Chương trình Tập làm văn ở lớp Năm có những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cao hơn hẳn so với các lớp dưới; cụ thể là trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn cơ bản: Nói – V
Trang 1Cơ sở lí luận Thực trạng – Nguyên nhân Một số biện pháp đã tiến hành Kết quả đạt được
Tiểu kết Kết luận và kiến nghị
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình Tiểu học hiện hành, môn Tiếng Việt được chia thành các phân môn, mỗi phân môn có nhiệm vụ rèn cho học sinh một số kĩ năng nhất định Phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng (Nghe – Nói – Đọc – Viết)
Chương trình Tập làm văn ở lớp Năm có những yêu cầu về kiến thức
và kĩ năng cao hơn hẳn so với các lớp dưới; cụ thể là trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn cơ bản: Nói – Viết, học sinh có được khả năng xây dựng một văn bản hoàn chỉnh (gồm ba phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài) Bên cạnh đó phân môn Tập làm văn còn góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô-gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh
Qua thực tế giảng dạy tại trường Tiểu học Phổ Hòa đã 05 năm liền dạy lớp Năm, tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt Để thực hiện được mục tiêu của phân môn Tập làm văn là xây dựng các văn bản (nói và viết), học sinh cần phải nắm vững tất cả các kiến thức Tiếng Việt tiếp thu được qua việc học: Tập đọc; Chính tả; Luyện từ và câu; Kể chuyện…Trong khi đó, học sinh nhà trường ít
có hứng thú với môn Tiếng Việt, phụ huynh cũng không mấy mặn mà với phân môn Tập làm văn (do quan niệm xã hội thích con mình học môn Toán hơn, do cơ chế thị trường và do ảnh hưởng văn hóa đọc thích cho con mình đọc truyện tranh hiện đại nhiều hơn là truyện cổ tích, thần thoại…) nên dẫn
Trang 3đến việc học sinh viết văn rất hạn chế là điều hiển nhiên Với học sinh lớp Năm, việc rèn kĩ năng viết văn cho học sinh là cần thiết Học tốt môn Tập làm văn sẽ là điều kiện thuận lợi để học sinh học tốt các môn học khác ở Tiểu học
và học lên lớp trên
Trước tình trạng đó, tôi luôn trăn trở muốn tìm giải pháp để giúp các
em có hứng thú học và học tốt phân môn Tập làm văn nên tôi chọn đề tài:
“Một số biện pháp rèn kĩ năng viết văn cho học sinh lớp Năm.”
Trang 4- Phối hợp với phân môn: Tập đọc; Luyện từ và câu; Kể chuyện tiếp tục củng
cố và hoàn thiện tri thức cơ bản về cách viết văn cho học sinh
- Trang bị cho học sinh một công cụ quan trọng để học tập và giao tiếp
- Phát triển ngôn ngữ nói – viết và phát triển tư duy khoa học cho học sinh Trong quá trình dạy học tôi đã biết được những thực trạng và nguyên nhân mà học sinh viết văn còn hạn chế nên nhiều năm qua tôi đã nghiên cứu
và áp dụng những biện pháp này vào việc rèn kĩ năng viết văn cho học sinh đã đem lại kết quả cao
Trang 5CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG – NGUYÊN NHÂN
Nhìn chung học sinh trường tôi chưa theo kịp học sinh ở các nơi về nhiều phương diện trong đó có khả năng nhận thức, vốn từ Tiếng Việt và năng lực sử dụng Tiếng Việt
- Trong phân môn Tập làm văn hầu như các em còn lúng túng trong cách lập dàn ý cho một bài văn, rút ra dàn ý từ đoạn văn đã cho sẵn, chuyển dàn ý thành đoạn văn, chưa nắm được cấu trúc, kết cấu của một văn bản (câu chuyện)
- Học sinh chưa vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn của Tiếng Việt nhất là phân môn Kể chuyện
- Vốn từ của học sinh chưa phong phú, các em chưa hiểu hết nghĩa của từ: từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ láy,… nên việc vận dụng vào làm bài còn nhiều nhầm lẫn, sai sót,…
- Vấn đề dùng từ và dạy từ được chú trọng nhiều trong các giờ dạy Tiếng Việt ở Tiểu học Nhưng vốn liếng từ vựng và trình độ dùng từ trong khi tạo lập ngôn bản (ở cả hai hình thức nói, viết) của học sinh nói chung vẫn còn yếu, còn nghèo
- Trong các lớp vẫn còn một số học sinh học yếu, cá biệt có học sinh đọc chưa thông, viết chưa thạo, đặt câu văn chưa đúng cấu trúc câu, đặt từng câu văn rời rạc còn khó, nói gì đến việc hướng dẫn các em viết một đoạn văn, bài văn hay kể lại một câu chuyện đã học, đã đọc theo yêu cầu
Trang 6- Học sinh thiếu vốn sống thực tế nên thường viết những đoạn văn, bài văn mang tính liệt kê, văn kể chuyện không đầy đủ các chuỗi sự việc làm cho bài văn khô cứng, không cảm xúc
- Một số học sinh khá giỏi thì gắng đọc thật nhiều bài văn mẫu, xào xáo lại thành một bài văn, thậm chí bê y nguyên bài làm của người khác hay cả một câu chuyện quá chi tiết tỉ mỉ, chưa biết mượn lời nhân vật khi kể,…
Trang 7CHƯƠNG 3
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
3.1 Đối với thể loại văn miêu tả:
Khi giảng dạy thể loại văn miêu tả với những kiểu bài cụ thể, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh nắm được những yêu cầu chung (tuân thủ ở tất
cả các bài dạy) vừa phải giúp học sinh thấy rõ những đặc điểm riêng (căn cứ vào kiểu bài – đối tượng miêu tả) nhằm từng bước hình thành kiến thức và trau dồi kĩ năng nói – viết đúng thể loại Các yêu cầu chung cụ thể như sau: 3.1.1 Bài văn miêu tả phải chân thực:
Giáo viên cần cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với đối tượng và hướng dẫn chu đáo về cách quan sát, quan sát bằng nhiều giác quan, chọn được từ ngữ thích hợp, diễn tả đúng được đối tượng, không làm cho người đọc hiểu sai hoặc không hình dung được nó Từ đó học sinh mới có thể làm bài văn miêu tả đúng thực tế và ngày càng chân thực Khi hướng dẫn học sinh quan sát cần dẫn dắt gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi gợi suy nghĩ cho các em
* Cụ thể như khi dạy kiểu bài văn tả đồ vật: Giáo viên cho học sinh quan sát cần phải xem xét kĩ ở nhiều góc độ, với từng bộ phận cụ thể (dù là đồ vật đơn giản hay phức tạp) Song khi miêu tả, cần phải tránh lối liệt kê thật đầy đủ Bài văn miêu tả đồ vật cần nêu được những nét riêng vừa khắc họa được hình ảnh đồ vật vừa bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của người tả về đồ vật ấy
3.1.2 Bài văn miêu tả phải có trình tự hợp lí:
Trang 8Bài văn miêu tả phải diễn tả liền mạch suy nghĩ, cảm xúc của người viết, thể hiện sự mạch lạc, trong sáng trong tình cảm; không miêu tả lộn xộn, trùng lặp hay tản mạn, rối rắm, rườm rà…Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn học sinh quan sát miêu tả theo trình tự hợp lí và phải nắm vững yêu cầu sau:
- Tả theo trình tự thời gian: cái gì xảy ra trước (có trước) thì miêu tả trước, cái gì xảy ra sau (có sau) thì miêu tả sau Trình tự này thường được vận dụng trong bài tả cảnh vật, hiện tượng tự nhiên (văn tả cảnh)
- Tả theo trình tự không gian: từ xa đến gần, từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong, từ trái qua phải…hoặc ngược lại Trình tự này thường được vận dụng khi miêu tả đồ vật, cây cối, loài vật, cảnh vật nói chung
- Tả theo trình tự tâm lí: điều gì chú ý nhiều (gây hứng thú, có tác động mạnh) thì tả trước, điều gì ít gây chú ý, tả sau Trình tự này thường được vận dụng khi tả người, tả loài vật, đồ vật
* Ví dụ: Tập trung tả mái tóc, tả giọng nói rồi mới đến ánh mắt…của người bà – không nhất thiết phải tả đầy đủ, như nhau, tất cả các đặc điểm của đối tượng
Khi đã nắm được các trình tự trên, học sinh có thể vận dụng linh hoạt trong việc trình bày bài viết (hoặc nói)
3.1.3 Bài văn miêu tả phải có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu
Học sinh phải biết trọng tâm miêu tả phụ thuộc vào yêu cầu của đề bài
* Ví dụ: Tả vườn rau (vườn hoa) thì trọng tâm phải là các luống rau – cây rau (hoặc luống hoa – cây hoa) với những nét nổi bật, tiêu biểu của nó; cảnh xung quanh có liên quan (cây cối, chim chóc, người…) chỉ là phụ, không cần tả kĩ…
Tả có trọng tâm và chọn được những nét tiêu biểu sẽ làm cho đối tượng
Trang 9được miêu tả hiện ra sinh động, có những nét riêng độc đáo, gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc
3.1.4 Bài văn miêu tả phải bộc lộ được cảm xúc chân thành của người viết
Ngoài việc giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát kĩ đối tượng, học sinh còn cần phải suy nghĩ, phát hiện ra những nét đẹp, nét đáng yêu của đối tượng; cần có sự liên tưởng, tưởng tượng để bộc lộ cảm xúc của mình, thể hiện rõ mối quan hệ giữa người tả và đối tượng được miêu tả
* Ví dụ: Tả hàng cây quen thuộc bên con đường đi học, học sinh cần nêu được những nét đáng yêu thân thiết với mình ra sao; sự thay đổi của nó so với hôm qua như thế nào… và tương lai, hàng cây ấy sẽ có gì đẹp đẽ hơn, ý nghĩa hơn với bản thân và với mọi người…
Giáo viên biết tôn trọng những suy nghĩ, cảm xúc của học sinh và nâng những cảm xúc đó lên một chất lượng cao hơn
3.1.5 Bài văn miêu tả phải diễn đạt bằng lời văn sinh động, gợi tả - gợi cảm
Giáo viên cần cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ phong phú, rèn luyện cách dùng từ, đặt câu và sử dụng các biện pháp tu từ Ở dạng bài tả đồ vật thì
đồ vật là vật vô tri, vô giác, chưa có những nét về “tính tình” như loài vật hay con người Vì vậy, để tả cho sinh động và dễ dàng bộc lộ suy nghĩ, tình cảm của người viết, học sinh có thể sử dụng biện pháp nhân hóa (gọi sự vật bằng anh, chị, chú, bác hay anh chàng, cô nàng… hoặc cho đồ vật tự xưng là tớ, tôi, mình khi tự nói về nó) Để làm cho đối tượng được miêu tả hiện lên rõ nét
và sinh động, lời văn miêu tả phải cụ thể, từ ngữ miêu tả - gợi cảm, giàu hình ảnh
* Ví dụ: Tả bông hoa màu đỏ, có thể lựa chọn từ ngữ phù hợp (đỏ tươi,
Trang 10đỏ thắm, đỏ rực…)
Giáo viên phải mở rộng phạm vi tiếp xúc và cho học sinh được hội nhập với thế giới bên ngoài để mở rộng vốn từ, đồng thời cũng là vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết, chỉ có như vậy vốn từ của học sinh mới giàu lên và cách dùng
từ cũng sẽ chính xác và linh hoạt hơn Giáo viên cần rèn kĩ năng trên cho học sinh thông qua hệ thống bài tập: Nắm nghĩa từ, phát triển vốn từ, sử dụng từ (điền từ, tạo từ ngữ, tìm từ, đặt câu, viết đoạn…)
Câu văn tả thường sử dụng nhiều từ tượng hình, từ tượng thanh hay từ láy để tăng sức gợi tả, gợi cảm Đó là những câu văn cấu tạo không chỉ có thành phần chính (chủ ngữ - vị ngữ) mà còn có nhiều thành phần phụ
3.2 Đối với thể loại văn kể chuyện:
Thể loại văn kể chuyên được dạy ở lớp năm rất ít tiết, với những yêu cầu
cụ thể khác nhau Học sinh kể một câu chuyện theo đề tài cho trước (nêu trong đề bài)
3.2.1 Kể chuyện dựa vào truyện đã nghe, đã đọc:
Kể lại truyện đã nghe, đã đọc là dựa vào nội dung truyện có sẵn, dùng lời của mình để trình bày lại từ đầu đến cuối đầy đủ những sự việc chính, có nhấn mạnh ở những đoạn, những chi tiết hấp dẫn nhằm làm cho người đọc, người nghe nhận ra ý nghĩa câu chuyện và cảm thấy thích thú Muốn đạt kết quả tốt, học sinh cần thực hiện một số yêu cầu sau:
3.2.1.1 Phải trung thành với ý nghĩa của truyện gốc:
Sau khi nhớ lại cho đầy đủ nội dung truyện (hoặc đọc kĩ nhiều lượt nếu
có điều kiện), học sinh phải nắm vững ý nghĩa của truyện để khi kể lại không
bị sai lạc Cần tìm hiểu để thấy rõ: truyện ca ngợi, phê phán hay muốn nêu lên bài học gì
* Ví dụ: Truyện cổ tích “Cây tre trăm đốt” cho thấy ý nghĩa: người chăm
Trang 11chỉ, hiền lành và trung thực sẽ được hưởng hạnh phúc, kẻ giàu có nhưng sống giả dối sẽ bị trừng trị Từ đó, khi kể lại truyện, học sinh cần tập trung vào nhân vật “anh trai cày” và “tên nhà giàu” để làm rõ tính cách và nổi bật ý nghĩa của truyện gốc
3.2.1.2 Phải đảm bảo kể đúng và đủ những sự việc chính, những chi tiết quan trọng:
Truyện được kể lại phải đúng và đủ những sự việc chính mới giúp cho người đọc hình dung rõ cốt truyện và nội dunh truyện gốc Các chi tiết quan trọng của truyện được kể lại đầy đủ và chính xác sẽ góp phần làm cho câu chuyện sinh động, hấp dẫn
* Ví dụ: Truyện “Sơn Tinh - Thủy Tinh” có những sự việc chính như: vua Hùng kén rể, Sơn Tinh và Thủy Tinh đến cầu hôn, Sơn Tinh đem lễ cưới đến trước được vua Hùng cho rước Mị Nương về làm vợ…; có những chi tiết quan trọng như: vua Hùng yêu cầu lễ vật đến xin cưới con gái là “một trăm ván cơm nếp, hai trăm đệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”… nếu không kể đúng và đủ, sẽ không làm cho người đọc hiểu rõ nội dung và ý nghĩa cảu truyện gốc là ước mơ chiến thắng bão lụt của nhân dân ta
3.2.1.3 Phải theo đúng trình tự diễn biến của cốt truyện:
Kể đúng trình tự diễn biến của cốt truyện giúp cho người đọc nắm vững logic của các sự việc và hành động trong truyện Do vậy, nếu kể lộn xộn, không rõ hoặc sai lạc trình tự diễn biến, câu chuyện sẽ khó hiểu và người đọc không nắm được nội dung truyện gốc Trường hợp đề bài có yêu cầu “đổi vai”
để kể lại truyện:
* Ví dụ: Kể lại một câu chuyện cổ tích mà em biết theo lời một nhân vật trong câu chuyện đó Đối với dạng bài này thì trình tự diễn biến của cốt
Trang 12truyện có thể điều chỉnh chút ít, nhưng phải đảm bảo hợp lí và không làm thay đổi ý nghĩa của truyện gốc Khi kể lại truyện theo đề bài trên, học sinh phải tưởng tượng mình là một nhân vật trong truyện, phải xưng tôi (hoặc “tớ”,
“mình”) trong lời kể Trình tự diễn biến của cốt truyện có thể giữ nguyên hoặc đảo lại sự việc ở cuối truyện lên đầu để kể lại cho hấp dẫn
3.2.1.4 Phải kể bằng lời của mình, tránh sao chép nguyên văn trong sách
Kể lại truyện đã nghe, đã đọc không phải là nhớ nguyên văn truyện gốc rồi sao chép lại cho đúng Kiểu bài Tập làm văn kể chuyện này đòi hỏi học sinh phải thể hiện tính sáng tạo trong lời kể (ngôn ngữ diễn đạt trong bài văn
kể chuyện) Do vậy, cần khuyến khích học sinh đọc kĩ truyện – nhớ và hiểu truyện – có rung cảm với truyện gốc, để từ đó kể lại bằng lời của mình Có như vậy, qua cách kể của học sinh (dùng từ, đặt câu, tái tạo hình ảnh, chi tiết…), ta mới thấy rõ năng lực cảm thụ truyện và trình độ kể chuyện của mỗi
em Nhìn chung, bài văn kể chuyện cần cố gắng không bị lệ thuộc bởi các từ ngữ, câu văn trong truyện gốc, trừ khi nhằm thể hiện màu sắc đặc biệt hoặc nêu bật ý nghĩa của truyện
* Ví dụ: các từ ngữ gợi màu sắc cổ xưa trong truyện “Sơn Tinh – Thủy Tinh” như: vua, cầu hôn, tuấn tú, …
3.2.1.5 Có thể sáng tạo thêm một số chi tiết phụ, một vài nét tả hay thêm lời của nhân vật xen kẽ trong câu chuyện nhưng phải phù hợp ý nghĩa và tính chất của truyện
Câu chuyện được kể lại không chỉ làm cho người đọc hiểu đúng nội dung
mà còn cho thấy năng lực cảm thụ truyện của người kể Vì thế, trong bài văn
kể chuyện, học sinh có thể bộc lộ trí tưởng tượng thông qua sự “thêm thắt” một vài chi tiết phụ, xen kẽ một vài nét tả (về nhân vật hay khung cảnh…), phát triển thêm lời nói của nhân vật… miễn sao hợp lí và đúng ý nghĩa của
Trang 13truyện, làm cho câu chuyện kể lại sinh động và hấp dẫn
3.2.2 Kể chuyện dựa theo đề tài cho trước:
Học sinh tập kể một câu chuyện (dựa vào thực tế cuộc sống) theo một đề tài cho trước (nêu ở đề bài)
* Ví dụ: Hãy kể một kỉ niệm khó quên về tình bạn… Loại bài này đòi hỏi học sinh phải dùng trí tưởng tượng (ít hay nhiều) để “nhào nặn” lại thực tế như sắp đặt lại cốt truyện; thêm bớt một vài sự việc, chi tiết; thay đổi cách diễn tả… nhằm làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn, có ý nghĩa đậm đà sâu sắc hơn Để làm tốt loại bài này, học sinh cần thực hiện tốt những điểm sau:
3.2.2.1 Xác định rõ mục đích, ý nghĩa câu chuyện
Căn cứ vào đề tài cho trước, sau khi cụ thể hóa nội dung câu chuyện sẽ
kể lại, học sinh phải xác định rõ được yêu cầu: kể lại nhằm làm sáng tỏ điều
gì, gợi cảm xúc gì cho người đọc, người nghe ?
3.2.2.2 Nắm vững địa điểm, thời gian và trình tự diễn biến của các sự việc xảy ra
Thông thường, phần “Mở bài” cần cho người đọc biết được câu chuyện
sẽ kể là chuyện gì ?; Xảy ra ở đâu ?; Vào thời gian nào ?; Do ai làm ?, … Tiếp đến phần “Thân bài” là trình bày diễn biến của câu chuyện với các sự việc nối tiếp nhau dồn dập, dẫn tới cao điểm (tình huống “thắt nút” hay “xoắn nút” gây sự hồi hộp – chú ý cao của người đọc), từ đó mở ra hướng giải quyết (“cởi nút”) một cách khéo léo Nắm vững trình tự diễn biến của các sự việc xảy ra, học sinh mới tái tạo lại được câu chuyện liền mạch và hợp lí, không lộn xộn hay trùng lặp các chi tiết
3.2.2.3 Nắm chắc các sự việc chính, các chi tiết quan trọng phục vụ cho
ý nghĩa câu chuyện
3.2.2.4 Chọn lọc nhân vật, sự việc, chi tiết cần đi sâu để kể kĩ; xen tả,