1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008

119 529 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 766 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BHXH hoạt động dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia vào mộtquỹ tài chính tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước, đó là quỹ BHXH vàthông qua các chế độ BHXH, những người lao động gặp

Trang 1

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG/BIỂU/SƠ ĐỒ/HÌNH VẼ

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU/SƠ ĐỒ/HÌNH VẼ

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Ở Việt Nam, Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng

và Nhà nước, giữ vị trí trụ cột cơ bản và ngày càng quan trọng trong hệ thống

An sinh xã hội Theo quan điểm chung nhất thì BHXH chính là sự bảo đảmthay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảmhoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xãhội BHXH hoạt động dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia vào mộtquỹ tài chính tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước, đó là quỹ BHXH vàthông qua các chế độ BHXH, những người lao động gặp phải rủi ro được bảohiểm sẽ được nhận một khoản trợ cấp nhằm bù đắp, thay thế cho những khoảnthu nhập bị giảm hoặc mất do rủi ro gây ra

Từ năm 1995, sau khi BHXH Việt Nam được thành lập, BHXH đãchuyển sang một cơ chế quản lý mới Đó là cơ chế quản lý theo hệ thống dọc

từ trung ương đến địa phương để thực hiện tất cả các nghiệp vụ BHXH nhằmđảm bảo tốt nhất nhu cầu an toàn cho người tham gia và nhân dân trong cảnước

Trong những năm qua, công tác BHXH huyện Ninh Giang đã đạt đượcnhiều kết quả và thành tích đáng khích lệ như: các đối tượng tham gia BHXHđều được mở rộng hàng năm, phí BHXH thu ngày càng nhiều, việc chi trả cácchế độ BHXH cho đúng đối tượng, chi đúng chi đủ theo quy định của cơ quanBHXH cấp trên, công tác triển khai và tuyên truyện BHXH, BHYT tự nguyệnđạt được kế hoạch đã giao của BHXH tỉnh Hải Dương… Trong đó công tácquản lý thu - chi BHXH bắt buộc có những đóng góp quan trọng: đối tượngtham gia BHXH, BHYT bắt buộc tăng nhanh, số tiền BHXH thu được hàng

Trang 5

năm không ngừng tăng lên với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch luôn đạt trên 100%,công tác chi trả trợ cấp BHXH được thực hiện về tận xã, thị trấn nơi các đốitượng hưởng đang cư trú, hàng tháng chi lương hưu, trợ cấp BHXH được đảmbảo an toàn, nhanh gọn thông qua hệ thống đại lý chi trả tại các xã, thị trấntrong huyện… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, công tác quản lý thu - chiBHXH vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện như: chưakhai thác hết lực lượng lao động trên địa bàn, tình trạng nợ đọng BHXH còntiếp diễn tại một số đơn vị sử dụng lao động, quản lý công tác thu - chi BHXHcòn chưa khoa học…

Có thể thấy rằng, việc thực hiện tốt công tác quản lý thu - chi BHXH có

ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của chế độ BHXH Việt Nam cũng nhưBHXH các tỉnh, huyện trong cả nước, trong đó có BHXH huyện Ninh Giang,tỉnh Hải Dương Nhưng những tồn tại trong công tác này cũng cần phải đượcxem xét và bàn luận trên nhiều khía cạnh khác nhau Chính vì vậy em lựachọn đề tài:

“Đánh giá tình hình quản lý thu - chi BHXH tại huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003 - 2008” làm luận văn tốt nghiệp.

Mục đích chính của luận văn là:

- Làm rõ công tác thu - chi BHXH và quản lý thu - chi BHXH;

- Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu - chi BHXH bắt buộc tạiBHXH huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn từ năm 2003 đến 2008;

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu - chiBHXH huyện Ninh Giang trong thời gian tới

Luận văn này được thực hiện thành công đó là nhờ có sự giúp đỡ tận

tình của cô giáo Phạm Thị Định - chủ nhiệm khoa Kinh tế bảo hiểm, trường Đại học Kinh tế quốc dân, bác Nguyễn Thế Truyền - Giám đốc

BHXH huyện Ninh Giang và tập thể cán bộ cơ quan BHXH huyện Ninh

Trang 6

Giang Tuy nhiên, do trình độ hiểu biết còn nhiều hạn chế nên bài viết nàykhông tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong được sự đóng góp ýkiến của các thày - cô giáo để bài viết được hoàn chỉnh hơn.

Một lần nữa em chân thành cám ơn cô giáo Phạm Thị Định, bác Nguyễn Thế Truyền và tập thể cán bộ cơ quan BHXH huyện Ninh Giang đã

giúp em hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2009

Sinh viên

Phạm Thị Hồng Nhung

Trang 7

PHẦN I KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

I SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN VÀ BẢN CHẤT CỦA BHXH

1 Tính tất yếu khách quan của Bảo hiểm xã hội

Trong cuộc sống, con người không thể tồn tại và phát triển nếu khôngđược đáp ứng những nhu cầu tối thiểu như ăn, mặc, ở, đi lại… Để có thể thoảmãn được những nhu cầu này, con người phải tham gia lao động sản xuất đểtạo ra những sản phẩm cần thiết Khi của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức

độ thoả mãn nhu cầu ngày càng cao, có nghĩa là thoả mãn nhu cầu phụ thuộcvào khả năng lao động của con người

Trong thực tế, không phải người lao động (NLĐ) nào cũng có đủ điềukiện về sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoànthành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình mộtcuộc sống ấm no, hạnh phúc Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn bấtlợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người lao động bị giảm hoặc mấtthu nhập, mất việc làm; những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay giàyếu, chết hoặc thiếu việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của nhữngđiều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vàonhững trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế màmất đi, trái lại có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mớinhư cần được khám, chữa bệnh, điều trị khi ốm đau, cần có người chăm sóc,nuôi dưỡng, cần bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ… Để có thể khắc phục nhữngrủi ro, bất hạnh, giảm bớt khó khăn cho bản thân, gia đình và ổn định cuộcsống, con người đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ, đùmbọc, tương trợ lẫn nhau, hay sự bảo trợ, cứu trợ của Nhà nước, cộng đồng xãhội Sự tương trợ đó dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức

Trang 8

khác nhau Những yếu tố đoàn kết hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ýthức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ khác nhau.

Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá thì mối quankinh tế giữa người lao động và người sử dụng lao động (người SDLĐ) cũngtrở nên phức tạp Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ người làm công

ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do laođộng đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tainạn, rủi ro bị mất việc làm hoặc khi về già… đã trở thành mối đe doạ đối vớicuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khácngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối đầu với những nhu cầu thiết yếu hàngngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằngnhững hành động tương thân, tương ái; đồng thời đấu tranh đòi hỏi giới chủ

và Nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ Do đó, mâu thuẫnchủ - thợ phát sinh Sau đó, giới chủ đã phải cam kết sẽ bảo đảm cho ngườilao động một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu thiết yếukhi không may gặp phải rủi ro Tuy nhiên, nếu các rủi ro không xảy ra thìngười chủ không phải chi đồng nào; ngược lại, nếu các rủi ro xảy ra thườngxuyên hoặc dồn dập, buộc giới chủ phải bỏ ra khoản tiền lớn mà họ không hềmuốn và nhiều khi họ tìm cách trốn tránh trách nhiệm này Vì thế, mâu thuẫnchủ - thợ ngày càng trở nên gay gắt, các cuộc đấu tranh buộc giới chủ thựchiện cam kết diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đờisống kinh tế - xã hội

Trước những nhu cầu được bảo vệ quyền lợi của người lao động và cầnthiết phải giải quyết mâu thuẫn trên, Nhà nước đã phải can thiệp bằng cáchhình thành một quỹ tiền tệ tập trung và buộc cả giới chủ, thợ phải đóng gópđịnh kỳ hàng tháng một khoản tiền vào quỹ này Từ đây, Bảo hiểm xã hội ra

Trang 9

đời, quỹ tiền tệ tập trung đó được gọi là quỹ BHXH và những tranh chấp cũngnhư những khó khăn trong quá trình lao động sản xuất, cũng như trong cuộcsống người lao động được giải quyết một cách ổn thoả, có hiệu quả nhất Đóchính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình pháttriển Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thànhviên trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia BHXH và sự cầnthiết được hưởng BHXH.

2 Khái niệm và bản chất của Bảo hiểm xã hội

2.1 Khái niệm về BHXH

Bảo hiểm xã hội có lịch sử khá lâu đời với tiền thân là quỹ ốm đau dongười công nhân đóng góp tạo thành Quỹ để dự phòng khi bị mất thu nhập vì

ốm đau, bệnh tật Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, quỹ ốm đau được thành lập

ở nhiều Bang và từ đó xuất hiện hình thức bắt buộc phải đóng góp vào quỹ.Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần do các hình thức bảo hiểm mở rộngcho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật thì đến cuối nhữngnăm 1880, giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ tham gia đónggóp vào quỹ Do đó, hình thành cơ chế ba bên và tính chất đoàn kết, san sẻ rủi

ro lúc này được thể hiện rõ nét

Mô hình này của Đức đã lan dần sang các nước châu Âu, sau đó sang MỹLatin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sauchiến tranh thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước giành được độclập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribe

Từ đây, BHXH đã dần dần trở thành một trụ cột cơ bản của hệ thống Ansinh xã hội và được tất cả các nước trên thế giới thừa nhận là một trong nhữngquyền con người Cùng với sự phát triển của xã hội, BHXH đã có nhiều thayđổi về chất với nhiều mô hình phong phú được thể hiện ở hàng trăm nước trênthế giới Tuy nhiên, cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề

Trang 10

còn nhiều tranh luận vì được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau thì các quanđiểm đưa ra cũng khác nhau.

Nếu tiếp cận từ mục đích An sinh xã hội và hình thức tổ chức thực hiệnthì có khái niệm chung nhất về BHXH như sau:

Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

Một số khái niệm liên quan trong BHXH

Hoạt động BHXH đã hình thành mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm

và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Mối quan hệ này dựa trên quan hệlao động và diễn ra giữa ba bên là: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bênđược BHXH Trong đó:

- Bên tham gia BHXH là bên có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quyđịnh của pháp luật BHXH Bên tham gia BHXH gồm có người lao động,người sử dụng lao động và Nhà nước

- Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH,thường là một số tổ chức do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tưnhân hoặc tổ chức kinh tế xã hội) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đónggóp của NLĐ, người SDLĐ, lập nên quỹ BHXH Bên BHXH có trách nhiệmthực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làmcho quỹ BHXH phát triển

- Bên được BHXH là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinhnhững nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do có các loại rủi rođược bảo hiểm gây ra Trong BHXH, bên được BHXH là người lao độngtham gia BHXH và nhân thân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có

Trang 11

phát sinh nhu cầu được BHXH do pháp luật quy định.

2.2 Bản chất của Bảo hiểm xã hội

Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:

Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội;

là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hoá Khi trình độ phát triển của mộtquốc gia đạt đến một mức độ nào đó thì hệ thống BHXH có điều kiện ra đời

và phát triển Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng: sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế Thật vậy, một nền kinh tế

chậm phát triển, đời sống NLĐ thấp kém không thể có một hệ thống BHXHvững mạnh được Kinh tế càng phát triển, hệ thống BHXH càng đa dạng, cácchế độ BHXH ngày càng mở rộng, các hình thức BHXH ngày càng phongphú

Thực chất, BHXH là sự tổ chức “đền bù” hậu quả của những “rủi ro xãhội” hoặc các sự kiện bảo hiểm Sự đền bù này được thực hiện thông qua quátrình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đóng góp củacác bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ BHXH.Như vậy, BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vitoàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP, được xã hội phân phối lại chonhững thanh viên khi phát sinh nhu cầu BHXH như ốm đau, sinh đẻ, tai nạnlao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN), già yếu, chết… Xét trong nộitại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện cả theo chiều dọc vàchiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối của chính bản thânngười lao động theo thời gian (nghĩa là sự phân phối lại thu nhập của quátrình làm việc và không làm việc) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phốigiữa những người khoẻ mạnh cho người ốm đau, bệnh tật; giữa những ngườitrẻ cho người già; giữa những người không sinh đẻ cho người sinh đẻ; giữangười có thu nhập cao cho người có thu nhập thấp…

Trang 12

Có thể thấy, BHXH đã góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toànkinh tế cho người lao động và gia đình họ, BHXH là quá trình tổ chức sửdụng thu nhập cá nhân và tổng sản phẩm trong nước (GDP) để thoả mãn nhucầu an toàn kinh tế của người lao động và an toàn xã hội

BHXH vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội Về mặtkinh tế, nhờ sự tổ chức phân phối lại thu nhập, đời sống của người lao động

và gia đình họ luôn được bảo đảm trước những bất trắc, rủi ro xã hội Về mặt

xã hội, do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng gópmột khoản nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ cómột lượng vật chất đủ lớn trang trải những rủi ro xảy ra Ở đây, BHXH đãthực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù số ít” Tuy nhiên, tính kinh tế và xãhội của BHXH không tách rời nhau mà đan xen lẫn nhau Khi nói đến sự bảođảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã nói đến tính xã hội củaBHXH, ngược lại khi nói tới sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi rủi ro

xã hội là đề cập đến tính kinh tế của BHXH

Cơ sở để phát sinh BHXH chính là quan hệ lao động thể hiện thông quamối quan hệ ba bên gồm bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên đượcBHXH Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong nền kinh tế thịtrường, bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH Đối vớingười lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là người đượcquyền hưởng BHXH vì họ tham gia đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chínhmình

Điều kiện được hưởng BHXH là người lao động gặp phải những rủi ro,những biến cố mang tính chất ngẫu nhiên, trái với ý muốn chủ quan của conngười như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…; hoặc cũng có thể

là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai

Trang 13

sản, tử tuất… Đồng thời các biến cố đó có thể xảy ra cả trong và ngoài quátrình lao động làm cho người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động,mất việc làm.

Bản chất của BHXH còn được hiểu dưới các góc độ khác nhau:

Dưới góc độ kinh tế, BHXH là sự bảo đảm thu nhập, bảo đảm cuộc sốngcho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, nghĩa là tạo ra mộtkhoản thu nhập thay thế cho người lao động khi họ gặp phải các rủi ro thuộcphạm vi BHXH

Dưới góc độ chính trị, BHXH góp phần liên kết giữa những người laođộng xuất phát từ lợi ích chung của họ

Dưới góc độ xã hội, BHXH được hiểu như là một chính sách xã hộinhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ khi thu nhập của họ bị giảm hay mất.Thông qua đó bảo vệ và phát triển lực lượng lao động xã hội, lực lượng sảnxuất, tăng năng suất lao động ổn định trất tự xã hội

3 Đặc trưng, chức năng, tính chất của Bảo hiểm xã hội

3.1 Đặc trưng cơ bản của BHXH

Từ khái niệm và bản chất của BHXH, có thể thấy một số đặc trưng cơbản của BHXH như sau:

- BHXH bảo hiểm cho người lao động cả trong và sau quá trình laođộng, hay NLĐ khi tham gia BHXH được bảo hiểm cho đến lúc chết Đây làmột đặc trưng riêng của BHXH mà không một loại hình bảo hiểm nào cóđược

- Các sự kiện bảo hiểm và các rủi ro của người lao động trong BHXHliên quan đến thu nhập của họ gồm ốm đau, TNLĐ, BNN, thai sản, mất việclàm, già yếu, chết… Do những sự kiện này mà họ mất hoặc giảm khả nănglao động dẫn đến mất hoặc giảm thu nhập Vì vậy, NLĐ cần được bù đắpkhoản thu nhập bị mất hoặc giảm đó để ổn định cuộc sống Đây là đặc trưng

Trang 14

rất cơ bản của BHXH, phản ánh được mục đích của BHXH.

- Người lao động khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấpBHXH, tuy nhiên họ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH Đồng thời,người sử dụng lao động cũng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm đóng BHXHcho NLĐ của mình

- Sự đóng góp của các bên tham gia BHXH gồm người lao động, người

sử dụng lao động, Nhà nước là nguồn hình thành cơ bản của quỹ BHXH

- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, cácchế độ BHXH cũng do luật định Nhà nước quản lý và bảo hộ các hoạt độngcủa BHXH, BHXH còn chịu sự giám sát chặt chẽ của NLĐ và người SDLĐtheo cơ chế ba bên Đây là đặc trưng rất riêng của BHXH

3.2 Chức năng

BHXH có các chức năng chủ yếu sau:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham giaBHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mấtviệc làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quy định nhiệm vụ,tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người thamgia BHXH Về bản chất BHXH chính là quá trình phân phối lại thu nhập theo

cả chiều dọc và chiều ngang, do đó thực hiện chức năng này có nghĩa làBHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nângcao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội BHXH bảo đảmcuộc sống của NLĐ và gia đình họ luôn được ổn định cả về vật chất lẫn tinhthần Do đó, NLĐ sẽ luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làmviệc Chức năng này biểu hiện như một đòn bầy kinh tế kích thích NLĐ tíchcực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo lànăng suất lao động xã hội

Trang 15

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữangười lao động với xã hội Nhờ có BHXH, mâu thuẫn giữa NLĐ và ngườiSDLĐ được điều hoà và giải quyết; đặc biệt, BHXH đem lại lợi ích và sự bảo

vệ cho cả hai giới chủ - thợ Từ đó giúp họ hiểu nhau hơn, quan tâm đến nhau

và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, việc chi choBHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyếtđược khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần làm cho sảnxuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn

3.3 Tính chất

BHXH là chính sách gắn liền với đời sống của người lao động, do đó nó

có một số tính chất cơ bản sau:

- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội

Như phần trên đã trình bày, sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu kháchquan trong đời sống kinh tế - xã hội mỗi quốc gia vì BHXH đã trở thành nhucầu và quyền lợi cần thiết khách quan của NLĐ, được cả thế giới thừa nhận làmột trong những quyền con người Do đó, BHXH hoàn toàn mang tính tấtyếu khách quan trong đời sống xã hội

- Tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và khônggian Tính chất này được thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH

Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp hình thành quỹBHXH; từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đếnmức trợ cấp BHXH theo từng chế độ BHXH…

- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tínhdịch vụ Tính kinh tế được thể hiện rõ nhất ở chỗ, BHXH thông qua việc hìnhthành, bảo toàn, tăng trưởng và sử dụng đúng mục đích quỹ BHXH đã gópphần đảm bảo lợi ích kinh tế không chỉ cho người lao động mà còn cho cả

Trang 16

người sử dụng lao động, Nhà nước và toàn xã hội Đối với NLĐ, phần đónggóp của họ vào quỹ không đáng kể song quyền lợi họ nhận được là rất lớn khigặp rủi ro Với người SDLĐ, tham gia đóng góp vào quỹ BHXH để thực hiệntrách nhiệm bảo hiểm cho NLĐ họ sử dụng, đồng thời cũng là giúp họ tránhđược khoản tiền lớn để trang trải cho NLĐ gặp rủi ro Với Nhà nước, BHXHgóp phần làm giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước (NSNN), đồng thờiquỹ BHXH cũng là nguồn đầu tư đáng kể vào nền kinh tế quốc dân, góp phầntăng trưởng kinh tế.

BHXH mang tính xã hội sâu sắc bởi đó là một bộ phận chủ yếu của hệthống An sinh xã hội, góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các thànhviên trong xã hội BHXH cũng hoạt động trên nguyên tắc “số đông bù số ít”,

do đó mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH vàBHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho họ và gia đình họ, kể cả khi họ cònđang trong độ tuổi lao động

Đồng thời, BHXH cũng được coi là một dịch vụ, thoả mãn nhu cầu đượcbảo vệ của những người tham gia BHXH Tính dịch vụ của BHXH luôn gắnchặt với tính xã hội của nó, khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thìtính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cùng ngày càng cao

II NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Để có thể nhận biết một cách đầy đủ và đúng nhất về BHXH, trước hếtchúng ta cần nhận biết được các đối tượng liên quan tới BHXH Tuy đã ra đờiđược hơn một thế kỷ nhưng cho tới nay, đối tượng của BHXH vẫn có nhiềuquan điểm chưa thống nhất; đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tượngBHXH với đối tượng tham gia BHXH Có người cho rằng, đối tượng của

Trang 17

BHXH là người lao động Tuy nhiên, theo bản chất vốn có, đối tượng củaBHXH chính là thu nhập của NLĐ, chứ không phải bản thân họ Bởi BHXHđược hình thành để góp phần đảm bảo và cân bằng khoản thu nhập bị giảmhoặc bị mất đi do NLĐ bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vìcác nguyên nhân như ốm đau, tai nạn, già yếu… Còn NLĐ trong mối quan hệBHXH vừa là đối tượng tham gia BHXH, vừa là đối tượng được BHXH vàcũng chính là đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH.

Đối tượng tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn có cảngười sử dụng lao động và Nhà nước Người SDLĐ tham gia đóng góp vàoquỹ BHXH là trách nhiệm bảo hiểm cho NLĐ mà họ sử dụng, đồng thời họcũng nhận được lợi ích trong một số trường hợp Còn Nhà nước tham giaBHXH vừa với tư cách là người SDLĐ với tất cả các công nhân viên chức,những người hưởng lương từ NSNN, vừa với tư cách là người bảo hộ cho quỹBHXH; cụ thể là bảo toàn giá trị cho quỹ, bảo hộ sự tăng trưởng của quỹ và

hỗ trợ thêm cho quỹ trong trường hợp quỹ bị thâm hụt

Đối tượng được bảo hiểm ngoài người lao động còn có người sử dụnglao động, bởi khi NLĐ gặp rủi ro thì người SDLĐ cũng sẽ bị thiệt hại do quátrình hoạt động kinh doanh có thể bị gián đoạn và họ cũng phải thực hiệntrách nhiệm của họ với NLĐ đó

Đối tượng được hưởng quyền lợi BHXH là người lao động và gia đình

họ theo quy định của pháp luật BHXH

Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất củamỗi quốc gia Nó là những quy định chung rất khái quát về cả đối tượng,phạm vi, các mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêuchung đã đề ra đối với BHXH

Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy

Trang 18

định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiệnBHXH đối với người lao động; hay đó là hệ thống các quy định được phápluật hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợpBHXH cụ thể.

Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi quốc gia và cácchuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, đều phải dựa trên các cơ sở hình thành như cơ

sở sinh học (độ tuổi, giới tính, sự suy giảm khả năng lao động do thai sản, ốmđau…); ảnh hưởng của điều kiện lao động và môi trường sống; ảnh hưởng củacác điều kiện kinh tế - xã hội; điều kiện về tài chính BHXH;

- Các chế độ BHXH mang tính chất san sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính;

- Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của cácbên tham gia BHXH và quỹ dự trữ Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả

và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định;

- Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ, có thể hàng tuần, hàng tháng,hàng quý tuỳ theo từng chế độ;

- Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán;

- Các chế độ thường có tính chất ổn định nhất định trong khoảng thờigian xác định và cũng thường được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sựthay đổi của điều kiện kinh tế - xã hội

Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã nêu trongCông ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXHbảo gồm 9 chế độ trợ cấp:

- Chế độ chăm sóc y tế (1);

- Trợ cấp ốm đau (2);

- Trợ cấp thất nghiệp (3);

Trang 19

- Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) (9).

Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội mà mỗi nước tham gia công ướcGiơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phảithực hiện được 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có một trong 5 chế độ: (3); (4);(5); (8); (9)

3.1 Khái niệm và đặc điểm

3.1.1 Một số khái niệm về quỹ BHXH

Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngânsách Nhà nước

Quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người thamgia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tậptrung để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảmhoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm vàchi phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH

Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dựphòng; nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiệnhay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồntại và phát triển

3.1.2 Quỹ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Hoạt động của quỹ không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, do đónguyên tắc quản lý quỹ là “cân bằng thu - chi”

Trang 20

- Phân phối quỹ vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất khônghoàn trả Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, người lao động là đối tượng tham giađóng góp quỹ đồng thời cũng là đối tượng được nhận trợ cấp, được chi trả từquỹ khi gặp rủi ro Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, cùng tham gia đónggóp nhưng có người được được hưởng trợ cấp nhiều lần, nhiều chế độ khácnhau nhưng cũng có người được hưởng ít lần, ít chế độ, thậm chí không đượchưởng.

- Quá trình tích luỹ để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đốivới quỹ là một vấn đề mang tính nguyên tắc Xuất phát từ chức năng cơ bảnnhất của BHXH là bảo đảm an toàn thu nhập cho người lao động, đến lượtmình, BHXH cũng phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tàichính

- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH Nó làkhâu tài chính trung gian cùng với NSNN và tài chính doanh nghiệp hình thànhnên hệ thống tài chính quốc gia Chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sửdụng nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng chịu sự chi phối của phápluật Nhà nước

- Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ pháttriển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳnhất định của đất nước

3.2 Nguồn hình thành quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ thuộc vàopháp luật BHXH và tuỳ thuộc vào mục đích của hệ thống BHXH của mỗinước Trong Công ước 102 về các tiêu chuẩn tối thiểu về BHXH của ILO đãquy định: “Các chi phí cho các trợ cấp BHXH và các chi phí về quản lý của

hệ thống BHXH phải được tài trợ từ quỹ BHXH bằng cách đóng góp BHXHhoặc bằng thuế hoặc kết hợp cả hai cách đó, theo những thể thức để giảm bớt

Trang 21

tình trạng khó khăn cho người thiếu thốn phương tiện sinh sống có lưu ý tớitình hình kinh tế từng nước thành viên và những nhóm người được bảo vệ”.Như vậy, có hai cách để tạo nguồn quỹ BHXH:

Một là, các đối tượng không phải đóng góp mà Nhà nước sẽ tài trợ thông qua

thuế;

Hai là, có sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, Nhà

nước đóng góp hoặc hỗ trợ thêm và từ các nguồn khác

Hiện nay, hầu hết các nước có BHXH đều thực hiện theo cách thứ hai

Cụ thể, quỹ BHXH được hình thành từ những nguồn sau:

- Thứ nhất, từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH gồm có người

sử dụng lao động, người lao động, sự hỗ trợ của Nhà nước

Đây là nguồn thu chủ yếu của quỹ Tỷ lệ đóng góp giữa NLĐ và ngườiSDLĐ được quy định tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia Nhìn chung,

ở các nước phát triển NLĐ và người SDLĐ đóng góp tương đương nhau (cóthể người SDLĐ cao hơn một chút), tổng mức đóng góp chiếm khoảng 35% -45% tiền lương của người lao động Ở các nước đang phát triển, người SDLĐthường phải đóng góp cao hơn nhiều so với NLĐ (có thể cao gấp 2 - 3 lần)

Sự hỗ trợ từ Nhà nước thông qua NSNN cũng tùy thuộc vào điều kiện và quyđịnh của từng quốc gia Có những nước, Nhà nước sẽ thực hiện bù thiếu trongtrường hợp đóng góp của NLĐ và người SDLĐ không đủ để chi trả; nhưngcũng có những nước, sự hỗ trợ thực hiện dưới dạng NSNN chịu trách nhiệmđối với toàn bộ một hoặc một số chế độ nào đó; ngoài ra, ở phần lớn các nướcphát triển, sự hỗ trợ đó được thực hiện bằng cách hàng năm trích một tỷ lệnhất định từ GDP để hỗ trợ cho quỹ BHXH

- Thứ hai, từ lãi đầu tư phần tiền tạm thời nhàn rỗi của quỹ Đây là

nguồn thu quan trọng, đáng kể đóng góp vào sự bảo toàn và tăng trưởng quỹ

- Thứ ba, từ các nguồn thu hợp pháp khác như sự đóng góp, ủng hộ của

Trang 22

các cá nhân, tổ chức trong xã hội, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ trong

và ngoài nước; hay khoản nộp phạt của các doanh nghiệp, đơn vị do chậmnộp BHXH hoặc vi phạm quy định của BHXH

3.3 Phương thức đóng và mức đóng BHXH

Về phương thức đóng góp, BHXH có thể căn cứ vào mức lương cá nhân

và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp hoặc căn cứ vào mức thu nhập cơbản của người lao động được cân đối chung trong nền kinh tế quốc dân để xácđịnh mức đóng Việc lựa chọn căn cứ nào là tuỳ thuộc vào quy định mỗi quốcgia nhưng phải đảm bảo rằng mức đóng góp của mỗi bên phải đủ để cân đốithu - chi cho quỹ BHXH

Về mức đóng góp BHXH, tuỳ theo quy định của từng nước, mà mứcđóng góp của các bên khác nhau Thực chất, mức đóng đó chính là phíBHXH, là yếu tố quyết định sự cân đối thu - chi quỹ BHXH nên việc xác địnhphải được tính toán một cách rất khoa học Một cách chung nhất, phí BHXHđược xác định theo công thức:

P = f1 + f2 + f3Trong đó: P - là phí BHXH;

Trang 23

phải được dàn trải trong cả thời kỳ dài.

Cũng chính vì thế mà ngoài phí thuần tuý phải có phí dự phòng để đảmbảo quỹ BHXH có dự trữ đủ lớn

Như vậy, việc xác định phí BHXH là rất phức tạp và phải dựa vào nhiềuyếu tố và nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cầu nguồn laođộng, việc xác định và dự báo tuổi thọ bình quân, xác suất xảy ra rủi ro…

Trợ cấp chăm sóc y tế: chi trợ cấp chi phí khám chữa bệnh phát sinh;

Trợ cấp ốm đau: chi bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc giảm do nghỉ ốm; Trợ cấp thất nghiệp: chi bù đắp phần thu nhập bị mất do bị mất việc làm; Trợ cấp thai sản: đây là chế độ đặc biệt bảo vệ quyền lợi chính đáng cho

người phụ nữ, do đó quỹ BHXH được sử dụng chi bù đắp phần thu nhập bịmất do nghỉ thai sản, mức trợ cấp ít nhất phải bằng thu nhập lúc đang đi làm;

Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: chi trợ cấp cho chi phí y tế

phát sinh và phần thu nhập bị mất do bị giảm hoặc mất sức lao động sau TNLĐ

và BNN;

Trợ cấp gia đình: chi trả cho các chi phí liên quan đến việc nuôi dạy con

cái, hoặc trợ cấp cho các gia đình gặp khó khăn do các rủi ro ngẫu nhiên gây

ra Điều kiện được hưởng trợ cấp và mức hưởng theo quy định từng nước;

Trợ cấp khi tàn phế: chi trợ cấp cho phần thu nhập bị giảm hoặc mất của

người lao động khi không may bị tàn phế, bao gồm cả chi phi nhằm hỗ trợ cácphương tiện giúp đỡ người tàn phế trong cuộc sống;

Trang 24

Trợ cấp tuổi già: chi trợ cấp cho phần thu nhập không còn do tuổi già

không thể lao động nữa;

Trợ cấp mất người nuôi dưỡng: chi trợ cấp cho con cái người lao động

khi con chưa trưởng thành nhưng bố hoặc mẹ đã mất, trợ cấp cho người thânkhác mà người lao động có trách nhiệm chăm lo, phụng dưỡng

Các trợ cấp này được xác định theo những căn cứ kinh tế - xã hội và cácđiều kiện sinh học của mỗi nước trong những giai đoạn nhất định và được phápluật quy định

- Chi phí quản lý: đây là khoản chi cho các hoạt động thường xuyên của

tổ chức BHXH, bao gồm: Chi lương cho đội ngũ làm công tác BHXH trongtoàn hệ thống, Chi phí nghiệp vụ BHXH, Chi phí hành chính (điện, nước, vănphòng phẩm…), Chi cho nghiên cứu phát triển BHXH, Chi phí mua sắm, sửachữa nhỏ…

- Chi phí đầu tư: khoản chi này để đảm bảo các hoạt động đầu tư phầnnhàn rỗi của quỹ BHXH được diễn ra bình thường và đạt hiệu quả cao Vềmặt kế toán, khoản chi này được trích ra trong tổng thu được từ lợi nhuận đầutư

- Chi dự phòng: đây là khoản dự trữ có thể phát sinh trong năm ngoài dựliệu

- Chi phí khác có liên quan đến hoạt động BHXH

4.1 Lịch sử phát triển Bảo hiểm xã hội Việt nam

Ngay sau khi thành lập nước Việt nam dân chủ Cộng hoà, Nhà nước đãban hành sắc lệnh nhằm thực hiện BHXH đối với công nhân, viên chức Nhànước Nhưng đến năm 1961, chế độ BHXH mới thực sự thực hiện trên cơ sởthành lập Quỹ BHXH thống nhất sau khi Chính phủ ban hành Điều lệ tạmthời về chế độ BHXH kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/11/1961 với 6 loại

Trang 25

trợ cấp: ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất.

Hệ thống này chỉ bảo đảm bảo hiểm cho khoảng 60-70 vạn người trên tổng số

17 triệu người của miền Bắc Việt Nam (theo số liệu năm 1962) Từ năm

1975, chính sách BHXH được thực hiện thống nhất trong cả nước

Sau Đại hội VII của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước dần đi vào chiềusâu, trong đó việc đổi mới BHXH phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới

là một yêu cầu bức bách nhằm thực hiện các chính sách xã hội Việc đổi mớiđược đánh dấu bằng việc tách một bộ phận cấu thành BHXH - chế độ chămsóc y tế khi ốm đau thành một quỹ độc lập: quỹ Bảo hiểm Y tế Ngày15/08/1992, Nghị định 299/HĐBT về việc ban hành Điều lệ BHYT được thựcthi Ngày 22/06/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP quy định tạmthời các chế độ BHXH, mở đầu cho cuộc cải cách sâu rộng, toàn diện vềBHXH

Việc cải cách thực sự đi vào thực tiễn từ tháng 01/1995, khi Bộ Luật Laođộng có hiệu lực, trong đó có Chương XII về BHXH Để hướng dẫn thực hiện

Bộ Luật Lao động, hàng loạt các văn bản pháp quy về BHXH được ban hànhnhư:

- Nghị định 12/CP ngày 16/01/1995 của Chính phủ về việc ban hànhĐiều lệ BHXH;

- Nghị định 19/CP ngày 16/02/1995 của Chính phủ về việc thành lậpBHXH Việt Nam;

- Quyết định 606/TTg ngày 26/09/1995 của Thủ tướng Chính phủ vềviệc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của BHXH Việt Nam;

- Nghị định 93/1998/NĐ-CP ngày 12/11/1998 của Chính phủ về việc sửađổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH

Trong đó Chính phủ có quy định về hình thành quỹ BHXH trên cơ sở thuBHXH bao gồm người SDLĐ đóng 15% quỹ tiền lương và NLĐ đóng 5%

Trang 26

tiền lương hàng tháng Quỹ này được sử dụng để chi cho 5 chế độ BHXHgồm chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN, hưu trí, tử tuất; đồng thời đượcbảo toàn, tăng trưởng và được Nhà nước bảo hộ.

Ngày 24/01/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐTT chuyển

hệ thống BHYT trực thuộc Bộ Y tế sang BHXH Việt Nam

Ngày 06/12/2002, Chính phủ ra Nghị định 100/QĐCP quyết định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của BHXH (bao gồm cảBHYT)

Ngày 29/06/2006, Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ra đời Luật nàyquy định về BHXH có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007, riêng đối với BHXH

tự nguyện thi hành từ ngày 01/01/2008 và bảo hiểm thất nghiệp thi hành từ ngày01/01/2009

Ngày 22/12/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 152/2006/NĐ-CPhướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc Đến năm 2008,Quốc hội ban hành Luật Bảo hiểm Y tế, luật số 25/2008/QH12 có hiệu lực thihành từ tháng 07/2009

Kể từ đây ngành có đủ căn cứ, cơ sở pháp lý để hoạt động và phát triển

Trang 27

- Bảo hiểm Y tế (được quy định riêng trong Điều lệ Bảo hiểm Y tế 2005,

từ tháng 7/2009 là Luật Bảo hiểm Y tế) gồm:

Bảo hiểm Y tế bắt buộc;

Bảo hiểm Y tế tự nguyện

4.3 Nội dung cơ bản các chế độ BHXH bắt buộc

Mức hưởng là 75% ngày lương làm căn cứ đóng BHXH của tháng liền

kề trước khi nghỉ việc

Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau:

- Trong điều kiện làm việc bình thường hoặc công việc nặng nhọc, độchại, có hệ số phụ cấp khu vực 0,7 trở lên, được nghỉ tối đa 30 hoặc 40ngày/năm; 40 hoặc 50 ngày/năm; 60 hoặc 70 ngày/năm tương ứng với thờigian đã đóng BHXH là dưới 15 năm; từ đủ 15 đến dưới 30 năm; từ đủ 30 nămtrở lên

- Trong trường hợp con ốm, thời gian nghỉ tối đa là 20 ngày/năm nếu condưới 3 tuổi; 15 ngày/năm nếu con từ đủ 3 đến 7 tuổi

Trang 28

- Nếu mắc bệnh thuộc danh mục cần điều trị dài ngày được nghỉ tối đa

Thời gian nghỉ việc hưởng trợ cấp:

- 4 tháng nếu làm việc ở điều kiện bình thường;

- 5 tháng nếu làm việc ở điều kiện nặng nhọc, độc hại…;

- 6 tháng đối với lao động nữ là người tàn tật;

- Nếu sinh đôi trở lên, từ con thứ 2, cứ mỗi con được nghỉ thêm 30 ngày;các trường hợp đặc biệt khác được cũng được quy định cụ thể trong LuậtBHXH

(3) Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:

Mục đích: đảm bảo thu nhập, ổn định cuộc sống cho NLĐ không may bịTNLĐ hoặc BNN trong quá trình làm việc

Điều kiện hưởng: NLĐ đang đóng BHXH bị TNLĐ hoặc mắc bệnhthuộc danh mục BNN dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên

Mức hưởng:

- Trợ cấp một lần cho NLĐ bị suy giảm 5% khả năng lao động là 5 thánglương tối thiểu chung; bị suy giảm từ 5% - 30% khả năng lao động, cứ thêm1% thì hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung; ngoài ra, còn hưởng thêm0,5 tháng nếu đã đóng BHXH dưới 1 năm, sau đó cứ thêm 1 năm đóngBHXH thì hưởng thêm 0,3 tháng tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của

Trang 29

tháng liền kề trước khi nghỉ;

- Trợ cấp một lần cho trường hợp NLĐ chết do bị TNLĐ, BNN thì ngoàihưởng chế độ tử tuất theo quy định, thân nhân NLĐ còn được hưởng 36 thánglương tối thiểu chung;

- Trợ cấp hàng tháng cho NLĐ bị suy giảm 31% khả năng lao động bằng30% mức lương tối thiểu chung; bị suy giảm từ 31% trở lên, cứ thêm 1% suygiảm thì hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung; ngoài ra, còn hưởngthêm 0,5% nếu đã đóng BHXH dưới 1 năm, sau đó cứ thêm 1 năm đóngBHXH thì hưởng thêm 0,3% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thángliền kề trước khi nghỉ

(4) Chế độ hưu trí:

Mục đích: cung cấp khoản thu nhập hàng tháng thay thế cho phần thunhập không được nhận từ khi nghỉ công tác do tuổi già

Điều kiện hưởng:

- NLĐ hưởng lương hưu hàng tháng khi có đủ 20 năm đóng BHXH trởlên và nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; hoặc nam từ đủ 55 - 60 tuổi, nữ từ đủ 50

- 55 tuổi có đủ 15 năm làm nghề nặng nhọc, nguy hiểm, nơi làm việc có hệ sốphụ cấp khu vực 0,7 trở lên NLĐ có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, bị suygiảm từ 61% khả năng lao động trở lên được hưởng lương hưu với mức thấphơn nếu nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên; hoặc có đủ 15 năm làmviệc đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm trở lên

- NLĐ hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu khi đã đóng BHXH trên 30năm với nam, trên 25 năm với nữ

- Trợ cấp BHXH một lần với NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20năm đóng BHXH; hoặc bị suy giảm 61% khả năng lao động trở lên; hoặc saumột năm nghỉ việc không đóng BHXH và có nhu cầu nhận trợ cấp BHXH.Mức hưởng:

Trang 30

- Lương hưu hàng tháng bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng làmcăn cứ đóng BHXH cho 15 năm đóng BHXH đầu tiên, từ năm thứ 16 trở đi,

cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam, 3% đối với nữ;mức tối đa bằng 75% Với NLĐ nghỉ hưu trước tuổi do bị suy giảm khả nănglao động từ 61% trở lên thì tỷ lệ % hưởng lương hưu sẽ bị giảm đi 1% chomỗi năm nghỉ trước tuổi

- Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu, mức trợ cấp tính bằng0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm đã đóngBHXH kể từ năm thứ 31 hoặc 26 trở đi

- Trợ cấp một lần được hưởng bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lươngtháng đóng BHXH cho mỗi năm đã đóng BHXH

(5) Chế độ tử tuất:

Mục đích: hỗ trợ thân nhân NLĐ một phần thu nhập của gia đình bị thiếuhụt do NLĐ tử vong

Điều kiện hưởng:

- Trợ cấp mai táng: người lo mai táng cho các đối tượng tử vong là NLĐđang đóng BHXH; đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; đang hưởng lươnghưu; đang hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng đã nghỉ việc

- Trợ cấp tuất hàng tháng: đối tượng chết là NLĐ đã đóng BHXH 15năm trở lên nhưng chưa hưởng BHXH một lần; đang hưởng lương hưu; chết

do TNLĐ, BNN; đang hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng với mức suygiảm khả năng lao động từ 61% trở lên Thân nhân NLĐ là con chưa trưởngthành; vợ hoặc chồng đủ tuổi về hưu trở lên, hoặc chồng đủ 60 tuổi, vợ đủ 55tuổi trở lên bị suy giảm 81% khả năng lao động trở lên; cha mẹ NLĐ phảinuôi dưỡng Các thân nhân (trừ con) không có thu nhập hoặc thu nhập thấphơn mức lương tối thiểu chung

- Trợ cấp tuất một lần: người chết hoặc thân nhân không đủ điều kiện

Trang 31

hưởng trợ cấp tuất hàng tháng.

Mức hưởng:

- Trợ cấp mai táng: 10 tháng lương tối thiểu chung

- Trợ cấp hàng tháng: mỗi thân nhân đủ điều kiện được hưởng trợ cấpbằng 50% mức lương tối thiểu chung; nếu một người chết, số thân nhânhưởng trợ cấp không vượt quá 4 người

- Trợ cấp một lần: đối với người đang làm việc hoặc đang bảo lưu thờigian đóng BHXH chết, thân nhân hưởng bằng 1,5 tháng mức bình quân tiềnlương đóng BHXH cho mỗi năm đã đóng BHXH Đối với người đang hưởnglương hưu chết, thân nhân được hưởng 48 tháng lương hưu nếu chết trong 2tháng đầu hưởng lương, và cứ hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ cấpgiảm 0,5 tháng lương hưu

III CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU - CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1 Vai trò và đặc điểm của công tác quản lý thu - chi BHXH

1.1 Vai trò

Hiện nay, BHXH được cả thế giới công nhận là một trong những quyềncon người, do đó việc tham gia BHXH là quyền lợi và nghĩa vụ của người laođộng; đồng thòi cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động.Những người tham gia BHXH đã đóng góp hình thành nên quỹ BHXH Quỹnày được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các chế độ BHXH khi NLĐ gặp rủi

ro được bảo hiểm Việc quản lý quỹ phải luôn được đảm bảo về tài chính đểcân đối thu chi: thu có đúng, đủ, kịp thời thì chi mới chính xác, nhanh chóng

và đảm bảo mục đích của BHXH; chi có đúng, đủ mới đảm bảo cân đối quỹ

và công bằng cho các đối tượng tham gia BHXH Như vậy, công tác thu - chi

và quản lý thu chi có vai trò quan trọng trong hoạt động toàn hệ thốngBHXH, và cũng là các khâu nghiệp vụ chủ đạo của hoạt động BHXH

1.2 Đặc điểm công tác thu - chi và quản lý thu - chi BHXH

Trang 32

1.2.1 Đối với công tác thu và quản lý thu BHXH

- Thu BHXH là khâu đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ hoạtđộng của hệ thống BHXH

- Thu BHXH có tính chu kỳ và thường lặp đi, lặp lại theo thời gian

- Việc tổ chức và thực hiện công tác quản lý thu rất đa dạng, phức tạp do

số lượng lao động, các đơn vị, tổ chức sử dụng lao động ngày càng tăng

- Mức phí BHXH thường được tính dựa trên mức thu nhập hoặc mứctiền công, tiền lương của người lao động và phải được xác định là thu đúng,

đủ, kịp thời để đáp ứng tốt nhất cho toàn bộ hoạt động của cả hệ thống

- Thu phí BHXH có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể thubằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản

1.2.2 Đối với công tác chi và quản lý chi BHXH

- Việc chi trả trợ cấp các chế độ BHXH là khâu cuối cùng trong hoạtđộng BHXH, thực hiện mục đích bù đắp phần thu nhập đã mất hoặc giảm chongười được hưởng BHXH khi gặp rủi ro xã hội được bảo hiểm

- Mức hưởng xác định dựa trên cơ sở là mức tiền lương, tiền công hoặcmức thu nhập đã đóng BHXH và được quy đinh rõ ràng, chặt chẽ cho từngchế độ

- Quá trình thực hiện chi luôn được giám định và xét duyệt chặt chẽnhằm đảm bảo chi đúng đối tượng, tránh thất thoát quỹ BHXH

- Chi trả BHXH vừa mang tính chu kỳ với các chế độ chi trả hàng tháng,vừa không mang tính chu kỳ với các chế độ chi trả mang tính bất thường như

ốm đau, thai sản, TNLĐ, BNN, trợ cấp một lần

2 Tính đặc thù của nghiệp vụ thu - chi Bảo hiểm xã hội

Hoạt động BHXH cũng giống như hoạt động của các quỹ tiền tệ , quỹ tíndụng khác đều thông qua cơ chế đóng góp trước, hưởng thụ sau Tuy nhiên,hoạt động BHXH mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc và là hoạt động phi

Trang 33

lợi nhuận Do đó, công tác thu - chi trong BHXH mang những đặc thù riêng:

2.1 Tính đặc thù của nghiệp vụ thu

- Quá trình tham gia đóng góp vào quỹ BHXH đã hình thành nên mốiquan hệ xuyên suốt trong hoạt động BHXH Đó là mối quan hệ diễn ra giữa

ba bên là: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Giữa cácbên có quan hệ chặt chẽ với nhau về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi, trên

cơ sở của pháp luật BHXH; đồng thời có sự ràng buộc, giám sát lẫn nhau vềmức đóng và thời gian đóng BHXH, làm cơ sở pháp lý để thực hiện các chế

độ BHXH

- Trong quá trình thực hiện công tác thu đòi hỏi, cơ quan BHXH phảitheo dõi chặt chẽ kết quả đóng BHXH của từng cơ quan, đơn vị, doanhnghiệp theo từng tháng Từ đó ghi nhận kết quả đóng cho từng người laođộng Công việc này đòi hỏi tính chính xác cao, thường xuyên, liên tục và kéodài trong nhiều năm

- Công tác quản lý thu gồm 2 nghiệp vụ:

Nghiệp vụ kế toán thực hiện quản lý theo chế độ tài chính thực hiện thutập trung vào tài khoản của cơ quan BHXH cấp dưới (cấp tỉnh, thành phố),sau đó chuyển lên quỹ BHXH trung ương đúng và kịp thời

Nghiệp vụ quản lý thu BHXH theo danh sách lao động đăng ký đóngBHXH của từng cơ quan, đơn vị thường do các cấp quản lý:

+ Cấp tỉnh quản lý danh sách lao động, số tiền lương của đơn vị, cơ quanđăng ký đóng BHXH, có báo tăng, giảm hàng tháng để ghi nhận kết quả đóngvào hồ sơ gốc;

+ Cấp huyện, quận thực hiện việc đôn đốc, đối chiếu kết quả đóngBHXH của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trong địa bàn quản lý và ghinhận kết quả đóng cho từng lao động;

+ Các cơ quan, đơn vị tham gia BHXH có trách nhiệm quản lý thu và ghi

Trang 34

nhận kết quả đóng BHXH cho từng NLĐ có sự giám sát, thẩm định của cơquan BHXH.

- Nghiệp vụ thu BHXH gắn với hoạt động lao động cả đời người laođộng, có tính kế thừa, do đó việc quản lý thu và lưu giữ sổ, biểu là hoạt độngkhông có giới hạn về thời gian

2.2 Tính dặc thù của nghiệp vụ chi

- Việc chi trả các chế độ BHXH diễn ra rất phức tạp bởi việc chi trảkhông chỉ diễn ra trong một năm cho các chế độ ngắn hạn mà còn trong thờigian dài, liên tục cho các chế độ dài hạn Công tác này đòi hỏi phải quản lý

và lưu trữ một số lượng hồ sơ lớn kéo dài trong nhiều năm

- Quá trình chi trả trợ cấp vừa được xác định trước với những khoản trợcấp chi cho chế độ hưu trí, tử tuất; lại vừa không được xác định trước các trợcấp cho ốm đau, thai sản, TNLĐ và BNN Do đó việc cân đối nguồn quỹBHXH là điều rất khó thực hiện chính xác

- Công tác quản lý chi trả đòi hỏi một nguồn nhân lực lớn, để thực hiệnviệc chi trả các chế độ hàng tháng tại tất cả các cụm dân cư do cơ quanBHXH quản lý và theo dõi Thường cơ quan BHXH phải thiết lập mạng lướichi trả thông qua các đại lý tại các cụm dân cư, các đơn vị hành chính Cácđại lý này sẽ thực hiện việc chi trả trợ cấp đến từng đối tượng được hưởng

3 Phương thức thu - chi BHXH

3.1 Phương thức thu BHXH:

Một số hình thức thu BHXH hiện nay thường áp dụng ở các quốc gia:

- Phương thức thu BHXH trực tiếp từ người lao động: thường được ápdụng ở các nước mà chế độ BHXH được phổ biến rộng rãi, việc sử dụng hệthống tài khoản ở các Ngân hàng để thanh toán cũng là phổ biến Theophương thức này, NLĐ và người SDLĐ đóng góp BHXH thông qua hệ thốngchuyển khoản tại các ngân hàng

Trang 35

- Phương thức thu BHXH gián tiếp qua hệ thống thuế, chủ yếu là thuếthu nhập Phương thức này áp dụng ở các nước có hệ thống BHXH phát triển

và hệ thống thuế thu nhập hoàn thiện, phổ biến Như vậy, việc đóng BHXHđược coi như là một khoản thuế phải nộp cho Nhà nước

- Phương thức thu BHXH gián tiếp thông qua các đơn vị sử dụng laođộng Đây là phương thức được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Theo cách này, hàng tháng người SDLĐ có trách nhiệm đóng góp BHXH choNLĐ của đơn vị mình cho cơ quan BHXH

- Ngoài ra, có thể thu BHXH thông qua hệ thống các đại lý cấp dưới

3.2 Phương thức chi trả BHXH:

Một số hình thức chi trả BHXH:

- Chi trả trực tiếp cho người thụ hưởng BHXH Theo cách này, khi phátsinh nhu cầu chi trả BHXH, người thụ hưởng trực tiếp làm việc với cơ quanBHXH và trực tiếp nhận trợ cấp tại cơ quan BHXH hoặc thông qua hệ thốngchuyển khoản tại ngân hàng

- Chi trả gián tiếp qua các chủ SDLĐ, hoặc các đại lý chi trả trung gian.Khi phát sinh nhu cầu chi trả BHXH, đơn vị quản lý NLĐ chuẩn bị thủ tụccần thiết, làm việc với cơ quan BHXH Nếu nhu cầu giả quyết hợp lý và đượctrợ cấp, cơ quan BHXH uỷ nhiệm chi trả cho đơn vị hoặc các đại lý và tiếnhành chuyển khoản cho đơn vị đó hoặc trực tiếp chuyển tiền cho đại lý

- Có thể áp dụng hỗn hợp các phương thức chi trả để giải quyết từngtrường hợp, từng chế độ cho hợp lý và thuận tiện nhất, đảm bảo lợi ích chongười thụ hưởng

4 Kinh nghiệm của một số nước

4.1 Ở Nhật Bản

Hệ thống BHXH ở Nhật khá phức tạp, bao gồm 2 phần:

- BHXH gồm bảo hiểm hưu trí và BHYT do cơ quan BHXH quản lý và

Trang 36

tổ chức thực hiện;

- Bảo hiểm lao động gồm bảo hiểm việc làm do cơ quan Bảo đảm việclàm của Chính phủ thực hiện và bảo hiểm bồi thường tai nạn cho NLĐ do cơquan Thanh tra lao động thực hiện

Cụ thể:

(1) Chế độ hưu trí

Chia làm hai loại hình chính là: chế độ bảo hiểm hưu trí quốc gia và chế

độ hưu trí cho người lao động với ba nhóm đối tượng:

- (I) - Lao động cá thể, nông dân, sinh viên… tham gia chế độ hưu tríquốc gia; mức đóng là 13.300 yên/tháng trước tháng 04/2005, sau 04/2005tăng mỗi năm 280 yên, đạt mức 16.900 yên/tháng năm 2017

- (II) - Lao động trong khu vực tư nhân và Nhà nước, tham gia chế độhưu trí cho NLĐ; mức đóng là 13,934% tiền lương trước tháng 10/2004, từ10/2004 tăng mỗi năm 0,354%, đạt mức 18,30% năm 2017; số tiền góp chiađều NLĐ và người SDLĐ đóng mỗi người 50%

- (III) - Người ăn theo là vợ/chồng sống dựa vào thu nhập NLĐ nhóm(II), tham gia chế độ hưu trí quốc gia; nhóm này không phải đóng phí, mà phíBHXH được chuyển từ quỹ hưu trí của NLĐ chuyển sang

Phúc lợi: Người tham gia bảo hiểm sẽ được nhận lương hưu cơ bản khi

65 tuổi với thời gian tham gia bảo hiểm từ 25 năm trở lên Các chế độ đượctrợ cấp khi tham gia bảo hiểm hưu trí là: lương hưu, trợ cấp thương tầt, trợcấp tuất Đối tượng nhóm I và III nhận trợ cấp được tính trên cơ sở là lương

cơ bản; nhóm II nhận trợ cấp trên cơ sở tiền lương đóng bảo hiểm

(2) BHYT: Từ năm 1961, Nhật bản đã hoàn thành việc thực hiện BHYT

toàn dân với 2 loại hình chính là BHYT cho người lao động và BHYT quốcgia Mức đóng chung cho NLĐ là 8,2%, ngư dân 9,1%, NLĐ tại các hiệp hội

từ 3% đến 9,5%; BHYT quốc gia là 530.000 yên/năm/hộ gia đình Trách

Trang 37

nhiệm đóng được chia đều cho NLĐ và người SDLĐ.

Phúc lợi được nhận của người tham gia BHYT và người phụ thuộc gồmtrợ cấp ốm đau, trợ cấp TNLĐ, trợ cấp thai sản, trợ cấp sinh con, trợ cấp tuất,chi phí tang lễ, chi phí vận chuyển bệnh nhân Mức trợ cấp xác định theo tỷ lệ

% tiền lương, tiền công hoặc mức cố định và có sự khác nhau giữa các loạihình BHYT, hiện nay tỷ lệ đó là 30%

(3) Bảo hiểm việc làm: gồm các phúc lợi:

- Các trợ cấp thất nghiệp: trợ cấp tìm việc, trợ cấp xúc tiến việc làm, trợcấp đào tạo và dạy nghề, trợ cấp tiếp tục làm việc;

- Ba dịch vụ: ổn định việc làm, phát triển nguồn nhân lực, phúc lợi xãhội cho người lao động

Tỷ lệ đóng góp chung là 1,75% theo tiền lương, trong đó 1,4% dành đểchi các trợ cấp thất nghiệp (NLĐ và người SDLĐ đều đóng 50%), 0,35%dành chi cho 3 loại dịch vụ (người SDLĐ đóng 100%)

(4) Bảo hiểm bồi thường cho người lao động

Các phúc lợi gồm: phúc lợi thương tật khi làm việc và trên đương đi đếnnơi làm việc; phúc lợi phòng tránh bênh tật và các dịch vụ phúc lợi lao động.Phí bảo hiểm được chủ SDLĐ đóng góp với tỷ lệ đóng được phân theo ngànhnghề trên cơ sở tần xuất TNLĐ và một số yếu tố khác Tỷ lệ đóng góp đượcchia làm 30 mức cho 52 ngành

4.2 Ở Trung quốc

(1) Chế độ hưu trí gồm:

- Chế độ hưu trí với NLĐ thuộc các doanh nghiệp Mức đóng đối vớiNLĐ là 8% tiền lương, tiền công, người SDLĐ là 20% của tổng quỹ tiềnlương; ngoài ra được cung cấp trợ cấp tài chính từ chính quyền các cấp khiquỹ thâm hụt Khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định và tham gia ít nhất 15 nămNLĐ sẽ được nhận trợ cấp hưu trí hàng tháng gồm: phần từ quỹ cộng đồng

Trang 38

20% mức lương trung bình chung năm trước và phần từ tài khoản cá nhânbằng 1/120 của tổng số tiền tích luỹ được.

- Chế độ hưu trí đối với công chức, viên chức được bảo đảm bởi Nhànước, các cá nhân không phải đóng góp Mức trợ cấp hưu trí được xác địnhtrên cơ sở mức lương cơ bản và số năm phục vụ

- Trợ cấp tuổi già ở khu vực nông thôn: chế độ này được thực hiện dựatrên sự đóng góp của các cá nhân, hỗ trợ của chính quyền địa phương vàkhuyến khích bằng cơ chế của Nhà nước

(2) Chế độ bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng đối với tất cả

cơ quan, doanh nghiệp và người lao động với mức đóng góp là 3% mức tiềnlương, tiền công trong đó NLĐ đóng 1%, người SDLĐ đóng 2% Mức trợ cấp

do chính quyền địa phương quyết định nhưng phải đảm bảo nguyên tắc phảithấp hơn tiền lương tối thiểu đồng thời cao hơn mức sống tối thiểu Thời giannhận được xác định chủ yếu dựa vào số năm tham gia đóng góp nhưng khôngquá 24 tháng

(3) BHYT: Cả NLĐ và người SDLĐ có trách nhiệm đóng góp

cho quỹ BHYT với mức đóng của người SDLĐ là 6% tổng quỹ tiền lương,NLĐ là 2% tiền lương, tiền công Trong đó 3,8% (NLĐ 2%, người SDLĐ1,8%) được chuyển vào tài khoản cá nhân để chi trả cho chi phí điều trị ngoạitrú và một phần chi phí nội trú; phần còn lại được chuyển vào quỹ cộng đồng,

sử dụng để thanh toán chi phí điều trị nội trú nhưng chi phí đó phải trênngưỡng tối thiểu và chỉ được thanh toán tối đa đến mức trần thanh toán

(4) Chế độ thai sản: Nghĩa vụ đóng góp thuộc về chủ sử dụng

lao động và tối thiểu là 1% của tổng quỹ lương, NLĐ không phải đóng vàđược hưởng trợ cấp sinh đẻ và chi phí y tế trong thời gian sinh đẻ, thời gianhưởng không thấp hơn 90 ngày

(5) Chế độ tai nạn lao động: NLĐ không phải đóng góp mà

Trang 39

chủ SDLĐ phải đóng góp để hình thành quỹ bảo hiểm TNLĐ tại các tỉnh,thành phố Quỹ này chủ yếu chi trả chi phí y tế, trợ cấp thương tật, lương hưucho người bị mất khả năng lao động do TNLĐ, chi phí chăm sóc bệnh nhân.

- Với quỹ thứ hai: Trợ cấp hưu trí cơ cấu đóng góp 6,55% tiền lương choNLĐ và 9,8% tổng quỹ lương cho người SDLĐ; trợ cấp gia đình người SDLĐđóng góp toàn bộ với tỷ lệ là 5,4%; trợ cấp goá bụa NLĐ đóng 0,1%

- Chế độ TNLĐ và BNN: NLĐ bị tai nạn dẫn đến thương tật được trợcấp dài hạn Nếu không thể tự kiếm sống thì được trợ cấp bằng 50% lươngbình quân của 10 năm có lương cao nhất

Trang 40

PHẦN II THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU - CHI BHXH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI

HUYỆN NINH GIANG GIAI ĐOẠN 2003 - 2008

I KHÁI QUÁT VỀ BHXH HUYỆN NINH GIANG

Ninh Giang là một huyện của tỉnh Hải Dương, có nhiều tiềm năng vềđiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, tài nguyên và nguồn nhân lực, tạo tiền đề choviệc phát triển kinh tế - xã hội Là vùng đất có nhiều bản sắc văn hoá phongphú và đa dạng, bao đời nay nhân dân trong huyện đã phát huy những truyềnthống tốt đẹp của ông cha, phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ quê hương ngày càng ấm no, hạnh phúc Ngày nay, quê hươngNinh Giang đã và đang vươn lên phấn đấu đạt được những mục tiêu cao nhất

cả về vật chất lẫn tinh thần cho nhân dân Việc thực hiện tốt công tác BHXH,BHYT cho nhân dân là một trong những mục tiêu hàng đầu đó

1 Sự hình thành:

Cùng với sự ra đời của BHXH Việt Nam, ngày 15/06/1995, theo Quyếtđịnh số 20/QĐ-TCCB của BHXH Việt Nam, BHXH tỉnh Hải Hưng (nay làtỉnh Hải Dương và Hưng Yên) được thành lập và bắt đầu hoạt động Đến năm

1997, tỉnh Hải Hưng được tách thành hai tỉnh là Hải Dương và Hưng Yên thìngày 16/09/1997 Tổng giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quyết định số1599/QĐ-TCCB về việc thành lập BHXH tỉnh Hải Dương

Ngay sau khi, BHXH tỉnh Hải Hưng được thành lập thì BHXH huyệnNinh Thanh (nay là Ninh Giang và Thanh Miện) cũng được thành lập và đivào hoạt động Ngày 27/02/1996, căn cứ Nghị định số 05/CP ngày27/01/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc chia các huyện Ninh Thanhthuộc tỉnh Hải Hưng thành hai huyện là Ninh Giang và Thanh Miện, Tổng

Ngày đăng: 02/05/2016, 19:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Quyết định số 244/QĐ-BHXH, ngày 25 tháng 3 năm 2008, của Giám đốc BHXH tỉnh Hải Dương về việc ban hành Quy định “Hồ sơ, quy trình giải quyết hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ, quy trình giảiquyết hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội
7. Quyết định số 243/QĐ-BHXH, ngày 8 tháng 4 năm 2008, của Giám đốc BHXH tỉnh Hải Dương về việc ban hành Quy định “Hồ sơ và quy trình thu Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế bắt buộc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ và quy trìnhthu Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế bắt buộc
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Định (2005), Giáo trình Bảo hiểm - NXB Thống kê, Hà Nội Khác
3. Quyết định số 902/QĐ-BHXH, ngày 26 tháng 6 năm 2007, của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc Khác
4. Quyết định số 1333/QĐ-BHXH, ngày 21 tháng 02 năm 2008, sửa đổi bổ sung một số điểm tại quyết định số 902/QĐ-BHXH, ngày 26 tháng 6 năm 2007, của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam ban hành quy đinh về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc Khác
5. Quyết định số 845/QĐ-BHXH, ngày 18 tháng 6 năm 2007, của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc Khác
8. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2003), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2003, phương hướng nhiệm vụ năm 2004, Ninh Giang Khác
9. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2004), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2004, phương hướng nhiệm vụ năm 2005 Khác
10. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2005), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2005, phương hướng nhiệm vụ năm 2006, Ninh Giang Khác
11. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2006), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2006, phương hướng nhiệm vụ năm 2007, Ninh Giang Khác
12. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2007), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2007, phương hướng nhiệm vụ năm 2008, Ninh Giang Khác
13. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2008), Báo cáo Kết quả công tác Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế năm 2008, phương hướng nhiệm vụ năm 2009, Ninh Giang Khác
14. Bảo hiểm xã hội huyện Ninh Giang (2008), Báo cáo Kết quả tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội chi bộ BHXH huyện Ninh Giang lần thứ II nhiệm kỳ 2005 - 2010, Ninh Giang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tóm tắt cơ cấu tổ chức, bộ máy làm việc của cơ quan BHXH huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (tính đến thời điểm hiện tại): - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Sơ đồ t óm tắt cơ cấu tổ chức, bộ máy làm việc của cơ quan BHXH huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (tính đến thời điểm hiện tại): (Trang 42)
Bảng 2.2: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.2 Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc (Trang 73)
Bảng 2.3: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc ở các đơn vị hành chính sự - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.3 Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc ở các đơn vị hành chính sự (Trang 77)
Bảng 2.4: Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc ở các đơn vị sản xuất kinh - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.4 Kết quả thu BHXH, BHYT bắt buộc ở các đơn vị sản xuất kinh (Trang 78)
Bảng 2.6: Kết quả thu BHYT bắt buộc các đơn vị chỉ tham gia BHYT - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.6 Kết quả thu BHYT bắt buộc các đơn vị chỉ tham gia BHYT (Trang 80)
Bảng 2.7 :Tình hình nợ đọng BHXH Năm  Số tiền phải thu - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.7 Tình hình nợ đọng BHXH Năm Số tiền phải thu (Trang 84)
Bảng 2.10 : Kết quả chi BHXH - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.10 Kết quả chi BHXH (Trang 88)
Bảng 2.11: Kết quả chi trả từng chế độ BHXH bắt buộc - Đánh Giá Tình Hình Quản Lý Thu Chi Bảo Hiểm Xã Hội Tại Huyện Ninh Giang Tỉnh Hải Dương Giai Đoạn 2003 - 2008
Bảng 2.11 Kết quả chi trả từng chế độ BHXH bắt buộc (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w