1.1 Một số loại vật liệu từ mềmLà hợp kim của sắt khoảng 85%, với Silic Si, hoặc chứa thêm khoảng 5,4% nhôm Al, còn được gọi là hợp kim Sendust, là một trong những vật liệu sắt từ mềm đư
Trang 11 Vật liệu từ mềm
Vật liệu từ mềm, hay vật liệu sắt từ mềm (Soft magnetic
material) là vật liệu sắt từ, "mềm" về phương diện từ hóa và
khử từ, có nghĩa là dễ từ hóa và dễ khử từ
Trang 21.1 Một số loại vật liệu từ mềm
Là hợp kim của sắt (khoảng
85%), với Silic (Si), hoặc chứa
thêm khoảng 5,4% nhôm (Al), còn
được gọi là hợp kim Sendust, là
một trong những vật liệu sắt từ
mềm được dùng phổ biến nhất có
độ cứng cao, có độ từ thẩm cao và
tổn hao trễ thấp Tuy nhiên, vật liệu
này trên nền kim loại, nên có điện
trở suất thấp, do đó không thể sử
dụng ở tần số cao do sẽ làm xuất
hiện tổn hao xoáy lớn
1.1.1 Tôn Silic
Trang 41.1 Một số loại vật liệu từ mềm
Là các hợp kim
nền sắt hay cô-ban (Co), ở trạng
thái vô định hình, do đó có điện
trở suất cao hơn nhiều so với các
hợp kim tinh thể, đồng thời có
khả năng chống ăn mòn, độ bền
cơ học cao, và có thể sử dụng ở
tần số cao hơn so với các vật liệu
tinh thể nền kim loại
1.1.3.2 Hợp kim vô định hình và nanô tinh
thể
Khi kết tinh từ trạng thái vô định hình, ta có vật liệu nano tinh thể, là các hạt nanô kết tinh trên nền vô định hình dư, triệt tiêu từ giảo từ tổ hợp hai pha vô định hình và tinh thể nên có tính từ mềm cực tốt và có thể sử dụng ở tần số cao
Trang 5Máy biến áp gồm có một cuộn dây
sơ cấp và một hay nhiều cuộn dây
thứ cấp liên kết qua trường điện từ
Khi đưa dòng điện với điện áp xác
định vào cuộn sơ cấp, sẽ tạo ra
trường điện từ Theo định luật cảm
ứng Faraday, trường điện từ tạo
ra dòng điện cảm ứng ở các cuộn thứ
cấp Để đảm bảo sự truyền đưa năng
lượng thì bố trí mạch dẫn từ qua lõi
cuộn dây Vật liệu dẫn từ phụ
thuộc tần số làm việc.
1.2 Ứng dụng của vật liệu từ mềm1.2.1 Lõi máy biến áp
Trang 6và không coi là biến áp thật sự.
Trang 7Cuộn cảm gồm một số vòng dây quấn lại thành nhiều vòng, dây quấn được sơn cách điện, lõi cuộn dây là vật liệu dẫn từ như ferrite hay lõi thép kĩ thuật.
1.2 Ứng dụng của vật liệu từ mềm
1.2.2 Cuộn cảm
Trang 8Lõi dẫn từ của nam châm điện là các vật liệu từ mềm và thông thường chúng phải thỏa mãn các yêu cầu:
Trang 9Cảm biến đo từ trường được ứng dụng để phát hiện sự thay đổi từ trường của môi trường xung quanh Nó được ứng dụng trong bộ đo tốc độ, dùng làm mạch đếm hoặc dùng để phát hiện vị trí của vật, khuyết tật đường ống nói chung là những vật có khả năng nhiễm từ.
1.2 Ứng dụng của vật liệu từ mềm
1.2.4 Cảm biến đo từ trường
Trang 102 Vật liệu từ cứng
Vật liệu từ cứng là vật liệu sắt từ, khó khử từ và khó từ hóa Ý
nghĩa của tính từ "cứng" ở đây chính là thuộc tính khó khử từ và khó bị từ hóa, chứ không xuất phát từ cơ tính của vật liệu từ.
Trang 112.1 Một số loại vật liệu từ cứng
Hợp kim AlNiCo: Là hợp kim được
sử dụng trong nam châm vĩnh cửu,
có thành phần chủ yếu là nhôm
(Al), niken và côban (Co), có thể
có thêm các thành phần phụ gia
nhưđồng (Cu), titan (Ti), Hợp
kim này có từ dư cao, nhưng có lực
kháng từ khá nhỏ (thường không
vượt quá 2 kOe) và có giá thành
cao
2.1.1 Hợp kim AlNiCo
Trang 12Là các gốm ferrite, mà điển
hình là ferrite bari (BaFexO),
stronsti (SrFexO) và có thể bổ
sung các nguyên tố đất hiếm
(ví dụ lanthannium (La)) để cải
thiện tính từ cứng Ferrite là vật
liệu có 2 phân mạng từ bù trừ nhau, và chứa hàm lượng oxi lớn nên khó tạo ra từ độ lớn, nhưng lại có lực kháng từ lớn hơn rất nhiều so với AlNiCo Ferrite có điểm mạnh là rẻ tiền, chế tạo dễ dàng và có độ bền cao Vì thế
nó chiếm phần lớn thị phần nam châm thế giới (tới hơn 50%) dù có phẩm chất không phải là cao.
2.1 Một số loại vật liệu từ cứng
2.1.2 Vật liệu từ cứng ferrite
Trang 13Loại vật liệu được bắt đầu phát triển từ
những thập kỷ 90 của thế kỷ 20, với cấu
trúc tổ hợp của 2 loại vật liệu: vật liệu từ
mềm cung cấp từ độ bão hòa lớn, vật liệu
từ cứng cho lực kháng từ cao, và các hạt
tổ hợp ở kích thước nanomet, có liên kết
trao đổi với nhau, tạo ra tính chất tổ hợp
và sẽ cho loại nam châm mới với tính từ
cứng tuyệt vời, lớn hơn tất cả các vật liệu
từ cứng đã biết Tuy nhiên, vào thời điểm
hiện tại, các tính chất đạt được trong
thực tế còn thua xa dự đoán lý thuyết do
chưa tạo được cấu trúc hoàn hảo như dự
đoán Loại vật liệu này vẫn trong giai đoạn
nghiên cứu phát triển.
2.1 Một số loại vật liệu từ cứng
2.1.3 Nam châm đất hiếm
Trang 142.2 Ứng dụng của vật liệu từ cứng
Trang 152.2.1 Chế tạo nam châm vĩnh cữu
2.2 Ứng dụng của vật liệu từ cứng
Trang 16Các nam châm vĩnh cửu vẫn rất quan trong Có thể minh họa điều này trong một chiếc xe ôtô Trong năm mươi năm trước, một chiếc xe ôtô chỉ có một nam châm ( cái đo tốc độ), trong khi đó những chiếc xe hiện đại có thể có tới hàng trăm môtơ nam châm vĩnh cửu
16
2.2.1 Chế tạo nam châm vĩnh cữu
Trang 17Các ví dụ về ứng dụng của vật liệu từ cứng
Xe hơi
Môtơ khởi động, hệ thống phanh chống khóa (ABS), môtơ điều khiển gạt nước, các bơm phun, Quạt và điều khiển của sổ Chỗ ngồi , loa, phanh bằng dòng xoáy, máy phát điện xoay chiều
Trang 18Các thiết bị điện tử
Các cảm biến, Các công tắc không tiếp xúc, Các phổ kế NMR, Đĩa đo năng lượng, Các thiết bị biến đội điện –cơ, Các ống dẫn trường chéo nhau, Dụng cụ họat động chuyển dòng, Thiết bị hãm
Công nghiệp.
Môtơ DC cho các dụng cụ từ tính, Robot, Các thiết bị tách từ cho việc tách kim loại và quặng, Các vật mang từ, các máy nâng, Các bộ hãm và khớp nối, Các thiết bị đo
Thiên văn và không gian
Các vật mang không ma sát, Các môtơ bước, Các liên kết cặp, Thiết bị, các ống truyền sóng, La bàn tự động
Phẫu thuật sinh học
Hàm răng, Nha khoa, Khoa chỉnh hình, Lành vết thương, trét
lổ thủng dạ dày, Các vòng đai đẩy, Trái tim nhân tạo từ động, Thiết bị quét cơ thể cho Chụp ảnh cộng hưởng từ(MRI)
18
Trang 192.2.2 Vật liệu ghi từ
2.2 Ứng dụng của vật liệu từ cứng
Trang 20Sử dụng kỹ thật từ ghi tiếng nói con người lần đầu tiên được
kỹ sư người Đan Mạch, Poulsen, thực hiện vào năm 1898 Việc ghi được thực hiện trên một dây sắt từ, nhưng do thiếu phần khuếch đại nên chất lượng ghi rất tồi Vào năm 1927, băng từ đã được phát minh một cách đồng thời ở Mỹ và Đức
Đĩa cứng đầu tiên, có ký hiệu là ‘‘RAMAC“, đã được giới thiệu vào năm 1957, và có dung lượng tồ trữ 2000 bit in-2 Dung lượng trữ đã tăng lên một cách nhanh chóng và đều đặn Vào năm
2000 đã đạt xấp xỉ 1 Gbit in-2, tức là một sự tăng bằng hệ số nhân
5 triệu
20
2.2.2 Vật liệu ghi từ
Trang 21Hình 14 Biểu diễn hình khối kích thước của một bit dữ liệu trên một đĩa
cứng Kích thước đã được phóng to lên 1000 lần.
21
Trang 22Băng từ
Các băng từ đã được sử dụng mạnh cho việc ghi các tín hiệu audio và video, tuy nhiên không biết rõ là kỹ thuật này sẽ được tiếp tục sử dụng bao nhiêu lâu nữa với sự xuất hiện tính phổ biến của digital versatile disk ( DVD)
Các băng có thể được làm với cả môi trường hạt được dính lên một đế plastic lẫn màng được bốc bay kim loại (ME) lên trên một đế Lớp từ trên băng hạt chỉ có 40% vật liệu từ, trong khi đó băng ME có 100% lớp từ Vì vậy, các băng ME cho ta ghi chất lượng tốt hơn, tuy nhiên chúng tiêu phí thời gian nhiều hơn để tạo ra và đắt tiền hơn Các băng hạt rẻ hơn nhiều, vì vậy là sự lựa chọn cho phần lớn các băng từ
22
Trang 23Material Saturation Polarisation (mT) Intrinsic Coercivity (kAm-1) Average Particle Size (mm) Particle Shape
Trang 24Con đường sản xuất một băng từ hạt được minh họa trong hình 15 Các hạt từ được trộn với một chất kết dính ( được hòa tan tromg một dung môi), các chất bôi trơn, sẽ giúp giảm bớt sự cơ xát khi băng được dịch chuyển trên đầu, vàcác vật liệu mài ( như là Al2O3), cứng và giúp ngăn cản
sự mòn của màng tử Hỗn hợp này được rót lên trên một đế PET ( polyethylene tetraphthalate), có độ dày ~ 25 mm Thỉnh thoảng các đế aramid được sử dụng cho các cassette chơi lâu, bởi vì các đế này có thể mỏng đến 5 mm Các hạt
là dị hướng từ, thường là do hình dạng của chúng, và giai đoạn tiếp theo của quá trình là định hướng các hạt này trong
độ dài của băng trong khi lớp từ vẩn là chất lỏng Sau đó dung môi được làm bay hơi bằng cách làm nóng băng và được cán để cải thiện mật độ và để lại lớp từ dày cỡ 3-5mm 24
Trang 25Hình 15 Phương pháp chế tạo băng từ hạt.
25
Trang 26Các đĩa từ
Việc ghi dữ liệu lên trên một đĩa có ưu việt hiển nhiên so với thời gian truy nhập, bởi vì đầu có 5thể sẳn sàng di chuyển đến chỗ tương ứng trên đĩa, trong khi đó một cái băng cần phải được cuốn lại hoặc cuốn tiếp về phía trước ( advanced) Có hai loại dĩa: mềm (floppy) và cứng (hard) Các nguyên lý của việc sản xuất và ghi trên các dĩa mềm rất giống với băng từ hạt, tức là giống như các vật liệu hạt trên đế plastic.
Dĩa cứng được tạo ra trên một đế rắn, thường là nhôm, dày cỡ 2mm Trên đế được lắng đọng vài lớp : một lớp dưới để giúp gắn chặt ( ~ 10 nm, nickel phosphide); một lớp crom (5-10 nm) để kiểm tra sự định hướng và kích thước hạt của lớp từ; lớp từ 9 50 nm PtCo với các phụ gia khác nhau
Ta, P, Ni, Cr); một lớp phủ ở trên bảo vệ ( chẳng hạn zirconia 10-20 nm) và chất bôi trơn cuối cùng để làm giảm sự cọ xát và sự bào mòn của đĩa ( chẳng hạn một đơn lớp của fluorocarbon mạch dài ( long chain)) Lớp từ tạo ra một cấu trúc tế bào của các tế bào từ giàu Co trong một ma trân không từ tính Các tế bào này giống hệt như môi trường ghi từ hạt, nhưng trên phạm vi nhỏ hơn nhiều.
26
Trang 27Cấu trúc của một đĩa cứng được chỉ ra trên hình 16 Đĩa được kèm theo một môtơ quay, sẽ quay đĩa; đối với dung lượng trữ lớn, một vài đĩa có thể được dựng thành một chồng Các đầu đọc và ghi được kèm với một cánh tay nhún ( swinging arm) (mỗi bên đều có), có thể được quét ngang qua đĩa khi sử dụng một cuộm tiếng
Hình 16 Sơ đồ
biểu diễn cấu tạo của một đĩa cứng 27