1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các Giải Pháp Thúc Đẩy Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Việt Nam Sang Các Nước ASEAN

93 428 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 708 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thếgiới ,cần thiết phải từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý đối với hoạt động đầu tư nước ngoài ,hỗ trợ và khuyến khích d

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Việc tiếp nhận nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài vàoViệt Nam ,và ngược lại ,các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài là 2mặt có tác động tương hỗ ,kích thích dòng vốn đầu tư luân chuyển ,tạo độnglực phát triển kinh tế đất nước

Tuy nhiên hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Namvẫn còn rất mới mẻ.Việc đánh giá kết quả hoạt động của các dự án đầu tư ranước ngoài đã thực hiện còn rất sơ sài và đóng góp những dự án này vào việc

mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam với nước sở tại vẫnchưa được chú trọng đúng mức

Trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thếgiới ,cần thiết phải từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý đối với hoạt động đầu

tư nước ngoài ,hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp trong nước thực hiện các

dự ác đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hướng tới mục tiêu tăng cả về số lượng

và chất lượng các dự án Từ thực tế ấy ,đề tài ‘’các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam sang các nước ASEAN’’được em lựa

chọn làm chuyên đề thực tập

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài :

Về mặt lý luận :nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư trựctiếp nước ngoài và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệpViệt Nam

Về mặt thực tiễn:tìm hiểu ,phân tích đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp ranước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua chỉ ra nhữngthuận lợi cũng như khó khăn ,những thành công hạn chế ách tắc và nguyênnhân của những ách tắc từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếpcủa Việt Nam ra nước ngoài sang các nước ASEAN

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động ĐTRNN của các doanhnghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài đi sâu nghiên cứu và đề xuất các giải phápASEAN thúc đẩy hoạt động ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam sangcác nước gắn với điều kiện Việt Nam là thành viên của tổ chức Thương mạithế giới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp: thống kê, tổng hợp và phântích, so sánh, hệ thống hoá trên cơ sở phương pháp luận duy biện chứng vàduy vật lịch sử để phân tích, đánh giá các nội dung liên quan đến đề tài nghiêncứu Trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy ĐTTTRNN của ViệtNam sang các nước ASEAN

5 Tổng quan nghiên cứu đề tài luận văn trong và ngoài nước:

ĐTTTRNN không còn là hoạt động mới mẻ đối với nhiều quốc gia trênthế giới đặc biệt là đối với các nước phát triển Do đó, trên thế giới đã cónhiều nghiên cứu phân tích cụ thể vai trò, xu thế và kinh nghiệm củaĐTTTRNN Mặc dù vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến hoạtđộng ĐTTTRNN sang các nước ASEAN của các doanh nghiệp Việt Nam.Trong nước, những năm gần đây cũng đã có một số công trình nghiêncứu về ĐTTTRNN sang các nước ASEAN của các doanh nghiệp Việt Nam ranước ngoài Tuy nhiên các đề tài và nghiên cứu trên chỉ mới đưa ra được thựctrạng và một số giải pháp thúc đẩy mà chưa gắn với điều kiện Việt Nam đã làthành viên của WTO Trên cơ sở kế thừa những lý luận của các tác giả đitrước, đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu thực tế tình hình hoạt động của các doanhnghiệp Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằmthúc đẩy hơn nữa hoạt động này trong điều kiện gia nhập tổ chức Thương mạithế giới

Trang 3

6 Một số đóng góp mới của đề tài:

Luận văn đã có những đóng góp cả về lý luận và thực tiễn sau:

- Làm rõ thêm những vấn đề lý luận về ĐTTTRNN sang các nướcASEAN, cụ thể là ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam sang các nướcASEAN trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của tổ chức Thương mạithế giới

- Đánh giá đúng thực trạng ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Namtrong những năm qua

- Đưa ra quan điểm và đề ra một số giải pháp có tính đột phá thúc đẩyĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam sang các nước ASEAN gắn với điềukiện Việt Nam là thành viên của WTO

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungchính của luận văn được kết cấu theo 3 chương:

Chương 1 :Sự cần thiết đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang các

nước ASEAN

Chương 2:Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các

nước ASEAN

Chương 3: Giải pháp thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam

sang các nước ASEAN

Trang 4

CHƯƠNG I

SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA

VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC ASEAN

1.1 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và phân loại

1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được gọi là hình thức đầu tư dài hạn của

cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sảnxuất ,kinh doanh…

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment - FDI) được hiểu

là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khácbằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Đầu tư trực tiếp chính là mộtloại hình di chuyển vốn giữa các quốc gia

Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI:Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) cungvới quyền quản lý tài sản đó Phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI vớicác công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tàisản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong nhữngtrường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sảnđược gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”

Ở Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài sang các nước ASEAN đượchiểu là việc di chuyển vốn dưới dạng tiền và tài sản từ nước này sang nướckhác để thu lợi nhuận Tuy nhiên, quan niệm về đầu tư trên thực tế vẫn đượcliên tục sửa đổi, bổ sung để phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam cả trongcác quy định pháp luật trong nước và các hiệp định quốc tế

Trang 5

Theo luật Đầu tư năm 2007, đầu tư được xem xét trên cả góc độ chung,đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Điều 3 của luật Đầu tư năm 2005 quy định

“Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình

để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luậtnày và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Đầu tư trực tiếp là hìnhthức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầutư; Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua cácđịnh chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham giaquản lý hoạt động đầu tư”

Khái niệm đầu tư theo Hiệp định tự do, xúc tiến và bảo hộ đầu tư ViệtNam - Nhật Bản lại là “tất cả các loại tài sản được sở hữu hoặc quản lý trựctiếp hoặc gián tiếp bởi một nhà đầu tư, bao gồm:

- Một doanh nghiệp (là pháp nhân hoặc bất kỳ một chủ đề khác đượcthành lập hoặc tổ chức theo các quy định và luật pháp hiện hành của mộtbên ký kết, vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, thuộc sở hữu hoặcquản lý của tư nhân hoặc Chính phủ, bao gồm công ty, tổng công ty, tổ hợpcông ty, công ty hợp danh, công ty một chủ, chi nhánh, liên doanh, hiệp hội

- Các quyền đòi tiền và thực hiện bất kỳ việc nào theo hợp đồng có giátrị tài chính;

Trang 6

- Các quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm các nhãn hiệu thương mại, các kiểudáng công nghiệp, các thiết kế bố trí mạch tích hợp, các quyền tác giả, cácsáng chế, các tên thương mại, các xác nhận về nguồn gốc hoặc tên gọi theoxuất xứ và thông tin không được công bố;

- Các quyền tố nhượng, bao gồm các quyền đối với việc thăm dò và khaithác tài nguyên thiên nhiên

- Các tài sản hữu hình và vô hình, động sản và bất động sản và bất kỳquyền tài sản có liên quan như quyền cho thuê, quyền thế chấp, cầm cố vàcầm giữ

Đầu tư bao gồm cả các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, cụthể là lợi nhuận, lãi suất, lãi cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí

Sự thay đổi hình thức đầu tư tài sản không ảnh hưởng đến tính chất đầu tư.Theo hiệp định thương mại Việt - Mỹ thì “đầu tư” là mọi hình thức đầu

tư trên lãnh thổ của một Bên do các công dân hoặc công ty của Bên kia sởhữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức:

- Một công ty hoặc một doanh nghiệp;

- Cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phiếu, giấy ghi

nợ và các quyền lợi đối với khoản nợ dưới hình thức khác trong một công ty;

- Các quyền theo hợp đồng, như quyền theo các hợp đồng chìa khoá traotay, hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặchợp đồng phân chia doanh thu hoặc các hợp đồng tương tự khác;

- Tài sản hữu hình, gồm cả bất động sản và tài sản vô hình, gồm cả cácquyền như giao dịch thuê, thế chấp, cầm cố và quyền lưu giữ tài sản;

- Quyền sở hữu trí tuệ, gồm quyền tác giả và các quyền có liên quan,nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tínhiệu thuê vệ tinh mang chương trình đã được mã hoá, thông tin bí mật (bí mậtthương mại), kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng; và

Trang 7

- Các quyền theo quy định của pháp luật như các giấy phép và sự cho phép.Mặc dù khái niệm về đầu tư được đề cập đến dưới góc độ nào thì đầu tưtrực tiếp nước ngoài cũng chính là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư bỏvốn để xây dựng hoặc sở hữu phần lớn hay toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nướcngoài bằng cách mua lại để trực tiếp quản lý điều hành hay tham gia quản lýđiều hành cũng như chịu trách nhiệm về hoạt động của đối tượng mà họ bỏvốn đầu tư.

1.1.2 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN và phân loại

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư mang vốn điđầu tư sang nước khác để tìm kiếm lợi nhuận Do vậy, hoạt động này chịu tácđộng của rất nhiều yếu tố khác nhau Tuy nhiên, một cách khái quát thì có thểchia các yếu tố này thành các nhóm chính sau:

- Điều kiện tự nhiên

Các quốc gia có sức thu hút đối với nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất lànhững quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú (nhiều khoángsản, khí hậu, đất đai và vị trí địa lý thuận lợi) Tại đây, nhà đầu tư nước ngoài

có thể tiến hành các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến các nguồn tàinguyên hoặc tận dụng những tác động thuận lợi của nó

Trữ lượng các nguồn tài nguyên này là yếu tố quyết định đến quy mô vàthời gian hoạt động của dự án Nhà đầu tư nước ngoài nào khi tiến hành đầu

tư cũng muốn tận dụng tối đa và phát huy hết hiệu quả của các nguồn tàinguyên của các nước sở tại

Bên cạnh các nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực của nước sở tại cũng làmột trong những mục tiêu hướng đến của các nhà đầu tư Đặc biệt, tại cácquốc gia đang phát triển, nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ là yếu tố rất hấp dẫnđối với nhà đầu tư nước ngoài Nhờ nguồn lao động giá rẻ mà các nhà đầu tư

có thể giảm chi phí sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh

Trang 8

- Cơ chế, chính sách đầu tư

Trên thực tế, thu lợi nhuận không phải bao giờ cũng là mục tiêu duy nhấtcủa nhà đầu tư Bên cạnh mục tiêu thu lợi nhuận, nhà đầu tư nước ngoài cònđặt ra nhiều mục tiêu khác như tiếp cận nguồn lực, mở rộng ảnh hưởng vàtăng khả năng cạnh tranh Các mục tiêu này bị chi phối rất lớn bởi cơ chế,chính sách của cả quốc gia đi đầu tư và quốc gia nhận đầu tư

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN trước hết phụthuộc rất nhiều vào đường lối chính sách và các biện pháp hỗ trợ từ phía nhànước của các quốc gia ASEAN tiến hành đầu tư

Những chính sách kinh tế vĩ mô tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩy hayhạn chế đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp như: chính sáchtài chính - tiền tệ, xuất nhập khẩu, khả năng di chuyển vốn của nhà đầu tư.Nếu các chính sách vĩ mô trên không thuận lợi hoặc là cản trở việc đầu tư ranước ngoài sang các nước ASEAN thì các nhà đầu tư sẽ không mạo hiểmthực hiện việc mang tiền, tài sản đi đầu tư ở nước ngoài

Bên cạnh đó, các hoạt động thúc đẩy, hỗ trợ đầu tư trực tiếp ra nướcngoài từ phía Chính phủ cũng đóng một vai trò rất quan trọng Việc ký kết cáchiệp định đầu tư với nước ngoài sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng hàng đầu tạothêm niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình tiếp cận và kinhdoanh ở nước nhận đầu tư Ngoài ra, khi Chính phủ thực sự khuyến khíchhoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp, Chính phủ có thểtrợ giúp các nhà đầu tư của mình bằng việc cung cấp thông tin thị trường,thông tin đối tác, cơ hội và kinh nghiệm kinh doanh, thông tin về môi trườngđầu tư cũng như áp dụng các chính sách bảo hiểm cho hoạt động đầu tư ranước ngoài

Nhìn chung, các cơ chế chính sách của Nhà nước tiến hành đầu tư có tácđộng và ảnh hưởng bước đầu đến quyết định đầu tư cũng như có hiệu quả củahoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp

Trang 9

Kế tiếp phải kể đến những chính sách của Nhà nước, Chính phủ nướcnhận đầu tư Chính phủ các nước nhận đầu tư có vai trò hết sức quan trọngđối với hoạt động FDI ở từng nước Hầu hết các Chính phủ đều có vai trò trựctiếp hay hạn chế FDI Một khi chính phủ các nước nhận đầu tư thấy được vaitrò và tầm quan trọng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, Chính phủ sẽ củng

cố và tăng cường các hình thức khuyến khích đầu tư như một công cụ thu hútđầu tư nước ngoài Các khuyến khích đầu tư là những ưu đãi hay những ưuthế kinh tế có thể lượng hoá do chính phủ hoặc theo chỉ đạo của chính phủdành cho một số doanh nghiệp nhất định hay một số loại hình doanh nghiệpnhất định để nhằm khuyến khích các đối tượng này quyết định đầu tư tại nướcđưa ra khuyến khích đầu tư thay vì đầu tư vào nước khác

Những chính sách khuyến khích đầu tư này tạo nên một môi trườngthuận lợi cho hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài Đồng thờicũng gián tiếp tác động tới hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp này

- Trình độ phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế cộng với những thay đổi vềchất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ,…) và những thay đổi cơcấu kinh tế Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nềnkinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhấtđịnh Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia được phản ánh qua các chỉtiêu như tốc độ tăng trưởng GDP, tình hình thất nghiệp, lạm phát, lãi suất, tìnhtrạng cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái

Như vậy, khi một quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao nghĩa là tốc độtăng trưởng GDP cao, sẽ có thu nhập cao và tích luỹ lớn Đây là tiền đề cho sựgia tăng đầu tư cả trong nước và ra nước ngoài Trình độ phát triển kinh tế chobiết dung lượng thị trường đầu tư và là điều kiện để xác định quy mô dự án đầu

tư Một nền kinh tế tăng trưởng cao sẽ làm tăng khả năng sinh lợi của vốn đầu

tư, giảm bớt rủi ro và do đó, tăng mức hấp dẫn hoạt động đầu tư

Trang 10

- Các rào cản khác

Ngoài các yếu tố kể trên, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài củacác doanh nghiệp sang các nước ASEAN còn chịu tác động của hàng loạt cácrào cản khác về chính trị, an ninh, cạnh tranh, hành chính, văn hoá - xã hội.Trước hết là tình hình chính trị tại quốc gia nhận đầu tư Nếu tình hìnhchính trị bất ổn thì doanh nghiệp không thể tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh một cách an toàn và hiệu quả Tình hình chính trị có nhiều biếnđộng chiến tranh cũng sẽ khiến cho nhu cầu tiêu dùng của thị trường giảmsút, ảnh hưởng không nhỏ tới kế hoạch sản xuất kinh doanh của các nhà đầu

tư nước ngoài

Mặt khác, nhu cầu cũng như thị hiếu ở nước nhận đầu tư chịu tác độngkhông nhỏ từ các yếu tố văn hoá, chính trị, xã hội tại nước đó Chính vì vậy,nếu như doanh nghiệp đầu tư có định hướng sản phẩm không đúng, khôngphù hợp với tập tục của thị trường nước sở tại thì sản phẩm sản xuất ra sẽkhông thể tiêu thụ được thậm chí còn bị tẩy chay trên thị trường

Các nhà đầu tư nước ngoài, trước khi tiến hành đầu tư vào một quốc gianào đó thì phải tìm hiểu kỹ các yếu tố này nếu muốn các dự án được triểnkhai một cách có hiệu quả

- Phân loại các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam sang các nước ASEAN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài sang các nước ASEAN(FDI) thường đượcthực hiện thông qua các hình thức tuỳ theo quy định của Luật đầu tư nướcngoài của nước sở tại Các hình thức FDI được áp dụng trên thế giới thường

là Hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh, bán buôn đối ứng,hợp đồng cấp giấy phép công nghệ hay quản lý hợp đồng ly xăng, 100% vốnnước ngoài, hợp đồng chia sản phẩm, hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyểngiao (BOT) Các hình thức FDI này có thể được thực hiện tại các khu công

Trang 11

nghệ tập trung, đặc khu kinh tế, thành phố mở tuỳ thuộc điều kiện cụ thể vàtừng lĩnh vực mà các quốc gia lựa chọn và thành lập các khu đầu tư nướcngoài phù hợp trong đó thu hút các hình thức FDI khác nhau.

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: là hìnhthức đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiếnhành hoạt động sản xuất - kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cở sở quy định

rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kếtquả kinh doanh cho các bên tham gia Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng docác bên thoả thuận và được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư phêduyệt

Đặc điểm:

+ Không thành lập pháp nhân mới

+ Hoạt động dựa trên văn bản ký kết giữa các bên Khi hết thời gian hiệu lực thì các bên không còn ràng buộc về mặt pháp lý.

Hình thức này dựa trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh chủ yếu áp dụngtrong lĩnh vưc thăm dò và khai thác dầu khí, dịch vụ bưu chính viễn thông

- Doanh nghiệp liên doanh: là loại hình kinh doanh trong đó bên nước

ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi vàchia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp Doanh nghiệp liên doanh được thành lậptheo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luậtpháp nước nhận đầu tư Tỷ lệ góp vốn do các bên liên doanh thoả thuận

Đặc điểm:

+ Thành lập doanh nghiệp có tư cách pháp nhân

+ Các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chia rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên Tuỳ theo từng quốc gia mà quy định mức góp vốn tối đa hay tối thiểu vào vốn pháp định của chủ đầu tư nước ngoài.

Trang 12

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp thuộc sở hữu củanhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà,

tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh

Đặc điểm:

+ Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của luật nước sở tại Doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, quản lý

và chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.

+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một pháp nhân của nước nhận đầu tư

Một vài dạng đặc biệt của hình thức đầu tư 100% vốn đầu tư nước ngoàilà: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh- chuyển giao (BOT), hợp đồng xâydựng- chuyển giao - kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao(BT) Đây là các dạng đầu tư được áp dụng đối với các công trình xây dựng

cơ sở hạ tầng kỹ thuật

BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước

sở tại với nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu

hạ tầng trong một thời hạn nhất định Hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoàichuyển giao không bồi hoàn hoặc với một giá tượng trưng công trình đó chonước sở tại

BTO là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước

sở tại với nhà đầu tư nước ngoài về xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại.Chính phủ nước sở tại sẽ cùng với nhà đầu tư nước ngoài khai thác công trình

đó trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và đảm bảo có lãi

BT là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước sởtại với nhà đầu tư nước ngoài về việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;sau khi xây dựng xong nhà đầu tư nước ngoài sẽ chuyển giao cho nước sở tại

Trang 13

Chính phủ nước sở tại sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện

dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý

Tuỳ điều kiện và mục tiêu cụ thể mà các nhà đầu tư nước ngoài quyếtđịnh hình thức đầu tư một cách thích hợp Đối với điều kiện cụ thể của ViệtNam, khi đầu tư sang các nước phát triển cần khuyến khích loại hình doanhnghiệp liên doanh vì loại hình này đem lại cho bên Việt Nam kỹ thuật hiệnđại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, đồng thời cho phép các nhà đầu tư ViệtNam tham gia điều hành doanh nghiệp, từ đó học hỏi được nhiều kinh nghiệmquý báu

1.2 Những yếu tố tác động chủ yếu đến đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN

1.2.1 những tác động tích cực

Một trong những đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ đầu tưnước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên thường có trách nhiệmcao, thường đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Từ đó mà có thể đảmbảo hiệu quả của vốn FDI cao Dù là ĐTRNN sang các nước ASEAN theohình thức nào thỉ chủ đầu tư bao giờ cũng đưa ra những quyết định để làm sao

co lợi cho mình và phát triển đông đã bỏ ra đầu tư Nhờ đó mà dự án đầu tưcũng đạt được hiệu quả cao

- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước đầu tư sử dụng

có hiệu quả nguồn lực “dư thừa” tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư; đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế.

Đối với các quốc gia đang phát triển, để có thể cạnh tranh được trên thịtrường quốc tế, phải biết tận dụng lợi thế so sánh của quốc gia Các nướcđang phát triển như Việt Nam là những nước có nền công nghiệp lạc hậu hơnnền công nghiệp thế giới, không sở hữu những công nghệ tiên tiến hiện đạicũng như không có nguồn vốn dồi dào Do vậy, muốn tiến hành đầu tư sang

Trang 14

các quốc gia phát triển chỉ có thể dựa vào lợi thế so sánh quốc gia cũng nhưphát triển những ngành nghề thủ công truyền thống.

- Bằng cách đầu tư ra nước ngoài, các nước tiến hành đầu tư tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư (do giá lao động

rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư, nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty tiến hành hoạt động đầu tư kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm được tạo ra trong nước bằng một phần sản phẩm (chủ yếu là máy móc thiết bị) đang ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Một công nghệ có thể là lạc hậu đối với quốc gia này nhưng lại là hữudụng hay là thậm chí là mới mẻ đối với một quốc gia khác có trình độ pháttriển thấp hơn ĐTRNN nhà đầu tư có thể mang những công nghệ cũ này tớinhững quốc gia cần nó để tiếp tục tiến hành sản xuất, tạo thêm lợi nhuận vàđiều kiện để nhập khẩu về những công nghệ mới tiên tiến hơn Nhà đầu tưvừa có thể tiếp tục khai thác những công nghệ lạc hậu để tạo thêm nguồnthu, vừa có được những công nghệ mới để nâng cao sức cạnh tranh củadoanh nghiệp

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế, tăng cường khẳ năng ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Điển hình là các quốc gia phát triển, có nền kinh tế hùng mạnh rất quantâm, chú trọng tới hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Bên cạnh tìmkiếm cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuậncủa đồng vốn bỏ ra, một trong những mục tiêu quan trọng của các quốc gianày là mở rộng tầm ảnh hưởng Các nhà đầu tư ở các nước phát triển có đầy

Trang 15

đủ sức mạnh về vốn, về công nghệ cũng như kinh nghiệm để từng bước thaotúng thị trường nước nhận đầu tư, thông qua đó nâng cao tầm ảnh hưởng củaquốc gia đối với nước nhận đầu tư.

1.2.2 Tác động tiêu cực

- Nếu chính phủ các nước đi đầu tư đưa ra các chính sách không phù hợp sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư ở trong nươc Khi đó các doanh nghiệp hướng mạnh ra thị trường nước ngoài đầu tư để thu lợi, do đó các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu.

Đây là một trong những nỗi lo lớn của các quốc gia đang phát triểnnhư Việt Nam trước khi quyết định có khuyến khích hoạt động ĐTRNNhay không Việt Nam đang trên con đường tiến hành CNH, HĐH nên cầnrất nhiều vốn Nếu khuyến khích các doanh nghiệp mang vốn ra nước ngoàiđầu tư sẽ khiến trong nước thiếu hụt vốn, ảnh hưởng tới vấn đề tạo công ănviệc làm cho người lao động trong nước Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạophải có tầm nhìn, định hướng rõ ràng và đưa ra những chính sách phù hợpvới tiến trình hội nhập nhưng không được ảnh hưởng tới công cuộc xâydựng đất nước

- Đầu tư ra nước ngoài có nguy cơ bị nhiều rủi ro hơn trong nước, do

đó các doanh nghiệp này thường áp dụng các biện pháp khác nhau để phòng ngừa, hạn chế rủi ro.

1.3 Ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN đối với nước đầu tư

1.3.1 Tác động tích cực

- Một trong những đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài là chủ đầu

tư nước ngoài trực tiếp quản lý và điều hành dự án nên thường có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ Từ đó mà có thể đảm bảo hiệu quả của vốn FDI cao Dù là ĐTRNN theo hình thức nào thỉ chủ đầu tư bao giờ cũng đưa ra những quyết định để làm sao co lợi cho mình

Trang 16

và phát triển đông đã bỏ ra đầu tư Nhờ đó mà dự án đầu tư cũng đạt được hiệu quả cao.

- Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước đầu tư sử dụng

có hiệu quả nguồn lực “dư thừa” tương đối trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư; đồng thời khai thác có hiệu quả lợi thế của quốc gia trên trường quốc tế.

Đối với các quốc gia đang phát triển, để có thể cạnh tranh được trên thịtrường quốc tế, phải biết tận dụng lợi thế so sánh của quốc gia Các nướcđang phát triển như Việt Nam là những nước có nền công nghiệp lạc hậu hơnnền công nghiệp thế giới, không sở hữu những công nghệ tiên tiến hiện đạicũng như không có nguồn vốn dồi dào Do vậy, muốn tiến hành đầu tư sangcác quốc gia phát triển chỉ có thể dựa vào lợi thế so sánh quốc gia cũng nhưphát triển những ngành nghề thủ công truyền thống

- Bằng cách đầu tư ra nước ngoài, các nước tiến hành đầu tư tận dụng được lợi thế về chi phí sản xuất thấp của nước nhận đầu tư (do giá lao động

rẻ, chi phí khai thác nguyên vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với sản xuất hàng hoá thay thế nhập khẩu của nước nhận đầu tư, nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty tiến hành hoạt động đầu tư kéo dài chu kỳ sống của các sản phẩm được tạo ra trong nước bằng một phần sản phẩm (chủ yếu là máy móc thiết bị) đang ở giai đoạn cuối của chu kỳ sống sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư.

Một công nghệ có thể là lạc hậu đối với quốc gia này nhưng lại là hữudụng hay là thậm chí là mới mẻ đối với một quốc gia khác có trình độ pháttriển thấp hơn ĐTRNN sang các nước ASEAN là nhà đầu tư có thể mangnhững công nghệ cũ này tới những quốc gia cần nó để tiếp tục tiến hành sảnxuất, tạo thêm lợi nhuận và điều kiện để nhập khẩu về những công nghệ mới

Trang 17

tiên tiến hơn Nhà đầu tư vừa có thể tiếp tục khai thác những công nghệ lạchậu để tạo thêm nguồn thu, vừa có được những công nghệ mới để nâng caosức cạnh tranh của doanh nghiệp.

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế, tăng cường khẳ năng ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế nhờ mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Điển hình là các quốc gia phát triển, có nền kinh tế hùng mạnh rất quantâm, chú trọng tới hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Bên cạnh tìmkiếm cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuậncủa đồng vốn bỏ ra, một trong những mục tiêu quan trọng của các quốc gianày là mở rộng tầm ảnh hưởng Các nhà đầu tư ở các nước phát triển có đầy

đủ sức mạnh về vốn, về công nghệ cũng như kinh nghiệm để từng bước thaotúng thị trường nước nhận đầu tư, thông qua đó nâng cao tầm ảnh hưởng củaquốc gia đối với nước nhận đầu tư

1.3.2 tác động không tích cực

- Nếu chính phủ các nước đi đầu tư đưa ra các chính sách không phù hợp sẽ không khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư ở trong nươc Khi đó các doanh nghiệp hướng mạnh ra thị trường nước ngoài đầu tư để thu lợi, do đó các quốc gia chủ nhà có xu hướng bị suy thoái, tụt hậu.

Đây là một trong những nỗi lo lớn của các quốc gia đang phát triểnnhư Việt Nam trước khi quyết định có khuyến khích hoạt động ĐTRNNhay không Việt Nam đang trên con đường tiến hành CNH, HĐH nên cầnrất nhiều vốn Nếu khuyến khích các doanh nghiệp mang vốn ra nước ngoàiđầu tư sẽ khiến trong nước thiếu hụt vốn, ảnh hưởng tới vấn đề tạo công ănviệc làm cho người lao động trong nước Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạophải có tầm nhìn, định hướng rõ ràng và đưa ra những chính sách phù hợpvới tiến trình hội nhập nhưng không được ảnh hưởng tới công cuộc xâydựng đất nước

Trang 18

- Rút rỗng nền kinh tế

- Đầu tư ra nước ngoài có nguy cơ bị nhiều rủi ro hơn trong nước, do đó các doanh nghiệp này thường áp dụng các biện pháp khác nhau để phòng ngừa, hạn chế rủi ro.

1.4 Động lực và điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

1.4.1 Động lực thúc đẩy các nhà đầu tư (trong đó chủ yếu là doanh nghiệp) mở rộng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN

Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Lênin có nhấn mạnh việc các nhà tưbản đã xúc tiến mở rộng xuất khẩu tư bản ra nước ngoài thông qua hai hìnhthức: thứ nhất là hình thức xây dựng nhà máy, công xưởng…ở nước ngoài vàtiến hành sản xuất kinh doanh ở đó để thu lợi nhuận; thứ hai là cho vay kiếmlời Như vậy, ĐTRNN sang các nước ASEAN đã trở thành một xu thế tất yếukhông thể thiếu của Việt Nam

Ngày nay, các nhà đầu tư trong đó có các doanh nghiệp cũng vẫn khôngngừng tiến hành hoạt động ĐTRNN sang các nước ASEAN Sở dĩ như vậy vìbên cạnh những tác động tích cực do hoạt động ĐTTTRNN sang các nướcASEAN mang lại cho quốc gia tiến hành đầu tư còn có một số động lực thúcđẩy các nhà đầu tư mở rộng Đó là:

- Nếu chỉ sản xuất kinh doanh trong nước thỉ tỷ suất lợi nhuận thu được trong nước luôn có xu hướng giảm do nguồn lực có hạn Ngay cả Việt Nam, một quốc gia đựơc đánh giá là giàu tài nguyên này cũng sẽ cạn kiệt Đến lúc

đó, để thu được một đồng lợi nhuận thì nguồn vốn bỏ ra sẽ là rất lớn Khi đó, các nhà đầu tư phải tìm đến những thị trường khác, các quốc gia khác có sẵn nguồn lực hơn nhằm giảm chi phí đầu tư.

- Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp ra nước ngoài sẽ tạo điệu kiện cho doanh nghiệp mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiếp cận những nguồn lực mới, đa dạng và tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ…

Trang 19

Khi quyết định đầu tư sang một quốc gia nào đó, chủ đầu tư bao giờcũng nhắm tới những lợi thế của quốc gia đó Đó có thể là một quốc gia có thịtrường rộng lớn, thị hiếu cũng như nhu cầu của người dân phù hợp với đặcđiểm của sản phẩm; hoặc như quốc gia đó có một nguồn nguyên liệu dồi dào,giá rẻ cần thiết cho quá trình sản xuất ra sản phẩm Đầu tư vốn, mở rộng sảnxuất sang các quốc gia này, chủ đầu tư sẽ tận dụng được những lợi thế màtrong nước không có, không thể sử dụng một cách ổn định với giá thành thấphơn nhập khẩu rất nhiều Trong điều kiện gia nhập Tổ chức Thương mại thếgiới, Việt Nam càng có cơ hội lớn khi được bình đẳng với các quốc gia kháctrong việc tiếp cận thị trường của 150 quốc gia khác.

- Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp ra nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và phí mậu dịch của nước sở tại vì thông qua FDI mà chủ đầu tư nước ngoài xây dựng được các doanh nghiệp của mình ngay tại các nước thi hành chính sách bảo hộ.

Trong thời điểm hiện nay khi Việt Nam đã chính thức trở thành thànhviên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO, các doanh nghiệp ViệtNam đã được bình đắng tham gia sân chơi lớn với các quốc gia khác Xu thếcùng chung một mái nhà sẽ càng giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhanhchóng tận dụng được những lợi thế của mình

1.4.2 Những điều kiện đảm bảo cho các doanh nghiệp tiến hành đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài

1.4.2.1 những điều kiện về phía doanh nghiệp

Khác với các cơ quan, đơn vị dùng tiền Ngân sách nhà nước đầu tư nướcngoài phần lớn vì mục tiêu ngoại giao hay mở rộng phạm vi ảnh hưởng thìcác doanh nghiệp thường đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu Các doanhnghiệp trước khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài luôn phải cân nhắc, so sánhmức độ hấp dẫn và rủi ro giữa môi trường kinh doanh trong nước với môi

Trang 20

trường kinh doanh của nước dự kiến sẽ đầu tư vào Mặc dù luôn đứng trướccác rủi ro về chính trị, tỷ giá hối đoái hay rủi ro về văn hoá xã hội nhưng đểtìm kiếm nguồn lợi nhuận cao hơn thị trường trong nước, các doanh nghiệpvẫn tích cực đầu tư ra nước ngoài Chính vì muốn tìm được thị trường mà ở

đó tiền vốn có khả năng sinh lời cao hơn so với trong nước mà ngay cả cácdoanh nghiệp các quốc gia đang phát triển - những quốc gia đang rất cần vốn

để phát triển đất nước - cũng vẫn mong muốn mang nguồn vốn trong nước đểđầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tuy nhiên, các doanh nghiệp khi muốn thựchiện hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cần phải có năng lực cạnh tranh.Khái niệm khả năng cạnh tranh (competitiveness) thường dùng để nóiđến các đặc tính cho phép một hãng cạnh tranh một cách có hiệu quả với cáchãng khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự vượt trội về công nghệ trong so sánhquốc tế (theo nhà kinh tế Alan V.Deardorff) Năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp chính là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trênthị trường cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp Đóchính là tính năng động, sáng tạo, vươn mẩnh thị trường, đương đầu với mọithách thức và cố gắng liên tục của các doanh nghiệp trong nước trong bốicảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bịo tác động bởi nhiều yếu tốđược phân chia thành hai loại: các yếu tố ngoài doanh nghiệp và các yếu tố

do doanh nghiệp chi phối Ở đây chỉ đề cập đến các yếu tố thuộc về doanhnghiệp

- Trước hết là trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp:

Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, có tổ chức tốt, doanh nghiệp sẽlàm tốt mọi việc Nếu các yếu tố khác tốt mà tổ chức quản lý tồi thì hoạtđộng của doanh nghiệp chắc chắn không đạt hiệu quả Tổ chức quản lý tốtphải đảm bảo:

Trang 21

+ Có phương pháp quản lý tốt Đó là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại + Phải có hệ thống tổ chức gọn nhẹ Đây là hệ thống tổ chức ít cấp, linh hoạt, dễ thay đổi khi môi trường kinh doanh thay đổi, quyền lực được phân chia

để mệnh lệnh truyền đạt được nhanh chóng, góp phần tạo ra năng suất cao + Quản lý có hiệu quả, biểu hiện ở năng suất , chất lượng cao, lợi nhuận tăng, phát triển bền vững.

- Thứ hai là trình độ của đội ngũ lãnh đạo: Đội ngũ lãnh đạo của

doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, là người nắm toàn bộ nguồn lực, vạch

ra đường lối, chiến lược, chính sách, kế hoạch hoạt động kinh doanh trongtừng thời kỳ; hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra dánh giá để đưa hoạt động củadoanh nghiệp đạ hiệu quả cao Đặc biệt khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài thịđội ngũ lãnh đạo phải là “bộ chỉ huy” đề ra được một chiến lược kinh doanhhợp lý dựa trên những phân tích thị trường và lợi thế so sánh của doanhnghiệp Từ đó, quyết định định hướng vào một hay một số mảng thị trườngnhất định, tập trung vào những sản phẩm, dịch vụ có khả năng, lợi thế cạnhtranh, né tránh những đối thủ cạnh tranh quá mạnh

- Nguồn lực của doanh nghiệp:

+ Nguồn vốn: đây là nguồn lực phải có trước tiên vì không có vốn không

thể thành lập được doanh nghiệp và không thể hoạt động được

Dù được định nghĩa như thế nào thì bản chất của đầu tư ra nước ngoàicũng chính là quá trình di chuyển vốn (bao gồm vốn bằng tiền và vốn bằnghiện vật…) từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư Vốn là yếu tố trọnghàng đầu không thể thiếu được đối với hoạt động kinh doanh của bất kỳdoanh nghiệp nào Có vốn doanh nghiệp mới có thể xây dựng nhà xưởng, mới

có thể đầu tư mua trang thiết bị may móc và mua các nguyên liệu đầu vào đểtiến hành sản xuất Quan trọng hơn cả là muốn cạnh tranh được trên thịtrường thì doanh nghiệp phải có một nguồn vốn dồi dào, đủ mạnh để nhanhchóng chớp thời cơ thu lợi nhuận Song để có được nguồn vốn dồi dào, tiềm

Trang 22

lực tài chính mạnh thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một quá trình tích tụ

số doanh nghiệp đã đạt khoảng 230 nghìn doanh nghiệp Số doanh nghiệpngày một tăng có sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế, đặc biệt khu vựcdoanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài Không chỉtăng nhanh về số doanh nghiệp, quan trọng hơn là tăng cả về quy mô doanhnghiệp (về lao động, vốn…), những yếu tố này cùng với các yếu tốq, về côngnghệ,…góp phần quan trọng để tăng nhanh hơn giá trị gia tăng cho toàn nềnkinh tế quốc dân

Mặc dù theo tiêu chí doanh nghiệp vừa và nhỏ là dưới 500 lao động vàvốn dưới 10 tỷ đồng thì có tới 96.81% số doanh nghiệp nước ta thuộc nhómdoanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây đã có rất nhiềudoanh nghiệp nhỏ và vừa lớn mạnh và tìm được chỗ đứng vững chắc trên thịtrường Tuy chỉ chiếm thị phần khiêm tốn, nhưng các doanh nghiệp này đangphát triển rất nhanh và có tỷ suất lợi nhuận cao Các doanh nghiệp này cũgnđang từng bước mở rộng thị trường đầu tư ra nước ngoài, tìm kiếm lợi nhuậncao hơn khi mà thị trường trong nước đang dần bị bão hòa

+ Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Đây là nguồn rất quan trọng, vì

sáng tạo ra các nguồn khác Trình độ của nguồn nhân lực thể hiện ở trình độquản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ lành nghề của lao động

Trước hết là năng suất lao động của đội ngũ công nhân viên làm việc chodoanh nghiệp: bao gồm các yếu tố liên quan đến người lao động, các nhân tố

Trang 23

tổng thể về năng suất lao động, vai trò đào tạo, bồi dưỡng nhân viên, ngườilao động Người lao động Việt Nam được đánh giá cao là thông minh, học hỏitiếp thu nhanh, khéo tay và nếu được trả lương và tổ chức lao động tốt sẽ cónăng suất và hiệu quả cao Song trong nhiều trường hợp, lợi thế này chưađược phát huy đầy đủ Đáng chú ý là tổ chức lao động ở nhiều doanh nghiệpchưa hợp lý và khoa học, biên chế quá lớn (đặc biệt là đội ngũ gián tiếp), chứcnăng và nhiệm vụ không rõ ràng, kỷ luật lao động chưa nghiêm, tỷ lệ đào tạochính quy thấp, mức độ thuần thục kém làm cho năng suất lao động chưa cao.Đặc biệt trong điều kiện hội nhập ngày nay, càng đòi hỏi nguồn nhân lực củacác doanh nghiệp bên cạnh năng lực sản xuất còn phải có nhận thức sâu sắc

về nhiều mặt, tính độc lập cao và ky năng xử lý các tình huống Với tầm quantrọng như vậy, trước khi đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp cần xem xét

kỹ trình độ của công nhân viên rồi mới tiến hành đưa họ ra nước ngoài, phảilam sao để có thể thích ứng với điều kiện lam việc mới

Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý cũng đóng vai trò rất quan trọng.Các doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ đủ năng lực đầu tư, quản lý, sảnxuất, kinh doanh, có tính tổ chức cao và có đạo đức nghề nghiệp Cần thiếtphải có đội ngũ cán bộ tiếp nhận và hướng dẫn đầu tư có trình độ, năng lực,

am hiểu sâu sắc để phân tích tình hình, lựa chọn đối tác đầu tư đúng mục tiêu

đề ra Điều quan trọng nhất là những nhà quản lý và điều hành phải có trình

độ hiểu biết, đặc biệt là về lĩnh vực đang kinh doanh, biết khai thác triệt đểmọi nguồn lực trong doanh nghiệp và tận dụng mọi cơ hội đầu tư

+ Trình độ khoa học công nghệ: Trình độ khoa học công nghệ, khả

năng tiếp cận công nghệ và đổi mới công nghệ hiện có, chi phí cho nghiêncứu và triển khai là những yếu tố quyết định hàng đầu về chất lượng và tínhnăng của sản phẩm Do đó, để có thể cạnh tranh được trên thị trường cácdoanh nghiệp phải đạt tới mức trình độ khoa học công nghệ nào đó hoặc phải

có những bí quyết kỹ thuật, kỹ năng riêng có để sản xuất sản phẩm

Trang 24

Nhờ có khoa học công nghệ mà các công ty, các tập đoàn có khả năngtạo ra nhiều chủng loại sản phẩm có chất lượng cao, đa dạng về mẫu mã,chủng loại, phù hợp với nhu cầu của thị trường và yêu cầu ngày càng cao củangười tiêu dùng Qua đó mà lợi nhuận thu được cao hơn, tạo tiền đề cho sựphát triển vững chắc của doanh nghiệp tại thị trường nước nhận đầu tư.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể ứng dụng cácthành tựu khoa học hiện đại vào sản xuất Để có được sản phẩm có hàm lượngkhoa học - công nghệ cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nguồn lực lớn, đủmạnh chi phối các yếu tố đầu vào của sản xuất và công nghệ chế tạo sảnphẩm, với yêu cầu đó thì các doanh nghiệp nhỏ không đủ sức làm được Cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa phải tìm được những “khoảng trống” thị trường hay

có những bí quyết kỹ thuật riêng có mới có thể đầu tư ra nước ngoài có hiệuquả Các bí quyết kỹ thuật giúp cho các nhà sản xuất tạo ra được những sảnphẩm mang tính chất đặc thù riêng của mình Điều này sẽ giúp cho nhà sảnxuất giữ được vị thế độc quyền của mình về sản phẩm, nâng cao khả năngcạnh tranh của sản phẩm và của cả doanh nghiệp

Trình độ khoa học - công nghệ là yếu tố quan trọng thứ hai liên quan đếnhiệu quả của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Tiến bộ khoa học -công nghệ là yếu tố quyết định sự thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được mụctiêu của các công ty và các tập đoàn

+ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ: nói tới năng lựccạnh

tranh của doanh nghiệp không thể không bản tới năng lực cạnh tranh của cácsản phẩm dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất cung cấp Năng lực cạnh tranhcủa sản phẩm dịch vụ là khả năng sản phẩm dịch vụ đó được sử dụng nhiều

và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất cungcấp loại sản phẩm dịch vụ đó Do vậy, trước khi có dự án đầu tư ra nướcngoài, các doanh nghiệp phải xác định được năng lực cạnh tranh của sảnphẩm dịch vụ của mình Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam

Trang 25

hiện nay, không đủ điều kiện để áp dụng các công nghệ hiện đại có thể tạo racác sản phẩm vượt trội thì có thể đầu tư vào phát triển các sản phẩm truyềnthống, mang đặc tính riêng có.

1.4.2.2 Cơ chế chính sách của nhà nước

Trong điều kiện phát triển và hội nhập hiện nay thì đầu tư trực tiếp nướcngoài là một tất yếu khách quan không chỉ riêng đối với các quốc gia đangphát triển cũng đang dần nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của hoạt động đầu

tư trực tiếp ra nước ngoài Doanh nghiệp tại các nước không ngừng tìm kiếm

cơ hội vươn ra thị trường quốc tế, mong gặt hái được lợi nhuận lớn hơn Tuynhiên, hoạt động đầu tư ra nước ngoài có đạt được hiệu quả hay không thì bêncạnh sự nỗ lực của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào những cơ chế chính sách

từ phía nhà nước Hệ thống các chính sách này có thể thúc đẩy, khuyến khíchcác doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nhưng cũng có thể làm cảntrở, hạn chế hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Do vậy, để khuyến khích doanh nghiệp tiến hành đầu tư trực tiếp ra nướcngoài, Chính phủ có thể thực thi các chính sách vĩ mô có tác động mạnh đếnthúc đẩy hoạt động này như: có thể thay đổi chính sách tài chính - tiền tệ saocho nới lỏng tiền tệ và thắt chặt tài chính Điều này sẽ làm cho mức lãi suấtthực tế giảm làm cản trở môi trường đầu tư nội địa, đầu tư trong nước khôngcòn hiệu quả Để đảm bảo nguồn thu, các doanh nghiệp phải đảm bảo tìmđường vươn sang thị trường khác Từ đó mà gián tiếp thúc đẩy đầu tư trựctiếp ra nước ngoài Hay như chính sách quản lý ngoại hối ở nước đầu tư cũngtác động lớn đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Nếu quản

lý ngoại hối được nới lỏng theo hướng tự do hoá thị trường vốn thì các nhàđầu tư được quyền tự do chuyển vốn ra nước ngoài, do đó sẽ làm tăng khảnăng đầu tư ra nước ngoài của các chủ đầu tư

Bên cạnh việc điều hành các chính sách vĩ mô thì các hoạt động hỗ trợtrực tiếp cho doanh nghiệp của Chính phủ cũng có một tầm quan trọng nhất

Trang 26

định Chính phủ các nước đang phát triển có thể trợ giúp các nhà đầu tư củamình thông qua việc thành lập các trung tâm xúc tiến đầu tư, các tổ chức hỗtrợ đầu tư ở nước ngoài, phát triển các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư, hỗ trợ vềtiếp cận nguồn vốn, hỗ trợ lãi suất cũng như cùng doanh nghiệp giải quyết cácvấn đề phát sinh.

Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nếu không được Chính phủnước đi đầu tư ủng hộ và khuyến khích thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, cácdoanh nghiệp sẽ không đạt được hiệu quả đầu tư như mong muốn

1.5 Sự cần thiết thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp của Việt Nam sang các nước ASEAN

- Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp ra nước ngoài là hoạt động có hiệu quả để doanh nghiệp phân tán rủi ro nhờ đa dạng hoá được thị trường đầu tư.

- Đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp ra nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động trên những thị trường không độc quyền tức là có môi trường cạnh tranh minh bạch, bình đẳng…Do đó mà doanh nghiệp sẽ phát huy tốt thế mạnh của mình.

Để thực hiện những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, Việt Namphải từng bước mở cửa và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp các nướcđầu tư và hoạt động tại thị trường Việt Nam Như vậy, đã tạo ra sức ép lớnđối với các doanh nghiệp trong nước Nếu hoạt động kinh doanh trong nướcquá khó khăn, thậm chí dẫn tới phá sản thì doanh nghiệp vẫn còn có cơ sởkinh doanh khác tại nước ngoài

Nhìn chung, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là hoạt động tấtyếu khách quan và cần thiết để các nhà đầu tư của những nước đang phát triển

có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới Các doanh nghiệp Việt Nam đã vàđang nhận thức được tầm quan trọng của xu hướng này và đang từng bước nỗlực mở rộng ĐTTTRNN nhằm mục tiêu phát triển và thu được lợi nhuận cao

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM SANG CÁC NƯỚC ASEAN

2.1 Thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài sang các nước ASEAN 2.1.1 Khái quát đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam thời gian qua

Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, đầu tư ra nướcngoài là một phương thức giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường nâng cao vịthế của doanh nghiệp trên trường quốc tế Nhận thức được tầm quan trọng đó,những năm gần đây các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã đạt được những bấtngờ và tiến bộ trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài Đây được coi là một lĩnhvực mới mẻ nhưng đầy hấp dẫn và có nhiều triển vọng trong tương lai

2.1.2 Thực trạng đầu tư của Việt Nam sang các nước ASEAN

Quy mô vốn

- Cơ cấu

Các nước ASEAN hiện có gần 1300 dự án đầu tư trực tiếp đang hoạtđộng ở Việt Nam với tổng số vốn đầu tư trên 44 tỷ USD, đồng thời Việt Namcũng có trên 220 dự án đang hoạt động ở các nước ASEAN với tổng số vốnđầu tư trên 2,6 tỷ USD

ASEAN ngày nay là một Hiệp hội đoàn kết, vững mạnh, là mái nhàchung của các dân tộc Đông Nam Á, từng bước đứng vào vị trí trung tâmtrong các tiến trình hội nhập ở khu vực và thế giới

Kể từ khi gia nhập ASEAN (1995) đến nay, Việt Nam luôn luôn là mộtthành viên tích cực, có trách nhiệm của Hiệp hội, đóng góp có hiệu quả vàotất cả các hoạt động của ASEAN Hợp tác ASEAN cũng đã đem lại cho ViệtNam những vận hội và thành công mới

Trang 28

Cùng với những thành tựu của sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã trở thànhmột bộ phận không thể tách rời trong gia đình ASEAN Năm 2008 thươngmạiViệt Nam với các nước ASEAN đạt gần 30 tỷ USD, tăng trên 25% so vớinăm 2007 và chiếm trên 20% kim ngạch thương mại

Các nước ASEAN hiện có gần 1300 dự án đầu tư trực tiếp đang hoạtđộng ở Việt Nam với tổng số vốn đầu tư trên 44 tỷ USD, đồng thời Việt Namcũng có trên 220 dự án đang hoạt động ở các nước ASEAN với tổng số vốnđầu tư trên 2,6 tỷ USD

Hiện nay, Việt Nam đang cùng với các thành viên khác của Hiệp hội rasức đẩy mạnh hợp tác và hội nhập, hướng tới xây dựng thành công Cộng đồngASEAN vào năm 2015

Một số quan điểm của Việt Nam trong việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, vốn đang là tâm điểm chú ý của người dân Việt Nam trong thời gian gần đây là:

Cuộc khủng hoảng tài chính, toàn cầu đang là thách thức chung của cácquốc gia, đã tác động làm suy giảm kinh tế ở nhiều mức độ khác nhau tới tất

cả các nước Là một nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam cũng đang chịu tácđộng tiêu cực của cuộc khủng hoảng, đặc biệt là đối với xuất khẩu, thu hútđầu tư nước ngoài và du lịch

Để ngăn chặn suy giảm kinh tế và duy trì tăng trưởng, Việt Nam đang

thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp với trọng tâm là thúc đẩy sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu; kích cầu đầu tư và tiêu dùng; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ linh hoạt, hiệu quả; đảm bảo an sinh xã hội, đẩy mạnh chương trình giảm nghèo

Bên cạnh đó, chúng tôi đồng thời triển khai các biện pháp để tạo tiền đềcho phát triển bền vững trong những năm sau như đẩy mạnh và nâng cao hiệuquả hội nhập kinh tế quốc tế; khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật; tiếptục đẩy mạnh cải cách hành chính và đấu tranh phòng, chống tham nhũng;

Trang 29

đẩy nhanh xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông, năng lượng;chú trọng phát triển nguồn nhân lực để thu hút đầu tư công nghệ cao, có giátrị gia tăng lớn; tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái

Bằng những biện pháp đồng bộ được áp dụng mạnh mẽ, năm 2008 ViệtNam đã kiềm chế được lạm phát, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ ổn định, ansinh xã hội được bảo đảm và duy trì được mức độ tăng trưởng kinh tế cả năm

2008 là 6,2%, xuất khẩu tăng gần 30%, vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nướcngoài đạt 64 tỷ USD, gấp 3 lần năm 2007

Trong quý I năm 2009, trong điều kiện có rất nhiều khó khăn, tốc độtăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn đạt 3,1%, ổn định kinh tế vĩ mô được giữvững Dự kiến, tăng trưởng GDP thời gian tới quý sau sẽ cao hơn quý trước

và cả năm tăng trưởng khoảng 5%

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu hiện nay cònđang diễn biến phức tạp Hơn lúc nào hết cần phải nỗ lực cả ở cấp quốc gia,khu vực và quốc tế để đối phó với khủng hoảng

Là thành viên của ASEAN, Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các nước,trong khuôn khổ ASEAN, ASEAN+3…để đối phó với các tác động tiêu cựccủa khủng hoảng và suy giảm kinh tế Việt Nam mong muốn cộng đồng quốc

tế, nhất là các nước phát triển, quan tâm hỗ trợ các nước chậm phát triển vàđang phát triển trong việc ứng phó và xử lý tác động tiêu cực của cuộc khủnghoảng và suy giảm kinh tế hiện nay

Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong việc xác định hướngphát triển tương lai của ASEAN Các văn kiện định hướng quan trọng chotiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN như Tuyên bố Bali II, Hiến chươngASEAN, các Kế hoạch tổng thể xây dựng 3 trụ cột Cộng đồng… đều có dấu

ấn của Việt Nam

Vốn đầu tư sang Lào tăng nhanh trong thời gian gần đây khi hai bên hợptác phát triển nhiều dự án về hạ tầng, năng lượng và phát triển vùng nguyênliệu Trong thời gian tới, đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sẽ hướng nhiềuđến các nước láng giềng như Lào, Campuchia vì đây là những nước có sự gần

Trang 30

gũi về đại lý, có nhiều lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh Mặt khác, các nướcnày đang trên đà phát triển kinh tế mạnh, cần thu hút đầu tư nước ngoài nêncác quy định về luật cũng khá cởi mỏ và có những chính sách ưu đãi.

2.1.3 Lĩnh vực đầu tư

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào

cả ba ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ Tuy nhiên, những năm gầnđây đã có sự chuyển hướng tích cực, không còn tập trung vào các ngành dịch

vụ mà đã đầu tư nhiều hơn cho công nghiệp

BẢNG 1: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

Tổng số 200 1.003.951.232 88.663.415

Theo bảng trên cho thấy, các dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanhnghiệp Việt Nam tập trung phần lớn trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựngnhư thăm dò, khai thác dầu khí, sản xuất, chế biến hàng gia dụng, vật liệu xây

Trang 31

dựng ( chiếm 41% số dự án và 73% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là lĩnh vựcnông nghiệp (với con số tương ứng là 22 % và 15,1%), còn lại là lĩnh vựcdịch vụ.

và công nghiệp thực phẩm vẫn đang còn nằm trên giấy Tuy nhiên, cho đếnnay thì tình hình giải ngân trong lĩnh vực công nghiệp đang dần được cảithiện, tất cả các ngành công nghiệp đang dần được cải thiện, tất các các ngànhcông nghiệp thực phẩm, tổng vốn đầu tư được thực hiện Đặc biệt có ngànhcông nghiệp thực phẩm, tổng vốn đầu tư thực hiện/ tổng vốn đầu tư đã đạttrên 50%.Tốc độ giải ngân trong ngành này cũng có tiến triển đáng kể chủ yếu

là do trong hơn một năm nay vốn đăng ký trong ngành dầu khí ( ngành chiếm

tỷ trọng vốn lớn nhất) đang dần được thực hiện

Thực tế, trong lĩnh vực công nghiệp, thời gian vừa qua đã có nhiều dự ánđầu tư ra nước ngoài sang các nước ASEAN và đến thời điểm hiện nay đã bắtđầu gặt hái được thành công Cụ thể như các dự án về dầu khí với thành côngtại Malaysia ( đã đón thùng dầu đầu tiên) Về chế biến thực phẩm với mỳ ănliền, hạt điều, cà phê ở Đôngtimo,Campuchia; chế biến thực phẩm ở Lào,Campuchia; các mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng có mặt ở nhiều nước; vậtliệu xây dựng như sản xuất đá granit; các dự án đầu tư về lĩnh vực điện, khai

Trang 32

thác khoáng sản, tiến tới là dệt may Những lĩnh vực này hiện nay mới chỉ tậptrung ở một số nước bên cạnh, trong kho vực, nhưng tiến tới nên khuyếnkhích đầu tư vào những nứơc, khu vực khác- được xem là có nhiều tiềmnăng, cơ hội, môi trường đầu tư thuận lợi Việc tăng đầu tư ra nước ngoàitrong nhiều lĩnh vực công nghiệp sẽ góp phần tăng lợi thế cho doanh nghiệpViệt Nam, có thể sử dụng nguyên liệu của nhiều nước.

- Nông nghiệp

Ngành nông nghiệp có quy mô trung bình các dự án tương đối nhỏ( khoảng 3,46 triệu USD/ dự án) nhưng tỷ lệ giải ngân lại khá cao (7,8%), hơnhẳn so với các dự án thuộc ngành dịch vụ Đặc biệt là ngành thuỷ sản, tuy chỉ

có 4 dự án nhưng số vốn đầu tư thực hiện đạt gần 2 triệu USD, chiếm 255 sốvốn đầu tư

Năm 2006, lĩnh vưc nông nghiệp cũng được đầu tư tới 10 dự án ( trong

số 33 dự án được cấp phép ở TNN năm 2006) với tổng số vốn đầu tư hơn 47triệu USD

BIỂU 1: TỔNG SỐ DỰ ÁN PHÂN THEO NGÀNH

Biểu TỔNG SỐ DỰ ÁN PHÂN THEO NGÀNH

Công nghiệp 41%

Nông nghiệp 22%

Dịch vụ

Nông nghiệp Dịch vụ

- Dịch vụ

Quy mô vốn trong lĩnh vưc dịch vụ là khiêm tốn nhất ( trung bình chỉkhoảng hơn 1,59 triệu USD/ dự án) thấp hơn so với 2 ngành công nghiệp và

Trang 33

nông nghiệp Đây cũng là ngành có tỉ lệ vốn thực hiện/ tổng vốn đầu tư thấp nhất4,8% Điều này cho thấy xu hướng các dự án đầu tư trưc tiếp ra nước ngoài củacác doanh nghiệp Việt Nam đang chuyến hướng sang các ngành công nghiệp.

Xu hướng này cũng cho thấy sự lớn mạnh của nền kinh tế Việt Nam nói chung

và của các doanh nghiệp nói riêng Các doanh nghiệp đã có đủ năng lực và trình

độ công nghệ để tiến hành các dự án trong lĩnh vực công nghiệp

Riêng trong năm 2008 có 2 dự án lớn được cấp phép trong ngành dịch

vụ với tổng số vốn lên tới 83 triệu USD Đó là dự án đầu tư xây dựng Trungtâm thương mại bên Thái Lan và dự án về Dịch vụ dầu khí tại Singapore.Ngoài các dự án lớn tập trung vào các lĩnh vực năng lực, khai khoáng docác công ty, tập đoàn mạnh đầu tư thì hiện cũng có nhiều dự án do cácDNNVV thực hiện Có thể kể đến một lợi thế về các lĩnh vực nhự nhà hàng,

du lịch, khách sạn và nhà hàng lớn ở cả nước

BIỂU 2: TỔNG VỐN ĐẦU TƯ PHÂN THEO NGÀNH

0 100000000

2.1.4 Thị trường đầu tư

Chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nộidung quan trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước

Trang 34

Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hoá và cách mạng khoa học kỹ thuậtdiễn ra rất mạnh mẽ hiện nay Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam ưu tiêncao cho việc mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương vớicác nước và vùng lãnh thổ Nhờ đó, các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gianqua đã có những thuận lợi nhất định khi tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ranước ngoài Cụ thể cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã mở rộng thịtrường đầu tư trực tiếp sang 33 quốc gia và vùng lãnh thổ.

BẢNG 2: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

SANG CÁC NƯỚC ASEAN PHÂN THEO NƯỚC

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Địa bàn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam hiện mở rộng trên 33quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó tập trung nhiều ở các nước trong khu vựcmậu dịch ASEAN, mà nhất là ở Lào với 68 dự án với tổng vốn đầu tư 457,8triệu USD (tương ứng chiếm 34% số dự án và 45,6% về vốn đầu tư) Tại Lào,Việt Nam đã có dự án lớn như Thuỷ điện Xekaman 3 với 274 triệu USD, sảnxuất hàng may mặc của công ty Scavi Việt Nam, dự án trồng cao su tại 4 tỉnhNam Lào của công ty cao su ĐăkLăk (vốn đầu tư thực hiện khoảng 6 triệuUSD), dự án trồng - sản xuất - chế biến cao su của Tổng công ty cao su ViệtNam (vốn đầu tư khoảng 12 triệu USD) Với tổng vốn đầu tư 274 triệu USD,

Trang 35

Dự án xây dựng công trình thuỷ điện Xekaman 3 dự án đầu tư ra nước ngoàilớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam và cũng là dự án hợp tác đầu tư lớnnhất giữa hai nước Việt Nam - Lào Công trình gồm hai tổ máy công suất250MW, với sản lượng điện trung bình hàng năm 1,043 tỷ Kwh cung cấp chocác tỉnh nam Lào và xuất khẩu sang Việt Nam Thuỷ điện này dự kiến sẽ phát

tổ máy số 1 vào đầu năm 2009 và hoàn thành cuối năm 2009 Dự kiến tổngdoanh thu hàng năm của nhà máy lên đến 40 triệu USD Dự án do công tyTNHH Xekaman 3 (thuộc công ty cổ phần đầu tư và phát triển điện Việt -Lào) đầu tư một dự án thuỷ điện lớn nhất tại Lào là do quốc gia này có nhữngđặc thù riêng biệt như núi cao, thác sâu (cho thấy nguồn thuỷ điện ở đây cónhiều tiềm năng), việc đầu tư nguồn điện tại Lào là sự mời gọi hấp dẫn

BIỂU 3: CÁC QUỐC GIA CÓ TỔNG SỐ VỐN ĐẦU TƯ LỚN NHẤT

Biểu CÁC QUỐC GIA CÓ TỔNG VỐN ĐÀU TƯ LỚN

NHẤT

Philippin 16%

Lao 45%

Khác 9%

Campuchia

Lao Khác Campuchia

Xét về mức vốn đầu tư thì đứng sau Lào là Campuchia Đây là một thịtrường mới và đầy tiềm năng đối với doanh nghiệp Việt Nam Chính phủCampuchia đang thực hiện chương trình hỗ trợ thúc đẩy kinh tế phát triển giaiđoạn 2005- 2009 với ngân sách 144 tỷ USD và việc thực hiện tư nhân hoádoanh nghiệp; Campuchia đã và đang cải cách mạnh mẽ về hệ thống tài chính

Trang 36

ngân hàng, chính sách hỗ trợ thuế cho các nhà đầu tư… là cơ hội lớn cho cácdoanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể đưa hànghoá của mình vào thị trường này, nhất là các mặt hàng thế mạnh như: gạo,chè, cà phê…Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam còn có thể thông qua Lào nhưmột cửa ngõ hay một cơ sở phân phối để đưa hàng hoá vào khu vực Châu Árộng lớn Hỗ trợ thuế là một trong những chính sách ưu đãi đầu tư hàng đầucủa Lào Nhà đầu tư có thể được giảm thuế hải quan đối với các trang thiết

bị nhập khẩu và đưa trực tiếp vào quá trình thực hiện đầu tư; miễn trừ thuếgiá trị gia tăng đối với hàng hoá và dịch vụ; miễn trừ các khoản tiền phải nộpliên quan tới chuyển nhượng trong tất cả các giao dịch bất động sản thực hiệntrong khuôn khổ hoạt động đầu tư Hình thức bảo hộ và bảo đảm đầu tư ở Làođược thể hiện thông qua việc không xâm phạm các ưu tiên; có thể chuyển vốn

và thu nhập; các nhà đầu tư đều được đối xử ngang nhau; được bảo vệ bởi cáccông ước và hiệp định quốc tế song phương và đa phương về khuyến khích vàbảo hộ đầu tư

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vươn tầm sản xuất, kinhdoanh của mình sang cả khu vực Châu Á Đối với Việt Nam, Châu Á là mộtthị trường tiềm năng rộng lớn nhưng vẫn còn mới mẻ với nhiều doanh nghiệpViệt Nam Đây là lục địa rất giàu tài nguyên, khoáng sản Từ đầu những năm

1990, các nước Châu Á đã có những chuyển biến tích cực về kinh tế- chính trịnhờ chính sách cải cách nền kinh tế và mở rộng cửa ra thế giới bên ngoài.tổng vốn đầu tư lớn nhất

Trong tương lai các doanh nghiệp Việt Nam cần nghiên cứu khả năngđầu tư trong các ngành như dệt may ( nhằm tận dụng quy chế miễn phí mà cácnước Châu Á có một số lợi thế về nông nghiệp,lâm nghiệp) Các doanhnghiệp cần kiên trì khi thâm nhập thị trường này vì đây là thị trường có nhucầu rất lớn về các chủng loại hàng hoá, đặc biệt là nông sản, hàng tiêu dùng

và lại không quá khắt khe về phẩm cấp và mẫu mã

Trang 37

Ngoài các thị trường trên, Việt Nam cũng từng bước tăng cường đầu tưsang các quốc gia phát triển như Thái lan , Đôngtimo , Singapore Trong đó,Singapore đứng thứ hai trong việc thu hút đầu tư của Việt Nam với tổng số 10

dự án và tổng vốn trên 38 triệu USD ( chiếm 5% tông số dự án và 3,8 về vốnđầu tư) Đôngtimo đứng thứ hai sau Lào về số lượng các dự án với 21 dự ánvới 14 triệu USD, chiếm 10,5% tổng số dự án và 1,4% về vốn đầu tư TháiLan đứng thứ ba sau Singapore với tổng số 15 dự án

BIỂU 4: CÁC QUỐC GIA CÓ SỐ LƯỢNG DỰ ÁN LỚN NHẤT

Trang 38

nhiều lợi thế khi đầu tư ở khu vực này, đặc biệt với các ngành hàng tiêu dùng,may mặc, giầy da, dịch vụ thương mại.

Ngoại trừ Lào là một thị trường truyền thống của Việt Nam thì Việt Namcũng đang muốn hướng đầu tư vào các quốc gia phát triển khác Với việc đầu

tư sang các quốc gia phát triển,doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội học hỏi kinhnghiệm quản lý, cách tổ chức và tận dụng các công nghệ tiên tiến Điều nàycũng cho thấy Việt Nam không chỉ nhân vốn từ những nước có nền kinh tếphát triẻn mà còn hoàn toàn có khả năng bỏ vốn đầu tư vào thị trường cácnước phát triển với mục đích kiếm lợi nhuận và qua đó còn cải thiện vị thếcủa các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế

Tiếp đến là Malaysia, Singapore, Campuchia tiếp nhận khoảng từ 19đến gần hơn 30 triệu USD Các nước khác tiếp nhận các dự án nhỏ dưới 1triệu USD

Việc doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài không chỉ mang ýnghĩa kinh tế mà còn khẳng định xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế ViệtNam có khả năng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới

2.1.5 Tình hình cấp giấy phép đầu tư

Song song với việc nhận đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, trong nhữngnăm qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã chú ý tơi việc đầu tư ra nước ngoài mởrộng thị trường, đặt những nền móng cơ bản cho việc kinh doanh ở nước ngoài.Khoảng 10 năm về trước, số lượng các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ranước ngoài mỗi năm chỉ có vài ba dự án mang tính chất thăm dò và mở thịtrường cho các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam Kể từ năm 1999,khi Chính phủ ban hành Nghị định 22/1999/NĐ-CP về một số biện pháp khuyếnkhích đầu tư ra nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanhnghiệp Việt Nam bắt đầu có sự tăng trưởng ổn định, phạm vi đầu tư được mởrộng Riêng trong năm 1999 Việt Nam đã có 12 dự án đầu tư ra nước ngoài và

Trang 39

sang các nước ASEAN với tổng số vốn 18.337 triệu USD, năm 2006 tăng lên

15 dự án tăng trưởng đều đặn về số lượng dự án kể từ ngày đó đến nay

BẢNG 3: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM

PHÂN THEO NĂM

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch và Đầu tư

Trong vòng 15 năm kể từ khi có dự án ĐTRNN sang các nước ASEANđầu tiên năm 1989 đến năm 2006 các dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài củacác doanh nghiệp Việt Nam đã có sự gia tăng cả về số lượng và số vốn đăng

ký Năm 1989 duy nhất có một dự án doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN sangcác nước ASEAN với tổng số vốn đầu tư chỉ hơn 500 nghìn USD Đây là thờiđiểm mà đất nước rất cần vốn để xây dựng và phát triển đất nước nên khôngmấy doanh nghiệp nghĩ đến việc đem vốn đầu tư sang nước khác Đến năm

1990 cũng chỉ có duy nhất một dự án ĐTRNN sang các nước ASEAN Tuynhiên, đến năm 1993 thì đã có sự thay đổi Mặc dù tổng vốn đầu tư chỉ gần

Trang 40

700 nghìn USD nhưng đã có 5 dự án ĐTRNN Số lượng các dự án ĐTRNNliên tục tăng lên hàng năm, đến năm 1999 tổng số dự án ĐTRNN của cácdoanh nghiệp Việt Nam đã lên tới con số 12, với tổng số vốn đầu tư tăng độtbiến tới hơn 18,3 triệu USD Đặc biệt, các doanh nghiệp Việt Nam đã tạo nênbước nhảy vọt về ĐTRNN trong 2 năm 2002 và 2003.

Tổng vốn ĐTRNN sang các nước ASEAN thời gian năm 2007 lên tớihơn 382 triệu USD với 15 dự án Trong đó đáng chú ý là dự án khai thác dầukhí ở Singapore với tổng số vốn đầu tư trên 83 triệu USD Đây là dự án đầu tưtrực tiếp ra nước ngoài với quy mô vốn đầu tư lớn nhát từ trước tới nay củacác doanh nghiệp Việt Nam Trước khi xin cấp giấy phép dự án này, Tổngcông ty Dầu khí Việt Nam tiến hành đàm phán với một số nước về tìm kiếmthăm dò dầu khí Ngoài ra, phải kể đến dự án của công ty Gạch Thạch Bàn -

Hà Nội với tổng số vốn đầu tư là 15 triệu USD trong thời hạn 49 năm đểthành lập công ty 100% vốn đầu tư Việt Nam tại Thái Lan Đây là dự ánchuyên sản xuất gạch ốp lát Granit Công ty Gạch Thạch Bàn là một doanhnghiệp đi tiên phong trong số các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp vàoThái Lan trong lĩnh vực vật liệu xây dựng

Năm 2002 là một năm khởi sắc và thành công của Việt Nam trong lĩnhvực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với số vốn đầu tư gấp 4 lần tổng số vốn cácnăm trước cộng lại, và quy mô đầu tư lớn kỷ lục đạt trung bình 25,5 triệuUSD/dự án Trong đó có sự đóng góp không nhỏ của những dự án thuộc tổngcông ty Dầu khí Việt Nam

Năm 2003, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp ViệtNam tiếp tục có những bước tăng vọt về số dự án đầu tư Tính riêng 5 thángđầu năm 2006, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp giấy phép cho 10 dự án của cácdoanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra các nước với tổng số vốn đầu tư

Ngày đăng: 02/05/2016, 19:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Một số trang web http://www.vinaseek.com www.googe.com www.vneconnomy.com , … Link
1. TS .Nguyễn Kim Bảo ,đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung Quốc từ 1997 đến nay .NXB Khoa học va Xã hội,Hà Nội Khác
2. Bộ Thương Mại (2006) Hiệp định thương mại tự do Việt Nam -Hoa Kỳ .Hà Nội Khác
3. Bộ Thương Mại(2005) Hiệp định tự do ,xúc tiến và bảo hộ Việt Nam -Nhật Bản ,Hà Nội Khác
4. Luật đầu tư(2007) nhà xuất bảo chính trị quốc gia,Hà Nội Khác
5. Tạp trí Nghiên cứu kinh tế ,Tạp trí kinh té và dự báo ,tạp trí những vấn đề kinh tế thế giới,…năm 2007,2008 Khác
6. Bộ kế hoạch và đầu tư (2006)nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài,Hà Nội Khác
8. Các tài liệu tham khảo thêm của Công ty Cổ phần Nghiên cứu Kinh tế Đối ngoại ASEAN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM - Các Giải Pháp Thúc Đẩy Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Việt Nam Sang Các Nước ASEAN
BẢNG 1 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM (Trang 30)
BẢNG 2: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM - Các Giải Pháp Thúc Đẩy Đầu Tư Trực Tiếp Ra Nước Ngoài Của Việt Nam Sang Các Nước ASEAN
BẢNG 2 ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM (Trang 34)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w