SKKN Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số rất hay.SKKN Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số rất hay.SKKN Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số rất hay.SKKN Một số kinh nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số rất hay.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài Trang 2
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Trang 2
3 Đối tượng nghiên cứu Trang 3
4 Giới hạn nghiên cứu Trang 3
5 Phương pháp nghiên cứu Trang 3
PHẦN II NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận Trang 3
II Thực trạng Trang 4
1 Thuận lợi Trang 4
2 Khó khăn Trang 5
3 Kết quả mong đợi sau khi thực hiện đề tài Trang 5
III Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh vùng đồng bào
dân tộc thiểu số bỏ học Trang 5
IV Các giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh vùng đồng bào dân tộc
thiểu số bỏ học Trang 6
V Một số biện pháp vận động học sinh bỏ học quay lại lớp Trang 11
VI Kết quả đạt được Trang 12
PHẦN III KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT
I Kết luận Trang 12
II Một số đề xuất Trang
13
1 Đối với cấp phòng Trang 13
2 Đối với cấp trường Trang 14
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây tình trạng học sinh bỏ học diễn ra phổ biến trong cả nước, việc học sinh bỏ học chủ yếu tập trung ở vùng cao, biên giới và hải đảo Đặc biệt tình trạng học sinh bỏ học cũng diễn ra ngày càng nhiều tại vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
Tại hội thảo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề học sinh bỏ học giữa năm 2011, thống kê cho thấy tính hết học kì I năm học 2010-2011 tỉ lệ học sinh bỏ học của cả nước là 0,43%, trong đó cao nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long với tỉ lệ 0,75%, đứng thứ hai là khu vực Tây Nguyên với tỉ lệ 0,71%, thấp nhất là Đồng Bằng Sông Hồng với tỉ lệ 0,17% Riêng năm học 2011-2012 chưa có số liệu cụ thể về tình hình học sinh bỏ học trên cả nước theo dự đoán thì chiều hướng có giảm nhưng vẫn còn ở mức cao
Qua những con số nêu trên khi nhìn vào không khỏi làm chúng ta băn khoăn và đặt ra hàng loạt câu hỏi Nguyên nhân nào làm cho tỉ lệ học sinh bỏ học vẫn còn ở mức cao như vậy? Tại sao chúng ta đã có nhiều biện pháp nhằm giảm tỉ lệ học sinh bỏ học nhưng tình trạng học sinh bỏ học vẫn còn ở mức cao? Những biện pháp đó thực sự đã hiệu quả chưa? Có biện pháp nào hiệu quả hơn không? Rất nhiều câu hỏi đặt ra trong đầu chúng ta
Với cương vị là một giáo viên đã giảng dạy lâu năm tại vùng có nhiều học sinh là con
em đồng bào các dân tộc thiểu số Đặc biệt bản thân tôi nhiều năm được cử làm công
tác chủ nhiệm lớp nên tôi cũng muốn chia sẻ với các đồng nghiệp “ Một số kinh
nghiệm duy trì sĩ số học sinh tại vùng có nhiều học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số” Đó là lý do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Trang 3Đề tài này tôi sẽ đi sâu phân tích, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh bỏ học, qua đó tôi sẽ tìm ra một số giải pháp cho từng nguyên nhân nhằm giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh lớp 9a trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Phan Bội Châu- Xã Eatrang- Huyện M’đrắk- Tỉnh Đắk Lắk
4 Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện trong vòng 2 năm bắt đầu từ năm học 2010-2011 lúc đó là lớp 8a và năm học 2011-2012 hiện nay là lớp 9a Sĩ số lớp là 40 học sinh bao gồm 24 nam, 16 nữ, gồm các dân tộc Ê Đê, H’mông, Dao, Tày Và Kinh
5 Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này bản thân tôi chủ yếu sử dụng phương pháp thu thập thông tin thông qua trao đổi với học sinh và gia đình các em Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế học sinh, nắm bắt tâm lý học sinh thông qua các
cử chỉ, hành động, cách giao tiếp với thầy cô, với bạn bè
Bên cạnh đó do đối tượng học sinh chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số nên tôi còn đi sâu tìm tòi, nghiên cứu tài liệu về văn hóa của các dân tộc thiểu số để làm tài liệu bổ trợ trong quá trình nghiên cứu
PHẦN II NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận:
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 đã mở ra một bước ngoặt cho nước ta với đường lối đổi mới một cách toàn diện trên tất cả các mặt Bắt đầu từ đây vấn đề giáo dục, khoa học và công nghệ được đặt đúng vị trí của nó và được quan tâm một cách thích đáng Tiếp đó tại các đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI lần lượt củng cố và hoàn thiện đường lối đổi mới trong đó coi
Trang 4giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, đề cao chiến lược con người Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa một cách sâu sắc về mọi mặt đang là cơ hội để nước ta nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhưng cũng đặt nước ta trước những thách thức mới đó là tụt hậu, đi lệch con đường xã hội chủ nghĩa…
Với sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ nền kinh tế thế giới trong thế kỉ XXI là nền kinh tế tri thức Do đó đòi hỏi con người phải được đào tạo chu đáo về trình độ chuyên môn, ý thức tổ chức kỉ luật, đạo đức nghề nghiệp… không hơn gì hết
là phải học
Trong những năm học qua Bộ giáo dục và đào tạo đã phát động nhiều phong trào như:
“ Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo”, cuộc vận động “ Hai không” với bốn nội dung “ Nói không với tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích, vi phạm đạo đức nhà giáo và việc ngồi nhầm lớp”… Đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong xã hội, bên cạnh những cái được thì tình trạng học sinh bỏ học vẫn là vấn đề đang cần chúng ta quan tâm, trong đó có học sinh vùng đồng bào dân tộc thểu số
II Thực trạng:
1 Thuận lợi:
Thứ nhất: Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phan Bội Châu là một
trường chuyên biệt nên nhận được sự tâm đặc biệt của các cấp, các ngành, các đoàn thể Đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của ủy ban nhân dân Huyện, sự quan tâm của lãnh đạo Phòng giáo dục Trong những năm qua các hoạt động dạy và học của nhà trường đã không ngừng đi lên, cơ sở vật chất được đầu tư cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và học
Thứ hai: Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường có tuổi đời bình quân còn trẻ, yêu nghề,
100% đạt chuẩn và trên chuẩn, nhiều giáo viên đã công tác lâu năm tại trường nên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và quản lí học sinh
Trang 5Thứ ba: Học sinh nhà trường đều ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập, lễ phép với thầy cô
giáo, có ý chí vượt khó vươn lên trong học tập
2 Khó khăn:
Thứ nhất: Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Phan Bội Châu nằm trên
địa bàn xã Eatrang Đây là một xã vùng III đặc biệt khó khăn, địa bàn trải rộng, dân
cư thưa thớt, 99,3% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số
Thứ hai: Đời sống kinh tế của người dân còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, sự quan
tâm của gia đình đối với việc học hành của con em còn ít Mặt khác, người dân vẫn mang nặng một số hủ tục lạc hậu như ma chay, cưới hỏi tốn kém, đặc biệt là tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra phổ biến trong đời sống hằng ngày
Thứ ba: Do là địa bàn tập trung nhiều thành phần dân tộc nên sự khác biệt về văn hóa,
ngôn ngữ cũng gây trở ngại cho hoạt động dạy học trong nhà trường
Thứ 4: Học sinh của trường thuộc địa bàn của hai xã là Eatrang và Cư San nên việc
thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình nhiều lúc chưa kịp thời, việc nắm bắt tình hình học sinh và gia đình học sinh còn hạn chế Trong những năm học trước tỉ lệ học sinh bỏ học của nhà trường vẫn còn ở mức cao
3 Kết quả mong đợi sau khi thực hiện đề tài:
Sau khi thực hiện xong đề tài sẽ giúp chúng ta tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học nhiều Sau đó là những giải pháp hữu ích để giảm thiểu tối đa tình trạng học sinh bỏ học và một số biện pháp vận động học sinh bỏ học quay trở lại lớp
III Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số bỏ học:
Thứ nhất: Điều kiện kinh tế khó khăn: Xã Eatrang là một xã vùng III đặc biệt khó
khăn, 100% học sinh là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, kinh tế gia đình chủ yếu dựa vào nương rẫy Thời tiết diễn biến thất thường, thu nhập của người dân không ổn định, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn cao Do điều kiện kinh tế khó khăn nên một số
Trang 6phụ huynh bắt con em mình phải nghỉ học lên nương, lên rẫy tham gia sản xuất cùng gia đình Mặt khác một số học sinh do nhà xa trường nên không có xe đạp để đi học cũng bỏ học
Thứ hai: Do nhận thức về việc học hành không có cho nên dẫn tới thiếu sự quan tâm
của gia đình đối với học sinh Về nhà phụ huynh chưa quan tâm, nhắc nhở các em học bài, không định hướng được tuơng lai cho các em, nhiều lúc các em có suy nghĩ tiêu cực là không biết học để làm gì nữa Có nhiều trường hợp khi giáo viên đến vận động thì không nhận được sự hợp tác của phụ huynh, bỏ mặc cho các em thích thì đi học, không thích thì thôi
Thứ ba: Một số học sinh bỏ học do chán học, tức là học lực yếu, không theo kịp bạn
bè dẫn đến chán nản Đặc biệt là khi thực hiện cuộc vận động “ Hai không” giáo viên phải đấu tranh giữa hai con đường Một là duy trì sĩ số học sinh, hai là chất lượng học sinh
Thứ tư: Hiện nay trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục
lạc hậu, nghiêm trọng nhất là tình trạng tảo hôn Trường hợp này phổ biến nhất trong cộng đồng người H’mông, bố mẹ bắt con mình phải lấy chồng để có con cháu sớm, có người lao động trong gia đình Điều này được thể hiện ở chỗ tỉ lệ học sinh nữ người H’mông đi học rất thấp Tình trạng này cũng diễn ra phổ biến trong cộng đồng người
Ê Đê
Thứ năm: Đây là một nguyên nhân chủ quan do kinh nghiệm của giáo viên khi làm
công tác chủ nhiệm có học sinh là người dân tộc thiểu số Khác với học sinh người Kinh, học sinh người dân tộc đa số học trước tuổi do đó tâm sinh lí các em phát triển sớm Khi học sinh mắc lỗi nếu giáo viên xử lí không khéo léo, có thái độ la mắng là các em sẽ nghỉ học ngay Trường hợp này thường gặp ở những giáo viên mới về công tác, hoặc giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm
IV Các giải pháp giảm thiểu tình trạng học sinh vùng dân tộc thiểu số bỏ học:
Trang 7Từ những nguyên nhân trên, bản thân tôi đã có nhiều năm giảng dạy tại trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phan Bội Châu, đặc biệt là có nhiều năm làm công tác chủ nhiệm tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm để đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy cũng như làm công tác chủ nhệm được tốt hơn
Như chúng ta đa biết, sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường- xã hội Trong đó nhà trường có một vai trò vô cùng quan trọng việc duy trì sĩ số phải có sự kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các đoàn thể trong nhà trường như Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên Trong đó quan trọng nhất là vai trò của giáo viên chủ nhệm lớp Trong phạm vi nghiên cứu của mình tôi không đi sâu giải quyết từng nguyên nhân dẫn đến học sinh
bỏ học mà đi sâu vào các phương pháp chủ nhiệm của giáo viên chủ nhiệm
Giải pháp thứ nhất: Phải xây dựng được một tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết Đây là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm tạo ra một môi trường học tập, vui chơi lành mạnh, có như vậy mới thu hút được sự tham gia tích cực của các em học sinh Khi các
em tham gia các hoạt động tập thể đó sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được hoàn cảnh của các em, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của các em để đưa ra những biện pháp giúp đỡ Giáo viên chủ nhiệm phải làm sao để các em coi lớp học như một gia đình, thầy cô như là cha mẹ, các bạn trong lớp như anh em một nhà
Vậy làm thế nào để xây dựng một tập thể vững mạnh? Ở vùng học sinh người Kinh, các trường chuyên, lớp chọn thì dễ rồi nhưng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì làm sao đây? Văn hóa người Ê Đê khác với người H’mông, khác với người Dao, khác với người Tày Trong một lớp có nhiều học sinh dân tộc như vậy ngay từ việc bầu ban cán sự lớp đã khó, nếu lớp trưởng bầu học sinh người Ê đê thì trong quản lí lớp khi nói học sinh người H’mông sẽ không nghe, hoặc lớp trưởng người Ê đê mà bầu con trai thì rất khó làm việc bởi người Ê đê theo chế độ mẫu hệ, lời nói của người phụ nữ lúc nào cũng có trọng lượng hơn nam giới Còn người Dao, người H’mông thì vai trò của người con trai lại quan trọng nhất
Trang 8Vấn đề này tôi xin chia sẻ với các bạn như sau Lớp 9a của tôi gồm có người Kinh, Ê
đê, Tày, Dao, H’mông tôi cho các em bầu ban cán sự gồm 5 người, mỗi dân tộc một người và phân công nhiệm vụ như sau: Lớp trưởng Nguyễn Thị Thanh Duyên là người Kinh vì em này năng nổ trong các hoạt động và có kĩ năng quản lí lớp- Quản lí chung Lớp phó học tập là em Nguyễn Thị Vinh người dân tộc Tày- Phụ trách học tập Lớp phó Văn- Thể- Mỹ là em H Nhoai Hwing – Phụ trách văn nghệ, thể thao Thư kí lớp là em Dương Thị Pham dân tộc Dao Lớp phó lao động là em Giàng Seo Nhà dân tộc H’mông- phụ trách lao động, vệ sinh Với cách tổ chức lớp như vậy ban cán sự lớp sẽ có trách nhiệm hơn nhưng vẫn đảm bảo tính công bằng có sự tham gia của các dân tộc khác nhau, bởi cùng dân tộc nói với nhau thì sẽ hiệu quả hơn
Trong cách quản lí lớp cũng vậy, có một phong trào mà Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh đã triển khai rộng rãi trong những năm học qua tôi thấy khi áp dụng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất hiệu quả Đó là thành lập các “ Đôi bạn cùng tiến” Bản chất của phong trào là thành lập các đôi bạn cùng giúp nhau học tập, một học sinh khá, giỏi kèm một học sinh yếu kém để cùng nhau đi lên Ở lớp 9a tôi chủ nhiệm tôi cũng thành lập các cặp đôi như vậy và hiệu quả học tập được nâng lên, điển hình như cặp Vinh-Trung, Pôn- Nho, Pham- Nảy, Bích- Bé… việc thành lập các đôi bạn như vậy sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm dễ quản lí học sinh hơn Ví dụ hôm nay Bích nghỉ học không có lí do thì giáo viên hỏi Bé thì Bé sẽ cho giáo viên biết lí do Bích nghỉ học, hoặc khi một bạn nào đó có vấn đề gì thì giáo viên dễ nắm bắt được thông tin thông qua học sinh Lưu ý khi thành lập các đôi bạn cùng tiến giáo viên nên chọn những người cùng giới tính, cùng sở thích và gia đình phải gần nhau
Giải pháp thứ hai: Phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và tâm lí của từng học sinh: Đây là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng “ Nếu không hiểu được học sinh thì không giáo dục được học sinh” Ngay năm học 2010-2011 sau khi được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp 8a việc đầu tiên là tôi xem hồ sơ lí lịch học sinh Sau đó tranh thủ thời gian đi thăm các gia đình học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như: Học sinh
Trang 9mồ côi, học sinh thuộc diện hộ nghèo, học sinh nhà ở xa trường Khi đến với gia đình học sinh sẽ giúp chúng ta nắm bắt được hoàn cảnh để chúng ta có biện pháp giúp đỡ Chẳng hạn lớp tôi có em H Ha Byă, Nguyễn Thị Thanh Duyên, Y Quyên Byă là học sinh mồ côi, hoàn cảnh gia đình khó khăn Nhân dịp tết tân mão 2011 công ty bảo hiểm Prudential có tặng 3 suất học bổng thì 3 suất này giành cho 3 em để động viên tinh thần Hoặc nhân dịp tết Nhâm Thìn 2012 vừa qua các em Y Rôbi Hwing, H Nho Byă thuộc diện hộ nghèo cũng đã được nhận quà Tết từ sự đóng góp của cán bộ -công nhân viên trong nhà trường Các món quà đó tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn để động viên tinh thần vượt khó của các em
Hiện nay với sự phát triển của công nghệ thông tin thì việc thông tin hai chiều giữa gia đình, nhà trường ngày càng thuận lợi hơn, đó là trao đổi thông tin qua điện thoại trong lớp 9a của tôi chủ nhiệm tôi đều có số điện thoại của gia đình để tiện liên lạc khi cần thiết
Việc giáo viên thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh còn giúp phụ huynh nhận thức sâu sắc, xác định được tầm quan trọng của việc học đối với con em mình
Giải pháp thứ ba: Phải gần gũi, quan tâm và sẵn sàng chia sẻ và gương mẫu trước học sinh Học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số nhìn chung đều ngoan nhưng không dễ hòa đồng như những học sinh người Kinh cho nên giáo viên phải tìm mọi cách để gần gũi, tiếp cận, trao đổi với các em Giáo viên nên dành thời gian trao đổi với từng học sinh một hoặc từng nhóm học sinh để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em Hàng tuần vào các buổi sinh hoạt cuối tuần hoặc thông qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên chủ nhiệm nên dành chút thời gian thăm hỏi các em, đặc biệt là các em có biểu hiện e ngại, rụt rè giúp các em hòa đồng cùng bạn bè và cảm thấy mình không bị xa lánh Hoặc thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể để các em được tham gia
Đối với những học sinh đặc biệt khó khăn tôi thường phát động các bạn trong lớp quyên góp ủng hộ hoặc có lúc đóng góp một khoản gì đó mà một số em khó khăn quá
Trang 10thì tôi sẵn sang trích một phân lương của mình để giúp đỡ các em Khi giáo viên chủ nhiệm quan tâm, gần gũi tạo niềm tin được cho các em rồi thì các em sẵn sàng chia sẻ, khi đó động lực học tập của các em mới được nâng lên
Giải pháp thứ tư: Phải thật sự tế nhị khi giao tiếp với học sinh dân tộc Đừng làm một điều gì đó để các em phải xấu hổ trước bạn bè vì tính tự ái, lòng tự trọng của học sinh dân tộc rất cao Nếu các em lỡ vi phạm một điều gì đó mà chúng ta nhắc nhở hoặc phê bình nặng nề em đó trước lớp là một sai lầm Trong trường hợp này giáo viên phải bình tĩnh, gặp riêng học sinh đó để phân tích cho học sinh đó hiểu em đã sai
ở chỗ nào, cần khắc phục ra sao Đừng bao giờ chê trách học sinh mà phải thường xuyên khuyến khích, khen thưởng kịp thời khi các em có thành tích, đặc biệt đừng bao giờ thất hứa vì nếu làm như vậy thì các em sẽ mất lòng tin ở mình
Trong học kì I năm học 2011-2012 tại lớp tôi chủ nhiệm có em Vàng Seo Chớ chỉ vì
tự ái với một câu nói của thầy giáo bộ môn mà đã có ý định bỏ học Nhưng sau đó nhờ làm công tác tư tưởng, giải thích cho em ấy hiểu cái sai, cái đúng và em đã tiếp tục đi học lại Đây cũng là một bài học khi ứng xử với học sinh dân tộc, chúng ta phải
xử lí khéo léo, tế nhị
Giải pháp thứ năm: Giáo viên phải tạo được mối liên hệ mật thiết với gia đình học sinh Đây là yếu tố hết sức quan trọng, ngoài những buổi họp phụ huynh tại trường giáo viên chủ nhiệm nên dành nhiều thời gian đến thăm gia đình học sinh để cùng với phụ huynh quan tâm đến học sinh hơn Đặc biệt tại các buổi gặp gỡ này giáo viên cũng cần trao đổi với phụ huynh định hướng nghề nghiệp cho con em mình Tại lớp tôi, vấn đề này tôi duy trì thường xuyên, xuyên suốt cả năm học, khi có điều kiện
là tôi thực hiện
Khi tổ chức họp phụ huynh đầu năm giáo viên chủ nhiệm nên lựa chọn một hội cha
mẹ học sinh thật sự có uy tín để hoạt động Cũng như tổ chức một lớp học chúng ta cũng nên lựa chọn hội phụ huynh với đầy đủ các thành phần dân tộc, ưu tiên những người có trình độ học vấn, có uy tín và nhiệt tình trong hoạt động của hội