Bài viết nghiên cứu về các khái niệm công khai, minh bach. Đi sâu vào nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn công khai, minh bạch, sự tham gia của cộng đồng trong việc sử dụng ngân sách nhà nước ở Việt Nam. Từ đó đưa ra những hạn chế của pháp luật, và đề xuất hoàn thiện luật.
Trang 1MỤC LỤC
A Mở Bài
B Nội Dung
I Khái quát công khai, minh bạch
1 Khái niệm công khai, minh bạch
2 Quy định của pháp luật về công khai, minh bạch
II Thực trạng pháp luật về công khai, minh bạch và sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước
1 Thực trạng pháp luật về công khai, minh bạch trong quản lí và sử dụng ngân sách nhà nước
2 Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước
3 Ưu điểm và nhược điểm
4 Giải pháp
C Kết Luận
Trang 2A MỞ BÀI
Với yêu cầu hội nhập quốc tế, thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước ta, nền kinh tế đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực Hiện nay nền kinh tế thị trường càng phát triển thì vị trí và vai trò của tài chính nhà nước trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Vì vậy, xây dựng nền tài chính tự chủ vững mạnh là yêu cầu cơ bản trong thời kỳ công nghiệp hóa của đất nước, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân Nhà nước đã và đang thực hiện chủ trương công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời đẩy mạnh việc tham gia cộng đồng trong quản lý ngân sách nhà nước
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã quy định về những vấn đề này Tuy nhiên những quy định này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế nhất định Chính vì vậy, buổi học hôm nay nhóm sẽ cùng cô và các bạn tìm hiểu về
đề tài : “Thực trạng pháp luật về công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước và sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và sử dụng ngân sách”
Trang 3B NỘI DUNG.
I Khái Quát Công Khai, Minh Bạch.
1 Khái niệm công khai, minh bạch.
Theo từ điển tiếng Việt, công khai “là việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết” Minh bạch là “rõ ràng, rành mạch”
Trong hoạt động của bộ máy nhà nước, công khai nghĩa là mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc phổ biến, truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, làm cho mọi người dân có thể tiếp cận được các quyết định của nhà nước một cách dễ dàng; minh bạch nghĩa là không những phải công khai mà còn phải trong sáng, không khuất tất, không rắc rối, không gây khó khăn cho công dân trong tiếp cận thông tin
Trên tinh thần đó, tại khoản 2, điều 2, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012) đưa ra khái niệm: “Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định”
=>Như vậy, có thể hiểu công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước là việc làm cho mọi người dân có thể biết và hiểu cơ quan hành chính nhà nước có chức năng, nhiệm vụ gì, hoạt động như thế nào trong khuôn khổ phù hợp với thực tiễn và các quy định của pháp luật
2 Quy định của pháp luật về công khai, minh bạch
Theo Điều 55 Hiến pháp 2013, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật
Theo Điều 3, Luật ngân sách nhà nước 2002, “Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm…”
Và tại điều 13, Luật ngân sách nhà nước 2002,
“1 Dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước, ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công bố công khai.
Trang 42 Quy trình, thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, hoàn lại các khoản thu, cấp phát và thanh toán ngân sách phải được niêm yết rõ ràng tại nơi giao dịch.
3 Chính phủ quy định cụ thể việc công khai ngân sách.”
Việc thực hiện công khai ngân sách nhà nước được thực hiện theo Thông tư số: 03/2005/TT-BTC của Bộ Tài Chính ngày 06 tháng 01 năm 2005 về Hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước và chế
độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính
Theo đó việc thực hiện công khai tài chính được áp dụng đối với các chủ thể sau: các cấp ngân sách nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân;
Hình thức công khai gồm: công bố trong các kỳ họp thường niên của cơ quan, tổ chức, đơn vị, phát hành ấn phẩm; niêm yết công khai, thông báo bằng văn bản; đưa lên trang thông tin điện tử; chất vấn và trả lời chất vấn về công khai tài chính
Về chế độ giám sát, ngoài các cơ quan chức năng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức đoàn thể và nhân dân cũng được tham gia giám sát thực hiện công khai tài chính
II Thực Trạng Pháp Luật Về Công Khai, Minh Bạch Và Sự Tham Gia
Của Cộng Đồng Trong Quản Lý Và Sử Dụng Ngân Sách Nhà Nước 1.
Thực trạng pháp luật về công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.
a.
Mục đích công khai minh bạch ngân sách nhà nước.
Công khai tài chính là biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động và nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (Quyết định số 192/2004/QĐ- TTG ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ.)
Trang 5Nội dung công khai minh bạch ngân sách nhà nước.
Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) thường gọi tắt làquá trình ngân sách, bao gồm toàn bộ hoạt động của một ngân sách kể từ khi bắt đầu thực hiện việc hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước cho đến khi báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước được Quốc hội phê chuẩn Quá trình ngân sách được phân chia thành ba khâu hay ba giai đoạn chính sau:
Giai đoạn lập dự toán ngân sách nhà nước, là giai đoạn thực hiện việc xây
dựng và quyết định dự toán ngân sách nhà nước hàng năm.Giai đoạn này được tiến hành trong khoảng thời gian không giống nhau ở các quốc gia Chẳng hạn, ở Anh, Đức giai đoạn lập và phê chuẩn dự toán ngân sách là 6 tháng; Nhật là 7 tháng, Pháp là 14 tháng, Mỹ là 18 tháng Ở Việt Nam, giai đoạn lập và phê chuẩn dự toán ngân sách nhà nước có thời gian khoảng 6 tháng, khi toàn bộ dự toán ngân sách và dự án phân bổ ngân sách ở các cấp ngân sách đã được quyết định
Giai đoạn chấp hành ngân sách nhà nước là giai đoạn thực hiện dự toán
ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hay nói cách khác là giai đoạn thực hiện các chỉ tiêu thu, chi tài chính trong
dự toán ngân sách nhà nước Giai đoạn này ở các quốc gia đều quy định thời gian là 12 tháng (thời hạn năm ngân sách).Tuy nhiên, thời hạn bắt đầu và kết thúc của năm ngân sách ở các quốc gia có thể khác nhau Ở nước ta, năm ngân sách được pháp luật quy định tính theo năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 01/ 01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm
Giai đoạn quyết toán ngân sách nhà nước, là giai đoạn tổng kết, đánh giá
việc thực hiện ngân sách và chính sách tài chính ngân sách của quốc gia cũng như xem xét trách nhiệm pháp lý của các cơ quan nhà nước khi sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong một năm ngân sách nhất định đã được cơ quan có thẩm
quyền quyết định nhằm giải trừ trách nhiệm, nghĩa vụ cho các cơ quan, đơn
vị, các cấp, các ngành trong một quá trình ngân sách, đồng thời cũng là thời điểm đánh dấu sự kết thúc của một quá trình ngân sách Giai đoạn này được tính từ khi năm ngân sách kết thúc cho đến khi Quốc hội phê chuẩn báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước.Thông thường giai đoạn này kéo dài khoảng
từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ khi năm ngân sách kết thúc
Lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước là một quá trình ngân sách của nhà nước có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau với chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền khác nhau cho nên việc công khai chính xác, minh bạch NSNN gặp những khó khăn nhất định Chính vì vậy, nhóm em chọn giai đoạn lập dự toán ngân sách nhà nước để làm rõ vấn đề thực trạng pháp luật công khai, minh bạch ngân sách nhà nước
Trang 6Công khai, minh bạch lập dự toán ngân sách nhà nước.
Hình thức
Việc công khai tài chính thực hiện thông qua các hình thức sau:
1 Công bố trong các kỳ họp thường niên của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
2 Phát hành ấn phẩm;
3 Niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị Việc niêm yết này phải được thực hiện ít nhất trong thời gian 90 ngày, kể từ ngày niêm yết;
4 Thông báo bằng văn bản đến các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan;
5 Đưa lên trang thông tin điện tử;
6 Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng
(Quyết định số 192/2004/QĐ- TTG ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ.)
Nội dung.
Nội dung của lập dự toán về công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước:
Trang 7 Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005 ( sửa đổi bổ sung năm 2007, năm
2012 ) Điều 15: Công khai, minh bạch về tài chính ngân sách nhà nước.
1 Các cấp ngân sách, đơn vị dự toán ngân sách phải công khai chi tiết số liệu
dự toán và quyết toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê
chuẩn, kể cả khoản ngân sách bổ sung
2 Đơn vị dự toán ngân sách có nguồn thu và các khoản chi từ các khoản đóng
góp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải công khai mục đích
huy động, kết quả huy động và hiệu quả việc sử dụng các nguồn huy động
3 Tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai các nội dung sau
đây:
a) Số liệu dự toán, quyết toán;
b) Khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân (nếu có);
c) Cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ
Nội dung của lập dự toán về công khai minh bạch
Điều 15, Luật phòng chống tham nhũng 2005
Thông tư 21/2005/TT -BTC
Công khai
số liệu dự toán ngân sách địa phương
Công khai
số liệu dự
toán ngân
sách ở
trung ương
Trang 84 Dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây:
a) Việc phân bổ vốn đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm cho các dự án;
b) Dự toán ngân sách của dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư được duyệt, mức vốn đầu tư của dự án được giao trong dự toán ngân sách năm;
c) Quyết toán vốn đầu tư của dự án hằng năm;
d) Quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
5 Quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây: a) Quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ;
b) Kế hoạch tài chính hằng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền; c) Kết quả hoạt động của quỹ;
d) Quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt
6 Việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải công khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và nhân dân nơi trực tiếp thụ hưởng biết
Nội dung công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước: Theo thông tư 21/ 2005/ TT- BTC.
- Công khai dự toán một số nội dung chi chủ yếu: Chi mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi sửa chữa lớn TSCĐ, chi hội nghị Việc công khai các nội dung chi khác do thủ trưởng đơn vị qui định
- Công khai số liệu: Theo Biểu số 2 đính kèm Về việc công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước, ngân sách trung ương hàng năm; số liệu dự toán ngân sách của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:
• Công khai chi tiết số liệu dự toán ngân sách nhà nước theo các chỉ tiêu đã được Quốc hội quyết định, phê chuẩn, gồm:
- Dự toán thu ngân sách nhà nước;
- Dự toán cân đối thu, chi ngân sách, bội chi và nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước
Công khai chi tiết số liệu dự toán ngân sách trung ương, gồm:
- Dự toán ngân sách trung ương theo từng lĩnh vực đã được Quốc hội quyết định, phê chuẩn;
Trang 9- Tổng số và chi tiết dự toán ngân sách trung ương của từng Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương theo từng lĩnh vực đã được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao; tổng số và chi tiết quyết toán ngân sách trung ương của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương theo từng lĩnh vực đã được Quốc hội phê chuẩn
- Dự toán số bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Quốc hội quyết định, phê chuẩn, Thủ tướng Chính phủ giao, Bộ Tài chính thẩm định
• Công khai tỷ lệ phần trăm phân chia đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách TW và ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao
• Công khai dự toán ngân sách của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết toán ngân sách của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Bộ Tài chính thẩm định
- Việc công khai các số liệu quy định tại Điều này do Bộ trưởng Bộ Tài chính công bố bằng các hình thức: thông báo bằng văn bản cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phát hành ấn phẩm; đưa lên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính
quyền địa phương:
• Công khai chi tiết số liệu dự toán, quyết toán ngân sách địa phương theo các chỉ tiêu đã được Hội đồng nhân dân quyết định, phê chuẩn, gồm:
- Dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn;
- Dự toán thu ngân sách địa phương;
- Dự toán chi ngân sách địa phương;
- Riêng đối với ngân sách cấp xã, phải công khai dự toán, quyết toán chi tiết đến từng lĩnh vực thu và tỷ lệ phân chia nguồn thu được phân cấp, từng lĩnh vực chi, công khai chi tiết một số hoạt động tài chính khác của xã như: các quỹ công chuyên dùng, các hoạt động sự nghiệp
• Công khai chi tiết số liệu dự toán ngân sách cấp mình, gồm:
- Dự toán, ngân sách cấp mình theo từng lĩnh vực đã được Hội đồng nhân dân quyết định, phê chuẩn;
Trang 10- Tổng số và chi tiết dự toán ngân sách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cấp mình theo từng lĩnh vực đã được Hội đồng nhân dân quyết định, ủy ban nhân dân giao;
- Dự toán số bổ sung từ ngân sách cấp mình cho ngân sách cấp dưới đã được Hội đồng nhân dân quyết định, phê chuẩn, ủy ban nhân dân giao
• Công khai tỷ lệ phần trăm phân chia đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao
• Công khai dự toán ngân sách của từng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, trị trấn đã được Uỷ ban nhân dân cấp trên giao; quyết toán ngân sách của từng quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, trị trấn đã được cơ quan tài chính cấp trên thẩm định
• Việc công khai các số liệu quy định tại điều này do Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp công bố hàng năm bằng các hình thức: thông báo bằng văn bản cho các
cơ quan, đơn vị thuộc ngân sách cấp mình, các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (đối với cấp tỉnh), xã, phường, thị trấn (đối với cấp huyện); phát hành
ấn phẩm; đưa lên trang thông tin điện tử (ở những địa phương đã có trang thông tin điện tử) Riêng đối với cấp xã thực hiện bằng hình thức niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã; thông báo bằng văn bản cho Đảng ủy, các tổ chức chính trị - xã hội ở xã và trưởng các thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố; thông báo trên các phương tiện thông tin tuyên truyền ở cơ sở
Cơ chế bảo đảm
Theo Thông tư 03/2005 của Bộ Tài Chính, Quyết định số 192/2004 của Thủ tướng Chính phủ, ban hành kèm theo Quy chế công khai tài chính quy định các cơ chế bảo đảm công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước như sau:
1 Kiểm tra và giám sát thực hiện:
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp, các đơn vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện công khai tài chính của các đơn vị thuộc phạm vi quản lý Trong quá trình kiểm tra giám sát, nếu phát hiện có vi phạm thì phải xử lý kịp thời hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời theo đúng qui định của pháp luật