ở, lán trên mương để tiến hành cầu nguyện khi các cơ quan ban ngành của tỉnh, huyện, xã và BĐBP đến thì mời vào dự Nếu chúng ta đề cập đến vấn đề như tạm dừng hoặc giải tán thì chúng dùng phụ nữ và trẻ em để ngăn cản, kích động quần chúng nhân dân chống đối không cho ta tiến hành công việc

Về chính trị, tư tưởng: quá trình truyền ĐTLTP ngày càng mang mầu sắc chính

trị phản động, nằm trong chiến lược "diễn biến hòa bình", "bạo loạn lật đổ" của kẻ địch kích động, tuyên truyền đòi ly khai, đòi tự do tôn giáo, lập nhà nước Mông tự trị trong một quốc gia độc lập, gây mất ổn định ở cơ sở và đe dọa sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ANBG quốc gia

Trang 39

Hoạt động truyền ĐTLTP vào KVBG tỉnh Lai Châu là hoàn toàn trái pháp luật, trái với đạo Hoạt động này không thuộc phạm trù tín ngưỡng, mà nó lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo thực hiện mưu đồ chính trị phản động

Đối tượng tích cực tiến hành các hoạt động truyền đạo, ngang nhiên xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, xuyên tạc những thành quả mà Đảng, Nhà nước ta mang lại cho nhân dân Bằng luận điệuchỉ có theo đạo Tin lành khi chết con người mới

có cuộc sống an nhàn và được lên thiên đàng, kết hợp lập ra các tổ chức để đối trọng với chính quyền nhân dân nhằm giành giật quần chúng, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở Đặc biệt ở các địa bàn có đạo Tin lành thì những cán bộ có năng lực được chính quyền giới thiệu ra ứng cử vào các vị trí lãnh đạo ở cơ sở thì khi bầu cử đều không trúng cử, mà chỉ

có những người theo đạo mới trúng vào các vị trí lãnh đạo ở cơ sở Chính vì vậy mà đã gây rất nhiều khó khăn trong công tác bố trí cán bộ xã, bản hiện nay ở các địa bàn có đạo Tin lành Điều này cho chúng ta thấy rằng ở đâu Tin lành phát triển thì ở đó uy tín của Đảng trên trận địa tư tưởng bị giảm sút, vai trò của chính quyền và các đoàn thể quần chúng trở nên mờ nhạt

2.1.4- Tình hình Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu

Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu quản lý, bảo vệ đoạn biên giới dài 273 km nằm trên tuyến biên giới Việt- Trung Tổ chức biên chế gồm: Bộ Chỉ huy biên phòng tỉnh với 5 phòng chức năng: Phòng Tham mưu, phòng Chính trị, phòng Trinh sát, phòng Phòng chống Tội phạm ma tuý và phòng Hậu cần- Kỹ thuật, 1 đại đội cơ động và 10 đồn biên phòng, có 1 trạm kiểm soát cửa khẩu quốc gia và một số trạm tiểu mạch lưu thông giữa Việt Nam và Trung Quốc Quân số của BĐBP tỉnh Lai Châu là 673 đồng chí (Trong đó, sĩ quan: 160 đồng chí, QNCN: 285 đồng chí, CNVQP: 03 đồng chí, hạ sĩ quan- binh sĩ: 225 đồng chí) Bộ đội biên phòng tỉnh Lai Châu có một Đảng bộ với 387 đảng viên, một Chi đoàn với 286 đoàn viên Trình độ: Trung cao: 16 đồng chí, đại học:

97 đồng chí, cao đẳng: 27 đồng chí, trung cấp: 168 đồng chí, sơ cấp: 174 đồng chí và chưa đào tạo qua trường là 191 đồng chí [phụ lục số 02]

Về trang bị: Chủ yếu là các loại súng bộ binh: K54, K59, AK, RPD, B40, cối

60, đại liên K53 Phương tiện được trang bị gồm: Phương tiện thông tin, phương tiện vận tải, các phương tiện khác phục vụ quản lý, BVBG

Ngày đăng: 03/05/2016, 01:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 8b (khóa VI), ngày 27/03/1990, về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 8b (khóa VI), ngày 27/03/1990, về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1990
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1990), Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 16/10/1990 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1990
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết số 11/NQ-TW, ngày 08/8/1995 về xây dựng BĐBP trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11/NQ-TW, ngày 08/8/1995 về xây dựng BĐBP trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1995
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Chỉ thị số 37/CT- TW, ngày 16/10/1998 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 37/CT-TW, ngày 16/10/1998 về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
5. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Thông báo số 225/TB-TW, ngày 07/10/1999 kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đối với đạo Tin lành trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 225/TB-TW, ngày 07/10/1999 kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đối với đạo Tin lành trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1999
6. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy BCHTW Đảng khóa IX 12/3/2003 về công tác dân tộc và công tác tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy BCHTW Đảng khóa IX 12/3/2003 về công tác dân tộc và công tác tôn giáo
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2003
8. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2002), Kế hoạch số 2528/CV-TTVH ngày 26/5/2002 về tuyên truyền thực hiện chủ trương đối với đạo Tin lành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 2528/CV-TTVH ngày 26/5/2002 về tuyên truyền thực hiện chủ trương đối với đạo Tin lành
Tác giả: Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương
Năm: 2002
9. Ban Tôn giáo Chính phủ (2002), Báo cáo tổng kết công tác tôn giáo năm 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác tôn giáo năm 2003
Tác giả: Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm: 2002
10. Ban Dân vận tỉnh Lai Châu (2002), Đề án một số giải pháp đối với vấn đề lợi dụng tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở Lai Châu, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án một số giải pháp đối với vấn đề lợi dụng tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở Lai Châu
Tác giả: Ban Dân vận tỉnh Lai Châu
Năm: 2002
11. Ban Chỉ đạo 184 của Tỉnh ủy Lai Châu, Báo cáo công tác phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu ănm 2005), Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu ănm 2005)
12. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lai Châu, Báo cáo tổng kết công tác vận động già làng,trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trong việc vận động con cháu, dòng họ, gia đình chấp hành tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước (các năm 2002, 2003, 2004), Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác vận động già làng, "trưởng bản, trưởng dòng họ, người có uy tín trong việc vận động con cháu, dòng họ, gia đình chấp hành tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước (các năm 2002, 2003, 2004)
13. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu, Báo cáo công tác VĐQC năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu năm 2005, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác VĐQC năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu năm 2005
14. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu, Báo cáo công tác trinh sát năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu năm 2005, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác trinh sát năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 và 6 tháng đầu năm 2005
15. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu (2002), Kế hoạch số 877/KH-PH ngày 16/12/2002, Kế hoạch phối hợp giữa Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh với huyện ủy Mường Tè trong việc vận động quần chúng tấn công chính trị ngăn chặn, hạn chế tiến tới xóa bỏ đạo trái phép ở địa bàn La Si xã Ka Lăng - Mường Tè, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 877/KH-PH ngày 16/12/2002, Kế hoạch phối hợp giữa Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh với huyện ủy Mường Tè trong việc vận động quần chúng tấn công chính trị ngăn chặn, hạn chế tiến tới xóa bỏ đạo trái phép ở địa bàn La Si xã Ka Lăng - Mường Tè
Tác giả: Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu
Năm: 2002
16. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu (2002), Kế hoạch số 875/KH-PH ngày 08/7/2002, Kế hoạch phối hợp giữa Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh với huyện ủy Phong Thổ trong việc vận động quần chúng tấn công chính trị ngăn chặn, hạn chế tiến tới xóa bỏ đạo trái phép ở địa bàn Tông Qua Lìn, Phong Thổ, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 875/KH-PH ngày 08/7/2002, Kế hoạch phối hợp giữa Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh với huyện ủy Phong Thổ trong việc vận động quần chúng tấn công chính trị ngăn chặn, hạn chế tiến tới xóa bỏ đạo trái phép ở địa bàn Tông Qua Lìn, Phong Thổ
Tác giả: Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu
Năm: 2002
17. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu (2003), Kế hoạch phòng ngừa và đấu tranh chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, tuyên truyền đạo trái phép ở địa bàn Pa Mu xã Hua Bum, huyện Mường Tè, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phòng ngừa và đấu tranh chống lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, tuyên truyền đạo trái phép ở địa bàn Pa Mu xã Hua Bum, huyện Mường Tè
Tác giả: Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Lai Châu
Năm: 2003
20. Bộ Tư lệnh BĐBP (1998), Kế hoạch 99/KH-BTL ngày 20/11/1998 về thực hiện đề án BĐBP tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch 99/KH-BTL ngày 20/11/1998 về thực hiện đề án BĐBP tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo
Tác giả: Bộ Tư lệnh BĐBP
Năm: 1998
21. Bộ Tư lệnh BĐBP (2001), Hướng dẫn một số đối sách đấu tranh phòng, chống địch lợi dụng tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn một số đối sách đấu tranh phòng, chống địch lợi dụng tôn giáo trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Tư lệnh BĐBP
Năm: 2001
22. Bộ Tư lệnh BĐBP (2002), Chỉ thị số 31/CT-BTL ngày 28/4/2002 về tăng cườngtham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 31/CT-BTL ngày 28/4/2002 về tăng cường "tham gia các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các xã, phường biên giới, hải đảo
Tác giả: Bộ Tư lệnh BĐBP
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w