Không chỉ với những sinh viên khá, trung bình_ khá mà thậm chí những sinh viên có tấm bằng giỏi trên tay vẩn sẽ loay hoay không biết đi đâu, về đâu khi các công ty vẫn chồng chất hồ sơ x
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP TÌM KIẾM VIỆC CHO SINH
VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG
GVHD: Nguyễn Thị Thúy Duyên Thực hiện: Nhóm 7
KỸ NĂNG HỌC TẬP HIỆU QUẢ
Trang 2BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
1 Nguyễn Thị Bích Ngân 2004140158 Làm ppt, bài word thuyết trinh
2 Đinh Tấn Hiếu 2004140083 Thuyết trình, kiếm tài liệu
3 Ngô Tấn Tĩnh 2001140429 Kiếm tài liệu phần nguyên nhân
4 Quách Chấn Hào 2003150150 Yêu cầu của nhà tuyển dụng
5 Nguyễn Thị Hồng Uyên 2001150035 Sưu tầm video liên quan đén dề tài
6 Ngô Thị Thúy Duy 2001150077 Kiếm tài liệu phần các kỹ năng cần
thiết cho sinh viên
7 Trần Tấn Phát 2004140193 Thực trạng của vấn đề thất nghiệp
hiện nay
Trang 31.THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG:
Vấn đề việc làm đang là 1 trong những vấn đề bức thiết của nhiều quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển Đây là 1 vấn đề luôn được quan tâm cho mọi nguồn nhân lực Đặc biệt nhất là nguồn nhân lực có trình độ Đại Học - Cao Đẳng Hầu hết các sinh viên ở thành phố lớn như Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí minh sau khi ra trường đều tìm kiếm 1 công việc tạm thời như: Gia sư, bưng bê tại các quán cafe, nhà hàng, quán ăn, nhân viên trực điện thoại, nhân viên siêu thị, để ở lại thành phố rồi xin việc ổn định sau Không chỉ với những sinh viên khá, trung bình_ khá mà thậm chí những sinh viên có tấm bằng giỏi trên tay vẩn sẽ loay hoay không biết đi đâu,
về đâu khi các công ty vẫn chồng chất hồ sơ xin việc
Do đó, không ít bạn sau khi học xong Cao Đẳng, Đại Học đã chọn giải phải học tiếp, học liên thông, học văn bằng hai với hi vọng tìm kiếm được công việc tốt hơn Tuy nhiên cũng có nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp đã tìm được công việc sau nhiều tháng đầu vật lộn Nhưng không nhiều trong số đó tìm được công việc đúng chuyên ngành mình đã học
1.1.Thực trạng việc làm của sinh viên nước ta:
*Thực trạng chung:
Trang 4Theo thống kê, tính đến cuối năm 2012, trong tổng số 984 nghìn người thất nghiệp có 55,4 nghìn người trình độ CĐ (5,6%) và 111,1 nghìn người có trình độ ĐH trở lên (11,3%)
Trong năm 2014, con số đó đã tăng lên đáng kể.Tỉ lệ lao động có trình độ đại học thất nghiệp trên cả nước lên tới 20% (504.700 người)
Trong 3 tháng đầu năm 2015 cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng 114.000 người so với cùng kỳ năm 2014
*Thực trạng việc làm của 1 số trường đại học trong nước:
Một cuộc khảo sát do Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) thực hiện, với quy mô gần 3.000
cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau, đã cho thấy những con số báo động Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việc làm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo
Trong số này, 46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công 42% lựa chọn một giải pháp an toàn là tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác
*Thực trạng việc làm của sinh viên trường Đại Học Công Nghiệp Thực Phẩm:
( Số người được khảo sát: 37 người)
62,16 % đang có việc làm (23 người)
37,84% chưa có việc làm (14người)
• Trong số người có việc làm có:
Có 86,96 % (20người) làm đúng chuyên ngành
13,04% ( 3 người) làm trái chuyên ngành
26,1%(6 người) người vừa làm vừa học cao học 73,9% (17 người ) không học tiếp cao học
• Trong số những người chưa có việc làm có:
78,6%( 11người) tiếp tục học cao học
1,4% ( 3 người) không tiếp tục học cao học
Trang 5Thời gian chờ việc ít nhất là 2 tháng
Khó khăn của sinh viên gặp phải khi đi tim việc chủ yếu là khó khăn về khả năng ngoại ngữ, tin học và khả năng trả lời phỏng vấn
Hầu hết số người được khảo sát đều cho rằng để có thể làm việc được không chỉ cần kiến thức chuyên môn mà còn phải cần kiến thức xã hội nói chung
2 NGUYÊN NHÂN THẤT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG
2.1 TỪ NỀN KINH TẾ XÃ HỘI:
Trong những năm nước ta còn thực hiện chính sách bao cấp thì không có hiện tượng sinh viên ra trường bị thất nghiệp Phần lớn là vì ngày đó sinh viên ra trường cũng ít, số lượng không nhiều nhưng chủ yếu là sinh viên ra trường được nhà nước phân công tác
Nhưng từ khi nhà nước có chính sách mở cửa kinh tế, nhà nước chuyển sang kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự lo cho mình không có sự bao cấp của nhà nước thì vấn đề việc làm thực sự trở nên bức bách
2.2.TỪ PHÍA ĐÀO TẠO CỦA NHÀ TRƯỜNG:
Tình trạng sinh viên ra trường không có việc làm một phần cũng có nguyên nhân từ phía đào tạo Nhiều chương trình quá lạc hậu về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy Đôi khi việc học khác xa so với yêu cầu của công việc trong thực tiễn Tại một số nước nền giáo dục hiện đại thì sau khi sinh viên học hết năm thứ ba họ có
Trang 6thể làm việc được tại một cơ quan theo ngành nghề đã được đào tạo Phần đông ngoài các chương trình đã được đào tạo ở trường đại học họ còn phải học thêm các khóa học ở ngoài như ngoại ngữ, tin học để có thề đáp ứng được yêu cầu của công việc
a) Cơ cấu đào tạo:
Có thể nói cơ cấu đào tạo của nước ta vẫn còn lạc hậu và chưa bám sát thực tế Trong khi một đất nước đang phát triển như Việt Nam rất cần đến đội ngũ kỹ sư về kỹ thuật, công nghệ, xây dựng cơ bản thì nguồn cung cấp nhân lực từ phía đào tạo lại chưa đáp ứng được hết nhu cầu Trong khi đó sinh viên trong khối kinh tế thì đang quá
dư thừa “ 90% sinh viên khối kinh tế ra trường không có việc làm “ là một phần do bên đào tạo chưa nắm được nhu cầu thực tế về nguồn nhân lực, chưa thông tin đầy đủ cho sinh viên về việc chọn ngành học, nhiều sinh viên chọn trường chỉ theo cảm tính chứ không tính đến mục đích phục vụ tương lai và khả năng sau này
b) Chất lượng đào tạo:
Hiện nay chất lượng đào tạo và thực tế cũng có khoảng cách quá xa.Những gì sinh viên được học phần lớn chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc Nguyên nhân một phần là do học không đi đôi với hành, thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy Phần khác là xã hội ngày càng phát triển với tốc độ cao vì vậy phương pháp sản xuất cũng thay đổi theo Phương thức sản xuất thay đổi trong khi đó đào tạo không bắt kịp những thay đổi này vì vậy nó thường bị tụt hậu
2.3.TỪ CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC:
Trong những năm gần đây, nhà nước cũng có rất nhiều quan tâm đến sự đào tạo nói chung và đào tạo đại học nói riêng cùng với những khuyến khích để sử dụng sinh viên sau khi tốt nghiệp ví dụ như sinh viên khối sư phạm được miễn học phí Nhưng về cơ bản thì nhà nước ta vẫn chưa có chình sách hợp lí để khuyến khích cũng như tạo điều kiện cho sinh viên sau khi ra trường yên tâm công tác và phát huy hết khả năng chẳng hạn như chính sách đối với những người ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo chưa hợp lí cho lắm nên không thu hút được sinh viên ra trường vế đây công tác
Trang 72.4.TỪ BẢN THÂN SINH VIÊN VÀ GIA ĐÌNH:
• Bị động khi tìm việc:
Đây là một trong những lỗi thường mắc phải của sinh viên mới ra trường Thường thì họ sẽ dựa vào hoặc ỷ lại vào bố mẹ, tận dụng các mối quan hệ của bố mẹ hoặc chờ đợi một công ty, cơ quan nào đó đến tìm mình
Không biết thiết lập mạng lưới quan hệ
Xem thường buổi phỏng vấn
• Sinh viên thực sự không có khả năng:
Nhiều sinh viên thi vào 1 trường đại học hay cao đẳng nào đó không phải vì ham mê, yêu thích hay có năng khiếu mà chỉ vì thi đại lấy 1 trường để học Cũng có nhiều sinh viên có năng khiếu về chuyên ngành mình theo học nhưng trong suốt mấy năm học đại học đã không chịu khó học hành, rèn luyên kĩ năng, học hỏi kinh nghiệm nên khi ra trường không tránh khỏi việc lúng túng khi tiếp cận với công việc Trong khi xã hội ngày càng đòi hỏi người thực sự có năng lực làm việc hiệu quả, có chất lượng thì tất yếu những người không có khả năng sẽ bị xã hội tự đào thải
• Sinh viên định hướng không rõ ràng:
Nhiều người quản lý nhân sự ở các công ty nước ngoài nhân định “ Lao động trẻ thiếu và yếu về ngoại ngữ cũng như sự tự tin trong giao tiếp Quan trọng hơn là họ chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng Đại đa số có tư tưởng xin việc vì quyền lợi của bản thân chứ chưa nghĩ nhiều về công việc, chưa thật sự tâm huyết và sống chết vì nó ” Trong môi trường làm việc mà xu thế cạnh tranh đang ngày càng phát triển, các doanh nghiệp sẽ không tuyển bạn nếu không nhìn thấy ở bạn niềm say mê và tâm huyết nghề nghiệp
• Sinh viên thiếu kĩ năng đi xin việc:
Ngoài vấn đề về bằng cấp và trình độ thì một trong những nguyên nhân của việc sinh viên không xin được việc làm là do yếu kĩ năng, thiếu tự tin và ứng xử vụng
Trang 8về, không tự lượng sức mình, tham vọng quá cao (đòi hỏi ở những vị trí cao hơn so với khả năng hoặc đưa ra một mức lương mà công ty khó có thể chấp nhận được)
Nguyên nhân thứ hai là do bộ hồ sơ không ấn tượng, không tạo cho nhà tuyển dụng cảm giác muốn thử sức các bạn, xem khả năng làm thế nào? Có thật sự có khả năng như trong bảng giới thiệu hay không? Sinh viên có thể tạo ấn tượng qua đơn xin việc, lí lịch hay ngay trong buổi phỏng vấn bằng sự thông minh, năng động của mình
Nguyên nhân cuối cùng là sinh viên không biết cách nói về mình Một lợi thế của sinh viên là họ ham học hỏi, có tinh thần cầu tiến, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và lĩnh hội nhanh công việc được giao Vì vậy sinh viên nếu tận dụng và phát huy tối đa thế mạnh của mình để nâng cao vị thế cạnh tranh trong tìm việc
3 YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN:
Nghiên cứu tìm hiểu về yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kĩ năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp đại học Kết quả cho thấy, những năm gần đây, nhà tuyển dụng lao động nói riêng và thị trường lao động nói chung đang dần thay đổi trong hình thức đánh giá cũng như tuyển dụng lao động nhưng nhìn chung có ba yếu tố thường trực mà người lao động cần phải đạt bao gồm khả năng chuyên môn, khả năng quản lí
và kĩ năng mềm
Dưới góc độ đánh giá của nhà tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp Đại học mặc dù được trang bị nền tảng kiến thức cơ bản tương đối tốt, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số điểm yếu như trình độ ngoại ngữ và trình độ tin học còn hạn chế, khả năng chịu áp lực
Trang 9và tính chuyên nghiệp còn kém, phần lớn chưa được trang bị về kĩ năng mềm hay thiếu hiểu biết thực tế,… Đa phần người lao động khi được nhận vào làm tại các cơ sở lao động đều phải trải qua một quá trình đào tạo lại mới có thể thích nghi được với công việc
Kỹ năng mềm, đó là: khả năng làm việc theo nhóm, sự linh hoạt trong công việc,tính cẩn thận tỉ mỉ và năng động Thực tế cho thấy người thành đạt chỉ có 25% là
do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị (theo wikipedia)
Những người sử dụng lao động coi trọng các kỹ năng “mềm”, bởi vì các nghiên cứu cho thấy chúng là một nhân tố đánh giá rất hiệu quả bên cạnh những kỹ năng công việc truyền thống hay còn gọi là kỹ năng “cứng”
4.TRƯỜNG ĐẠI HỌC DẠY CHÚNG TA NHỮNG GÌ? ĐÃ ĐỦ CHƯA?
Tôi từng hơn một lần đặt câu hỏi: Trường đại học mang lại gì cho sinh viên? Tất cả
các môn học là hành trang để khởi nghiệp thuận lợi? Kiến thức đuợc học có cần thiết sau tốt nghiệp?
Câu trả lời của riêng tôi là ‘có’ bởi tôi tin truờng đại học đã mang đến cho tôi và các bạn nhiều thứ hơn Những thời gian ở đây tôi đuợc trang bị nhiều kỹ năng hữu ích, giúp tôi có thển tồn tại trong xã hội luôn vận động, đầy sự cạnh tranh hơn là một tấm bằng tốt nghiệp
1 Nguồn kiến thức vô hạn
Truờng đại học thật sự là một thiên đuờng để học tập Ở đây ta sẽ đuợc tiếp xúc với một nguồn kiến thức vô tận và tự do tìm hiểu những thông tin mà bản thân thât sự quan tâm cũng như những kiến thức và kỹ năng cần thiết
2 Trường đại học - xã hội thu nhỏ
18 tuổi, tôi cũng như các bạn, chưa hiểu nhiều về khó khăn, sự cạnh tranh khốc liệt của đời sống Mọi thứ không phải màu hồng như trên phim hay tiểu thuyết Trường đại học chính là xã hội thu nhỏ, giúp sinh viên dần làm quen với những khái niệm về thực tế cuộc sống
Trang 10Mỗi khoa chính là ngành nghề sau này của các bạn Môn học là nhiệm vụ bạn phải thực hiện để khẳng định năng lực bản thân Làm tốt bao nhiêu, bạn sẽ được đánh giá
để ngồi vào vị trí xứng đáng với năng lực bấy nhiêu khi ra trường đời
3 Môn học - thước đo năng lực
Sau 4-5 năm đại học, không ít lần nhiều nguời sẽ tự đặt câu hỏi: Học môn này để làm gì? Nó giúp ích gì cho bản thân sau này?
Câu trả lời tôi nhận được khá đơn giản Đó là trong xã hội, mọi thứ đều chuyển động
và thay đổi không ngừng Các bạn đừng bao giờ nghĩ chúng ta học tất cả môn giống nhau từ năm này đến năm khác, hay áp dụng môn học như vậy từ khóa này đến khóa khác dễ dàng
Khi đi làm, chúng ta luôn đối mặt những khó khăn, thử thách mới, thiên biến vạn hóa, không phải mọi thứ đều nằm trong kiến thức đã học Trong công việc, lãnh đạo không quan tâm bạn có giỏi về vấn đề đó hay không? Họ cần là làm sao chúng ta xử lý tốt nhất, hiệu quả nhất
Các môn học được sắp xếp đa dạng giúp học sinh không chỉ phát huy mặt mạnh, mà còn biết vượt qua những mặt yếu Môn học nào cũng quan trọng, dù có hay không liên quan nghề nghiệp sau này Điều bạn nhận được là kỹ năng sinh tồn với sự thay đổi của
xã hội, cũng như công việc được giao sau này Bởi vậy, bạn hãy luôn xem mỗi môn học là nhiệm vụ, phải làm sao để đạt kết quả tốt nhất
4 Bảng điểm - thước đo nỗ lực
Theo một nhà tuyển dụng có tiếng tại đây chia sẻ: “Nhà tuyển dụng nhìn vào bảng
điểm không phải để xem bạn học giỏi hay kém mà quan sát tổng thể nỗ lực của bạn qua từng môn học Họ xem mỗi môn học là nhiệm vụ Khả năng bạn xử lý chúng là thước đo đánh giá bạn có thể giải quyết công việc sau này”.
Nếu bảng điểm của bạn càng cao, thực tế là sự nỗ lực, công sức bạn dành cho môn học càng nhiều, kết quả cao Họ sẵn sàng giao cho bạn những nhiệm vụ phù hợp với năng lực xử lý công việc Vì thế, các bạn hãy luôn xem bảng điểm là thước đo tổng thể chính xác nhất cho nỗ lực và hiệu quả xử lý công việc Nên nhớ, nhà tuyển dụng rất công bằng và công tâm với nỗ lực của bạn
5 Hoạt động ngoại khóa đánh giá kỹ năng mềm