1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi

13 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 199,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Từ ngày thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định về

sự nghiệp Giáo dục trong nhiều văn kiện: “Giáo dục là Quốc sách hàng đầu”.

Trong 05 năm trở lại đây, Chính phủ và Lãnh đạo ngành Giáo dục cũng

xác định mục tiêu phát triển sự nghiệp giáo dục với chủ đề: “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”; “Nói không với tiêu cực trong thi

cử và bệnh thành tích”.

Là một Giáo viên mới vào nghề, chấp hành sự phân công của Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện Ea H’Leo, sự tiếp nhận của Ban Giám hiệu Trường Trung học cơ sở (THCS) Lê Quý Đôn, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, tôi nhận công tác giảng dạy tại trường từ tháng 11 năm 2007 cho đến nay

Được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban Giám hiệu Trường THCS Lê Quý Đôn và các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi yên tâm công tác và thực hiện tốt trách nhiệm của mình.

Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này ngoài sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu Nhà trường, một phần không nhỏ là sự giúp đỡ của tập thể giáo viên và học sinh Trường THCS Lê Quý Đôn trong 02 năm học qua.

Trong sáng kiến kinh nghiệm này, do phạm vi nghiên cứu và thời gian còn hạn hẹp, nên không tránh khỏi một số điểm còn hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự cổ vũ, động viên cùng những lời góp ý chân thành từ các cấp lãnh đạo cũng như các bạn đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm này ngày một hoàn thiện và sử dụng rộng rãi hơn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy

và học trong trường Xin chân thành cảm ơn!

Chủ đề tài: Lê Phương Tài

Trang 2

PHẦN A: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

Nghiên cứu khoa học giáo dục là nhiệm vụ của giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời là con đường tốt nhất để nâng cao trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực sư phạm của những người làm công tác giáo dục Mặt khác nghiên cứu khoa học giáo dục giúp người giáo viên phát hiện ra những hiện tượng, sự việc có tính quy luật, chân lý trong hiện thực khách quan

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương Đảng khóa VII về Chiến lược phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo trong thời kỳ Công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, để phục vụ và xây dựng sự nghiệp Giáo dục đòi hỏi con người phải có trí thức, có cả đức và tài

Nghị quyết số: 40/2000/QH10 của Quốc hội và Chỉ thị 14/2001/CT-TTg ngày 9/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông: Nội dung chương trình là tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng Công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy

và học

Thông tư số: 14/2002/TT-BGD&ĐT ngày 01/4/2002 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn quán triệt chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông

Chỉ thị số: 29/CT, của Ban chấp hành Trung ương Đảng về việc đưa CNTT vào nhà trường

Trong thời đại ngày nay, sự bùng nổ CNTT đã tác động rất lớn đến công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của nhân loại Đảng và Nhà nước đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của Tin học và CNTT, Truyền thông cũng như những yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức của nước ta nói riêng và của thế giới nói chung

Chính vì xác định được tầm quan trọng đó, nên Nhà nước ta đã đưa môn Tin học vào giảng dạy trong nhà trường và ngay từ bậc Tiểu học, học sinh đã được tiếp xúc với môn Tin học để làm quen dần với lĩnh vực CNTT, tạo nền móng cơ sở ban đầu để học những phần nâng cao trong các cấp học tiếp theo

Bên cạnh đó, Luật Giáo dục quy định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông

là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các

kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và phát huy trách nhiệm công dân, lao động , tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Giáo dục Trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kết quả của bậc giáo dục tiểu học

2 Cơ sở tâm lý

- Học sinh THCS, là trẻ em đang ở độ tuổi từ 11 – 14, có một số đặc điểm tâm sinh lý mà người giáo viên cần nắm được

- Lứa tuổi học sinh THCS đã có những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành khả năng tự điều chỉnh trong hoạt động học tập, tính tích cực chung của

Trang 3

tuổi trẻ, sự sẵn sàng tham gia vào các hoạt động khác nhau, nguyện vọng muốn

có các hình thức học tập mang tính chất người lớn

3 Cơ sở thực tiễn

Là một giáo viên dạy bộ môn Tin học - bộ môn mới mẽ ở trường THCS nhưng có vai trò to lớn nếu học sinh năm bắt và hiểu hết ý nghĩa, giá trị của bộ môn, nên tôi luôn luôn tâm nguyện đem hết năng lực, kiến thức đã được học để truyền thụ cho các em học sinh; là Tổ trưởng chuyên môn Tổ Tin, Thể dục, tôi thường đi dự giờ, thăm lớp và nắm bắt kịp thời chất lượng giảng dạy của các thành viên trong tổ

Trường Trung học cơ sở Lê Quý Đôn, nơi tôi đang công tác là một trường nằm ở trung tâm huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, điều kiện kinh tế tuy còn khó khăn nhưng mức sống bình quân của nhân dân vẫn cao hơn một số đơn vị hành chính trong huyện, trong quá trình giảng dạy nói chung và môn Tin học, Thể dục nói riêng nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Ban Giám hiệu nhà trường luôn tạo mọi điều kiện để mua sắm, đầu tư trang thiết bị kịp thời, đầy đủ nên tất cả các môn học đều có đồ dùng dạy học, đặc biệt là phòng máy tính, máy chiếu của nhà trường là một trong những phòng hiện đại, khang trang của ngành giáo dục huyện nhà Thành tích giáo dục của nhà trường luôn luôn đạt mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Do đặc thù của trường THCS Lê Quý Đôn và đặc thù của Tổ, của bộ môn, nên môn Tin học, Thể dục phải học trái buổi so với thời khóa biểu chính khóa của nhà trường Từ đó, kéo theo nhiều hệ quả liên quan đến ý thức học tập của học sinh cũng như chất lượng giáo dục của toàn trường Đạo đức của một bộ phận học sinh có biểu hiện xuống cấp, tình trạng học sinh bỏ tiết ở 02 bộ môn này ngày càng gia tăng, chất lượng bộ môn thấp Có nhiều học sinh từ đó hư hỏng, bỏ học, tham gia vào các nhóm đùa nghịch, có những hành động thiếu lành mạnh

Trước thực trạng đó, ngay sau khi được Ban Giám hiệu nhà trường giao đảm nhận Tổ trưởng chuyên môn năm học 2009 – 2010, tôi đã bắt tay nghiên

cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm với chủ đề: "Một số biện pháp trong

công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi ".

II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Mục đích nghiên cứu

Khi được nhận về công tác tại trường tôi nhận thấy có một nhận thức khác biệt của học sinh về các tiết học trái buổi, nên cần phải cải tiến việc tổ chức dạy

và học môn Tin học, Thể dục nhằm giúp học sinh chuyển biến ý thức và nâng cao chất lượng hai mặt giáo dục

2 Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

* Nhiệm vụ: Cải tiến việc quản lí học sinh, tổ chức dạy và học môn Tin

học – Thể dục sao cho phù hợp, đem lại hiệu quả cao

Trang 4

* Phương pháp nghiên cứu:

- Tìm hiểu các tài liệu liên quan;

- Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của các cấp, ngành có liên quan;

- Tọa đàm, trao đổi với các thành viên trong Tổ;

- Dự giờ, thăm lớp;

- Trò chuyện tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của học sinh để giúp đỡ, động viên kịp thời;

- Khảo sát thực trạng, tiến hành thực nghiệm qua tiết dạy thực tế, qua các buổi dự giờ, thăm lớp có đối chứng kết quả trước và sau khi thực hiện sáng kiến;

- Tổng kết rút kinh nghiệm

III ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

1 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ đầu học kỳ II năm học 2009 – 2010 đến hết học kỳ I năm học 2010 – 2011

- Đối tượng nghiên cứu: 100 học sinh khối lớp 7 năm học 2009 – 2010; Trong đó 50 học sinh nam, 50 học sinh nữ, có 10 học sinh là con em các dân tộc thiểu số (DTTS) của học sinh các lớp 7A1 (43 học sinh: 23 nam; 20 nữ; 5 học sinh DTTS), lớp 7A2 (42 học sinh: 23 nam; 19 nữ; 3 học sinh DTTS) và 15 học sinh lớp 7A3 (trong đó có 4 nam; 11 nữ; 2 học sinh DTTS

Lớp Tổng học sinh Nam Nữ DTTS

- Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Lê Quý Đôn, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk

2 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu và áp dụng

- Tình trạng học sinh bỏ tiết giảm hẳn;

- Học sinh đi học đúng giờ, mặc đồng phục đúng quy định;

- Giờ dạy trên lớp ổn định, không mất trật tự, nhốn nháo, giáo viên dễ dàng quản lý và giảng dạy học sinh;

- Chất lượng giáo dục hai mặt được tăng lên rõ rệt;

Trang 5

PHẦN B: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRƯỜNG THCS LÊ QUÝ ĐÔN

Trường THCS Lê Quý Đôn nằm ngay trung tâm huyện Ea H’Leo, trên đường Nguyễn Văn Cừ, thuộc tổ dân phố 7, thị trấn Ea Drăng, là trung tâm kinh tế- chính trị- xã hội của huyện Ea H’Leo Đến nay, dân số thị trấn Ea Drăng có 18.622 khẩu/ 4.161 hộ, bao gồm 14 dân tộc anh em sinh sống ở 13 tổ dân phố và

03 buôn (theo số liệu báo cáo của Công an Thị trấn) Nhìn chung, trình độ dân trí tương đối cao nên đời sống tinh thần và vật chất cao hơn các địa bàn khác trong huyện

Năm học 2009 – 2010, nhà trường có 20 lớp với 10 phòng học và các phòng chức năng như: Phòng máy tính, phòng nghe, phòng thí nghiệm thực hành, phòng thư viện

Nhà trường có 49 cán bộ, giáo viên, nhân viên, trong đó, gồm 03 cán bộ quản lý, 02 đ/c đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, 13 đ/c đạt danh hiệu lao động tiên tiến; hầu hết giáo viên trẻ, nhiệt tình với công tác, 70% giáo viên là giáo viên giỏi các cấp Toàn trường có gần 800 học sinh chia làm 4 khối lớp, đã thành lập Đội Cờ đỏ, Đội Thanh niên xung kích để theo dõi chặt chẽ tất cả mọi hoạt động và nền nếp sinh hoạt, học tập của học sinh

II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRƯỚC KHI VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Học trái buổi là học nghịch buổi so với các buổi học chính khóa Kết hợp học Tin học và Thể dục trong cùng một buổi và mỗi tuần học sinh đi học hai

buổi Điều mà tôi trăn trở là làm thế nào để học sinh yêu thích bộ môn Tin học,

Thể dục, học tập hăng say, tích cực và có ý thức cao như các môn học chính

khóa, để từ đó có sự yêu thích say mê môn học Qua một vài năm giảng dạy, tôi

tự đánh giá và nhận thấy:

- Một số học sinh nhà ở xa trường phải ở lại ăn cơm trưa ở trường;

- Một số học sinh đi học không kịp vào buổi chiều khi buổi học chính thức

là buổi sáng;

- Một số học sinh hay vi phạm nội quy, không mặc đồng phục;

- Xảy ra tình trạng học sinh bỏ tiết, có vài trường hợp học sinh nghỉ học không có lý do;

- Đối với những lớp học tiết Thể dục trước, Tin học sau thì sau khi học xong môn Thể dục các em thường lên học môn Tin học trể từ 02 – 04 phút;

- Sự khó khăn đối với học sinh, khi vùng Tây Nguyên chuyển qua mùa khô, bụi bẩn, đất đỏ và mùa mưa dầm kéo dài (thể hiện 02 mùa rõ rệt);

- Một số học sinh sau khi học xong 02 tiết Tin học, Thể dục (90 phút) thì

bỏ đi chơi điện tử đến hết buổi mới về nhà;

- Chất lượng giáo dục hai mặt còn thấp, so với yêu cầu đặt ra;

Trang 6

- Có sự chênh lệch lớn giữa học sinh nam và nữ;

- Chất lượng 02 môn học trái buổi của các em học sinh DTTS cũng không đồng đều (thấp hơn) so với các học sinh khác

BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2009 – 2010

V ề đạo đức: đạo đức: đức:o c:

Môn Bỏ tiết Đi trễ, vi phạm nội quy

Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS

Tin học 15 7 4 18 10 4

Về học lực:

Môn tính

theo %

Tin học Thể dục Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS Giỏi 10% 15% 10% 12% 16% 10%

Khá 25% 30% 20% 27% 31% 20%

TB 45% 40% 40% 46% 42% 50%

Dưới TB 20% 15% 30% 15% 11% 20%

III KẾT QUẢ

Qua nhiều trăn trở, suy nghĩ, tôi nhận thấy rằng, việc làm cho các em học sinh, học trái buổi thực hiện nội quy, ý thức, học tập tốt như chính khóa phải bắt nguồn từ rất nhiều yếu tố: Đó là sự giám sát chặt chẽ của Ban Giám hiệu nhà trường; sự phối kết hợp nhuần nhuyễn của Đội Thiếu niên tiền phong, Giáo viên Chủ nhiệm, gia đình Trong đó, có sự tận tâm, nhiệt tình của chính Giáo viên dạy trực tiếp bộ môn đó là vấn đề quan trọng Từ đó, tôi luôn thực hiện các công việc sau đây:

- Điểm danh học sinh trước khi dạy bài mới;

- Kiểm tra xem trước đó có học sinh nào nghỉ môn Thể dục không;

- Giấy xin phép phải lưu giữ và xác minh chữ ký của phụ huynh có đúng không;

- Thường xuyên giáo dục học sinh ý thức giữ gìn, bảo vệ tài sản chung;

- Giao cho Lớp trưởng quản lý lớp học, chia ra thành từng nhóm và có một (01) trưởng nhóm để tiện việc theo dõi, quản lý;

- Bắt buộc học sinh đi học đầy đủ, nếu vắng học sẽ không được tổng kết

bộ môn;

Trang 7

Ngoài ra, tôi còn lấy ý kiến của 100 học sinh về việc có nên học trái buổi hay không, kết quả thu được như sau:

PHIẾU TRẮC NGHIỆM:(Học sinh chỉ đánh 01 dấu X vào ô bên cạnh)

Câu hỏi: Học sinh có đạt hiệu quả khi học trái buổi và có hứng thú học không?

A Hứng thú và đạt hiệu quả

B Đạt hiệu quả nhưng không hứng thú

C Có hứng thú nhưng hiệu quả không cao

D Không đạt hiệu quả và không có hứng thú

KẾT QUẢ TỔNG HỢP PHIẾU TRẮC NGHIỆM THU ĐƯỢC:

Câu hỏi: Học sinh có đạt hiệu quả khi học trái buổi và có hứng thú học không?

A Hứng thú và đạt hiệu quả 40%

B Đạt hiệu quả nhưng không hứng thú 35%

C Có hứng thú nhưng hiệu quả không cao 20%

D Không đạt hiệu quả và không có hứng thú 15%

Qua việc lấy ý kiến đó tôi càng cố gắng gần gũi học sinh, mỗi giờ dạy luôn hòa đồng, tạo niềm vui, không khí cởi mở, thân thiện trong học tập đối với các em Sau 01 học kỳ, tình hình chung có nhiều học sinh đã học tốt hơn trước, với kết quả sau:

BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ II NĂM HỌC 2009 – 2010

V ề đạo đức: đạo đức: đức:o c:

Môn Bỏ tiết Đi trễ, vi phạm nội quy

Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS

V h c l c:ề đạo đức: ọc lực: ực:

Môn

(tính

theo %)

Tin học Thể dục Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS Giỏi 12% 16% 10% 13% 16% 10%

Khá 27% 31% 20% 28% 32% 20%

TB 46% 41% 50% 47% 43% 50%

Dưới TB 15% 12% 20% 12% 9% 10%

Trang 8

Với niềm đam mê nghề nghiệp, nhiệt huyết cháy bỏng của người giáo viên trẻ tuổi Tôi vẫn cảm thấy chất lượng như trên chưa thật cao, bộ môn chưa đạt chất lượng theo quy định của Phòng giáo dục và đào tạo, của Ban Giám hiệu nhà trường đề ra Học sinh vi phạm nội quy vẫn còn nhiều, có một số vi phạm mới nãy sinh, nhưng Nhóm trưởng không dám báo cáo lại với giáo viên Ngoài

ra, sự phối kết hợp của các thành viên trong Tổ chuyên môn chưa cao Bên cạnh

đó, đạo đức học sinh ở trong trường có phần bị xuống cấp, suy thoái Có một trường hợp học sinh (trong số 100 học sinh tôi nghiên cứu) đã bỏ học vì vi phạm nội quy, từ đó không dám đến lớp, dù đó là một học sinh ngoan, học lực trung bình – khá

Năm học 2010 – 2011, tôi xin phép Ban Giám hiệu nhà trường cho tôi tiếp tục dạy khối 7 năm học trước (nay các em đã học lớp 8), lúc này số lượng học sinh tôi nghiên cứu chỉ còn lại 99 em (vì 01 em đã nghỉ học ở lớp 8A2)

Tôi tiếp tục thực hiện những kinh nghiệm mà bản thân đã áp dụng năm học trước, bỏ một số biện pháp mà tôi đã nghiên cứu, áp dụng chưa tốt ở năm học 2009 - 2010; đồng thời, bổ sung thêm một số biện pháp mới, cụ thể:

- Đề nghị sự tăng cường giám sát chặt chẽ của Ban Giám hiệu nhà trường

để có ý kiến chỉ đạo kịp thời;

- Phối, kết hợp chặt chẽ với các Tổ trưởng chuyên môn khác để học tập lẫn nhau và đúc rút thêm kinh nghiệm;

- Kết hợp với Đội cờ đỏ, đ/c bảo vệ nhà trường để nắm bắt thêm tình hình học sinh;

- Chia học sinh thành nhóm (gồm 01 Trưởng nhóm và 02 Nhóm phó), kiểm tra thường xuyên các thành viên còn lại trong nhóm;

- Nếu học sinh bỏ tiết, vắng học phải báo với giáo viên Chủ nhiệm và gặp riêng học sinh đó để hỏi rõ lý do;

- Trò chuyện với các em học sinh giỏi để rút ra kinh nghiệm truyền đạt cho những em học sinh yếu, kém, lấy số em học sinh giỏi đó làm tấm gương để các em học sinh khác noi theo;

- Trò chuyện với học sinh có biểu hiện hư hỏng để uốn nắn, giúp đỡ; tạo

ra những trò chơi giúp các em hòa đồng với bạn bè cùng trang lứa, nhằm học tập tốt hơn;

- Tìm hiểu những học sinh có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn để động viên, giúp các em hiểu giá trị của học vấn sẽ làm các em mạnh mẽ hơn trong cuộc sống;

- Mỗi buổi học trái buổi gồm 03 hoặc 04 lớp học, có thể đề nghị lên Ban giám hiệu nhà trường sắp xếp thời khóa biểu phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của học sinh từng lớp;

- Động viên, nhắc nhở các em học sinh nam chăm chỉ học tập hơn;

Trang 9

- Tăng cường hướng dẫn cho học sinh yếu kém, học sinh DTTS vào 05 phút cuối của mỗi tiết dạy;

- Tạo ra các trò chơi trên máy tính ở mỗi phần củng cố bài học (môn Tin học), các trò chơi vận động (môn Thể dục) Luôn nói rõ cho các em hiểu lý do khách quan, chủ quan mà 2 môn Tin học và Thể dục phải học trái buổi, nhằm giúp các em có hứng khởi học tập và đạt hiệu quả cao hơn

Kết thúc học kỳ I năm học 2010 – 2011, chất lượng giáo dục đạt như sau:

BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2010 – 2011

V ề đạo đức: đạo đức: đức:o c:

Môn Bỏ tiết Đi trễ, vi phạm nội quy

Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS

V h c l c:ề đạo đức: ọc lực: ực:

Môn

(tính

theo %)

Tin học Thể dục Nam Nữ DTTS Nam Nữ DTTS Giỏi 15% 19% 20% 15% 17% 20%

Khá 28% 35% 30% 30% 35% 40%

TB 48% 42% 40% 48% 44% 40%

Dưới TB 9% 4% 10% 7% 4% 0%

Đạo đức, ý thức, nền nếp, chất lượng dạy và học đã tăng lên một cách rõ rệt, chất lượng bộ môn đạt yêu cầu do Ban Giám hiệu nhà trường đề ra

Trang 10

PHẦN C: KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

I Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

Từ những kinh nghiệm giảng dạy thực tế và kết quả thu được trong một năm qua, tôi thấy rằng để tăng hiệu quả quản lý học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục học sinh học trái buổi cần phải:

1 Phải tích cực xây dựng đội ngũ nhà giáo thực sự có tinh thần yêu nghề, tận tụy với công việc: Chính lòng yêu nghề, yêu công việc sẽ giúp đội

ngũ giáo viên mà đặc biệt là giáo viên Chủ nhiệm quan tâm nhiều hơn cho công tác của mình trong đó có công tác quản lý học sinh

2 Giáo viên Chủ nhiệm cần quan tâm thường xuyên đến các hoạt động của lớp mình: Một giáo viên Chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học

tốt mà còn biết cách để giúp các em học sinh siêng năng học tập, đi học đều đặn hơn, đạo đức, ý thức học tập tốt hơn

3 Sự phối hợp giữa giáo viên Chủ nhiệm và giáo viên bộ môn trong công tác giảng dạy và quản lý học sinh: Công tác phối hợp giữa giáo viên bộ

môn và giáo viên Chủ nhiệm là một việc hết sức quan trọng trong công tác chủ nhiệm Học sinh có thể thích học môn này, không thích môn kia vì những lý do khác nhau, nên giáo viên Chủ nhiệm cần tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân để từ

đó cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em

có thể có kết quả học tập tốt hơn từ đó các em sẽ hứng thú học tập và nâng cao chất lượng giáo dục

4 Phối hợp với Ban giám hiệu nhà trường, các Tổ chuyên môn và các Đoàn thể trong nhà trường: Công tác quản lý là một công tác khoa học (khoa

học quản lý), đòi hỏi phải phối, kết hợp giữa các tổ chức, lực lượng khác nhau trong nhà trường, trong đó, công tác phối, kết hợp giữa giáo viên với Ban Giám hiệu là một việc vô cùng quan trọng, hữu ích

5 Thường xuyên trao đổi và nắm bắt thông tin từ Ban cán sự của lớp mình giảng dạy: Ban cán sự lớp, chính là một tổ chức trực tiếp theo dõi và lãnh

đạo lớp, được giáo viên Chủ nhiệm tín nhiệm và đề cử Do đó, chính Ban cán sự lớp nắm bắt rất rõ về tình hình mọi mặt của lớp do mình phụ trách giảng dạy

6 Quan tâm đến các công tác xã hội, lực lượng địa phương: Bên cạnh

việc tham gia học tập và sinh hoạt trong nhà trường, các em học sinh còn tham gia các công tác ngoài xã hội, các tác động xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách của học sinh Trong thời đại ngày nay có rất nhiều hoạt động xã hội sẽ tác động một cách mạnh mẽ đến các em học sinh chúng ta Vì vậy, cần quan tâm đến các công tác này

7 Phối kết hợp với Đội Thiếu niên tiền phong và một số phong trào như: Phong trào giúp bạn vượt khó, phong trào cùng nhau đi học, phong trào

cùng bạn học giỏi

8 Bản thân giáo viên đứng lớp:

- Đề ra bản nội quy riêng của bộ môn Tin học – Thể dục và trình lên Ban giám hiệu nhà trường ký duyệt, sau đó gửi về tất cả giáo viên Chủ nhiệm các lớp

để tổ chức thực hiện thống nhất;

Ngày đăng: 02/05/2016, 14:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2009 – 2010 - Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi
2009 – 2010 (Trang 6)
BẢNG THỐNG KÊ HỌC KỲ I NĂM HỌC 2010 – 2011 - Một số biện pháp trong công tác quản lí học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy và học các tiết học trái buổi
2010 – 2011 (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w