Để góp phần cải thiện tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiềp vàonước ta, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của hoạt động đầu tư, em xin đưa ra một số ý kiến về “ Chính sách thu hút đầu tư t
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta xây dựng nền kinh tế từ một xuất phát điểm thấp; đó là nềnnông nghiệp lạc hậu, lại chịu sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh khốc liệt, cơ
sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn Việc xây dựng đất nước được xác định là cơ
sở để bảo vệ tổ quốc Trong những năm vừa qua nền kinh tế nước ta đã cónhiều khởi sắc, song để xây dựng được một cơ cấu kinh tế lớn phải có đượcnguồn vốn và khoa học công nghệ trình độ cao mà nếu chỉ dựa vào nguồnvốn trong nước thì không thể đáp ứng một cách đầy đủ Trước tình hình này,Đảng và nhà nước ta đã xác định: ”huy động và sử dụng nguồn lực nướcngoài là giải pháp quan trọng góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏikhó khăn”
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, việc thực hiện chủtrương đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá trên cơ sở huy độngnguồn lực từ nước ngoài có kế hoạch, có trọng điểm là một điều tất yếu Điều
đó có thể góp phần rút ngắn thời gian công nghiệp hoá, hiện đại hoá; khắcphục những khó khăn, yếu kém do các yếu tố khách quan và chủ quan củanước ta mang lại
Những năm gần đây, nền kinh tế nước ta phát triển được là do có mộtphần đóng góp không nhỏ của nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong đó vốn đầu
tư trực tiếp (FDI) đóng vai trò rất quan trọng Chính vì thế, Đảng và nhà nước
ta đã đặc biệt chú trọng đến nguồn lực này để nhằm phát triển một nền kinh tếtoàn diện, bền vững Để đảm bảo sự phát triển phù theo định hướng của Đảngđồng thời phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta, Đảng và nhà nước
đã đưa ra rất nhiều chính sách nhằm thu hút, khuyến khích sự đầu tư từ nướcngoài.Hoạt động đầu tư đã có nhiều khởi sắc
Trang 2Luật đầu tư nước ngoài được ban hành vào năm 1988 đã và đang thực
sự phát huy tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đầu tư ở nước tahiện nay
Song, trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đầu tưtrực tiếp nước ngoài ở Việt Nam có xu hướng giảm về cả khối lượng và đốitác đầu tư Để góp phần cải thiện tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiềp vàonước ta, thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của hoạt động đầu tư, em xin đưa ra
một số ý kiến về “ Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế hiện nay” với mong muốn đóng góp
phần nào vào công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, đưa nước ta thoát khỏitình trạng lạc hậu, sớm trở thành một nước công nghiệp phát triển vào năm
2020 theo mục tiêu mà Đảng và nhà nước đã đề ra
Nội dung chủ yếu của đề tài này bao gồm:
Phần I: Cơ sở lý luận của chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam trong bối cảnh suy giảm kinh tế hiện nay.
Phần II: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam hiện nay.
Phần III: Một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn FDI của Việt Nam trong thời gian tới.
Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn hạn chế, mặc dù đã có sự nỗ lực cốgắng song em khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của thầy để đề tài này được hoàn thiện hơn
Trang 3PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM KINH TẾ HIỆN NAY I.Tình hình trong nước và thế giới
1.Bối cảnh suy giảm kinh tế thế giới hiện nay
1.1.Tình hình chung
Trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay chúng ta thường được nghenhiều đến các thuật ngữ suy thoái kinh tế hay khủng hoảng kinh tế Thực racác thuật ngữ này đã có từ lâu và đã được định nghĩa, giải thích rất rõ ràngtrên rất nhiều các sách báo, công trình nghiên cứu Theo từ điển kinh tế họchiện đại ( David W Pearce, NXB Chính Trị Quốc Gia - Trường ĐH KTQD,1999) thì suy thoái kinh tế (recession) là giai đoạn giảm sút của chu kỳthương mại xảy ra sau một đỉnh điểm và kết thúc tại điểm thấp nhất của chu
kỳ Còn khủng hoảng kinh tế (slump) là một giai đoạn đi xuống hoặc suythoái trong chu kỳ kinh doanh Bất kỳ giai đoạn thu hẹp nào của chu kỳ kinhdoanh đều có thể gọi là khủng hoảng kinh tế, nhưng thường thì thuật ngữ nàyđược dùng để mô tả những trường hợp nghiêm trọng nhất Nền kinh tế toàncầu đang lâm vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất từ sau cuộc ĐạiSuy Thoái năm 1929 – 1933
Trước hết là cuộc khủng hoảng tài chính vào tháng 8/2007 do sự bùng
nổ trong thị trường nhà đất của Mỹ đã nhanh chóng lan nhanh và bất ngờ làmtổn hại đến thị trường và các hệ thống tài chính Cú sốc này đã làm giảm tínhthanh khoản trên thị trường liên ngân hàng, làm suy giảm vốn tự có của một
số ngân hàng lớn và thúc đẩy tái định giá rủi ro đối với một loạt các công cụ.Giá cổ phiếu giảm do dự báo kinh tế thế giới ngày càng yếu kém, thị trườngchứng khoán, tiền tệ luôn luôn biến động
Sự kiện sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ trung tuầntháng 9/2008 như khởi đầu của hàng loạt khối ung nhọt bị vỡ Đến nay đã cóhơn 29 ngân hàng lớn nhỏ của Mỹ bị phá sản Ngành tài chính Mỹ suy sụp,dẫn tới sự chao đảo của tài chính toàn cầu Quốc đảo Iceland là quốc gia đầutiên trên thế giới tuyên bố phá sản vì khủng hoảng tài chính
Từ lĩnh vực tài chính, cuộc khủng hoảng lan rộng ra toàn bộ nền kinh tếthế giới Sức mua giảm, đơn đặt hàng giảm, sản xuất công nghiệp đình đốn, tỷ
lệ thất nghiệp tăng Ba ông lớn về sản xuất ô tô của Mỹ là GM, Ford vàChrysler đã phải cầu cứu đến sự giúp đỡ về tài chính của chính phủ để cầm
Trang 4cự Các tên tuổi lớn của ngành ô tô thế giới như Toyota, Hyundai… đã phảicắt giảm nhân lực trên 40% và đóng cửa nhiều nhà máy trên toàn thế giới.
Hàng loạt các nền kinh tế mạnh như Nhật Bản, Mỹ, Đức… đều tăngtrưởng âm, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc giảm liên tục ởmức kỷ lục: 2.2% trong tháng 11 và 2.8% trong tháng 12/2008 so với cùng kỳnăm ngoái Các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Malaysia… chịu ảnh hưởng
ít hơn nhưng có dấu hiệu chững lại
Những biến động và xáo trộn trong nền kinh tế toàn cầu khiến IMF dựbáo rằng kinh tế thế giới chỉ tăng trưởng khoảng 3.8 % trong năm 2009, trongnhững năm tiếp theo có thể phục hồi nhưng rất chậm Sự khác biệt về tăngtrưởng giữa các nước phát triển và các nền kinh tế mới sẽ tiếp tục diễn ra.Nền kinh tế Mỹ tiếp tục lâm vào suy thoái nhẹ và có dấu hiệu phục hồi dầnvào đầu năm 2010 Tỷ lệ tăng trưởng ở châu Âu được dự báo là sẽ chững lạidưới mức tiềm năng, do ảnh hưởng ngoại lai của hoạt động thương mại, thắtchặt tài chính và chu kỳ suy thoái của thị trường nhà đất ở nhiều nước
1.2.Tác động đến FDI của Việt Nam
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang lâm vào suy thoái, biến động khólường như hiện nay dòng vốn FDI đăng ký cũng trở nên rất khó dự báo Tuynhiên theo đánh giá từ các nhà tài trợ, chính sách thắt chặt tiền tệ, chính sách
tỷ giá đã bước đầu phát huy tác dụng, giải pháp thắt chặt tài khoá nếu thựchiện kiên quyết sẽ phát huy tác dụng chậm hơn vào cuối năm nay và đầu nămsau Triển vọng đầu tư trung hạn và dài hạn của Việt Nam hiện vẫn chưa đượccoi là tốt, ước dòng vốn đăng ký trong hai năm tới sẽ giảm đáng kể so vớinăm 2008 nhưng vẫn sẽ giữ ở mức cao, khoảng trên 20 tỷ USD/ năm, đưatổng số vốn đăng ký của 5 năm 2006 – 2010 có thể lên tới mức 135 tỷ USD,vượt 2.4 lần kế hoạch đề ra cho cả giai đoạn này
Việc những năm tiếp theo khó có thể duy trì được tốc độ thu hút FDIcao như năm 2007 và năm 2008, không có nghĩa là môi trường đầu tư, kinhdoanh của Việt Nam kém hơn các năm trước Trong giai đoạn tới cần tậptrung thu hút đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng là công nghệ cao, phát triển
cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực… sẽ tạo động lực và góp phầnquan trọng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội và thu hút mạnh FDI
Mặc dù được đánh giá rất cao về tiềm năng thu hút FDI, Việt Nam vẫncòn nhiều việc phải làm để tiếp tục duy trì hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài,đồng thời thúc đẩy giải ngân các dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư.Trong bối cảnh đặc biệt hiện nay, giải ngân vốn FDI là quan trọng hàng đầu
và là công việc khó khăn trong giai đoạn còn lại của kế hoạch 5 năm 2006 –2010
Trang 5Với quy mô vốn đăng ký rất lớn trong nửa đầu kỳ kế hoạch, trong bốicảnh thuận lợi, vốn giải ngân trong 2 năm tới của kỳ kế hoạch có thể đạt 13 –
14 tỷ USD/ năm Với tổng số vốn giải ngân từ năm 2006 đến hết năm 2008 là23.6 tỷ USC, đạt 94.4% mục tiêu đặt ra cho cả kỳ kế hoạch 5 năm 2006 –
2010 Việc thực hiện vượt mức mục tiêu ban đầu đặt ra là hoàn toàn khả thi
2.Bối cảnh trong nước
GDP tiếp tục tăng trưởng khoảng 6,5% so với cùng kỳ năm ngoái và dựkiến cả năm GDP đạt mức tăng trưởng 7% Tổng thu ngân sách đạt 60,6% dự toán năm (con số tương ứng năm 2007 là 46,1%), trong đó: thu nội địa đạt 56,7%, thu từ dầu thô đạt 64,3%, thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 67,8% Tổng chi ngân sách đạt 51,8% dự toán năm
Mức chi vượt quá 50% dự toán chủ yếu là do chính sách cải cách tiền lương khu vực quản lý nhà nước và hệ thống quốc phòng, an ninh FDI đăng
ký trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt 31,6 tỷ USD, gấp 3,7 lần cùng kỳ năm trước, vượt 48% so với mức FDI 21,3 tỷ USD của cả năm 2007
Dự kiến FDI đăng ký cả năm 2008 có thể lên đến 45 tỷ USD (gấp hơn
2 lần so với năm 2007 CPI tháng 6/2008 tăng 2,14% và là mức tăng thấp nhấttrong nửa đầu 2008 nhưng so với tháng 6/2007, CPI đã tăng 26,8% và là mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây
Đà thâm hụt cán cân thương mại đã chậm lại Nhập siêu trong những tháng gần đây đã giảm, dự kiến sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới Các chính sách tiền tệ thắt chặt một cách quyết liệt nhằm mục tiêu hàng đầu là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô
Trang 6Quyết định nâng lãi suất cơ bản được đánh giá là một bước tiến tích cực trong việc chống lạm phát Các biện pháp can thiệp của NHNN trong thờigian qua với chủ trương không phá giá đồng tiền đã góp phần hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại, ổn định tâm lý người dân và các nhà đầu
tư, khả năng bình ổn tỷ giá khá vững chắc…
Về dự báo kinh tế Việt Nam tầm vĩ mô, với những thông tin thực tế và cách đánh giá của mình, nhóm nghiên cứu đưa ra những dự báo khá sáng sủa cho cả năm 2008 như tăng trưởng thực tế đạt 6,8 – 7%, lạm phát ở mức 24% -26%, tăng trưởng tín dụng dưới 30% và nên ở mức 25%, giải ngân thực tế nguồn vốn FDI sẽ vượt mục tiêu đã đặt ra, nhập siêu khoảng 20 - 22 tỷ USD,
dự trữ ngoại hối từ 19 – 21 tỷ USD, tỷ giá USD không biến động quá mức, nhiều khả năng tỷ giá dao động khoảng 17.000 -17.200 VNĐ/USDthị trường chứng khoán ổn định hơn, VnIndex có thể đạt 500 -550 điểm…
2.2.Tác động đến FDI của Việt Nam
Thứ nhất, FDI vào Việt Nam đã chậm lại so với cùng kỳ năm trước,
cả về lượng vốn đăng ký và lượng vốn thực hiện Lượng vốn đăng ký tháng 4 chỉ đạt 342 triệu USD, giảm 52% so với tháng 3 và giảm 87% so với cùng kỳ năm trước Tính chung bốn tháng mới đạt 6.357 triệu USD, giảm 17% so với cùng kỳ năm trước
Số vốn FDI thực hiện trong quý I giảm 32% so với cùng kỳ Như vậy, việc gia nhập WTO, làn sóng FDI đầu tư vào Việt Nam đã tăng tốc trong hai năm đầu tiên (năm 2007 FDI đăng ký đạt 21.348 triệu USD, thực hiện đạt 8.030 triệu USD; năm 2008 tăng mạnh tương ứng là 64.100 triệu USD và 11.500 triệu USD), nhưng do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã làm cho làn sóng này bị chậm lại Nói bịchậm lại là so với năm 2008, dự báo triển vọng cả năm sẽ vẫn cao hơn năm 2007
Thứ hai, lượng vốn đăng ký bổ sung của các dự án được cấp phép từ các năm trước cao hơn lượng vốn đăng ký mới (3,87 tỷ USD so với 2,48 tỷ USD) Điều đó chứng tỏ các nhà đã đầu tư tại Việt Nam vẫn nhận thấy kết quả tích cực và triển vọng khả quan của việc đầu tư và làm ăn tại Việt Nam
“Lòng tin vào nơi đầu tư” có ý nghĩa không kém gì “nguồn vốn”, bởi “nguồn vốn” có thể khó khăn đối với nhà đầu tư này, nhưng không khó khăn đối với nhà đầu kia, có thể khó khăn đối với nước này, nhưng không khó khăn đối vớinước kia; còn “lòng tin vào nơi đầu tư” thì lại có sức hút để các nhà đầu tư
Trang 7không gặp khó khăn về vốn có thể chuyển nơi đầu tư.
Thứ ba, tỷ trọng đầu tư vào các ngành, lĩnh vực có sự khác biệt lớn
so với trước đây Lượng vốn đầu tư vào khu vực dịch vụ chiếm tới 93,8%, với9.965 triệu USD; còn khu vực công nghiệp chỉ có 392 triệu USD, chỉ chiếm 6,2% Đây là kết quả tích cực của việc mở cửa đối với khu vực dịch vụ rộng hơn sau cam kết khi gia nhập WTO
Trong khu vực dịch vụ, phần lớn lượng vốn đã được thu hút vào lĩnh vực bất động sản lên đến 5.785 triệu USD, chiếm tới 97% tổng vốn đăng ký đầu tư vào khu vực dịch vụ và chiếm 91% tổng vốn đầu tư đăng ký vào nước
ta trong bốn tháng qua Cũng từ đó có thể dự báo về khả năng ấm lại của thị trường bất động sản trong một vài năm tới sau một thời gian bị đóng băng về giao dịch và giá cả
Tuy nhiên, lượng vốn đăng ký đầu vào khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong bốn tháng hầu như không có Chiều hướng ngày một ít vốn đầu
tư nước ngoài vào khu vực nông, lâm nghiệp- thủy sản có thể do khả năng sinh lời và thời gian thu hồi vốn chậm của khu vực này Điều đó cũng đòi hỏi các nguồn vốn trong nước cần được tăng mạnh hơn cho khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, không những để bù đắp cho chiều hướng trên, mà còn ngăn chặn sự sụt giảm tỷ trọng tổng vốn đầu tư xã hội cho khu vực này (giảm gần như liên tục từ 14,1% năm 1999 xuống còn 6,5% năm 2007, thấp rất xa
so với tỷ trọng trên 20% chiếm trong GDP)
Thứ tư, tính đến cuối năm 2008, tổng lượng vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam đạt gần 5 tỷ USD, đứng thứ 9 trong các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam (sau Đài Loan, Malaysia, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Quần đảo Virgin thuộc Anh, Hồng Công, Thái Lan), thì chỉ trong 4 tháng này đã vượt lên đứng thứ nhất, với 3,82 tỷ USD, chiếm tới 60% tổng số và cao hơn tổng lượng vốn đăng ký tính từ 1988 đến cuối năm 2007 (3.480 triệu USD), vượt qua Hàn Quốc, Hồng Công,
Singapore, Các nhà đầu tư Mỹ có sự vượt lên mạnh mẽ như vậy hẳn phải
có nhiều lý do, trong đó Việt Nam được lựa chọn hẳn có sự hấp dẫn nhất định
Trang 8II.Khái niệm, đặc điểm, vai trò và các hình thức của FDI
1 Khái niệm
Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu
tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó Hội nghị Liên Hợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra một doanh nghiệp về FDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài chocác doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cở phần, thu nhập táiđầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có
tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên không phải tất cả các QGnào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nươc khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của
Trang 9lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội củanước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuậncủa các chủ đầu tư
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu
trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng
nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận
đầu tư Luật các nước thường quy định không giống nhau về vấn đề này Luật
Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo luật hiệnhành là 30% (điều 8 Luật ĐTNN 1996), trừ những trường hợp do Chính phủquy định thì nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn với tỉ lệ thấp hơn nhưngkhông dưới 20% (Điều 14 mục 2 Nghị định 24/2000 NĐ-CP), còn theo quiđịnh của OECD (1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyềnbiểu quyết của doanh nghiệp, mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nướcngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽquy định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng
Trang 10được phân chia dựa vào tỷ lệ này Theo Luật đầu tư nước ngoài của ViệtNam, trong doanh nghiệp liên doanh, các bên chỉ định người của mình thamgia vào Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp vào vào vốn
pháp định của liên doanh Ví dụ công ty liên doanh phần mềm Việt –Nhật VIJASGATE có vốn điều lệ 500000USD, trong “điều lệ doanh nghiệp” của công ty có ghi rõ: bên VN góp 200000USD tương đương 40%, bên Nhật Bản góp 300.000USD tương đương 60%, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên phân chia theo tỷ lệ vốn góp, số người tham gia hội đồng quản trị cũng theo tỷ lệ 4/6 Trong các trường hợp đặc biệt, quyền lợi và nghĩa vụ các bên không phân chia theo tỷ lệ vốn góp và điều này được ghi rõ trong điều lệ doanh nghiệp, nó phụ thuộc vào ý chí của các chủ đầu tư Ví dụ vốn góp theo tỉ lệ 40/60 nhưng quyền lợi và nghĩa vụ theo tỷ lệ 50/50.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinhdoanh chứ không phải lợi tức
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự
chịu trách nhiệm về lỗ lãi Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọnlĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng nhưcông nghệ cho mình, do đó sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ
Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao, không cónhững ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tếnước nhận đầu tư
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận
đầu tư Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được côngnghệ, kĩ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý Ví dụ trong lĩnh vựcbưu chính viễn thông của Việt Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vựcnày có được nhờ chuyển giao công nghệ từ nước ngoài
- Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyềnkiểm soát, quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tính
ổn định và hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác do nhà I
Trang 11trực tiếp sử dụng vốn Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang cáchình thức đầu tư khác nếu thấy sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư.
Do đó mức độ ổn định của dòng vốn đầu tư đối với host country cao hơn.Nhược điểm là host country bị phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI
- Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụngvốn đầu tư, lợi nhuận thu về cao hơn Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụsản phẩm, khai thác nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thếkhác của nước nhận đầu tư, tranh thủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư.Tuy nhiên hình thức này mang tính rủi ro cao vì anh ta hoàn toàn chịu tráchnhiệm về dự án đầu tư Hoạt động đầu tư chịu sự điều chỉnh từ phía nướcnhận đầu tư Không dễ dàng thu hồi và chuyển nhượng vốn
3.Vai trò
FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế
Từ thế kỷ trước, nhà kinh tế học Paul Samuelson đã đưa ra lý thuyết
“vòng luẩn quẩn của sự chậm tiến và cú huých từ bên ngoài” Theo lý thuyếtnày, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, do khả năng tích luỹ vốnhạn chế “Những nước dẫn đầu trong chạy đua tăng trưởng phải đầu tư ít nhất20% thu nhập quốc dân vào việc tạo vốn Trái lại, những nước nông nghiệplạc hậu thường chỉ có thể tiết kiệm được 5% thu nhập quốc dân Hơn nữa,phần nhiều trong khoản tiết kiệm nhỏ bế này phải dùng để cung cấp nhà cửa
và những công cụ giản đơn cho số dân đang tăng lên”
Trong cuốn “Những vấn đề hình thành vốn ở các nước chậm pháttriển”, R.Nurkes đã trình bày có hệ thống việc giải quyết vấn đề vốn Theoông, xét về lượng cung người ta thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi, tình hình đó là
do mức độ thấp của thu nhập thực tế Mức thu nhập thực tế phản ánh năngsuất lao động thấp, đến lượt mình, năng suất lao động tháp phần lớn do tìnhtrạng thiếu tư bản gây ra Thiếu tư bản lại là kết quả của khả năng tiết kiệm ít
ỏi đưa lại Và thế là cái vòng được khép kín Trong cái “vòng luẩn quẩn của
sự nghèo đói” đó, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn Do vậy, mở cửa cho đầu
tư trực tiếp nước ngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối với cácnước đang phát triển
Samuelson cũng cho rằng, để phát triển kinh tế phải có cú huých từ bênngoài nhằm phá vỡ cái “vòng luẩn quẩn” đó, phải có đầu tư của nước ngoài
Trang 12vào các nước đang phát triển Theo ông, nếu có quá nhiều trở ngại đối vớiviệc đi tìm nguồn tiết kiệm trong nước để tạo áôn thì tại sao không dựa nhiềuhơn vào các nguồn bên ngoài? “Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng nói vớichúng ta rằng, một nước giàu sau khi đã hút hết những dự án đầu tư có lợinhuận cao cho mình, cũng có thể làm lợi cho chính nó và nước nhận đầu tưbằng cách đầu tư vào những dự án lợi nhuận cao ra nước ngoài đó sao” FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là một luồnvốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trênquan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợcho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi
có tình huống bất lợi
FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển
Có thể nói công nghệ là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự pháttriển của mọi quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càngđược khẳng định rõ Bởi vậy, tăng cường khả năng công nghệ luôn là mộttrong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của mọi quốc gia Tuynhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn mà còn phải
có một trình độ phát triển nhất định của khoa học - kỹ thuật
Lênin cũng đã từng khẳng định: “Không có kỹ thuật đại tư bản chủ nghĩađược xây dựng trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại, không
có một tổ chức nhà nước có khoa học khiến cho hàng triệu người phải tuântheo hết sức nghiêm ngặt một tiêu chuẩn thống nhất trong công việc sản xuất
và phân phối sản phẩm thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được”
Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để pháttriển khả năng công nghệ của nước chủ nhà Vai trò này được thể hiện qua haikhía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự pháttriển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủnhà Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ cácnhà đầu tư nước ngoài
Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiệnchủ yếu bởi các TNC, dưới các hình thức chuyển giao trong nội bộ giữa cácchi nhánh của một TNC và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC.Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNC sangnước chủ nhà (nhất là các nước đang py_ được thông qua các doanh nghiệp100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh mà bên nước ngoài nắmphần lớn cổ phần dưới các hạng mục chủ yếu như tiến bộ công nghệ, ứngdụng công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất
Trang 13lượng, công nghệ quản líy, công nghệ Marketing Theo số liệu thống kê củatrung tâm nghiên cứu TNC của Liên hợp quốc, các TNC đã cung cấp khoảng95% trong số các hạng mục công nghệ mà các chi nhánh của TNC ở các nướcđang phát triển nhận được trong năm 1993
Cùng với hình thức chuyển giao trên, chuyển giao công nghệ giữa các chinhánh của các TNC cũng tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây.Trong giai đoạn 80-96 các TNC đã thực hiện khoảng 8254 hợp đồng chuyểngiao công nghệ theo kênh này, trong đó 100 TNC lớn nhất thế giới chiếmbình quân khoảng 35%
Bên cạnh việc chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua FDI, cácTNC còn góp phần làm tăng năng lực ngiên cứu và phát triển (R&D) côngnghệ của nước chủ nhà Đến năm 1993 đã có 55% chi nhánh của các TNC lớn
và 45% chi nhánh của các TNC vừa và nhỏ thực hiện các hoạt động R&D ởcác nước đang phát triển Trong những năm gần đây, xu hướng này còn tiếptục tăng nhanh ở các nước đang phát triển châu á
Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài )nhất là ởcác doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cáchthiết kế, chế tạo từ công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điềukiện sử dụng của mình Đây là một trong những tác động tích cực quan trọngcủa FDI đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển
FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm
Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩytăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợinhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên thị trường thếgiới Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở cácnước tiếp nhận đầu tư Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệpFDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạtđộng cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều
cơ hội việc làm Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sửdụng nhiều lao động đã tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ Điều này khôngchỉ Mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào
sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này
FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nướcchủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo Các cánhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội họchỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lýtiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải
Trang 14thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là cáccông ty bạn hàng Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhậnđầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong cácdoanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nướchoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới
Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ vàdinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vàongành y tế, dược phẩm, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm
FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu
Xuất khẩu là yếu tố quan trọng của tăng trưởng Nhờ có đẩy mạnh xuấtkhẩu, những lợi thế so sánh của yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khaithác có hiệu quả hơn trong phân công lao động quốc tế Các nước đang pháttriển tuy có khả năng sản xuất với mức chi phí có thể cạnh tranh được nhưngvẫn rất khó khăn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế Bởi thế, khuyếnkhích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu luôn là ưu đãi đặc biệt trongchính sách thu hút FDI của các nước này Thông qua FDI các nước tiếp nhậnđầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới, vì hầu hết các hoạt động FDIđều do các TNC thực hiện ở tất cả các nước đang phát triển, các TNC đềuđóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu do vị thế và uy tín củachúng trong hệ thống sản xuất và thương mại quốc tế Đối với các TNC, xuấtkhẩu cũng đem lại nhiều lợi ích cho họ thông qua sử dụng các yếu tố đầu vào
rẻ, khai thác được hiệu quả theo quy mô sản xuất (không bị hạn chế bởi quy
mô thị trường của nước chủ nhà) và thực hiện chuyên môn hoá sâu từng chitiết sản phẩm ở những nới có lợi thế nhất, sau đó lắp ráp thành phẩm
FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sựphát triển nội tại nền kinh tế mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đờisống kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay FDI là một bộ phận quan trọngcủa hoạt động kinh tế đối ngọi, thông qua đó các quốc gia sẽ tham gia ngàycàng nhiều vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trên thế giới, đòi hỏimỗi qgh phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sự phâncông lao động quốc tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phùhợp với trình độ phát triển chung trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động FDI Ngược lại, chính FDI lại góp phần thúc đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước chủ nhà, vì nó làm xuất hiện nhiều lĩnhvực và ngành nghề kinh tế mới và góp phần nâng cao nhanh chóng trình độ
Trang 15kỹ thuật và công nghệ ở nhiều ngành kinh tế, phát triển năng suất lao độngcủa các ngành này Mặt khác, dưới tác động của FDI, một số ngành nghềđược kích thích phát triển, nhưng cũng có một số ngành nghề bị mai một vàdần bị xoá bỏ.
4 Các hình thức FDI
1) Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh với nươc ngoài gọi tắt là liên doanh là hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới
từ trước đến nay Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác
Khái niệm liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chấtquốc tế, hình thành từ những sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý,
hệ thống tài chính, luật pháp và bản sác văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đónggóp của các bên về vốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm
cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt động nghiên cứu cơbản và nghiên cứu triển khai
Đối với nước tiệp nhận đầu tư:
-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới Công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho ngưòi lao động làm việc và học tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài
-Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo các vấn đề liên quan đến dự ánđầu tư, thường xuất hiện mẫu thuẫn trong quản lý điều hành doanh nghiệp; đối tác nước ngoài thương quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi lcú liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác.; thay đổi nhân sự ở công ty
mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của liên doanh
Đối với nhà dầu tư nước ngoài:
-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sở tại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lình vực bị cấm hoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâm nhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà Không mất thời gian
và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư
-Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác; mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đtư, định giá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trong nước; không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hội kinh doanh khó giải quyết khác biệt vè tập quán, văn hoá
Trang 162) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanh trong hoạt động đầu tư quốc tế
Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinh doanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủ đầu tư và nước sở tại
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản
lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh
tế luật pháp, văn hoá, mức độ cạnh tranh…
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thực thể pháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần
Đối với nước tiếp nhận:
-Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị lỗ; giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư; tập trung thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khích xuất khảu; tiếp cận được thị trường nước ngoài
-Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đê nâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước
Đối với nhà đầu tư nước ngoài:
-Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiện được chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; được quyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển chung của tập đoàn
-Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư; phải chi phí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới; không xâm nhập được vào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệ vớicác cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại
3) Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân hia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giứa đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõ việc thực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên
Trang 17Đặc điểm là các bên kí kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong qúa trình kinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Phân chia kết quả kinh doanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro
mà phân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả thuận giữa các bên Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước sở tại một cách riêng rẽ Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanh hoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại quyền lợ và nghĩa vụ của các bên hơp doanh được ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đối với nước tiếp nhận:
-Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu cnghệ, tạo ra thị trường mới nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyền đièu hành
dự án
-Nhược điểm: khó thu hút đầu tư ,chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời
Đối với nước đầu tư:
-Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sở tại vào được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị trường truyền thống của nước chủ nhà; không mất thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ; không bị tác động lớn do khác biệt về văn hoá; chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư
-Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tác với đối tá nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại
4) Đầu tư theo hợp đồng BOT
BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một
số mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng cơ
sở hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước Trong một dự án xây dựng BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hành một công trình mà thường do chính phủ thực hiện Công trình này có thể là nhà máy điện, sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ Ngoài hợp đồng BOT còn có BTO, BT
Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với
cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (kể cả mở rộng, nâgn cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanh trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đó chuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà
Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây
Trang 18dựng chuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng
có điểm khác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhàđầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủ nhà dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một thời gian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về công trình đã xây dựng và chuyển giao
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhà thanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã
bỏ ra và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí
Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đòng BOT, BTO, BT mặc
dù hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đòng là các cơ quan quản lí nhà nước ở nước sở tại Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệp FDI khác, chủ yếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; được hưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn sơ với các hình thức đầu tư khác và điểm đặc biệt là khi hết hạn hoạt đọng, phải chuyển giao không bồi hoàn công trình
cơ sở hạn tầng đã được xây dựng và khai thác cho nước sở tại
Đối với nước chủ nhà:
-Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án co9ư sở hạ tầng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồng thời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơi dậy cácnguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế
-Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lí và khó kiểm soát công trình.Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát của nhà đầu tư
Đối với đầu tư nước ngoài:
-Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lí, điều hành
và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, hông bị chia sẻ và được nhà nước sở tại đảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát
-Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thương gặp nhiều khó khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức
5) Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)
Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển.Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị
Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ
Trang 19giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giám sát hoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyền kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiều thuận lợi:
-Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tư khác nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗ trợ các công ty trực thuộc trong việc tiêps thị, tiệu thụ hàng hoá, điều tiết chi phí thu nhập và các nghiệp vụ tài chính
-Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thể thống nhất và chịu trách nhiệm về vịec ra quyết định và lập kế hoạch chiến lược điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty
-Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danh mục đầu tư Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư cho các công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này
-Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đối ngoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…
6) Hình thức công ty cổ phần
Công ty cổ phần (công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn)là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn đã góp vào doanh nghiệp cổ đông có thể là
tổ chức cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số cổ đông tối thiểu Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác
Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và giám đốc Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia gimá sát quản lýhoạt dộng của công ty cổ phần Đại hôi cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là co quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Ở một số nước khác, công ty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoài được thành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động, mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hoá
7) Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài
Hình thức này được phân biệt với hình thức công ty con 100% vốn nước ngoài ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi công ty con thường là một pháp nhân độc lập Trách nhiệm của công ty
Trang 20con thường giới hạn trong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách
nhiẹm của chi nhánh theo quy định của một số nước, không chỉ giới hạn trongphạm vi tài sản của chi nhánh, mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài
Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoảnchi phí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước ngoài Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí qunả lý củacông ty mẹ ở nước ngoài vào phàn thu nhập chịu thuế ở nước sở tại
Việc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công ty con Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh không phải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉthông qua việc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà
8) Hình thức công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lsy công ty, còn thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty
Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hình thức đầu tư này Mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhân trách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Hình thức đầu tư này trước hết rất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rêt nên cũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm
Việc cho ra đời hình thức công ty hợp danh ỏ các nước nhăm tao thêm
cơ hội cho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của họ Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khám chữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng Đó là những dịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứng trước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khởe tính mạng và tàisản của người tiêu dùng khi sử dụng Việc thành lập công ty hợp danh là hình thức thức đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêu trên Trong đó những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịutrách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chức
Trang 21điều hành, cung ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của họ.
9) Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A)
Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các TNC lớn và tập trung vào các lĩnh vự công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở các nước phát triển
Mục đích chủ yếu :
-Khai thác lợi thế của thị trươg mới mà hoạt động thương mại quốc tế hay đầu
tư mới theo kênh truyền thống không Mang lại hiệu quả mong đợi Hoạt độngM&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động ra thị trường nước ngoài
-Bằng con đường M&A, các TNC có thể sáp nhập các ty của mình với nhau hình thnàh một công ty khổng lồ hoạt độg trong nhiều lĩnh vự hay các công tykhác nhau cùng hoạt động trông một lĩnh vực có thể sáp nhập lại nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoàn
-Các công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ trống trong hệ thống phân phối của họ trên thị trường thế giới
-Thông qua con đường M&A các ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vực nghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông
-M&A tao điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công nghiệp và
cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia
Hoạt động phân làm 3 loại:
-M&A theo chiều ngang xảy ra khi 2 công ty hoạt động trong cùng 1 lĩnh vực
sx kinh doanh muốn hình thành 1 công ty lớn hơn để tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường của cùng 1 loại mặt mà trước đó 2 công ty cùng sản xuất
-M&A theo chiều dọc diễn ra khi 2 công ty hoạt động ở 2 lĩnh vự khác nhau nhưng cùng chịu sự chi phối của 1 công ty mẹ, laọi hình M&A này thường xảy ra ở các công ty xuyên quốc gia
-M&A theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớn tiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt hại khi
1 công ty tự thâm nhập thị trường
So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư:Về
bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngày một lượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức M&A chủ yếu chuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công
ty nước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh được nguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt độn của
Trang 22doanh nghiệp.
-Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làm cho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việc làm ngay mà còn có thể làm tang thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăng thất nghiệp) cho nước chủ nhà Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể được cải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất
-Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truền thống tác động trực tiếp dến thay dổi cơ cấu knh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới trong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn
-Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc đẩy cạnh tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặtngắn hạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền Mặt khác, M&A có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đầu tư truyền thống vởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài
III Mục tiêu, quan điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.Mục tiêu
1.1 Mục tiêu Chương trình thu hút ĐTNN 2006-2010
Các chỉ tiêu chủ yếu về ĐTNN giai đoạn 2006-2010 cần đạt được là:
- Vốn ĐTNN thực hiện: đạt khoảng 24 - 25 tỷ USD (tăng 70-75% sovới giai đoạn 2001-2005) chiếm khoảng 17,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
- Vốn đăng ký bao gồm cả vốn FDI đăng ký cấp mới và tăng vốn đạtkhoảng 55 tỷ USD (tăng hơn 2 lần so với giai đoạn 2001–2005), trong đó vốncấp mới đạt 41 tỷ USD và vốn bổ sung đạt khoảng 14 tỷ USD Bình quân mỗinăm đạt khoảng 11 tỷ USD
- Doanh thu: khoảng 163,4 tỷ USD
- Xuất - nhập khẩu: xuất khẩu đạt khoảng 93,3 tỷ USD (không kể dầuthô); nhập khẩu đạt 103,tỷ USD
- Nộp ngân sách nhà nước: đạt khoảng 8,4 tỷ USD
- Cơ cấu vốn thực hiện theo ngành: vốn FDI thực hiện trong ngànhcông nghiệp chiếm khoảng 60%, nông-lâm-ngư nghiệp khoảng 5% và dịch vụkhoảng 35%
- Chú trọng thu hút đầu tư từ các nước G7 có công nghệ cao, đảm bảophát triển bền vững
1.2 Định hướng thu hút vốn đầu tư trong một số ngành
Trang 23(1) Ngành Công nghiệp-Xây dựng
- Các ngành đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm công nghệ thông tin,
điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn từ cácnước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; hết sức coi trọng thuhút FDI gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ
- Công nghiệp phụ trợ: Khuyến khích thu hút FDI vào ngành công
nghiệp phụ trợ nhằm giảm chi phí đầu vào về nguyên-phụ liệu của các ngànhcông nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuấttrong nước Để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, cần tạo điềukiện để các dự án sản xuất lắp ráp các sản phẩm công nghiệp nhanh chóng mởrộng quy mô và thị trường tiêu thụ
(2) Ngành Dịch vụ
- Ngành dịch vụ còn dư địa lớn để đầu tư phát triển góp phần quantrọng trong nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Từng bước mở cửa các lĩnhvực dịch vụ theo các cam kết quốc tế, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tếkhác phát triển như dịch vụ ngân hàng, tài chính; dịch vụ vận tải, bưu chính-viễn thông, y tế, văn hoá, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực dịch vụ khác
Với định hướng trên, tiến hành xem xét, giảm bớt các lĩnh vực, ngànhnghề kinh doanh có điều kiện đối với ĐTNN có tính tới các yếu tố hội nhập
và toàn cầu hóa theo lộ trình “mở cửa”; tạo bước đột phá trong thu hút ĐTNNbằng việc xem xét đẩy sớm lộ trình mở cửa đối với một số lĩnh vực dịch vụ,khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển hạ tầng Cụ thểlà:
- Khuyến khích mạnh vốn ĐTNN vào các ngành du lịch, y tế, giáo đào tạo Mở cửa theo lộ trình các lĩnh vực dịch vụ “nhạy cảm” như ngânhàng, tài chính, vận tải, viễn thông, bán buôn và bán lẻ và văn hoá
dục Khuyến khích ĐTNN tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật bằngcác phương thức thích hợp gồm BOT, BT để xây dựng cảng biển, cảng hàngkhông, đường cao tốc, đường sắt, viễn thông, cấp nước, thoát nước… nhằmgóp phần nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đáp ứng được yêu cầutăng trưởng nhanh của nền kinh tế
(3) Ngành Nông-Lâm-Ngư nghiệp
Theo Luật Đầu tư năm 2005, nuôi trồng, chế biến nông, lâm thuỷ sản,làm muối; sản xuất giống nhân tạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới làmột trong những lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư Phù hợp chiến lược pháttriển ngành, thu hút ĐTNN định hướng theo ngành hàng, sản phẩm chủ yếunhư sau:
Trang 24- Về trồng trọt và chế biến nông sản, ĐTNN tập trung vào các dự ánxây dựng các vùng trồng và chế biến nông sản xuất khẩu như lúa gạo, câylương thực, rau quả, cà phê, cao su, chè theo hướng thâm canh, nâng caochất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đổi mới thiết bị các xưởng chế biến.
- Về chăn nuôi và chế biến sản phẩm chăn nuôi, ĐTNN tập trung thuhút vào các dự án sản xuất giống lợn, bò và gia cầm có chất lượng cao tại cácvùng có điều kiện thuận lợi về lao động, đất đai, đảm bảo vệ sinh môi trườngkhi phát triển chăn nuôi với quy mô lớn, đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư sảnxuất thức ăn gia súc có chất lượng cao
- Về trồng rừng - chế biến gỗ, ĐTNN tập trung vào các dự án sản xuấtgiống cây có chất lượng, năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu trồng rừngnguyên liệu phục vụ chế biến gỗ, lâm sản
1.3 Định hướng thu hút vốn đầu tư theo vùng
Trong thời gian tới, dự báo vốn ĐTNN vẫn sẽ tập trung chủ yếu vàonhững địa phương có điều kiện thuận lợi về địa lý-tự nhiên, nhất là các vùngkinh tế trọng điểm Để tăng cường thu hút ĐTNN tại những vùng có điều kiệnkinh tế xã hội còn khó khăn, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triểngiữa các vùng, bên cạnh những ưu đãi của đối với ĐTNN tại các vùng đó đòihỏi phải tăng cường đầu tư xây dựng nhanh cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đườnggiao thông, điện, nước ở các vùng kinh tế khó khăn bằng nguồn vốn nhànước, vốn ODA và nguồn vốn tư nhân
Tập trung thu hút đầu tư, lấp đầy các KCN-KCX-KCNC, khu kinh tế
đã được Chính phủ phê duyệt góp phần đẩy nhanh việc thu hẹp khoảng cáchphát triển giữa các vùng Tận dụng những khu vực đất trống, đồi trọc, ít giá trịnông nghiệp để phát triển KCN, xây dựng nhà máy, hạn chế xây dựng KCN-KCX-KCNC trên đất canh tác nông nghiệp truyền thống
2 Quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà Nước
Khi nghiên cứu về FDI quốc tế đối với những nước đang trong thời kỳ tiếp nhận từ nước ngoài là chủ yếu, còn đầu tư ra nước ngoài mới bắt đầu với quy mô nhỏ như nước ta, thì việc đặt ra vấn đề “Chiến lược FDI tất nhiên phảiphù hợp và phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” cần được lưu ý đến đặc điểm của nguồn vốn quốc tế này
Lý thuyết đầu tư quốc tế có rất nhiều, nhưng lợi nhuận cận biên là một căn cứ quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn nước và dự án đầu tư Họ có thể thực hiện dự án đã được lựa chọn nếu có sự gặp nhau - hài hòa giữa lợi ích
Trang 25của nhà đầu tư với lợi ích của nước nhận đầu tư Không ai ép buộc được nhà đầu tư nếu họ không thu được lợi nhuận cần có Do vậy, có hai cách tiếp cận vấn đề đối với việc thực hiện chiến lược kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia.
Cách thứ nhất, Chính phủ xét thấy dự án đầu tư không phù hợp với Chiến lược đó về địa bàn, ngành và lĩnh vực thì từ chối tiếp nhận FDI
Cách thứ hai, Chính phủ với tư cách là người điều hành kinh tế vĩ mô,
áp dụng những biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước, sử dụng vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước để thực hiện những dự án thuộc ngành, lĩnh vực và địa bàn mà hiện tại chưa hấp dẫn đối với FDI, chấp nhận dự án do nhà đầu tư nước ngoài đề nghị để bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững; tất nhiên có chọn lọc chứ không phải bằng mọi giá Phần lớn các nước đang phát triển áp dụng cách thứ hai, vì có lợi cho việc thực hiện chiến lược kinh tế - xã hội trong điều kiện nguồn lực trong nước còn có hạn
Hơn 20 năm vừa qua, nước ta cũng lựa chọn dự án FDI theo cách tiếp cận thứ hai Ví dụ, miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực xã hội có tỷ suất lợi nhuận thấp hoặc phi lợi nhuận thì Chính phủ phải đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, phát hành trái phiếu, vốn ODA và các nguồn vốn viện trợ khác; phải chấp nhận FDI ở các thành phố lớn, các tỉnh có điều kiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm; dù làm tăng thêm chênh lệch về trình độ phát triển giữa các vùng
Cũng có những lo ngại chính đáng về đầu tư khai thác tài nguyên, vì
“không gì tai hại và thiệt thòi cho nền kinh tế và các thế hệ mai sau bằng việc xúc tài nguyên đi bán thô với giá rẻ…” Nhưng cũng cần thấy được chủ
trương đúng đắn của Chính phủ đối với một vài loại tài nguyên, điển hình là dầu khí, không những trước đây, mà hiện tại vẫn tiếp tục ký các hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí với các nhà đầu tư quốc tế, bởi trên thực tế điều
đó là cần thiết để Petro Việt Nam tiếp cận nhanh hơn công nghệ thăm dò, khaithác của các tập đoàn hùng mạnh của thế giới
Trên thực tế, FDI ngành dầu khí đã đóng góp đáng kể cho xuất khẩu, thu ngân sách, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý Có lẽ vấn đề đối với lĩnh vực dầu khí nằm ở chỗ khác Nước ta đã có hơn hai thập
kỷ xuất khẩu dầu thô, nhưng chưa có công nghiệp lọc và hóa dầu nên giá trị gia tăng của ngành này khá thấp, phần lớn nguyên liệu được sản xuất từ dầu
mỏ vẩn phải nhập khẩu; mà đáng ra nếu thực hiện đúng Chiến lược phát triển đất nước thì nhà máy lọc dầu đầu tiên đã đi vào vận hành từ năm 1998, sau đó
Trang 26vài ba năm đã có khu có khu công nghiệp hóa dầu chí ít cũng cung ứng được một nửa nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.
Chính phủ đã phân cấp toàn diện cho chính quyền tỉnh, thành phố đối với FDI, đó là chủ trương đúng đắn; tuy vậy, vấn đề gắn với chủ trương đó là tạo ra các điều kiện bảo đảm để nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước trong hoạt động FDI
Hiện đang có nhiều dự án lớn không chỉ có tầm quan trọng đối với các địa phương, mà còn đối với cả nước, đòi hỏi phải được các chuyên gia đủ trình độ thẩm định dự án để bảo đảm lợi ích quốc gia trong việc thu hút FDI Đáng tiếc là nhiều địa phương chưa đáp ứng được yêu cầu như vậy, nhưng lạikhông mời các chuyên gia cuả trung ương làm tư vấn, hổ trợ Sự dễ dãi trong việc thu hút và thẩm định những dự án lớn, nếu không sớm được khắc phục
có thể gây ra hậu quả không đáng có
Trong khi phân cấp cho địa phương, các Bộ cần chú ý đến cân đối ngành, liên ngành, vùng lãnh thổ, hướng dẫn các địa phương bảo đảm các cânđối đó của nền kinh tế quốc dân, để thực hiện được hệ thống mục tiêu tăng trưởng bền vững
Nước ta đã hội nhập sâu rộng với thế giới, do vậy quản lý nhà nước đốivới FDI phải phù hợp với thông lệ quốc tế Chính phủ đã có những chỉ đạo theo hướng này trong việc hình thành thể chế, áp dụng các quy định về hải quan, xuất nhập khẩu, các thủ tục hành chính Tuy vậy, còn nhiều công việc cần được cải cách mạnh mẽ hơn
3.Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI
3.1 Các chính sách
Chính sách tiền tệ: ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu
tư Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhàđầu tư Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tớihoạt động xuất nhập khẩu
Chính sách thương nghiệp: yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đềđầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tớigiá hành xuất khẩu Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng ràothương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích
Trang 27thích hấp dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài Chính yếu tố này làm phức tạpthêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác.
Chính sách thuế và ưu đãi: chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thuhút các nhà đầu tư nước ngoài
Chính sách kinh tế vĩ mô: chính sách này mà ổn định thì sẽ góp phần tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư trong nước lẫn nướcngoài Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể cácnhà đầu tư thích bỏ vốn vào nước này Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiếnthì khó có thể tiên định được của kết quả hoạt độnh kinh doanh
3.2 Luật đầu tư
Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nướcngoài trên thị trường bản địa (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà đầu
tư trong nước) Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo cácđiều kiện giống như cho các nhà đầu tư trong nước
ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm vàkhông đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích cònhạn chế, chưa nhất quán
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng khác
Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa (quy mô, dung lượngcủa thị trường sức mua của dân cư trong nước và khả năng mở rộng quy môđầu tư)
Đặc điểm của thị trường nhân lực: công nhân lao động là mối quan tâmhàng đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốnvào các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn Trình độnghề nghiệp và học vấn của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triểnvọng) có ý nghĩa nhất định
Khả năng hồi hương vốn đầu tư: vốn và lợi nhuận được tự do qua biêngiới (hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Ởmột số nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy phép của ngân hàngtrung ương khá rườm rà
Bảo vệ quyền sở hữu: quyền này gồm cả quyền của người phát minh sángchế, quyền tác gỉa, kể cả nhãn hiệu hàng hóa và bí mật thương nghiệp vv Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vàocác ngành hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động (như sản xuấtmáy tính, phương tiện liên lạc vv ) ở một số nước, lĩnh vực này được kiểmtra, giám sát khá lỏng lẻo, phổ biến là sử dụng không hợp pháp các công nghệ
ấy của nước ngoài Chính vì lý do này mà một số nước bị các nhà đầu tư loạikhỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư
Trang 28 Điều chỉnh hoạt động đầu tư của các công ty đầu tư nước ngoài Luật lệcứng nhắc cũng tăng chi phí của các công ty đầu tư nước ngoài Các nhà đầu
tư rất thích có sự tự do trong môi trường hoạt động và do vậy họ rất quan tâmđến một đạo luật mềm dẻo giểp cho họ ứng phó linh hoạt, có hiệu quả vớinhững diễn biến của thị trường Ví dụ có những nước cấm sa thải công nhân
là không phù hợp với lợi ích của công ty nước ngoài Chính sách lãi suất ngânhàng và chính sách biệt đãi đối với một số khu vực cũng có ý nghĩa đối vớicác nhà đầu tư ở một số nước
Ổn định chính trị ở nước muốn nhận đầu tư và trong khu vực này Đây làyếu không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính trị có thể gâythiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài
Cơ sở hạ tầng phát triển Nếu các yếu tố nói trên đều thuận lợi nhung chỉmột khâu nào đó trong kết cấu hạ tầng (giao thông liên lạc, điện nước) bịthiếu hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp hẫn của các nhàđầu tư
Trang 29PHẦN II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
I Chính sách thu hút và sử dụng vốn FDI của Việt Nam
1 Tình hình chung
1.1 Khái quát về chính sách đầu tư nước ngoài
Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách pháttriển kinh tế - xã hội của một quốc gia được chia thành chính sách đối nội vàchính sách đối ngoại Chính sách đầu tư nước ngoài bao gồm một hệ thốngcác chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điềuchỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nướcngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạtđược các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội củaquốc gia đó
Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân chiathành:
- Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính
- Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu)
- Chính sách thị trường
- Chính sách lao động
- Chính sách đất đai
- Chính sách công nghệ
1.2 Chính sách thu hút FDI hiện nay của Việt Nam
Chính sách thu hút vốn FDI tại Việt Nam đã được thực hiện ngay từ khi Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban hành Luật Đầu tư Nước ngoài năm 1987 Cho đến nay, Luật Đầu tư Nước ngoài đã được sửa đổi và hoàn thiện 4 lần vào các năm 1990, 1992, 1996 và gần đây nhất là năm 2000 Xu hướng chung của thay đổi chính sách Việt Nam là ngày càng nới rộng quyền, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và thu hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước Những thay đổi này thể hiện nỗ lực của
Trang 30Chính phủ trong cải thiện, tạo môi trường đầu tư chung theo xu hướng hội nhập của Việt Nam
Bên cạnh diễn biến về thu hút vốn FDI và thực tiễn hoạt động của khu vực có vốn FDI, những thay đổi trong chính sách thu hút FDI của Việt Nam trong 17 năm qua còn xuất phát từ ba yếu tố khác, đó là:
(1) sự thay đổi về nhận thức và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với khuvực có vốn FDI
(2) chính sách thu hút FDI của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo nên áp lực cạnh tranh đối với dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam
(3) những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nước ngoài
*Chuyển biến về nhận thức và quan điểm của Việt Nam về vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài:
-Cho đến nay, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về vai trò của đầu tư nước ngoài nói chung, FDI nói riêng đã có nhiều thay đổi Những thay đổi này xuất phát từ thực tiễn của nền kinh tế và do thay đổi về bối cảnh kinh tế trong khu vực và thế giới Nếu như trước năm 2000, các doanh
nghiệp FDI chưa được coi như một chủ thể độc lập trong nền kinh tế thì từ Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) trở lại đây, khu vực FDI đã được khẳng định là một trong 6 thành phần cùng tồn tại trong nền kinh tế Dưới đây nêu các mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi về quan niệm và nhận thức của Đảng và Nhà nước về vai trò của FDI đối với nền kinh tế
-Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) và Đại hội VIII (1996) tuy không tách riêng khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thành một “thành phần kinh tế” trong nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam, song đã ghi nhận
sự hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài, khẳng địnhkhu vực đầu tư nước ngoài “có vai trò to lớn trong động viên về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý ”
-Với quan điểm như vậy, chính sách đối với khu vực có vốn FDI trong thời kỳ này chủ yếu hướng vào việc khuyến khích các nhà đầu tư liên doanh với các DNNN của Việt Nam, hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng
- Năm 2001, lần đầu tiên khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được công nhận là một thành phần kinh tế với vai trò “ hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm ”
- Tại Hội nghị TƯ Đảng lần thứ 9 (khoá IX), Đảng CS Việt Nam đã
đề ra nhiệm vụ “phải tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài” Theo đó, chính sách thu hút FDI trong thời gian tới sẽ tập
Trang 31trung vào nâng cao chất lượng FDI đổ vào Việt Nam thông qua việc thu hút mạnh hơn nữa các tập đoàn xuyên quốc gia đầu tư vào các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn Thay đổi trong nhận thức và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối vớikhu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở quan trọng để Chính phủ sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp luật và cơ chế chính sách thu hút vốn FDI và đối với hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây
* So sánh chính sách thu hút FDI hiện hành của Việt Nam với một số nước:
-So với những thời kỳ trước đây, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam hiện đã trở nên thông thoáng hơn, thuận lợi hơn đối với các nhàđầu tư nước ngoài Có thể rút ra một số nhận xét như sau:
+Thứ nhất, về nguyên tắc, các chính sách ưu đãi của Việt Nam đối với nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối cạnh tranh so với một số nước vềmột số mặt như hình thức đầu tư, thủ tục cấp phép Mặc dù vậy, so với một sốnước chuyển đổi và trong khu vực như Balan, Hungary, CH Séc, Thái lan, Philippin, Inđônexia thì mức độ ưu đãi của Việt Nam và Trung Quốc về những mặt này vẫn còn thấp;
+Thứ hai, so với các nước khác trong khu vực và các nước đang
chuyển đổi thì nhà đầu tư nước ngoài khi vào Việt Nam vẫn gặp phải những khó khăn nhất định trong thời kỳ “hậu giấy phép đầu tư”, nhất là vấn đề đất đai, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án (trừ trường hợp nếu đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất) Trong nhiều trường hợp làm kéo dài thời gian chuẩn bị và xây dựng, làm chậm trễ thời điểm dự án bắt đầu đi vào sản xuất, và làm mất thời cơ của nhà đầu tư
+Thứ ba, khu vực ngân hàng còn kém phát triển, đồng tiền chưa chuyển đổi, chính sách tiền tệ và những qui định về quản lý ngoại hối hiện nay của Việt Nam là những yếu tố chưa thuận tiện cho các nhà đầu tư, kém cạnh tranh hơn so với các nước trong khu vực và đang chuyển đổi
+Thứ tư, so với hơn một thập kỷ trước, môi trường đầu tư ở Việt Nam
đã được hoàn thiện hơn theo hướng ngày càng tạo điều kiện thuận lợi hơn chocác nhà đầu tư nước ngoài làm ăn kinh doanh trên đất nước Việt Nam Tuy hệthống luật pháp, chính sách liên quan tới hoạt động đầu tư FDI tại Việt Nam
đã được bổ sung, hoàn thiện trong những năm qua song vẫn còn thiếu tính đồng bộ và hay thay đổi, còn thiếu minh bạch và khó dự đoán trước Một điềutra gần đây đối với các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam cho thấy chính sách đối với FDI hiện tại của Việt Nam vẫn đang tạo ra những rào cản bất hợp lý, gây khó khăn cho các nhà đầu tư Cụ thể là, những qui định về hạn
Trang 32chế ngành nghề cho phép FDI đầu tư, việc bổ sung danh mục FDI có điều kiện, áp đặt tỷ lệ xuất khẩu đối với doanh nghiệp FDI, nâng giá đất và giá đền
bù giải toả đang là những yếu tố làm tăng tính bất ổn định trong chính sách FDI của Việt Nam Đó cũng là yếu điểm về chính sách của Việt Nam so với một số nước khác
Bên cạnh đó hiệu lực thực thi pháp luật của Việt Nam còn thấp, tạo ra khoảngcách giữa chính sách và thực tiễn thực hiện Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư FDI như: thực trạng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ
hỗ trợ kinh doanh còn yếu kém, đẩy chi phí kinh doanh lên cao (như phí dịch
vụ viễn thông, điện, thủ tục hành chính) Các yếu tố này ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm do các dự án FDI tạo ra Năm 2003, Báo cáo thường niên của tổ chức JETRO so sánh chi phí sản xuất của các doanh nghiệp Nhật bản tại một số thành phố của một số nước trong khu vực cho thấy so với những năm trước, chi phí đối với một số dịch vụ ở Việt Nam vẫn cao so với nhiều nước khác như chi phí vận chuyển đường thuỷ, giá thông tin liên lạc quốc tế, giá thuê văn phòng, chi phí điện cho sản xuất Chẳng hạn, giá cước 3 phút điện thoại quốc tế gọi đi Nhật bản từ thành phố Hồ Chí Minh và
Hà nội hiện cao gấp 2,5 lần so với mức cước gọi từ các thành phố của Trung Quốc, gấp 3,5 lần từ Seoul (Hàn quốc) và Bankok (Thái lan), gấp 4 lần từ Kuala Lumpur (Malai xia), gấp 5 lần từ Singapore, v.v
* Những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nước ngoài:
Cùng với việc xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài, trong những năm gần đây Việt Nam đã ký kết, tham gia một số điều ước quốc tế song phương và đa phương về đầu tư nước ngoài Đây có thể được coi là một trong những bước đi không thể tách rời trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và trong tổng thể chính sách khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Đến nay, Việt Nam đã ký kết Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 45 nước và vùng lãnh thổ Theo đó, phạm vi điều chỉnh của các hiệp định này đều mở rộng hơn so với những qui định hiện hành của Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam Chẳng hạn, các hiệp định này có những điều khoản qui định đối với nhiều loại hình đầu tư: trực tiếp, gián tiếp, các quyền theo hợp đồng, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ, và các quyền khác theo qui định của pháp luật Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam mới chỉ cam kết về đối xử theo quy chế tối huệ quốc, đồng thời cam kết thực hiện các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư phù hợp với những tiêu chuẩn và tập quán thông dụng
Từ năm 1995 đến nay Việt Nam đã ký kết, tham gia một số điều ước vàdiễn đàn quốc tế như:
i)Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA)
Trang 33ii) Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á Thái bình dương (APEC) với việc đưa ra
kế hoạch hành động nhằm tự do hoá và mở của đầu tư trong khuvực
iii) Diễn đàn hợp tác Á - Âu, trong đó có việc triển khai thực hiện chương trình hành động về xúc tiến đầu tư (IPAP) Đặc biệt, Việt Nam đang trong giai đoạn tích cực đàm phán để sớm trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) Trong đó, việc cam kết thực hiện Hiệp định TRIMS là một yêu cầu tất yếu trong tiến trình đàm phán gia nhập tổ chức này
Để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nước chủ nhà cần phải có lợi thế so sánh Nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
sử dụng chính sách bảo hộ như một lợi thế so sánh Bên cạnh những lợi ích đạt được, “cái giá” phải trả cũng không hề nhỏ
Chủ nghĩa bảo hộ là toàn bộ những biện pháp nhằm bảo vệ việc sảnxuất của một nước chống lại sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài Thôngthường, người ta phân biệt 3 biện pháp bảo hộ: hàng rào thuế quan, hàng ràophi thuế quan, các biện pháp hành chính (Từ điển kinh tế Nathan) Với sựphát triển mạnh mẽ của toàn cầu hoá, hàng rào thuế quan đã trở nên “lỗithời”, và do vậy, hai biện pháp bảo hộ sau, ngày hôm nay được sử dụng rấtrộng rãi không chỉ ở các nước đang phát triển, mà ở cả những nước côngnghiệp hoá Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) “kết án” hai biện pháp này
là “Néo-protectionnisme - Chủ nghĩa bảo hộ mới” Một trong những chứcnăng của WTO là ngăn chặn sự phát triển của loại hình chủ nghĩa bảo hộ này
Đứng về mặt thu hút FDI, lý thuyết của Mundell (1957) đã chỉ ra rằng,
sự tồn tại của các trở ngại về thương mại trong một quốc gia sẽ dễ dàng gây ra
sự dịch chuyển của dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài hướng về quốc gia này.Lập luận trên cơ sở này, các phân tích của Krugman cũng cho rằng, một trongnhững mục đích mà nhà nước muốn đạt được thông qua việc sử dụng các biệnpháp bảo hộ mới là việc biến những biện pháp này thành một lợi thế so sánhcủa đất nước Do vậy, không lấy gì làm ngạc nhiên khi các ngành thay thếnhập khẩu của Việt Nam, hầu hết là những ngành công nghiệp nặng, nơi mà ở
đó Việt Nam gần như không có những lợi thế so sánh đáng kể nào trong thờiđiểm hiện nay, lại vẫn có khả năng thu hút một tỷ trọng lớn vốn FDI khi sovới tổng vốn FDI Trong trường hợp này, chính sách bảo hộ đã góp phần vàoviệc hình thành một số ngành công nghiệp nặng thay thế nhập khẩu cho ViệtNam thông qua việc thu hút FDI trong những ngành này
Trang 342 Những bất cập trong việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam
2.1 Môi trường pháp lý
2.1.1 Hạn chế về hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, hai bộ luật khác biệt áp dụng cho đầu tư trong nước và đầu tưnước ngoài cùng song song tồn tại và đang tạo ra những khác biệt về môitrường đầu tư trong cùng một không gian kinh tế nhất là thủ tục, điều kiệnđầu tư và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp Điều này là không phùhợp với thông lệ quốc tế, gây cho các nhà đầu tư nước ngoài tậm lý thiếu antâm
Hệ thống pháp luật chính sách chưa đồng bộ và ổn định, chưa đảm bảotính rõ ràng và dự đoán trước Tính ổn định của luật pháp, chính sách chưacao, một số luật, chính sách liên quan trực tiếp đến đầu tư nước ngoài thay đổinhiều, một số trường hợp chưa tính kỹ đến lợi ích chính đáng của chủ đầu tưnên đã làm đảo lộn phương án kinh doanh và gây thiệt hại cho họ Nhiều vănbản dưới luật ban hành chậm so với quy định Một số văn bản hướng dẫn của
Bộ, ngành, địa phương có xu hướng xiết lại, đẻ thêm quy trình, dẫn đến tìnhtrạng "trên thoáng, dưới chặt" Một số chính sách mới của Chính phủ chậmđưa vào cuộc sống Trong quá trình đầu tư tại Viẹt nam, các nhà đầu tư nướcngoài đều mong muốn được đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trướcđược của pháp luật, chính sách để có thể lường trước và giảm thiểu được lợiích và rủi ro đầu tư Quy định của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Nghịđịnh 12/CP về những biện pháp thỏa đáng của Chính phủ khi có sự thay đổicủa pháp luật gây thiệt hịa cho nhà đầu tư vẫn chưa thực sự làm họ yên tâm
Hệ thống văn bản hướng dẫn về đầu tư nước ngoài chủ yếu vẫn tập trungvào giai đoạn thẩm định và cấp giấy phép đầu tư, chưa chú ý tới việc quản lý
và theo dõi các dự án từ khi triển khai thực hiện Trong một số trường hợp,khi thẩm định cấp giấy phép đầu tư các dự án đều đưa các điều khoản có lợithế để được hưởng tiêu chuẩn miễn giảm và thuế suất ưu đãi Khi thực hiệnlại khong đạt được các điều kiện đã cam kết nhưng vẫn được hưởng ưu đãi (vìthuế suất ưu đãi và thời gian miễn giảm thuế được ghi trong giấy phép đầu tư)nên đã gây thiết hại tới nguồn thu ngân sách quốc gia và tạo môi trường đầu
tư, môi trường hoạt động không bình đẳng giữa các doanh nghiệp